Khóa luận Nghiên cứu sinh trưởng một số loài cây bản địa tại mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-----------------------------  
HOÀNG THÚY QUỲNH  
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG MỘT SỐ LOÀI CÂY BẢN ĐỊA  
TẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên, năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
-----------------------------  
HOÀNG THÚY QUỲNH  
NGHIÊN CỨU SINH TRƯỞNG MỘT SỐ LOÀI CÂY BẢN ĐỊA  
TẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP TRƯỜNG ĐẠI HỌC  
NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR  
: Lâm nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 – 2019  
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS. Trần Quốc Hưng  
Thái Nguyên, năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan khóa luận này do chính tôi thực hiện dưới sự hướng  
dẫn khoa học của PGS.TS. Trần Quốc Hưng  
Các số liệu kết quả nghiên cứu trong khóa luận của tôi hoàn toàn  
trung thực và chưa hề công bố hoặc sử dụng để bảo vệ học vị nào.  
Nội dung khóa luận có tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông  
tin được đăng tải trên các tác phẩm, tạp chí,…đã được chỉ rõ nguồn gốc.  
Nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.  
Thái Nguyên, tháng năm 2019  
Giáo viên hướng dẫn  
Sinh viên  
PGS.TS Trần Quốc Hưng  
Hoàng Thúy Quỳnh  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận sinh viên đã sửa theo yêu cầu của hội đồng chấm  
Khóa luận tốt nghiệp  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Thực hiện tốt nghiệp là một giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng  
của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng  
cố và vận dụng kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường. Được sự  
nhất trí của Ban giám hiệu nhà trường, giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm  
khoa Lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, em tiến hành  
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng một số loài cây bản địa tại mô  
hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.  
Sau một thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, bản báo cáo thực  
tập tốt nghiệp của em đã hoàn thành.  
Vậy em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong  
khoa Lâm Nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giảng dạy và  
hướng dẫn chúng em.  
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TS Trần  
Quốc Hưng đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài.  
Em xin cảm ơn nhà trường và khoa Lâm nghiệp đã tạo điều kiện giúp  
em trong quá trình thực tập để hoàn thành báo cáo tốt nghiệp này.  
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn động viên  
giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện đề tài.  
Em xin chân thành cảm ơn!  
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2019  
Sinh viên  
Hoàng Thúy Quỳnh  
 
v
DANH MỤC CỤM TỪ VIẾT TẮT  
D00  
Đường kính gốc  
Chiều cao vút ngọn  
Sai tiêu chuẩn  
Hệ số biến động  
Trung bình  
Hvn  
S
S%  
TB  
LB  
Cu  
LE  
Pn  
Nghiến  
Ngọc am  
Lim xanh  
Thông tre  
Mi  
Giổi xanh  
 
vi  
MỤC LỤC  
 
vii  
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá đối với nước ta. Ngoài việc đem lại  
giá trị về gỗ và lâm sản ngoài gỗ, rừng còn là yếu tố địa lý không thể thiếu  
trong tự nhiên giúp điều hòa khí hậu bảo vệ đất đai chống sói mòn. Chính vì  
vậy rừng không chỉ có chức năng kinh tế - xã hội, mà rừng còn mang giá trị  
sinh thái cảnh quan, bảo vệ môi trường, du lịch, bảo tồn,…  
Mặc dù thời gian đã có những nỗ lực không ngừng của các cấp các  
ngành trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng nhưng nhìn chung kết quả đạt  
được chưa toàn diện, thiếu vững chắc .Tình trạng phá rừng khai thác và sử  
dụng đất lâm nghiệp trái phép vẫn diễn ra ở nhiều nơi ,đặc biệt ở các địa  
phương còn nhiều rừng tự nhiên .Nhiều băng nhóm phá rừng chuyên nghiệp  
,đường dây buôn bán lâm sản chưa dược theo dõi ,phát hiện và bắt giữ kịp  
thời.Nhiều điểm nóng về phá rừng nghiêm trọng kéo dài chưa được giả quyết  
triệt để. Theo Tổng cục Lâm Nghiệp (Bộ NN&PTNT) chỉ hơn 5 năm (2012-  
2017), diện tích rừng tự nhiên bị mất do chuyển mục đích sử dụng rừng tại  
các dự án được duyệt chiếm 89% tổng diện tích rừng giảm; còn lại là do phá  
rừng trái pháp luật làm mất 11%.  
