Khóa luận Đánh giá diễn biến chất lượng nước thải bột giấy của Công ty Cổ phần giấy An Hòa trong quý IV năm 2017

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
---------------------------  
NGUYỄN THỊ HẠNH  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI BỘT GIẤY CỦA  
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA TRONG QUÝ IV NĂM 2017  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: Khoa học môi trường  
: 2014-2018  
Khóa học  
Thái Nguyên – Năm 2018  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
---------------------------  
NGUYỄN THỊ HẠNH  
Tên đề tài:  
ĐÁNH GIÁ DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI BỘT GIẤY CỦA  
CÔNG TY CỔ PHẦN GIẤY AN HÒA TRONG QUÝ IV NĂM 2017  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Khoa học môi trường  
: K46 - KHMT - N03  
: Khoa học môi trường  
: 2014-2018  
Khoa  
Khóa học  
Giáo viên hướng dẫn : Trần Hải Đăng  
Thái Nguyên – Năm 2018  
i
LỜI CẢM ƠN  
Lời đầu tiên em xin chân thành cảm ơn quý thầy cô khoa Khoa Học Môi  
Trường, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, những người đã trực tiếp  
giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích cho em, giúp em lựa chọn được  
hướng đi nghề nghiệp phù hợp với bản thân. Đặc biệt là thầy Trần Hải Đăng,  
người đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và cung cấp tài liệu giúp em tìm hiểu  
hoàn thành khóa luận này.  
Em xin chân thành cảm ơn phòng An toàn lao động & Môi trường,  
phòng quản lí chất lượng nhà máy giấy An Hòa tỉnh Tuyên Quang đã tạo điều  
kiện cho em tìm hiểu, nghiên cứu, giúp em nâng cao được hiểu biết và những  
kỹ năng tìm kiếm thông tin, làm việc nhóm.  
Vì kinh nghiệm thực tế chưa có, chỉ dựa vào lý thuyết cộng với thời gian  
hạn hẹp nên không thể tránh khỏi những sai xót. Kính mong nhận được sự  
góp ý, nhận xét từ phía quý thầy cô để kiến thức của em ngày càng hoàn thiện  
hơn và rút ra được những kinh nghiệm bổ ích để em có thể áp dụng vào thực  
tiễn một cách hiệu quả trong tương lai.  
Em xin chân thành cảm ơn !  
Sinh viên  
Nguyễn Thị Hạnh  
iv  
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
Ký hiệu viết tắt Nghĩa cụm từ viết tắt  
AHP:  
Adt  
An Hoa PaPer (Nhà máy giấy An Hòa)  
Tấn khô gió  
BTNMT:  
BCT  
Bộ tài nguyên Môi Trường  
Bộ công thương  
BTCT:  
BYT  
Bê tông cốt thép  
Bộ y tế  
CBCNV  
DO:  
Cán bộ công nhân viên  
Dissolved Oxygen  
(Lượng dưỡng khí oxy hòa tan trong nước)  
Elementary Chlorin Free  
(Bột được tẩy trắng theo quy trình tẩy tiên tiến)  
Dung dịch chuẩn  
ECF  
FTU:  
FO  
Dầu Mazut  
ISO  
International Organization for Standardization  
(Tổ chức Quốc tế về Tiêu chuẩn hóa)  
Hội đồng Quốc gia Công nghiệp Giấy về cải thiện  
không khí và hơi nước.  
