Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lú ở xã Thuỷ Tân, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế

ĐẶT VẤN ĐỀ  
1. Tính cấp thiết của đề tài.  
Lương thực là một trong những nhu yếu phẩm tối thiểu cần thiết của con người.  
Trong đó lúa gạo là nguồn lương thực chính cho khoảng 2/3 số người trên toàn cầu.  
Trong khi dân số thế giới tiếp tục gia tăng thì diện tích trồng lúa có xu hướng ngày  
càng giảm. Do đó vấn đề anh ninh lương thực thế giới trong tương lai vô cùng cấp  
thiết. Theo dự đoán của các chuyên gia về dân số học, nếu dân số tip tục gia tăng  
trong vòng 20 năm tới thì sản lượng lua gạo phải tăng 80% mơi đảm bảo được về vấn  
đề an ninh lương thưc của thế giới. Đây là điều kện tối cần thiết để đảm bảo cho sự ổn  
định và phát triển kinh tế xã hội toàn cầu.  
Sự đổi mới về kinh tế của Việt Nam đã và đang ạt được nhiều thành tựu đáng  
kể, mà trước hết phải kể đến là thắng lợi cảu ngành nông nghiệp. Sản lượng lúa tăng  
nhanh từ 11,6 triệu tấn ănm 1975 đến năm 2007 đạ sản lượng 40,6 triệu tấn, nghĩa tăng  
gấp 3,7 lần. Từ một quốc gia thiếu lương thực Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu  
gạo lớn đứng thứ hai trên thế giới với 4,2 triệu tấn mỗi năm.  
Xã Thuỷ Tân thụôc thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế là một xã đồng  
bằng có thu nhậpchủ yếu từ cây lúa nước. Người dân có truyền thồng trồng cây lúa  
nước từ lâu đời, những năua cấp uỷ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm cùng với  
các chính sách hỗ trợ của nhà nước, sản lượng lúa tăng đáng kể, năng suất lúa bình  
quân năm 2003 la 152,4tạ/ha đến năm 2007 là 172,2 tạ/ha . Tuy nhiên vấn đề đặt ra là  
hiệu quả nh tcủa việc trồng lúa ở xã nhà chưa được đánh giá một cách khoa học và  
chính xá
Từ thực tiễn của vấn đề, trong thời gian thực tập cuối khoá tôi đã chọn chuyên  
đề “Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lú ở xã Thuỷ Tân, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh  
Thừa Thiên Huế” để làm đề tài nghiên cứu.  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.  
Nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:  
- Đánh giá đúng tiềm năng, thực trạng sản xuất lúa của địa phương trong  
những năm qua.  
1
- Nhận thức được khó khăn, hạn chế đối với sản xuất lúa.  
- Khẳng định vai trò của cây lúa trong kinh tế nông hộ  
- Đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả từ kinh tế sản xuất lúa của  
các nông dân trên địa bàn xã.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu.  
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng đầu tư và các nhân tố ảnh hưởng đến kết  
quả và hiệu quả sản xuất lúa của các nông hộ trên địa bàn xã Thuỷ Tân. Điều tra điển  
hình một số hộ sản xuất lú ở hai thôn Tân Tô và thôn Tô Đà.  
Phạm vi nghiên cứu.  
Về phạm vi không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hai thôn sản xuất lúa điển  
hình của xã, là thôn Tân Tô và thôn Tô Đà.  
Về phạm vi thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu hai thôn sản xuất lúa của các  
hộ ở cả hai vụ ĐX và HT  
4. Phương pháp nghiên cứu.  
- phương pháp duy vật biện chứng: là cơ sở nghiên cứu xuyên suốt đề tài  
- Phương pháp điều tra phỏng vấn:  
Xây dựng mẫu điều tra  
Tiến hành điều tra ộ gia đình trồng lúa ở xã Thuỷ Tân, thị xã Hương Thuỷ,  
tỉnh Thừa Thiên Huế để đánh giá hiệu quả trồng lúa.  