Vấn đề bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng được coi là nhiệm vụ  
trọng tâm trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.  
Nhà nước đã có nhiều chương trình xúc tiến đẩy mạnh quá trình trồng rừng  
phủ xanh đất trống đồi núi trọc và trồng rừng kinh tế với hiệu quả ban đầu  
tương đối khả quan. Nhưng do chạy theo xu thế phát triển kinh tế, vốn đầu tư  
còn hạn chế nên các chương trình trồng rừng ở nước ta mới chỉ tập trung vào  
các loài cây mọc nhanh như: Keo, Bạch đàn, Bồ đề,.v.v những loài cây này  
mới chỉ đáp ứng được mục tiêu kinh tế là chính, tính bền vững chưa cao.  
   
2
Trong chiến lược phát triển Lâm nghiệp, nghành Lâm nghiệp đã chú trọng  
đến việc bảo tồn và phát triển các loài cây bản địa đang ngày càng bị thu hẹp  
lại về cả diện tích cũng như số loài do những hiểu biết về chúng ngày càng  
nhiều. những lợi ích to lớn mà các loài cây bản địa mang lại, không chỉ đơn  
thuần là cung cấp lâm đặc sản mà chúng còn là những loài cây "của tự  
nhiên", có sự phát sinh và tiến hoá trong thời gian dài nên có khả năng thích  
nghi cao với điều kiện nơi mọc và có tính bền vững cao, "thân thiện với môi  
trường sinh thái".  
Ngoài ra, chúng mang những ý nghĩa nhân văn to lớn trong đời sống  
của các cộng đồng dân cư sống gần rừng, gắn liền với kiến thức bản địa và  
phong tục tập quán của họ, do vậy việc đem gây trồng chúng cũng sẽ có  
nhiều phần lợi hơn. Khoa Lâm Nghiệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái  
Nguyên đã tiến hành gây trồng mô hình trồng một số loài cây bản địa , Theo  
đánh giá ban đầu, các mô hình này đã đạt được những thành công nhất định.  
Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có một nghiên cứu định lượng cụ thể nào  
nhằm đánh giá tình hình sinh trưởng của các loài cây bản địa này mà mới chỉ  
có điều tra sơ bộ để đánh giá và chọn ra một số loài có triển vọng tại khu  
rừng trồng. Trước những thực trạng trên, để bảo vệ hợp lý tài nguyên rừng  
nói chung và một số loài cây bản địa nói riêng, để nâng cao hiệu quả bảo tồn  
một số loài cây bản địa tại mô hình trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên,  
việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng một số loài cây bản địa tại  
mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” là  
thực sự cần thiết để đưa ra những đánh giá, giải pháp phù hợp trong việc phát  
triển, bảo vệ các loài cây bản địa hiệu quả.  
3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của 5 loài cây bản địa (Nghiến,  
Giổi, Thông tre, Ngọc am, Lim xanh) trồng trong mô hình vườn cây bản địa  
tại Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên.  
- Đánh giá được tình hình sâu bệnh hại tới 5 loài cây bản địa trong mô  
hình nghiên cứu.  
- Nghiên cứu xây dựng và tạo ra mô hình rừng cây bản địa, nhằm mục  
đích tạo cảnh quan sinh thái và vườn thực vật cây bản địa, tại trường Đại học  
Nông Lâm Thái Nguyên.  
- Đề xuất được một số biện pháp kỹ thuật trồng các loài cây bản địa  
trong việc nhân rộng địa bàn trồng của vườn thực vật đến nhiều nơi khác nữa.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập  
- Giúp củng cố lại kiến thức đã học, có thêm cơ hội kiểm chứng những  
lý thuyết đã học trong nhà trường đúng theo phương châm học đi đôi với hành.  
- Tích lũy thêm được nhiều kiến thức và kinh nghiệm thực tế trong  
việc nghiên cứu xây dựng và tạo ra mô hình rừng cây bản địa. Đây là những  
kiến thức rất cần cho quá trình nghiên cứu, học tập và làm việc sau này.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn sản xuất  
Kết quả nghiên cứu góp phần lựa chọn được một vài loài cây như:  
Nghiến, Giổi, Thông tre, Ngọc am, Lim xanh tốt nhất để đưa vào mô hình tạo  
cảnh quan sinh thái và vườn thực vật cây bản địa cho trường Đại học Nông  
Lâm Thái Nguyên.  