Nghị định – Chính phủ  
Bao bì bằng nhựa  
NCASI  
NĐ-CP  
Nilon  
Ng.đ:  
NTU:  
NXB  
G7  
Ngày/đêm  
Thiết bị đo nhanh  
Nhà xuất bản  
Group of Seven  
(Bảy nước kỹ nghệ tiên tiến trên thế giới)  
v
TCVN  
PAC:  
Tiêu chuẩn Việt Nam  
Poly Aluminium Chloride (Hỗ trợ lắng tạo bông)  
Polyacrylamide Cationic (Hóa chất trợ lắng)  
Đioxin  
PAM:  
PCDD:  
PCDF:  
PFS:  
Furan  
Poly Ferric Sulphate (Xử lý màu; pH)  
Quy chuẩn Việt Nam  
QCVN:  
SMEWW:  
Standard Methods for theExamination of Water  
and Waste Water (Các phương pháp chuẩn kiểm  
tra nước và nước thải)  
SVI:  
SXL  
Sludge Volume Index (Chỉ số thể tích bùn)  
Sau xử lý  
vi  
MỤC LỤC  
1.3. Ý nghĩa đề tài ............................................................................................. 3  
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học........................................................................... 3  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn ........................................................................... 3  
vii  
1
Chương 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Công nghiệp giấy là ngành công nghiệp có vị trí quan trọng trong nền  
kinh tế quốc dân của Việt Nam và có tốc độ tăng trưởng khá cao trong những  
năm vừa qua. Sản phẩm của ngành chiếm ưu thế rất lớn trong thị trường tiêu  
thụ. Mặc dù hiện nay các phương tiện thông tin và liên lạc phát triển mạnh như  
Internet, máy tính, điện thoại… nhưng giấy vẫn luôn là sản phẩm cần thiết và  
không thể thiếu đối với ngành giáo dục, báo chí, in ấn, hội họa… và cả trong  
nhu cầu tiêu dùng hàng ngày khác của con người như khan giấy, giấy vệ  
sinh… Đặc biệt ngày nay, giấy còn được khuyến khích trong việc sử dụng làm  
bao bì, giấy gói,… để thay thế túi nilon ở một số quốc gia trên thế giới.  
Tuy nhiên, ngành công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy cũng là một  
trong những ngành công nghiệp có mức độ ô nhiễm trầm trọng nhất và dễ gây  
tác động đến con người và môi trường xung quanh do độc tính nước thải. Độc  
tính của các dòng nước thải từ các nhà máy sản xuất bột giấy và giấy là do sự  
hiện diện một hỗn hợp phức tạp các dịch chiết trong thân cây như nhựa cây,  
các axit béo, lignin và một số sản phẩm phân hủy của lignin đã bị clo hóa có  
độc tính sinh thái cao, có nguy cơ gây ung thư và rất khó phân hủy trong môi  
trường. Nồng độ của một số chất từ dịch chiết có khả năng gây ức chế đối với  
cá. Khi xả trực tiếp nguồn nước thải này qua kênh rạch sẽ hình thành từng  
mảng giấy nổi lên trên mặt nước, làm cho nước có độ màu cao và hàm lượng  
DO trong nước hầu như bằng không. Điều này không những ảnh hưởng trực  
tiếp đến môi trường sống của sinh vật nước, đến đời sống thủy sinh mà còn  
gián tiếp ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân trong khu vực. Ngoài ra, nước  
thải ngành công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy thường có pH trung bình  
khoảng 9 – 11, có các chỉ số BOD, COD cao (có thể lên đến 700 mg/l đối với  
   
2
BOD và 2500 mg/l đối với COD). Đặc biệt, ngoài lignin, nước thải còn có cả  
kim loại nặng, phẩm màu, xút, chất rắn lơ lửng… Tất cả các chất này đều độc  
hại đối với sức khỏe con người, sinh vật và môi trường.  
Vì vậy, một bài toán khó đặt ra cho ngành giấy là phải xử lý tốt các chất  
thải phát sinh trong quá trình sản xuất, mà đặc biệt quan trọng là nước thải,  
nhằm giảm ô nhiễm, bảo vệ môi trường và tiết kiệm tài nguyên.  