- Phương pháp tổng hợp và phân tích  
- Phươnpháp phân tổ thống kê  
- ơng pháp chuyên gia: để thực hiện đề tài này tôi đã trao đổi với một số  
cán bộ HTX nông nghiệp Thuỷ Tân và một số hộ trồng lúa để kiểm chứng kết quả  
trồng lúa  
2
CHƯƠNG I  
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN  
1.1.1 Lý thuyết về hiệu quả kinh tế  
1.1.1.1. Khái niệm hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả là thuật ngữ chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện và cc mục tiêu hoạt  
động của chủ thể và chi phí bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định.  
Hay nói một cách chung nhất: kết quả mà chủ thể nhận được theo hướng mục  
tiêu trong hoạt động của mình lớn hơn chi phí bỏ ra bao nhiêu càng có lợi bấy nhiêu.  
Hiệu quả kinh tế là phạm trù phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế là thước đo  
trình độ tổ chức và quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp, GS-TS Ngô Đình Giao  
cho rằng “Hiệu quả kinh tế là tiêu chuẩn cao nhất của mọi sự lựa chọn kinh tế của các  
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường có sự quản lí của nhà nước”.TS Nguyễn  
Mạnh Tiến cho rằng “ Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế khách quan phản ánh trình  
độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu đã xác định”.  
Về mặt khái quát ta có thể cho rằng “Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế biểu  
hiện sự tập trung của sự ptriển kinh tế theo chiều sâu phản ánh trình độ khái quát  
khai táhc các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản  
xuất nhằm thực hiện mục tiêu đề ra”.  
Hqukinh tế được xác định bằng tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ  
ra. Công c được xác định như sau:  
H = Q/C  
Trong đó:  
H : Hiệu quả kinh tế  
Q : Kết quả thu được  
C : Chi phí bỏ ra  
3
Bản chất của hiệu quả kinh tế là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm  
lao động xã hội. Đây là hai mặt có mối liên hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế  
gắn liền với nhau quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội đó là quy luật năng suất  
lao động và quy luật tiết kiệm thời gian. Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh tế là  
đạt kết quả tối đa với một chi phí nhất định hoặc ngược lại đạt được kết quả nhất định  
với chi phí tối thiểu. Chi phí ở đây đựôc hiẻu theo nghĩa rộngbao gồm các chi phí để  
tạo ra nguồn lực, đồng thời phải bao gồm các chi phí cơ hội.  
Hiệu quả kinh tế biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được với  
chi phí kinh tế bỏ ra để đạt được kết quả đó. Quan hệ so sánh ở đây là quan hệ so sánh  
tương đối. Quan hệ tuyệt đối chỉ có ý nghĩa trong một phạm vi rất hẹp.  
Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp đựơc đánh giá thông qua một hoặc một  
số chỉ tiêu nhất định. Những chỉ tiêu hiệu quả này phụ thuộc chặt chẽ vào mục tiêu hoạt  
động của chủ thể. Vì vậy, phân tích hiệu quả của các phương án cần xác định rõ chiến lược  
phát triển cũng như mục tiêu của mỗi chủ thể trong từng giai đoạn phát triển.  
Những mục tiêu trong hoạt động doanh nghiệp mà doanh nghiệp quan tâm có  
liên quan tới lợi nhuận ổn định là mcụ tiêu bao trùm nhất, tổng quát nhất. Cho đến nay,  
khi phân tích hiệu quả sản xuất kinh doanh nhiều người thường dùng lợi nhuận để làm  
cơ sở phân tích.  
Hiệu quả kinh tế cnghĩa rất quan trọng đối với yêu cầu tăng trưởng và phát  
triển kinh tế nói riêng và phát triển xã hội nói chung. Vì vậy một mặt tận dụng và tiết  
kiệm các nguồn lực hiện có, mặt khác thúc đẩy tiến bộ khoa học cộng nghệ, tiến nhanh  
công nghiệp ho- hiện đại hoá. đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, nâng cao đời sống  
vật chất h thần cho người lao động.  