       
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN VỀ TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu  
- Đánh giá sinh trưởng cây rừng nói chung và đánh giá sinh trưởng các  
loài cây bản địa nói riêng là nội dung rất quan trọng, cần thiết trong việc gây  
trồng ở địa điểm mới, nhằm đưa ra được kết quả chúng có phù hợp với khu  
vực để đưa các loài cây này vào công tác xây dựng vườn thực vật và đồng  
thời mở rộng diện tích và cả quy mô.  
- Vườn thực vật chuyển vị nơi chứa đựng rất nhiều loài cây quý hiếm và  
có tên trong các danh lục đỏ hay nghị định đang đứng trên bờ vực nguy hiểm,  
với mục đích bảo tồn về nguồn gen và xây dựng nơi nghiên cứu khoa học cho  
mọi người thì việc xây dựng vườn thực vật rất cần thiết với thực trạng hiện nay.  
- Khái niệm về biển pháp chuyển vị: Là một trong những biện pháp  
quan trọng và có hiệu quả trong bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học. Biện  
pháp bảo tồn ngoại vi là chuyển dời và bảo tồn các loài hoặc các nguyên liệu  
sinh học của chúng trong môi trường mới không phải là nơi cư trú tự nhiên  
vốn có của chúng. Bảo tồn ngoại vi bao gồm bảo quản giống, loài, nuôi cấy  
mô, thu thập các cây để trồng và các loài động vật để nuôi nhằm duy trì vốn  
gen quý hiếm cho sự nghiên cứu khoa học, nâng cao dân trí và giáo dục lòng  
yêu thiên nhiên cho mọi tầng lớp nhân dân.  
- Trên cơ sở đang xây dựng 1 vườn thực vật trong mô hình khoa Lâm  
nghiệp giống như hình thành 1 tế bào nhỏ và sẽ nuôi tế bào ấy lớn mạnh theo  
thời gian để các loài cây bản địa luôn được giữ và bảo tồn. Đó cũng là 1  
trong những mục tiêu để phát triển rừng một cách bền vững.  
   
5
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước  
Do trồng rừng thuần loài đã bộc lộ nhiều nhược điểm nên nhiều nhà  
khoa học trên thế giới đã quan tâm nghiên cứu nhằm tạo lập các lâm phần  
rừng trồng hỗn loài bằng nhiều loài cây khác nhau trong đó đa số là sử dụng  
cây bản địa. Cho đến nay đã có nhiều nghiên cứu thử nghiệm và trồng rừng  
hỗn loài thành công bằng loài cây này. Sau đây là một số công trình nghiên  
cứu điển hình:  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
*Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa:  
Đứng trước những yếu tố đó nên con người đã xây dựng nên các vườn thực  
vật nhằm giải quyết vấn đề về sự suy giảm số lượng lớn các loài thực vật nói  
chung và các loài thực vật quý hiếm nói riêng, bên cạnh đó kết hợp tham quan  
giải trí và lồng ghép giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở  
cho con người học tập, nghiên cứu.  
Tại Malaysia, năm 1999 trong dự án xây dựng rừng nhiều tầng đã giới  
thiệu cách thiết lập mô hình rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên,  
rừng trồng Keo tai tượng (Acacia mangium) 10 – 15 tuổi và 2 – 3 tuổi.  
Dự án đã sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30m  
trong rừng tự nhiên, trên mỗi băng người ta có thể trồng 6 hàng cây bản địa  
và trồng 14 loài cây bản địa dưới tán rừng Keo tai tượng. Thí nghiệm đối với  
rừng Keo tai tượng dự án chia thành 2 khu:  
Khu chặt theo băng:  
Mở băng 10m trồng 3 hàng cây bản địa;  
Mở băng 20m trồng 7 hàng cây bản địa;  
Mở băng 40m trồng 15 hàng cây bản địa;  
Khu chặt theo hàng:  
Chặt 1 hàng Keo trồng 1 hàng cây bản địa;  
Chặt 2 hàng Keo trồng 2 hàng cây bản địa;  
   
6
Chặt 4 hàng Keo trồng 4 hàng cây bản địa;…  
Kết quả cho thấy, trong các loài cây bản địa được trồng trong các băng  
có 3 loài cây gồm: Shorea roxburrghii; S.ovalis; S.leprosula có khả năng sinh  
trưởng chiều cao và đường kính tốt nhất. Tỷ lệ sống giữa các công thức  
khôngkhác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng trong băng 10m và băng  
40m tốt hơn băng 20m. Kết quả thí nghiệm trồng theo hàng đã chỉ ra rằng  
trồng 1 hàng cho tỷ lệ sống, khả năng sinh trưởng chiều cao cao hơn nơi  
trồng từ 2 – 4 hàng. Về khả năng sinh trưởng đường kính lại tốt ở công thức  
trồng 6 hàng và 16hàng. Dự án cònvạch ra kế hoạch điều chỉnh các công thức  
trồng tại những thời điểm 2, 8, 12, 18, 28, 34, 41, 47 năm sau khi trồng (dẫn  
theo Lê Minh Cường, 2007) [5].  