Ngành công nghiệp sản xuất bột giấy và giấy là một trong những ngành  
tiêu hao lượng tài nguyên nước rất lớn và do đó lượng nước thải ra cũng rất  
đáng kể. Bên cạnh đó, chất lượng nước thải của ngành này cũng là một vấn đề  
hết sức cấp bách do mức độ ô nhiễm cao. Việc xử lý nước thải ngành giấy  
đang là mối quan tâm của tất cả các doanh nghiệp sản xuất giấy trên thế giới  
nói chung và tại Việt Nam nói riêng. Hiện nay, nước ta có gần 500 doanh  
nghiệp sản xuất giấy, nhưng chỉ có khoảng 10% doanh nghiệp xử lý nước thải  
đạt tiêu chuẩn môi trường cho phép, còn hầu hết các nhà máy giấy đều chưa  
xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoặc đã xây dựng nhưng vẫn xử lý không  
đạt tiêu chuẩn thải ra. Nguyên nhân là do công nghệ sản xuất giấy ở nước ta  
còn rất lạc hậu và hạn chế so với trình độ tiên tiến của các nước trên thế giới.  
Để sản xuất ra một tấn giấy thành phẩm các nhà máy ở Việt Nam phải sử dụng  
khoảng 100 – 350 m3 nước, trong khi các nhà máy sản xuất giấy hiện đại trên  
thế giới chỉ sử dụng 7 – 15 m3 nước/tấn giấy.  
Với những vấn đề như trên thì việc xử lý nguồn nước thải từ các nhà  
máy giấy là cực kỳ quan trọng thu hút được đông đảo sự quan tâm của giới  
khoa học, giới kinh doanh cũng như của người dân.  
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và sự nhất trí của khoa Môi  
Trường, đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành nghiên cứu đề tài:  
“Đánh giá diễn biến chất lượng nước thải bột giấy của công ty cổ phần giấy  
An Hòa, tỉnh Tuyên Quang trong quý IV năm 2017” dưới sự hướng dẫn của  
thầy giáo T.S Trần Hải Đăng – giảng viên trường Đại Học Nông Lâm. Từ đó  
3
hy vọng đề ra biện pháp giải quyết, kêu gọi mọi người chung tay bảo vệ nguồn  
tài nguyên quý giá này, cũng chính là bảo vệ chúng ta.  
1.2. Mục đích đề tài  
1.2.1. Mục tiêu chung  
Đánh giá diễn biến chất lượng nước thải bột giấy của công ty cổ phần  
giấy An Hòa từ đó xác định mức độ ô nhiễm và biện pháp xử lý nước thải để  
đề xuất một số thay đổi trong trong quản lý cũng như trong xử lý nhằm giảm  
thiểu ô nhiễm đối với môi trường nước.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Nghiên cứu đặc điểm công nghệ xử lý nước thải bột giấy của nhà máy  
giấy An Hòa.  
- Đánh giá diễn biến chất lượng nước thải của nhà máy giấy An Hòa quý  
IV năm 2017.  
- Đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả xử lý nước thải.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong khoa học:  
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học: Giúp bản thân em cơ  
hội tiếp cận với cách thức thực hiện một đề tài nghiên cứu khoa học, giúp em  
vận dụng kiến thức đã học vào thực tế và rèn luyện về kỹ năng tổng hợp phân  
tích số liệu, tiếp thu và học hỏi những kinh nghiệm từ thực tế.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn:  
- Tăng cường trách nhiệm của ban lãnh đạo nhà máy trước hoạt động sản  
xuất đến môi trường. Từ đó có hoạt động tích cực trong việc xử lý nước thải.  
- Cảnh báo nguy cơ tiềm tàng về ô nhiễm suy thoái môi trường nước do  
nước thải gây ra, ngăn ngừa và giảm thiểu ảnh hưởng của nước thải đến môi  
trường, bảo vệ sức khỏe của dân khu vực quanh nhà máy.  