1.1.1.2. Lý thuyết về tiêu thụ  
- Khái niệm kênh phân phốise  
Lưu thông phân phối hàng hoá là khâu kêt nối sản xuất với tiêu dùng, kết nối  
các ngành kinh tế với nhau, cac doanh nghiệp với nhau. Trong nền kinh tế, trình độ xã  
hội hoá sản xuất ngày càng cao, thị trường ngày càng phát triển cả về chiều rộng và  
chiều sâu, hình thành mạng lưới vô cùng phức tạp và rộng lớn thì hoạt động lưu thông  
hàg hoá ngày càng trở nên sôi động với nhiều hình thức kênh phong phú. Đối với các  
4
doanh nghiệp nói chung, các trang trại và doanh nghiệp nói riêng, việc lụa chọn các  
kênh phân phối thích hợp với sản phẩm kinh doanh của mình, tổ chức có hiệu quả các  
kênh đó được coi là chiến lược quan trọng.  
Hoạt động lưu thông phân phối hàng hoá từ người sản xuất đến người tiêu dùng  
được thực hiện qua các kênh phân phối.  
Kênh phân phối là tập hợp những cá nhân, những tổ chức hay các doanh  
nghiệp tham gia vào quá trình tạo ra dòng vận chuyển hàng hoá, dịch vụ từ người sản  
xuất đến tiêu dung  
-
Kênh phân phối giống cây trồng, vật nuôi  
Kênh phân phối giống cây trồng, vật nuôi: là loại kênh phân phối hàng hoá tư  
liệu sinh vật nông nghiệp.Kênh này có những nét dặc trưng:  
- Các trung  
tâm giống  
Các công ty  
quốc gia  
- Các viện  
nghiên cứu  
- Các  
Người sản xuất  
nông nghiệp  
cung ứng sản  
xuất giống  
các cấp  
trường đại  
h
ọc  
Sơ đồ 1: Kênh phân phối giống cây trồng, vật nuôi  
Đây là kênh sản xuất và chuyển giao công nghệ về giống và sử dụng giống, loại  
kênh phphốđặc biệt vè sản phẩm nông nghiệp mang tính chất tư liệu sinh học.  
Kêkết hợp nghiên cứu sản xuất hoàn thiện sản phẩm trong quá trình chuyển  
giao công nghệ giống, trong đó nghiên cứu và chất xám đóng vai trò then chốt  
Là loại kênh phân phối sản phẩm vừa mang tính độc quyền của nhà nước, vừ  
mang tính xã hội cao, được nhà nước quan tâm thường xuyên, đồi hỏi cao và có chính  
sách hỗ trợ về công nghệ, tài chính..  
Kênh mang tính trực tiếp và cung cấp là chủ yếu. Các trung tâm giống quốc gia  
vừa là đầu kênh, vừa phải vươn lên làm chủ kênh, biến hoạt động mang tính kinh  
5
doanh trong qúa trình chuyển giao. Còn các công ty giống địa phương , làm nhiệm vụ  
rung chuyển nhưng phỉa khảo nghiệm, địa phương hoá trước khi cung cấp chuyển giao  
cho nông dân và chủ trang trại.  