Tại Đan Mạch, thông qua nghiên cứu sinh trưởng của Jensen (1983)  
cho thấy rằng Vân sam (Abies) trồng hỗn giao với Linh sam bạc (Abies alba)  
có sản lượng cao hơn chính nó trồng thuần loài. Tương tự, Bulô hỗn giao với  
Thông tốt hơn Bulô thuần loài. Hỗn giao giữa Betula pendula với Abies theo  
tỷ lệ 25-50% đã làm tăng sản lượng của Abies ở tất cả các tuổi (dẫn theo  
Nguyễn Đức Thế, 2007) [16].  
Tại Costa Rica, ba kiểu rừng trồng, mỗi kiểu rừng trồng là hỗn giao  
của 4 loài cây bản địa chịu bóng khác nhau trong vùng đất thấp ẩm ướt cho  
thấy từ 2 - 4 6 năm tuổi, đường kính ngang ngực trong các quần thụ hỗn giao  
lớn hơn trong các quần thụ thuần loài của những loài mọc nhanh (dẫn theo  
Nguyễn Đức Thế, 2007) [16].  
Một nghiên cứu khác tại Costa Rica, Haggar.J và J.Ewel (1995) đã  
trồng hai loài cây Hyeronima alchorneoides và Cordia alliodora ở vùng đất  
thấp theo hai phương thức khác nhau là thuần loài và hỗn loài. Các tác giả đã  
nhận định rằng cả hai loài trồng hỗn giao với nhau đều sinh trưởng tốt hơn  
trồng thuần loài. Hơn nữa, hai loài cây này trồng phối hợp với nhau khá thích  
7
hợp. Bởi vì, sự phân bố của hệ thống rễ cũng như tán lá ở các vị trí khác nhau  
trong không gian tạo nên sự phối hợp hỗ trợ lẫn nhau nhiều hơn là cạnh tranh  
không gian dinh dưỡng. Cũng hai tác giả này, khi nghiên cứu về khả năng  
sinh trưởng của loài Cordia alliodora trong rừng hỗn loài ở Costa Rica thì  
thấy loài này sinh trưởng nhanh hơn so với các quần thụ thuần loài (7,9m  
trong hỗn giao và 4,9m trong thuần loài ở giai đoạn 2 năm tuổi) (dẫn theo  
Nguyễn Đức Thế, 2007) [16].  
Không chỉ có vậy, khi nghiên cứu trồng rừng hỗn loài cũng cần lưu ý  
đến cấu trúc tầng thứ. Vì thế, nghiên cứu tạo rừng hỗn loài nhiều tầng cũng  
đã được nhiều nhà khoa học quan tâm. Trong lĩnh vực này điển hình là tác  
giả Bennar Dupuy (1995), tác giả cho thấy rằng kết cấu tầng tán của rừng  
trồng hỗn loài phụ thuộc vào đặc tính sinh học và tính hợp quần của các loài  
cây trong trong lâm phần (Dẫn theo Hoàng Văn Thắng, 2007) [14].  