     
4
CHƯƠNG 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học đề tài  
2.1.1. Khái niệm  
Khái niệm ô nhiễm nước:  
“Ô nhiễm nước là sự thay đổi của thành phần và tính chất của nước ảnh  
hưởng đến hoạt dộng sống bình thường của con người và sinh vật. Khi sự thay  
đổi thành phần và tính chất của nước vượt quá ngưỡng cho phép thì sự ô nhiễm  
nước đã ở mức nguy hiểm và gây ra một số bệnh ở người”.[5]  
Hiện tượng nước bị ô nhiễm :  
+ Màu sắc:  
Nước sạch trong suốt và không màu. Nếu bề dày của nước lớn ta có cảm  
giác nước màu xanh nhẹ, đó là do sự hấp thụ chọn lọc các bước sóng nhất định  
của ánh sáng Mặt trời. Nước có màu xanh đậm, hoặc có váng trắng chứng tỏ  
trong nước có nhiều chất phú dưỡng hoặc các thực vật nổi phát triển quá mức  
và sản phẩm phân hủy thực vật đã chết.  
Sự phân hủy các chất hữu cơ làm xuất hiện axit humic và fulvic (mùn)  
hòa tan làm nước có màu vàng. Nước thải các khu công nghiệp có nhiều màu  
sắc khác nhau. Khi nước bị ô nhiễm có màu sẽ cản trở sự truyền ánh sáng Mặt  
Trời vào nước.  
+ Mùi vị:  
Nước sạch không có mùi, vị. Nước có mùi vị khó chịu là nước bị ô  
nhiễm. Nguyên nhân là do sản phẩm phân hủy các chất hữu cơ hoặc do nguồn  
nước thải có những chất khác nhau. Ví dụ: mùi trứng thối H2S, mùi cá ươn của  
amin CH3NH3,…  
+ Độ đục:  
Nước sạch thường không chứa các chất rắn lơ lửng nên trong suốt và  
không màu. Độ đục do các chất lơ lửng gây ra, những hạt keo, những thể phân  
     
5
tán thô. Những hạt vật chất gây đục thường hấp phụ những kim loại nặng, cùng  
với vi sinh vật gây bệnh.  
+ Nhiệt độ:  
Nhiệt độ nước thải công nghiệp đặc biệt là nước thải của nhà máy nhiệt  
điện, nhà máy hạt nhân, thường cao hơn từ 10oC – 25oC so với nước  
thường[12]. Nước nóng có thể gây ô nhiễm hoặc có lợi tùy theo mùa và vị trí  
địa lí. Vùng có khí hậu ôn đới nước nóng có tác dụng xúc tiến sự phát triển của  
vi sinh vật và các quá trình phân hủy. Nhưng ở những vùng nhiệt đới nước  
nóng sẽ làm thay đổi quá trình sinh, hóa, lí học bình thường của hệ sinh thái,  
giảm lượng oxy tan vào nước.  
+ Chất rắn trong nước:  
Gồm hai loại là chất rắn lơ lửng và chất rắn hòa tan. Tổng hai loại chất  
rắn trên gọi là tổng chất rắn trong nước. Chất rắn lơ lửng là phần chất rắn  
không bị hòa tan làm cho nước đục, thay đổi màu sắc và các tính chất.  
Chất rắn hòa tan mắt thường không nhìn thấy được thường làm cho nước  
có mùi, vị khó chịu, đôi khi cũng làm cho nước có màu. Đó là chất khoáng vô cơ,  
hữu cơ như muối clorua, cacbonat, nitrat, photphat,… Nguồn nước có hàm lượng  
chất rắn cao không dùng được trong công nghiệp và sinh hoạt.  
+ Độ cứng  
Trong các cation, ion canxi thường có nồng độ cao nhất và có ảnh hưởng  
lớn nhất đối với hóa học môi trường nước. Các khoáng chất tạo thành các  
nguồn ion canxi chủ yếu trong nước là thạch cao CaSO4.2H2O, CaSO4,  
đolomit: CaMg(CO3)2, aragonit.  
Canxi xuất hiện trong nước là do sự cân bằng giữa canxi và các hợp chất  
magie cacbonat cùng với CO2 tan trong nước, làm tăng độ cứng của nước.  
+ Nồng độ oxy hòa tan trong nước (DO):  
Oxy tự do trong nước cần thiết cho sự hô hấp của các vi sinh vật nước  
thường được tạo ra do sự hòa tan oxy từ khí quyển hoặc do quang hợp của tảo.  