+ Các kênh phân phối sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng cá nhân  
Kênh phân phối sản phẩm tiêu dùng cá nhân so với loại kenh tiêu thụ hàng hoá  
công nghiệp và dịch vụ tiêu dùng cá nhân thì số lượng kênh nhiều hơn và có một số  
kênh gián tiếp thì nhìn chung dài hơn. Cụ thể gồm có những kênh sau:  
K1  
K2  
K3  
K4  
K5  
K6  
K7  
SXNN  
SX NN  
SX NN  
SX NN  
SX NN  
SX NN  
SX NN  
Thu  
gom  
Thu  
gom  
Chế  
biến  
Thu  
gom  
Chế  
biến  
Người xuất khẩu  
BÁN BUÔN  
THỊ TRƯỜNG  
NƯỚC NGOÀI  
BÁN LẺ  
NGƯỜI TIÊU DÙNG  
Sơ đồ 2: Kênh phân phối hàng hoá, dịch vụ nông nghiệp  
Trong hệ thống kênh ở sơ đồ trên có mấy điểm đáng chú ý thể hiện đặc trưng  
kênh sản phẩm nông nghiệp là:  
Một là: Tuỳ theo trình độ chuyên môn hóa, quy mô sản xuất và mức độ gắn kết  
với thị trường mà các kênh phân phối được tổ chức dài hay ngắn. Kênh 1 và kênh 2 là  
hai kênh ngắn, chủ yếu hoạt động ở thị trường nông thôn. Cáckênh khác dài hơn  
6
thường đáp ứng cho người tiêu dùng thành phố. Đối với các kênh phục vụ xuất khẩu  
thường được tổ chức dài hơn mới đến được tay người tiêu dùng nước ngoài.  
Hai là: Ngoài kênh 1 và kênh 2 thì 5 kênh còn lại khâu trùng gían đầu tiên là  
người thu gom hoặc người chế biến nhưng có chức năng thu mua. Đặc trưng này là do  
sản phẩm nông nghiệp thường được sản xuất nhỏ lẽ phân tán đặc biệt đối với những  
nước sản xuất nông nghiệp chưa được phát triển như nước ta.  
Ba là: Người nông dân với tư cách là người sản xuất ở đầu kênh nhưng không  
phải là chủ kênh phân phối nên họ chỉ quan tâm đến các tác nhân trung gian đầu tiên  
trực tiếp quan hệ với hộ. Hộ đòi hỏi những người trung gian phải là những người kinh  
doanh mua bán rõ ràng, mua hàng nhiều, lấy hàng nhanh, đúng hẹn, giá cả công khai,  
thanh toán sòng phẳng, có sự hỗ trợ về công nghệ và tài chính  
Ngày nay với phương thức liên kết, thông qua kí kết các hợp đồng trách nhiệm  
giữa các nhà khoa học – nhà nông – doanh nghiệp – các nhà phân phối và có vai trò  
của nhà nước đang thực sự có vai trò to lớn trong giải quyết vấn đề phân phối sản  
phẩm nông nghiệp đến tay người tiêu dùng hiệu quả và đảm bảo giải quyết lợi ích hài  
hoà của mọi thành viên trong kênh.  
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng tới sản xuất lúa  
1.1.2.1. Nhân tố thuộc về tự nhiên  
- Khí hậu có ảnh hg rất lớn đến sự phân bố của cây lúa trên toàn thế giới và  
có quy luật trên từng vùng rộng lớn. Nhiệt độ , ánh sáng ảnh hưởng trực tiếp quá trình  
quang hợp, hô hấp, ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây lúa. Ngoài ra  
sự tác động bất ường của thời tiết còn là nguyên nhân gây hại cho cây lúa.  
- đai  
Đất đai là tư liệu không thể thiếu trong sản xuất lúa, nhờ có đất đai mà cây lúa  
tồn tại mà củng chính nhờ đất đai mà cây lúa được cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng  
cho quá trình trao đổi chất và sự chuyển hoá sinh lí, sinh hoá. Đất đaicó màu mỡ hay  
không là thể hiện qua độ phì nhiêu của đất, ở những môi truờng khác nhau thì độ màu  
mỡ cũng khác nhau… Vì vậy, để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa cần quan tâm đến chế  
độ canh tác cho phù hợp với từng loại đất nhằm để cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng  
7
cho cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, dồng thời trong quá trình canh tác phải chú  
trọng đến việc cải tạo và bồ dưõng đất.  
