Khóa luận Đánh giá hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
-------  -------  
TRẦN THỊ THÚY HƯỜNG  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRỒNG CÂY CẢNH  
TẠI XÃ HỒNG QUANG, HUYỆN NAM TRỰC  
TỈNH NAM ĐỊNH  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
Hà Nội – 2015  
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM  
KHOA KINH TẾ VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
-------  -------  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ TRỒNG CÂY CẢNH  
TẠI XÃ HỒNG QUANG, HUYỆN NAM TRỰC  
TỈNH NAM ĐỊNH  
Tên sinh viên  
: Trần Thị Thúy Hường  
Chuyên ngành đào tạo : Phát triển nông thôn  
Lớp  
: PTNTB – K56  
: 2011-2015  
Niên khóa  
Giảng viên hướng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Minh Thu  
Hà Nội – 2015  
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các Số  
liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực và chưa từng được  
ai công bố trong bất cứ công trình nào khác.  
Tôi xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong khóa luận tốt  
nghiệp đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.  
Hà nội, ngày...tháng...năm 2015  
Tác giả khóa luận  
TRẦN THỊ THÚY HƯỜNG  
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin  
chân thành cảm ơn đến toàn thể các thầy cô giáo Học viện Nông Nghiệp Việt  
Nam, các thầy cô trong khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn đã trang bị cho  
tôi những kiến thức cơ bản và có định hướng đúng đắn trong học tập và  
nghiên cứu.  
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo trực tiếp hướng  
dẫn tôi TS Nguyễn Thị Minh Thu đã dành nhiều thời gian trực tiếp chỉ bảo tận  
tình, hướng dẫn tôi những hướng đi cụ thể, giúp tôi hoàn thành khóa luận này.  
Tôi xin được trân trọng cảm ơn sự chia sẻ những khó khăn và giúp đỡ  
tận tình của các anh chị, các chú các bác trong UBND xã Hồng Quang,  
huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định trong thời gian vừa qua, giúp tôi có thể  
hoàn thành tốt khóa luận cửa mình.  
Cuối cùng tôi xin gửi tới gia đình, bạn bè đã động viên giúp đỡ tôi  
trong suốt quá trình thực tập, nghiên cứu cũng như trong thời gian thực hiện  
đề tài lời cảm ơn chân thành nhất.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
Hà Nội, ngày….tháng…năm 2015  
Tác giả khóa luận  
TRẦN THỊ THÚY HƯỜNG  
 
MỤC LỤC  
 
DANH MỤC BẢNG  
 
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
BQ  
Bình quân  
CN – TTCN  
CN – TTCN – TMDV  
Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp  
Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp-  
Thương mại dịch vụ  
Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa  
Ngành nghề nông thôn  
Nghề truyền thống  
CNH – HĐH  
NNNT  
NTT  
QMN  
Quy mô nhỏ  
QMTB  
CPTG  
Quy mô lớn  
Chi phí trung gian  
 
TÓM TẮT KHÓA LUẬN  
Trong những năm gần đây, nông nghiệp nông thôn nước ta có được sự quan  
tâm lớn của nhà nước . Trong đó, phát triển các nghành nghề là một chủ trương  
nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao thu nhập cho người dân vùng nông thôn.  
Xã Hồng quang là một xã một xã hợp nhất bởi 2 xã nằm phía Bắc huyện nam trực,  
có trục đường quốc lộ 21 chạy qua cách thành phố 6km, có đường tỉnh lộ 488 do đó  
có vị trí thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế xã hội giữa xã và các vùng  
lân cận. Chính bởi thế, nghề trồng hoa cây cảnh được du nhập vào xã như một mối  
tơ duyên. Bắt nguồn từ làng cây cảnh Vị Khê, Nam Điền nghề trồng hoa du nhập  
vào xã và phát triển ngày một lớn mạnh mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội, môi  
trường cho người lao động tai đia phương.  
Đề tài “Đánh giá hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, huyện Nam  
Trực, tỉnh Nam Định” được thực hiện từ tháng 01/2015 đến tháng 06/2015 sẽ phân  
tích và đánh giá hiệu quả các mô hình trồng cây cảnh tại địa phương , từ đó nhằm  
đua ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường cho người  
dân và địa phương.  