6
Nồng độ oxy tự do tan trong nước khoảng 8 – 10 mg/l và dao động mạnh phụ  
thuộc vào nhiệt độ, sự phân hủy hóa chất, sự quang hợp của tảo. Do vậy DO là  
một chỉ số quan trọng để đánh giá ô nhiễm của thủy vực, nhất là nhiễm hữu cơ.  
+ Nhu cầu oxy sinh hóa (BOD):  
Nhu cầu oxy sinh hóa là chỉ tiêu thông dụng nhất để xác định mức độ ô  
nhiễm của chất thải trong nước thải của công nghiệp.  
BOD được định nghĩa là lượng oxy vi sinh vật đã sử dụng trong quá trình  
oxy hóa các chất hữu cơ. Phương trình tổng quát của phản ứng này như sau:  
Vi khuẩn  
Chất hữu cơ + O2  
CO2 + H2O + tế bào mới + sản phẩm có định  
Trong môi trường nước, khi quá trình oxy hóa sinh học xảy ra thì các sinh  
vật sử dụng oxy hòa tan. Vì vậy xác định tổng lượng oxy hòa tan cân thiết cho  
quá trình phân hủy sinh học là công việc quan trọng để đánh giá ảnh hưởng của  
một dòng thai đối với nguồn nước.  
+ Nhu cầu oxy hóa hóa học (COD) :  
COD được định nghĩa là lượng oxy cần thiết cho quá trình oxy hóa hóa  
học các chất hữu cơ trong mẫu nước thành CO2 và nước. Lượng oxy này tương  
đương với hàm lượng chất hữu cơ có thể bị oxy hóa được xác định khi sư dụng  
một tác nhân oxy hóa hóa học mạnh trong môi trường axit.  
+ Kim loại nặng:  
Các kim loại nặng như: Hg, Cd, Pb, As, Cr, Cu, Zn, Fe,… có trong nước  
với nồng độ lớn đều làm nước bị ô nhiễm. Kim loại nặng không tham gia, hoặc  
ít tham gia vào các quá trình sinh hóa và thường tích lũy lại trong cơ thể sinh  
vật, vì vậy chúng là các chất độc gây hại cho cơ thể sinh vật.Các kim loại nặng  
này có mặt trong nước do nhiều nguồn như nước thải công nghiệp.  
-
-
-
+ Các nhóm anion NO3 , PO4 , SO4 :  
Các nguyên tố N, P, S ở nồng độ thấp các chất này cao gây ra sự phú  
dưỡng hoặc gây ra nguyên nhân gây nên các biến đổi sinh hóa trong cơ thể  
người và sinh vật mà sử dụng nguồn nước này.  
7
+ Các tác nhân ô nhiễm sinh học:  
Nhiều vi sinh vật gây bệnh có mặt trong nước gây tác hại cho nguồn nước  
phục vụ vào mục đích sinh hoạt. Các sinh vật này có thể truyền hoặc gây bệnh  
cho người và động vật. Một số các sinh vật gây bệnh có thể sống một thời gian  
khá dài trong nước và là nguy cơ truyền bệnh tiềm tàng. Để đánh giá mức độ ô  
nhiễm vi sinh vật của nước, người ta thường dùng chỉ tiêu Coliform. [4]  
2.1.2. Các thông số của chất lượng nước  
Thông số vật lý  
Nhiệt độ: Nhiệt độ nước là đại lượng phụ thuộc vào điều kiện thay đổi  
môi trường và khí hậu. Nước mặt thường có nhiệt độ thay đổi theo nhiệt độ  
môi trường, nước ngầm có nhiệt độ ổn định hơn.  
Độ màu: Thường do các chất bẩn trong nước tạo nên. Các hợp chất Sắt,  
Mangan không hòa tan làm cho nước có màu nâu đỏ, các chất mùn humic gây ra  
màu nâu vàng, các loại thủy sinh làm nước có màu xanh lá cây. Nước bị nhiễm  
bẩn do nước thải sinh hoạt hoặc công nghiệp có màu xanh hoặc màu đen.  