Điều này cho thấy, để tạo được các mô hình rừng trồng hỗn loài có cấu trúc  
hợp lý, tận dụng được tối đa không gian dinh dưỡng thì cần phải dựa vào khả  
năng sinh trưởng cũng như phải quan tâm đến mối quan hệ qua lại giữa các loài  
cây để lựa chọn các loài cây trồng cho phù hợp. Đây là cơ sở quan trọng quyết  
định đến sự thành công hay thất bại của các mô hình rừng trồng hỗn loài  
*Những nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây lá kim với cây bản địa  
lá rộng  
Hiện nay, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về cây lá  
kim phục vụ cho công tác trồng rừng như ở Anh, Pháp, Úc, Canada, Đan  
Mạch…. Đa số các công trình tập trung chủ yếu là nghiên cứu các quy luật  
phân bố, quy lụât tăng trưởng, cấu trúc, đặc tính cơ lý gỗ, một số tính chất lý  
hoá học đất, tính chất hoá học của nhựa…Về trồng rừng hỗn loài giữa cây lá  
kim và cây lá rộng bản địa đã có một số nước nghiên cứu về vấn đề này song  
chưa nhiều.  
8
Nghiên cứu trồng cây lá kim hỗn giao với cây bản địa điển hình là ở  
Đài Loan và một số nước Châu Á. Sau khi trồng phủ xanh đất trống đồi núi  
trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tán. Kết quả cho  
thấy đã tạo ra những mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suất cao, có  
tác dụng tốt trong việc bảo vệ chống xói mòn đất.  
Tóm lại, các kết quả nghiên cứu về cây bản địa và trồng rừng hỗn loài  
trên thế giới tuy chưa nhiều, song với những thông tin thu thập được về cách  
lợi dụng độ tàn che tầng cây cao, cách sử dụng cây phù trợ và các phương  
thức bố trí loài cây trong các mô hình thí nghiệm và với những thông tin về  
tiểu hoàn cảnh rừng … là những tài liệu tham khảo và bài học kinh nghiệm  
có giá trị.  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước  
* Nghiên cứu về trồng rừng hỗn loài cây bản địa:  
Rất nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu thử nghiệm các phương  
pháp trồng cây và chăm sóc khác nhau nhằm mang lại hiệu quả tốt trong trồng  
rừng nhất.  
Việt Nam là 1 quốc gia được đánh giá rất cao về tính đa dạng loài cả  
trong khu vực cũng như trên Thế Giới. Nhất là hệ thực vật với khí hậu nhiệt  
đới mưa ẩm đã tạo giúp cho Việt Nam có những khu rừng rộng lớn với nhiều  
loài, nhưng do nhu cầu đáp ứng cuộc sống của chính chúng ta mà dẫn đến  
suy thoái sự đa dạng này. Chính vì vậy, Nhà nước đã có nhiều chương trình  
dự án hỗ trợ để xây dựng các vườn hỗn loài, khu bảo tồn nhằm bảo vệ được  
tính đa dạng nguồn gen của những loài cây bản địa vừa phục vụ mục đích  
học tập và nghiên cứu khoa học.  
Trong giai đoạn 1930-1980 có rất ít các công trình nghiên cứu về rừng  
trồng hỗn loài và nghiên cứu chọn loài cây trồng cũng chỉ tập trung cho một  
số loài cây thuộc họ Dầu. Từ năm 1985 đến nay, việc nghiên cứu trồng rừng  
 
9
hỗn loài bằng các loài cây bản địa được triển khai nhiều hơn kể cả số lượng  
loài cây và diện tích rừng trồng. Trong giai đoạn này nhiều loài cây lá rộng  
bản địa đã được lựa chọn để nghiên cứu cho các vùng sinh thái trong cả  
nước. Các loài cây lá rộng bản địa được lựa chọn để nghiên cứu trồng rừng  
hỗn loài chủ yếu là các loài có giá trị kinh tế cao.  
Một số loài cây bản địa được lựa chọn cho vùng Tây nguyên và Nam  
bộ như: Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Cẩm lai (Dalbergia oliveri), Căm xe  
(Xylia xylocarpa), Tếch (Tectona grandis) ... và được trồng chủ yếu tại các  
trạm thực nghiệm Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, Lang Lanh và Măng Linh tỉnh  
Lâm Đồng, Ekmat tỉnh Đắc Lắc, Tân Tạo Thành Phố Hồ Chí Minh. Ở miền  
Bắc, các loài cây chủ yếu được lựa chọn để trồng rừng hỗn loài là Lim xanh  
(Erythurophleum fordii), Lim xẹt (Peltophorum tonkinnensis), Giổi xanh  
(Mechelia mediocris), Re gừng (Cinamomum ilcidioides), Mỡ (Manglietia  
conifera), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Ràng  
ràng mít (Ormosia balansae), Xoan đào (Prunus arborea), Vạng trứng  
(Endospermum chinense) ...  