1.1.2.2. Yếu tố sinh học  
- Giống  
Giống có ảnh hưởng quan trọng đến năng suất nông nghiệp, điều này thể hiện ở  
chỗ mỗi giống có tiềm năng năng suất khác nhau. Thông thường, các giống địa  
phương có năng suất thấp hơn các giống lai ưu thế mới, chênh lệch năng suất này có  
thể lên đến 10 – 20%. Nhằm tăng hiệu quả cho sản xuất nông nghiệp, hiện nay công  
tác lai tạo giống rất được chú trọng. Các nhà khoa học đã nghiên cứu nhận thấy có 2  
hướng cải tiến năng suất theo hướng tăng hiệu suất sử dụng năng lượng bức xạ:  
+ Giảm chiều cao cây, tăng số bông/1 đơn vị diện tích  
+ Tăng số hạt và trọng lượng bông hay quả. Hệ ố kinh tế tăng đi đôi với tăng  
lượng chất khô tích lũy vào thời kỳ cuối.  
Bước đầu của công tác chọn giống, các nhà khoa học chú ý nhiều đến các thành  
phần của năng suất: số bông, số quả, số hạt, trọng lượng hạt…. Những cố gắng cải tiến  
thành phần này của năng suất lại đưa đến việc giảm thành phần khác. Ví dụ ở cây lúa,  
làm tăng số bông thì số hạt trên một bông và trọng lượng bông giảm, làm tăng số hạt  
thì trọng lượng hạt lại giảm….Nguyên nhân dẫn đến sự bù trừ này là do sự mâu thuẫn  
giữa sức chứa và nguồn. chứa là số lượng và độ lớn của các cơ quan có khả năng  
chứa các chất đồng hóa để tạo ra năng suất; nguồn là lượng chất đồng hóa được  
chuyển từ lá về bộ phận chứa năng suất. Trên thực tế, rất khó phân biệt chỉ tiêu đại  
diện cho sức cha và đại diện cho nguồn. Khó tách rời sức chứa và nguồn và các nhà  
sinh lý ồng vẫn còn tranh luận sức chứa hay nguồn là yếu tố hạn chế năng suất  
cây trồng. Theo kết quả nghiên cứu của Viện KHKTNN Việt Nam thì:  
Thành phần sức chứa, tương quan với thời gian tạo ra diện tích lá trước trổ; số  
nhánh, số bông và số hoa/m2 quyết định 29,9% năng suất.  
+ Thành phần nguồn, tương quan với chất khô và hiệu suất quang hợp sau trổ,  
số hạt/bông và số hạt/m2, trọng lượng bông và 1000 hạt, quyết định 23,1% năng suất.  
- Dinh dưỡng khoáng  
8
+ Đạm (N): tăng khả năng đẻ nhánh, tăng chiều cao cây lúa; tăng năng suất và  
chất lượng gạo  
+ Lân (P2O5): giai đoạn đầu giúp phát triển rễ; giai đoạn sau giúp phân hóa  
mầm hoa; giúp lúa trỗ sớm, qua đó tăng năng suất và chất lượng tốt  
+ Kali (K2O): tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh, hạn, rét do làm cho  
cây lúa cứng cây; tăng tỷ lệ hạt chắc, tăng năng suất phẩm chất  
+ Lưu huỳnh (S): tăng năng suất; tăng hàm lượng protein và acid amin trong gạo  
+ Magiê (Mg): tăng hấp thu và vận chuyển Lân; tăng cường quang hợp (là  
thành phần diệp lục tố). Tăng số hạt chắc và năng suất  
+ Canxi (Ca): tăng cường độ cứng cây và khả năng chống chịu sâu bệnh, tăng  
năng suất và chất lượng gạo  
+ Sắt (Fe): tăng cường quang hợp, tăng năng suất và chất lượng gạo  