Độ đục: Nước có độ đục lớn chứng tỏ có chứa nhiều cặn bẩn hoặc hàm  
lượng chất lơ lửng cao. Đơn vị đo độ đục là SiO2/l, NTU &FTU.  
Mùi vị: Mùi trong nước thường do các hợp chất hóa học, hợp chấ hữu cơ  
hay sản phẩm từ quá trình phân hủy vật chất gây nên. Tùy theo thành phần và  
hàm lượng muối khoáng hòa tan trong nước có thể có vị mặn, ngọt, chát ,  
đắng,…  
Ngoài ra, còn có thông số về độ nhớt, độ dẫn điện, tính phóng xạ,… chủ  
yếu dùng trong phân tích nước thải.  
Thông số hóa học:  
Thông số hóa học phản ánh những đặc tính hóa học hữu cơ và vô cơ của  
nước.  
Đặc tính hóa học hữu cơ của nước thể hiện trong quá trình sử dụng oxy  
hòa tan trong nước các loại vi khuẩn, vi sinh vật để phân hủy các chất hữu cơ.  
 
8
Nước tự nhiên tinh khiết hoàn toàn không chứa những chất hữu cơ nào cả.  
Nước tự nhiên đã bị nhiễm bẩn thì thành phần các chất hữu cơ trong nước tăng  
lên các chất này luôn có tác dụng phân hủy của các vi sinh vật. Nếu lượng chất  
hữu cơ càng nhiều thì lượng oxy cần thiết cho quá trình phân hủy càng lớn, do  
đó lượng oxy hòa tan sẽ giảm xuống, ảnh hưởng đến quá trình sống của các vi  
sinh vật nước. Phản ánh đặc tính của quá trình nên có thể dùng một số thông số  
về nhu cầu oxy sinh học BOD (mg/l) và nhu cầu hóa học COD (mg/l).[1]  
Đặc tính vô cơ của nước bao gồm độ mặn, độ cứng, pH, độ axit, độ  
-
kiềm, lượng chứa các ion Mangan (Mn), Clo (Cl), Sunfat (SO4 ) những kim  
loại nặng Thủy ngân (Hg), Chì (Pb), Crom (Cr), Đồng (Cu), Kẽm (Zn), các  
hợp chất chứa Nito hữa cơ, amoniac (NH, NO) và Photphat.  
Thông số sinh học  
Bao gồm các loại vi khuẩn, virut gây bệnh, nguyên sinh động vật, tảo,  
… các sinh vật trong mẫu nước phân tích bao gồm có E.coli và Coliform chịu  
nhiệt. Đối với nước cung cấp cho sinh hoạt yêu cầu chất lượng cao, trong đó  
đặc biệt chú ý đến thông số này.  
2.1.3. Một số văn bản liên quan đến quản lý tài nguyên nước  
- Căn cứ Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 đã được Quốc hội nước  
cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày  
23 tháng 06 năm 2014.  
- Luật tài nguyên đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa  
Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 21 tháng 06 năm 2012.  
- Nghị định số 18/2015/ NĐ-CP ngày 18/2005/NĐ-CP ngày 14/02/2015  
của Chính phủ quy định về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động  
môi trường, cam kết bảo vệ mô trường.  
- Nghị định số 154/2016/NĐ-CP ngày 16 tháng 11 năm 2016 của Chính  
phủ về phí bảo vệ môi trường đối với nước thải.  
 
9
- Thông tư 36/2015 TT – BTNMT ngày 30 tháng 06 năm 2015 của Bộ  
tài nguyên và Môi trường Quy định về Quản lý chất thải nguy hại.  
- Thông tư 24/2017/TT-BTNMT ngày 01 tháng 09 năm 2017 của Bộ tài  
nguyên môi trường về Quy định kỹ thuật về quan trắc môi trường.  