Để thấy rõ được hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, bài khóa luận sẽ  
thong qua đánh giá của người dân về thực trạng pháp triển và hiệu quả của nghề  
trồng hoa cây cảnh và một số đề xuất nhằm phát triển cucng như nâng cao hiệu quả  
nghề trồng hoa cây cảnh. Với việc sử dụng các phương pháp thống kê mô tả ,  
phương pháp so sánh, phương pháp ma trận SWORT để thấy rõ ý kiến, đánh giá  
của người nông dân về thực trạng cũng như hiệu quả của nghề trồng hoa cây cảnh.  
Thông qua thu thập thông tin từ phương pháp điều tra, phỏng vấn phiếu điều tra  
theo phương pháp chọn mẫu điều tra tại 3 xóm Phố, Mộng và xóm Trại, trong đó  
chọn mỗi xóm 15 hộ sản xuất đề điều tra.  
 
PHẦN I  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu  
Đất đai là tài nguyên vô cùng qúy giá, là thành phần quan trọng hàng đầu  
của môi trường sống, là địa bàn bố trí các khu dân cư, xây dựng các sở y tế,  
an ninh quốc phòng….Do vậy, việc sử dụng đầy đủ và hợp lí nguồn tài  
nguyên này nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao, đem lại lợi ích cho con người và  
cho toàn xã hội là điều hết sức quan trọng.  
Cùng với sự phát triển vượt bậc của nền kinh tế hiện nay thì nền kinh tế  
Việt Nam cũng đang trên đà hội nhập, mọi lĩnh vực hoạt động đều đang phát  
triển mạnh mẽ,đóng góp tích cực vào tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên  
một thực tế không thể tránh khỏi trong quá trình CNH-HĐH hiện nay đó là  
tình trạng dư thừa lao động nông thôn. Nước ta với tổng diện tích đất tự nhiên  
là 32,9 triệu ha trong đó diện tích đất nông nghiệp chỉ có 9,34 triệu ha (chiếm  
28% tổng diện tích đất tự nhiên). Bình quân đất tự nhiên cũng như đất nông  
nghiệp trên đầu người được xếp vào loại thấp nhất thế giới. Do vậy việc xây  
dựng các mô hình sử dụng đất nông nghiệp đạt hiệu quả cao đang là vấn đề  
cấp bách đặt ra cho các nhà quản lý cũng như các nhà khoa học.  
Trong những năm gần đây nghề trồng cây cảnh ở Nam Định nói riêng  
và cả nước nói chung đang phát triển một cách mạnh mẽ dần khẳng định rằng  
nghề trồng và kinh doanh hoa cây cảnh đang trở thành một nghành kinh tế  
tiềm năng, là hướng đi có hiệu quả giúp người dân phát triển kinh tế, ly nông  
mà không ly hương. Xã Hồng Quang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định, là một  
xã có diện tích đất nông nghiệp khá lớn, đất đai màu mỡ, giao thông thuận  
tiện cũng như các điều kiện tự nhiên thuận lợi. Cùng với sự phát triển kinh tế  
xã hội, nhu cầu thị hiếu cua người tiêu dùng ngày càng cao,….. Nhận thức  
được điều đó người dân trong xã đã chuyển đổi một số các mô hình sử dụng  
   
đất nông nghiệp kém hiệu quả (đất lúa, đất ngô,khoai, đất vườn…) chuyển  
sang xây dựng các mô hình trồng cây cảnh có giá trị kinh tế cao nhằm đáp  
ứng nhu cầu của thị trường mang lại thu nhập cao cho người dân. Thực tế tại  
địa phương các mô hình này chưa định hướng cụ thể nên có rất nhiều các mô  
hình trồng cây cảnh khác nhau,sản phẩm chưa có sức cạnh tranh trên thị  
trường,trình độ lao động không đồng đều, vấn đề vệ sinh môi chưa được quan  
tâm đúng mức,... . Vậy mô hình cây cảnh nào có hiệu quả kinh tế cao? Những  
yếu tố nào ảnh hưởng tới hiệu quả trồng cây cảnh? Đưa ra các biện pháp nào  
để nâng cao hiệu quả trồng cây cảnh?...  
Để trả lời những câu hỏi đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá  
hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam  
Định”. Đề tài sẽ phân tích và đánh giá hiệu quả các mô hình trồng cây cảnh  
của địa phương. Từ đó nhằm đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả kinh  
tế, xã hội, môi trường cho người dân và địa phương.  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu  
1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu chung  
Trên cơ sở đánh giá hiệu qủa trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, huyện  
Nam Trực, tỉnh Nam Định; Từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao  
hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam  
Định trong thời gian tới.  