+ Kẽm (Zn): tăng khả năng hút Lân và dinh dưỡng; tăng năng suất và chất  
lượng gạo  
+ Đồng (Cu): tăng cường khả năng chống nấm bệnh; tăng sinh trưởng, phát  
triển qua đó tăng năng suất và chất lượng  
+ Mangan (Mn): tăng cường sinh trưởng và phát triển, tăng năng suất và chất lượng  
+ Bo (Bo): tăng số hoa, tăng sức chống chịu của hạt phấn, giúp hạt phấn sống  
lâu; tăng tỷ lệ hạt chắc, tăăng suất phẩm chất  
+ Molypden (Mo): tăng khả năng hút dinh dưỡng, tăng sinh trưởng và phát  
triển; tăng năng suất và chất lượng  
- Sâu bệh  
nói sâu bệnh là , một yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng tới sản xuất lúa,  
nó có thể làm cho năng suất lúa giảm sút thạm chí mất trắng. ở lúa thì thường gặp một  
số bệnh:  
+ Bệnh đốm vằn do nấm sống trong đất: Rhizoctonia solani, Trên lúa, nếu dùng  
giống ngắn ngày, năng suất cao, ruộng sạ, cấy dầy, thiếu ánh sáng, bón thừa đạm, bón  
đạm muộn, bón không cân đối N-P-K, ẩm độ trên ruộng quá cao, ruộng vụ trước trồng  
bị bệnh đốm vằn, không dọn sạch rơm rạ, lúa chét, cỏ dại… bệnh đốm vằn dễ xảy ra  
trong vụ tiếp theo. Bệnh đốm vằn, thường xảy ra vào giai đoạn lúa đẻ nhánh tối đa –  
9
làm đòng, trổ (khoảng 35 – 70 NSS), bệnh âm thầm tiến triển nơi bẹ lá tiếp giáp mực  
nước, do đó nếu đi thăm đồng mà không chịu khó lội xuống ruộng quan sát thì sẽ  
không phát hiện được bệnh, đến khi bệnh phát triển lên lá đòng (trổ nóc) mới phòng trị  
thì đã quá muộn.  
Triệu chứng bệnh đốm vằn dễ nhân diện, lúc đầu bệnh xuất hiện ở bẹ lá giáp  
mực nước, vết bệnh có dạng đốm loang lổ như da beo, màu xanh xám, viền nâu, sũng  
nước, dần dần đốm bệnh ăn sâu vào bẹ lá làm bẹ lá vàng, khô chết dần, đồng thời bệnh  
còn ăn lan lên trên, một khi bệnh lan lên tới lá đòng (trổ nóc) thì năng suất có thể giảm  
tới 50%, hạt không đẹp, lúa bị lép, lửng, khi xay dễ bể.  
+ Bệnh bạc lá lúa: : Bệnh bạc lá lúa (BBL) do vi khuẩn Xanthomonas  
campestris Oryzae gây ra và là một trong những bệnh nguy hiểm nhất trên cây lúa.  
Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện nóng ẩm nên ở ác tỉnh phía Bắc thường xuất  
hiện từ tháng 3 trở đi, gây hại ở cả 2 vụ lúa trong năm, trong đó nặng nhất là các trà  
lúa vụ mùa, đặc biệt vào các thời kỳ hay có giông, bão. Các giống lúa thuần, lúa lai  
Trung Quốc rất dễ bị nhiễm bệnh. Bệnh chủ yếu xuất hiện ở các mép lá, cháy dần từ  
đầu chóp xuống (nên còn gọi là bệnh cháy lá) làm ảnh hưởng đến quá trình quang hợp  
của cây; nhẹ làm cây sinh trưởng, phát triển kém, còi cọc, đẻ nhánh yếu, giảm năng  
suất, bị nặng làm các lá bị cháy, đặc biệt cháy lá đòng làm cho hạt bị lép lửng, chất  
lượng gạo kém, giảm nănất nghiêm trọng, từ 25 đến 50%, thậm chí gây thất thu  
hoàn toàn.  