Trần Ngũ Phương (2000) [12], cũng đã nghiên cứu xây dựng các mô  
hình trồng rừng hỗn loài tạo ra rừng nhiều tầng tán nhằm mục đích cho  
phòng hộ và sản xuất thông qua các phương thức hỗn loài khác nhau nhờ hỗn  
loài giữa cây cao với cây bụi, hỗn loài giữa cây cao với cây cao. Căn cứ kết  
quả của các công trình nghiên cứu các quy luật chủ yếu ở rừng tự nhiên ở  
miền Bắc Việt Nam, tác giả đã chỉ ra rằng thảm thực vật rừng ở nước ta đều  
phân thành nhiều tầng, từ 2 đến 3 tầng cây gỗ chưa kể tầng cây nhỡ và thảm  
tươi. Dựa trên quy luật đó tác giả đã đề xuất mô hình trồng rừng hỗn loài đáp  
ứng mục tiêu phòng hộ đầu nguồn cho các vùng xung yếu, trong đó có 2 mô  
hình hỗn loài nổi bật là mô hình rừng sản xuất khí hậu vĩnh viễn nhiều tầng  
và rừng sản xuất thứ sinh tạm thời nhiều tầng.  
10  
Năm 1962, các nhà lâm học Học viện Nông lâm đã tiến hành thí  
nghiệm trồng rừng hỗn loài, lấy cây Mỡ (Manglietia glauca) làm đối tượng  
chính của rừng hỗn loài và dùng các loài cây bạn theo từng cặp: Mỡ  
(Manglietia glauca) + Lim Xanh (Erythrophloeum); Mỡ (Manglietia glauca)  
+ Xà cừ (Khay senegalensis), Mỡ (Manglietia glauca) + Tếch (Tectona  
grandis). Mỗi loài trồng 1 hàng, hàng cách hàng 2m, cây cách cây 2m, kết  
quả cho thấy Xà cừ và Tếch không thích hợp với phương thức trồng này nên  
tốc độ sinh trưởng chậm và bị các loài cây khác cạnh tranh, cuối cùng chỉ còn  
Mỡ thuần loài. Đối với Lim xanh, 2 năm đầu sinh trưởng kém, nhưng giai  
đoạn tiếp theo Lim xanh phát triển chiều cao nhanh hơn, đến tuổi 10 – 12  
Lim xanh đã vươn lên cùng tầng với Mỡ. Trần Nguyên Giảng đã nhận xét  
rằng Lim xanh có khả năng trồng hỗn loài với Mỡ nhưng chưa tìm được tỷ lệ  
thích hợp. Xét về mặt cải thiện đất, cây Lim xanh có thể là cây cải tạo đất  
khá tốt, nhưng Xà cừ và Tếch thể hiện tác dụng này chưa rõ.  
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) [7], Nguyễn Ngọc Lung và Võ Đại  
Hải (1996) [11], đã xây dựng 20 khu nghiên cứu định vị ở Tây Nguyên dưới  
các dạng thảm thực vật có cấu trúc khác nhau. Đây là những công trình  
nghiên cứu tương đối toàn diện về xói mòn đất rừng ở nước ta, đặc biệt là đã  
làm rõ vai trò phòng hộ chống xói mòn và điều tiết nước của rừng. Các  
nghiên cứu của Võ Đại Hải cho thấy khi giảm độ tàn che từ 0,7 - 0,8 xuống  
mức 0,3 - 0,4 thì dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với rừng tự nhiên và 33,8%  
đối với rừng Le. Khi độ dốc tăng lên thì thì lượng dòng chảy cũng tăng lên.  
Chẳng hạn khi độ dốc tăng lên 2 lần thì lượng dòng chảy mặt tăng lên 58,1%.  
Từ năm 1980 trở lại đây, việc phục hồi rừng bằng các loài cây bản địa  
lá rộng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu. Nổi bật là công trình  
nghiên cứu phục hồi rừng vùng Sông Hiếu thông qua việc xây dựng cấu trúc  
hỗn loài Lát hoa với một số loài cây khác của Nguyễn Bá Chất (1994)[3].  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 71 trang yennguyen 20500 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu sinh trưởng một số loài cây bản địa tại mô hình khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_sinh_truong_mot_so_loai_cay_ban_dia_tai.pdf