1.2.2. Mục tiêu cụ thể  
- Góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về đánh giá hiệu quả  
trồng cây cảnh  
- Đánh giá hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang,huyện Nam Trực,  
tỉnh Nam Định.  
- Phân tích một số yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả trồng cây cảnh tại địa phương  
- Đề xuất một số giải pháp để nâng cao hiệu quả trồng cây cảnh tại địa  
phương trong thời gian tới.  
 
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
1.3.1.Đối tượng nghiên cứu  
Nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn về hiệu quả trồng cây cảnh  
tại xã Hồng Quang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định. Để làm rõ hiệu quả  
trồng cây cảnh tôi tiến hành nghiên cứu 3 nhóm đối tượng:  
-Hộ nông dân  
-Cán bộ địa phương  
-Thương lái  
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu  
- Về nội dung:  
Nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn về hiệu quả trồng cây cảnh  
theo 3 nhóm: cây thế, cây tết và cây hoa quanh năm.  
- Về không gian:  
Nghiên cứu trên địa bàn xã Hồng Quang huyện Nam Trực tỉnh Nam Định  
- Về thời gian:  
Số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2012 đến năm 2014  
Số liệu điều tra được thực hiên trong năm 2015  
- Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 01/2015- 06/2015  
 
PHẦN II  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ  
TRỒNG CÂY CẢNH  
2.1. Cơ sở lý luận về đánh giá hiệu quả trồng cây cảnh  
2.1.1.Các khái niệm có liên quan  
2.1.1.1. Hiệu quả kinh tế  
Mỗi nhà sản xuất một loại sản phẩm hàng hóa nào đó trước khi có kế  
hoạch sản xuất đều suy nghĩ xem liệu sản xuất hàng hóa đó có tốt không? Có  
hiệu quả kinh tế hơn các hàng hóa khác không? Về phía người tiêu dùng cũng  
vậy họ luôn chọn cho mình loại hàng hóa phù hợp với túi tiền và sở thích của  
mình. Mỗi cách lựa chọn khác nhau đem lại những hiệu quả kinh tế khác nhau  
và hiệu quả kinh tế là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm.  
Vậy hiệu quả kinh tế là gì? Có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu  
quả kinh tế nhưng nhìn chung chúng ta có thể nói hiệu quả kinh tế là một  
phạm trù kinh tế chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền sản xuất hàng hóa  
dịch vụ và với tất cả phạm trù, quy luật kinh tế khác. Mặt khác hiệu quả kinh  
tế cũng là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động  
kinh tế, nó phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực trong quá trình sản xuất  
kinh doanh. Trong khi các nguồn lực rất có hạn, nhu cầu hàng hóa của xã hội  
ngày càng tăng và đa dạng, nâng cao hiệu quả kinh tế là một xu thế khách  
quan của sản xuất.  
Cụ thể đối với ngành nông nghiệp, hiệu quả kinh tế được hiểu là mối  
tương quan so sánh giữa lượng hiệu quả thu được với lượng chi phí bỏ ra  
trong một thời gian nhất định của một phương án sản xuất nhất định, hay một  
loại cây trồng, một con gia súc nào đó đạt được trong tương quan so sánh tối  
ưu giữa đầu vào và đầu ra trong điều kiện sản xuất khác nhau như điều kiện tự  
nhiên kinh tế xã hội của ngành sản xuất nào đó. Khi xác định hiệu quả kinh tế  
     
chúng ta cần xem xét và kết hợp chặt chẽ giữa lượng tuyệt đối và tương đối,  
qua đó biết được tốc độ và quy mô sản xuất đó. Tuy nhiên, trong điều kiện thị  
trường hiện nay, mục tiêu hàng đầu của người sản xuất kinh doanh là thu  
nhập và lợi nhuận cao, do vậy hiệu quả kinh tế trong sản xuất thiên hướng về  
mặt kinh tế nhiều hơn so với mặt xã hội.  
Có nhiều quan điểm về hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế ở mỗi nơi,  
mỗi vùng khác nhau thì khác nhau. Hầu hết các quan điểm đều phản ánh mối  
quan hệ giữa kết quả hoạt động sản xuất với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả  
đó. Theo quan niệm của LN CARIMÔP-Kinh tế chính trị Mác Lê Nin, cho  
rằng: “Hiệu quả của sản xuất xã hội được tính toán và kế hoạch hóa trên cơ sở  
những nguyên tắc chung đối với nền kinh tế quốc doanh, bằng cách so sánh  
hiệu quả của sản xuất với chi phí hoặc nguồn lực sử dụng”.  