+ Bệnh lem lét hạt: *Do nhện gié thường sống trong các bẹ lá lúa khi mật số  
cao chúng có thbò lên trên bông lúa chích hút các gié lúa đang phát triển, các bông  
lúa bị hờng mọc thẳng đứng và phần lớn số hạt đều bị lép.  
*Do vi khuẩn Pseudomonas glumae (tên mới Bukhoderia glumae) làm thối đen  
hạt hoặc gây vết bệnh trên vỏ hạt.  
*Do nấm là chủ yếu: Alternaria padwickii, Bipolaris oryzae, Fusarium sp,  
Curvularia lunata, Microdochium oryzae, Phoma sp, Pyricularia oryzae, Sarocladium  
oryzae, Septoria sp, Tilletia barclayana, Ustilagonoides virens.  
10  
Sự phát sinh và tác hại  
*Thời kỳ cây lúa dễ mẫn cảm với bệnh là từ trổ bông đến chín sữa và rơi vào những  
tháng có nhiệt độ thấp ẩm độ không khí cao, lượng mưa lớn và số ngày mưa nhiều.  
*Lem lép hạt làm ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng hạt lúa, đồng thời tác  
hại vào vụ sau.  
+ Rầy nâu  
Tác hại trực tiếp: rầy cám và rầy trưởng thành cánh dài hoặc cánh ngắn đều  
chích hút nhựa cây lúa gây ra hiện tượng cháy rầy khi mật số cao. Rầy nâu gia tăng  
mật số nhanh và cao (bột phát) gây hại nặng cho cây lúa khi:  
- Trồng lúa liên tục trong năm  
- Dùng giống nhiễm rầy  
- Gieo sạ mật độ dày  
- Bón dư thừa phân đạm,  
- Phun thuốc trừ sâu không đúng cách (trộn nhiều loại thuốc, phun nhiều lần…).  
Tác hại gián tiếp: là môi giới truyền vi rút gây bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá cho  
cây lúa.  
Đặc điểm truyền bệnh  
- Rầy nâu chích hút nhựa cây lúa bị bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá rồi mang mầm  
bệnh vi rút này trong cơ để truyền sang cho cây lúa khoẻ mạnh khi chúng đến  
chích hút cây lúa đó.  
- Rầy nâu mang mầm bệnh có khả năng truyền bệnh cho đến khi chết.  
- Cây lúcàng non càng dễ bị nhiễm bệnh, về sau có thể không trổ bông được,  
năng sum nghiêm trọng hoặc mất trắng. Cây lúa già bị nhiễm bệnh thì năng suất  
bị giảm ít hơn.  
" Tóm lại, rầy nâu chỉ truyền bệnh khi có nguồn bệnh (lúa bị bệnh, lúa chét bị  
bệnh, cỏ bị bệnh) tồn tại trên đồng ruộng.  
1.1.2.3. Các yếu tố kinh tế - xã hội  
- Vốn  
Vốn là nhân tố không thể thiếu trong sản xuất kinh doanh, nó không chỉ ảnh  
hưởng tới sản xuất công nghiệp mà nó ảnh hưởng tới tất cả các lĩnh vực king tế khác.  
11  
Vốn là yếu tố quan trọng ảnh hưởng việc sản xuất lúa, người nông dân cần có  
vốn để trang bị dụng cụ tư liệu sản xuất, các yếu ýô đầu vào như phân bón, cày bừa,  
giống…. để phụ vụ cho việc sản xuất. Ngoài ra họ cần vốn để mở rộng quy mô sản  
xuất tăng năng suất cho cây trồng  
- Cơ cở hạ tầng  
Đầu tư cở sở hạ tầng cũng là một cơ sở để hỗ trợ và thúc đẩy sản xuất nông  
nghiệp. Có đầy đủ cơ sở hạ tầng thì tạo điều kiện cho người dân dễ dàng tiếp cận với  
sản xuất chuyên môn hoá,giúp việc lưu thông vận chuyển được dễ dàng giảm bớt chi  
phí trong sản xuất.  