- Thông tư 24/2017/TT- BCT ngày 23 tháng 11 năm 2017 của Bộ Công  
Thương về Quy định mức tiêu hao năng lượng trong sản xuất giấy.  
- QCVN 12/2015/BTNMT quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải  
công nghiệp giấy và bột giấy.  
- Nghị định 38/2015/NĐ-CP về quản lý chất thải và phế liệu  
- QCVN 08/2015/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng  
nước mặt .  
- TCVN 6663-1:2011 (ISO 5667-1:2006) – Chất lượng nước – Phần 1:  
Hướng dẫn lập chương trình lấy mẫu và kỹ thuật lấy mẫu  
- TCVN 6663-3:2008 (ISO 5667-3:2003) – Chất lượng nước – Lấy mẫu.  
Hướng dẫn bảo quản và xử lý mẫu;  
- TCVN 5999:1995 (ISO 5667-10:1992) – Chất lượng nước – Lấy mẫu.  
Hướng dẫn lấy mẫu nước thải  
- TCVN 6492:2011 (ISO 10523:2008) Chất lượng nước- Xác định Ph  
- TCVN 4557:1998, Nước thải – Phương pháp xác định nhiệt độ;  
- SMEWW 2550.B – Phương pháp chuẩn phân tích nước và nước thải –  
Xác định nhiệt độ.  
- TCVN 6001-1:2008 (ISO 5815:2003), Chất lượng nước – Xác định  
nhu cầu oxy sinh hóa sau n ngày (BODn) – Phần 1: Phương pháp pha loãng và  
cấy có bổ sung allythiourea);  
- TCVN 6001-2:2008 (ISO 5815:2003), Chất lượng nước – Xác định  
nhu cầu oxy sinh hóa sau n ngày (BODn) – Phần 2: Phương pháp dùng cho  
mẫu không pha loãng);  
- SMEWW 5210 B – Phương pháp chuẩn phân tích nước và nước thải –  
Xác định BOD;  
10  
- TCVN 6491:1999 (ISO 6060:1989) Chất lượng nước – Xác định nhu  
cầu oxy hóa học (COD);  
- SMEWW 5220 – Phương pháp chuẩn phân tích nước và nước thải  
- Xác định COD.  
- TCVN 6625:2000 (ISO 11923:1997) Chất lượng nước – Xác định chất  
rắn lơ lửng bằng cách lọc qua cái sợi thủy tinh;  
- SMEWW 2540 – Phương pháp chuẩn phân tích nước và thải;  
- TCVN 6185:2008, Chất lượng nước – Kiểm tra và xác định độ màu.  
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài  
2.2.1. Thực trạng xử lý nước thải ngành công nghiệp giấy trên thế giới:  
Công nghiệp ngành giấy trên thế giới rất phát triển và đồng nghĩa với  
công nghệ sản xuất cũng rất tiên tiến theo hướng phát triển bền vững bảo vệ  
môi trường song song với phát triển kinh tế xã hội.  
Luôn đạt mục tiêu sản xuất sạch hơn trong từng công nghệ, nếu “trong  
quá trình xeo giấy bằng công nghệ một số nhà máy giấy ở Việt Nam sử dụng  
từ 150-300m3 nước / một tấn giấy thành phẩm thì các nước châu Âu chỉ cần 7-  
15 m3” [14] để sản xuất ra một tấn giấy thành phẩm tương tự.  
Nếu nước thải đang là vấn đề lo ngại cho các doanh nghiệp và môi trường  
bên cạnh là sự khan hiếm nước gia tăng. Để nâng cao nhận thức liên quan đến  
bảo tồn nguồn nước thì yêu cầu các nhà sản xuất công nghiệp phải khám phá việc  
tái sử dụng nước trong cơ sở - một chiến lược giảm lượng nước thải.  