Ngày nay người ta đồng nhất giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả sản  
xuất mà hiệu quả sản xuất là một hiện tượng bao gồm nhiều mặt như hiệu quả  
kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường và trên các cơ sở đó người ta  
đưa ra một só quan điểm về hiệu quả kinh tế.  
Quan điểm I: Hiệu quả kinh tế được xác định bằng tỉ số giữa kết quả  
đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Theo quan điểm này cho  
phép chúng ta xã định được các chỉ tiêu tương đối của hiệu quả kinh tế bằng  
cách so sánh kết quả với chi phí cần thiết để đạt được hiệu quả đó.  
H=Q/K  
Trong đó: H là hiệu quả kinh tế  
Q là kết quả sản xuất  
K là tổng chi phí sản xuất  
Tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi hoạt động sản xuất kinh doanh mà  
chúng ta tính toán và nghiên cứu các chỉ tiêu khác nhau. Khi nghiên cứu về  
vốn, chúng ta có hiệu suất vốn bằng cách lấy tổng số sản phẩm chia cho vốn  
sản xuất. Bằng cách đó sẽ xác định được hiệu suất lao động, với quan điểm  
này sẽ không xác định được quy mô sản xuất các đơn vị kinh tế. Trên thực tế  
hai cơ sở có quy mô sản xuất khác nhau, nhưng lại có hiệu suất sử dụng vốn  
như nhau, nghĩa là có hiệu quả kinh tế về sử dụng vốn như nhau.  
Quan điểm II: HQKT đo bằng hiệu số giữa giá trị sản xuất được và chi  
phí bỏ ra để đạt được kết quả đó.  
HQKT= KQSX – CPSX (H=Q-K)  
Quan điểm này cho phép xác định được các chỉ tiêu tuyệt đối của  
HQKT. Các chỉ tiêu HQKT theo quan điểm này thì phản ánh rõ nét về quy  
mô sản xuất của các đơn vị kinh tế, cơ sở sản xuất nào có quy mô sản xuất lớn  
sé đạt được tác động của từng yếu tố đầu vào trong quá trình sản xuất kinh  
doanh đến hiệu quả sản xuất. Như vậy, các chỉ tiêu này sẽ không giúp cho  
người sản xuất có những tác động cụ thể để nâng cao hiệu quả kinh tế sản  
xuất kinh doanh.  
Quan điểm III: Xem xét HQKT trong phần biến động giữa chi phí và  
kết quả sản xuất. Như vậy,HQKT biểu hiện ở tỉ lệ giữa phần tăng them cửa  
chi phí để đạt được kết quả đó hay quan hệ tỉ lệ qiuwax kết quả bổ sung và chi  
phí bổ sung.  
H=∆K/∆C  
Trong đó: H là tỉ suất kết quả sản xuất bổ sung  
∆C là tổng chi phí bổ sung  
∆K kết quả bổ sung  
Tỷ suất này giúp cho các nhà sản xuất xác định điểm tối đa hóa lợi  
nhuận. Trên cơ sở đó, các nhà sản xuất sẽ đưa ra những quyết định sản xuất  
tối ưu nhất.  
Còn trong kinh tế học vĩ mô chú ý tới quan hệ tỉ lệ giữa mức độ tăng  
lên của kết quả sản xuất xã hội và chi phí sản xuất xã hội tăng lên.  
Ta có: H=∆K/∆C  
Trong đó: K là phần tăng trưởng của kết quả sản xuất xã hội  
C là phần tăng lên của chi phí lao động xã hội  
Theo quan điểm này, các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế đã phản ánh được  
chất lượng của quá trình sản xuất kinh doanh và nhờ đó người sản xuất sẽ có  
biện pháp tác động nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình sản xuất. Trong  
thực tế kết quả sản xuất đạt được luôn là hệ quả của chi phí sẵn có (chi phí  
nền) và chi phí bổ sung. Tại các mức chi phí nền khác nhau thì hiệu quả của  
chi phí bổ sung khác nhau.  
Nhìn chung quan điểm của các nhà khoa học về hiệu quả kinh tế tuy có  
những khía cạnh khác biệt, nhưng đều thống nhất với nhau. Hiệu quả kinh tế  
là lợi ích tối ưu mang lại của mỗi quá trình sản xuất kinh doanh.  
2.1.1.2. Hiệu quả xã hội  
Hiệu quả xã hội là một phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả  
kinh tế và thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa  
các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu  
phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính chất định tính như tạo công ăn việc làm  
cho người lao động , định canh, định cư, xây dựng xã hội lành mạnh, nâng  
cao mức sống của toàn dân.  
Theo Nguyễn Duy Tính, hiệu quả về mặt xã hội sử dụng đất nông  
nghiệp được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nông  
nghiệp.  
Nói chung, hiệu quả xã hội là khả năng tạo công ăn việc làm, nâng cao  
đời sống của người lao động.  
2.1.1.3. Hiệu quả môi trường  
Hiệu quả của môi trường được các nhà môi trường học rất quan tâm  
trong điều kiện hiện nay. Một hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi  
hoạt động đó không có những tác động xấu đến vấn đề môi trường như đất  
nước khí hậu và hệ sinh học. HQMT là hiệu quả đạt được khi quá trình sản  
xuất kinh doanh diễn ra không làm cho môi trường xấu đi mà ngược lại quá  
trình sản xuất đó còn đem lại cho môi trường tốt hơn, làm cho môi trường  
xanh sạch đẹp hơn trước.  
2.1.2 Vai trò của trồng hoa cây cảnh trong phát triển kinh tế xã hội  
Họat động sản xuất của nghề trồng hoa cây cảnh không chỉ góp phần  
phát triển văn hóa tinh thần và cải thiện đời sống của nông thôn mà còn mang  
dấu ấn về tính sáng tạo, sự khéo léo và ý chí vươn lên trong cuộc sống của  
ông cha ta từ nhiều đời nay. Nghề trồng hoa cây cảnh hình thành là kết quả  
của quá trình phân công lao động kéo dài và tồn tại đan xen, tương hỗ với các  
nghề khác trong nông nghiệp. Chính vì vậy, nghề trồng hoa cây cảnh có vai  
trò, tác dụng như sau trong bối cảnh phát triển kinh tế xã hội:  
+Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động ở  
nông thôn.  
Một vấn đề quan trọng ở nước ta hiện nay là phát triển toàn diện kinh  
tế, xã hội ở nông thôn,tạo việc làm nâng cao thu nhập cho cư dân nông thôn.  
Diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, nhường chỗ cho phát triển khu  
công nghiệp,dịch vụ với lực lượng lao động trong lĩnh vực nông nghiệp dồi dào  
thì dây là một bài toán cho sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Do  
vậy giải quyết việc làm cho lao động nông thôn trở nên hết sức khó khăn đòi hỏi  
sự hỗ trợ nhiều mặt và đồng bộ của các nghành nghề và các lĩnh vực  
Đến nay, nghề trồng hoa cây cảnh trên toàn quốc đã tạo ra việc làm cho  
hơn 11 triệu lao động. Chiếm 30% lực lượng lao động ở nông thôn.  
+Tăng giá trị sản phẩm hàng hóa  
Phát triển nghề trồng hoa cây cảnh có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự  
phát triển kinh tế địa phương. Sản phẩm của nghề là nhân tố quan trọng thúc  
đẩy phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn. Tỷ trọng giá trị ở sản phẩm của  
nghề trồng hoa cây cảnh cao hơn nhiều so với các nghề thuần nông khác.  
+Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa-  
hiện đại hóa.  
 
Sự phát triển của nghề trồng hoa cây cảnh đã góp phần làm cho tỉ trọng  
của nghành nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tỉ trọng của các nghành công  
nghiệp dich vụ ngày càng tăng lên.  
Riêng thôn Vị Khê, xã Điền Xá, huyện Nam Trực nổi tiếng về trồng  
hoa cây cảnh trong cả nước có khoảng 600 hộ trồng với tổng diện tích khoảng  
150ha và cả 7 thôn của xã Điền Xá có 3.500 hộ trồng hoa cây cảnh với tổng  
diện tích 450ha. Nhờ phát triển SVC, cuộc sống của nhiều gia đình được cải  
thiện, nhiều người trở nên giàu có. (Bạch Thị Oanh,2012).  
+Thu hút vốn nhàn dỗi, tận dụng thời gian và lực lượng lao động, hạn  
cế di dân tự do  
Phát triển nghề trồng hoa cây cảnh ở nông thôn có khả năng tận dụng và  
thu hút nhiều loại lao động. Sự phát triển của nghề trồng hoa cây cảnh không  
chỉ đem lại thu nhập cao và tương đối ổn định cho người lao động mà còn hạn  
chế việc di dân tự do, giảm sức ép về lao đọng tại các thành phố lớn.  