“Theo một nghiên cứu của công ty tư vấn và nghiên cứu độc lập Lux  
Research, tái sử dụng nước trong ngành công nghiệp giấy là một giải pháp  
ngày càng phổ biến vì nó cho phép các cơ sở tái sử dụng nước và cũng có thể  
thu hồi lượng xơ dư thừa đã thoát khỏi nước thải, cung cấp cho ngành công  
nghiệp có lợi ích kinh tế cao khuyến khích để tái chế các dòng chất thải. Hơn  
nữa, các công nghệ màng lọc như lọc siêu lọc và lọc nano là những phương  
pháp hiệu quả nhất để xử lý nước tới mức mà nó có thể được sử dụng trong  
quá trình bắt đầu quá trình. Ngoài ra, sử dụng một sự lựa chọn cẩn thận của các  
hóa chất được thêm vào nước điều trị cũng làm cho tái chế dễ dàng hơn", ông  
   
11  
nói thêm. Ví dụ: "Sử dụng ozon thay vì chlorine, loại bỏ lượng dư lâu dài và  
làm cho nước thải không bị ăn mòn bởi các màng”.Hay, thiết bị bay hơi nhiệt  
tập trung hiệu quả chất đen và cung cấp condensate để tái sử dụng.”[13]  
Các nước châu Âu hiện đang thắt chặt về quản lý môi trường, nâng cấp  
nhà máy xử lý nước - trong ngành công nghiệp giấy đòi hỏi chất lượng nước  
chặt chẽ, tăng chi phí xả nước thải và hạn chế ngày càng tăng về quyền rút  
nước. Những yếu tố này, cùng với các sáng kiến về trách nhiệm của doanh  
nghiệp nhằm giảm sử dụng nước, đang thúc đẩy các nhà khai thác nhà máy P  
& P chuyển từ hệ thống xử lý nước truyền thống sang các hệ thống màng.  
Theo Rich Garber (giám đốc môi trường tại Mỹ) cho biết: “Trong khi  
việc xử lý thứ ba chất thải cuối cùng để tái sử dụng có thể có tính khả thi về  
kinh tế và kỹ thuật đối với hầu hết các nhà máy P & P, nhiều cơ sở đã tận dụng  
cơ hội tái chế các dòng quy trình riêng lẻ và tái sử dụng nước thải ra hệ thống  
xử lý nước thải[15]. Ngành công nghiệp giấy đã có những tiến bộ lớn trong việc  
xử lý các dòng nước của quá trình và thu hồi lại các xơ bột còn sót lại, canxi  
cacbonat và lượng nước. "Ví dụ, các nhà máy giấy có thể xử lý giấy và tái chế nó  
trở lại nhà máy tẩy trắng để sử dụng như nước tắm và nước pha loãng. Ngoài việc  
giảm lượng xả thải, nước trắng tái chế cũng giúp giảm năng lượng sử dụng như  
nước này có chứa năng lượng nhiệt có giá trị, thay thế hơi nước cần thiết để làm  
nóng nước của quá trình”[16]. Hiện nay , các nhà máy giấy đang sử dụng các dự  
án thu hồi nhiệt để giải phóng nhiệt từ các dòng ngưng tụ để xử lý hóa chất xử lý  
nhiệt sau đó được sử dụng trong quá trình tẩy trắng.  
2.2.2. Thực trạng xử lý nước thải ngành công nghiệp giấy ở Việt Nam:  
Hiện nay, có khoảng 90 nhà máy giấy đang hoạt động trong cả nước với  
năng lực sản xuất trên 2 triệu tấn/năm trên sản phẩm lượng đạt khoảng 1,5  
triệu tấn/năm.[11]  
Tuy nhiên, hơn 90% doanh nghiệp giấy không có hệ thống xử lý nước  
thải hoặc có nhưng chưa đạt yêu cầu, vì thế, tình trạng gây ô nhiễm môi trường  
do sản xuất giấy cũng đang là vấn đề được nhiều người quan tâm.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 51 trang yennguyen 11100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá diễn biến chất lượng nước thải bột giấy của Công ty Cổ phần giấy An Hòa trong quý IV năm 2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_dien_bien_chat_luong_nuoc_thai_bot_giay_c.pdf