+Phát triển nghề trồng hoa cây cảnh thúc đẩy phát triển kết cấu hạ tầng  
nông thôn làm thay đổi bộ mặt nông thôn, góp phần xây dựng nông thôn mới.  
Hệ thống giao thông và kết cấu hạ tầng vừa là tiền đề vừa là kết quả của  
phát triển nghề trồng hoa cây cảnh. Trước hết nghề trồng hoa cây cảnh được  
hình thành ở những vùng có giao thông thuận lợi, đồng thời nghề trồng hoa cây  
cảnh phát triển sẽ nảy sinh nhu cầu xây dựng, mở rộng đường giao thông, trạm  
điện...phục vụ cho phát triển nghề, bên cạnh đó thay đổi bộ mặt nông thôn.  
Phát triển nghề trồng hoa cây cảnh cùng với việc tăng thu nhập của  
người dân đã tạo ra một nguồn thu tích lũy khá lớn và ổn định cho ngan sách  
địa phương cũng như các hộ gia đình. Vì vậy, nguồn vốn để xây dựng cơ sở  
hạ tầng nông thôn được uy động từ sự đóng góp của người dân và hỗ trợ từ  
ngân sách địa phương. Phát triển nghề trồng hoa cây cảnh không chỉ tạo điều  
kiện mà còn là nhân tố kích thích sự phát triển cơ sở vật chất kĩ thuật và nâng  
cao dân trí nông thôn, thúc đẩy xã hội nông thôn tiến lên, văn minh hiện đạ,  
thu hẹp dần khoảng cách giữa thành thị và nông thôn, góp phần trong xây  
dựng nông thôn mới.  
+Bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc  
Lịch sử phát triển nghề trồng hoa cây cảnh gắn liền với phát triển văn  
hóa dân tộc, nó là nhân tố tạo nên nền văn hóa ấy, đồng thời là sự biển hiện  
tập trung nhât bản sắc vawbn hóa dân tộc. Sản phẩm của nghề là sự kết tinh  
của loa động vật chất và lao động tinh thần, nó được tạo nên bởi bàn tay tài  
hoa và óc sáng tạo của người thợ thủ công.  
Vì vậy, khôi phục và phát triển nghề trồng hoa cây cảnh có ý nghĩa rất  
quan trọng trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình CNH-  
HĐH đất nước và hội nhập quốc tế.  
2.1.3 Đặc điểm của nghề trồng hoa cây cảnh  
2.1.3.1 Sản phẩm của nghề mang đậm chất tư tưởng của người nghệ nhân  
Người làm nghề trồng hoa cây cảnh truyền đạt những tâm tư, ý niệm ,  
lối sống, suy nghĩ của chính bản thân mình mà đem vào trong dáng, thế nghẹ  
thuật của cây được ci như những đúa con tinh thần. Những sản phẩm sinh vật  
cảnh khi ra đời tưởng chỉ có tính chất dơn lẻ thể hiện tâm tư, tình cảm và gu  
thẩm mĩ của người nghệ nhân, nhưng khi đạt đến nét đẹp nghệ thuật sẽ trở  
thành tài sản văn hóa tinh thân chung cho cả cộng đồng và xã hội. Nghệ nhân  
tựa như người nghệ sĩ sáng tạo, mặc dù mang nhiều tính ngẫu hứng nhưng  
những sản phẩm đó mới thực sự đem tới cho người thưởng thức những cái  
nhìn hay, chân thực nhất về cuộc sống đương đại mà người nghệ nhân muốn  
gửi gắm vào cây.  
2.1.3.2 Nghề trồng hoa cây cảnh là sự kế thừa giữa truyền thống văn hóa cổ  
truyền và văn hóa hiện đại  
Cây cảnh là thú chơi có từ lâu đời, với người xưa hì đó là một thú chơi  
tao nhã của các bậc cao nhân, chơi cây cảnh là thưởng ngoạn cái hay cái đẹp,  
nét nghệ thuật mà chỉ có ai thực sự hiểu rõ mới có thể khám phá ra các thế  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
doc 75 trang yennguyen 13040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả trồng cây cảnh tại xã Hồng Quang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • dockhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_trong_cay_canh_tai_xa_hong_quang.doc