- Giá cả thị trường  
Thi trường là nơi diễn ra sự trao đổi, mua bán hàng hoá giữa người bán và  
người mua. Việc xác định thị trường cho người sản xuấlúa là cơ sở quan trọng chho  
ngành xác định phương pháp và mục tiêu sản xuất, từ đó ta có thể xây dựng, quy  
hoạch các vung sản xuất tập trung đáp ứng nhu cầu xã hội. Nhưng tronh sản xuất, nhu  
cầu và giá cả là hai động lực thúc đẩy hay hạn chế việc snả xuất hàng hoá. Nếu ở đâu  
có điều kiện sản xuất phù hợp, có thtrường tiêu thụ và giá cả hợp lí thì ở đó sản xuất.  
Vấn đề muốn nói ở đây là giá cả phải bù đắp được chi phí và phải đảm bảo được mức  
lãi hợp lí. Bên cạnh đó, nhu cầu về sản phẩm lại rất đa dạng và phong phú, do đó việc  
xác định diện tích gieo trồà các loại giống phù hợp cũng hết sức cần thiết.  
Ngoài giá cả sản phẩm lúa, giá cả các yếu tố đàu vào cũng là các yếu tố tác  
động đến quyết định của người sản xuất, đó chính là chi phí sản xuất. Sự tăng hay  
giảm chi phí sảxuất ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người sản xuất, do đó có  
tác độnquy mô. Thị trường là nơi điều tiết cung cầu, là nơi thực hiện điều tiểt  
giữa người mua và người bán. Tuy nhiên trong điều kiện đất nước ta hiện nay, lợi ích  
giữa các bên tham gia vào thị trường chưa được gắn kết, voà mùa thu hoạch người sản  
xuất thường bị ép giá, mà dễ bị tổn thương nhất là người nông dân. Do đó, sự thay  
đổithị trường cũng gây nên sự thay đổi về sự thu nhập của họ. Vì vậy cần phải cóquy  
hoạch và định hướng trong sản xuất để tránh những thiệt hại cho người nông dân.  
- Chính sách nhà nước  
+ Chính sách đất đai  
12  
Luật đất đai sửa đổinăm 1993 công nhận quyền sử dụng hợp pháp và dài hạn  
cho người dân, họ có thể cầm cố, thế chấp, chuyển nhượng đất canh tác của  
mình…đây là cơ sở pháp lí để bảo vệ lợi ích của người sản xuất, tạo điều kiện thuận  
lợi hơn cho người dân trong đầu tư nâng cao năng lực sản xuất và họ sẽ quan tâm hơn  
đến mối quan hệ giữa sản xuất và cải tạo đất.  
+ Chính sách khuyến nông:  
Khuyến nông là chính sách quan trọng của nhà nước để thúc đẩy, hỗ trợ sản  
xuất nông nghiệp phát triển. Những năm qua nhờ chính sách này người nông dân đã  
nâng cao năng suất và phẩm chất của cây trồng, từ đó thu nhập của người nông dân  
được cải thiện, hiệu quả sản xuất ngày càng được nâng cao.  
1.1.2.4. Yếu tố con người  
- Tập quán canh tác của người dân:  
Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất và sản lượng cây  
trồng. Nếu tập quán canh tác lạc hậu sẽ hạn chế đến quy mô sản xuất, hạn chế mức đầu  
tư và hạn chế việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong quá trình sản xuất làm cho  
năng suất cây trồng giảm, hiệu quả hấp. Ở trình độ thâm canh cao hơn, tập quán canh  
tác tiến bộ hơn sẽ là cơ sở đến áp dụng khoa học kĩ thuật vào trong quá trình sản xuất.  
Nhờ sự tiến bộ của khoa học công nghệ nên đã làm thay đổi tập quán canh tác của  
người dân, trước hết sự lo các giống mới có chất lượng và năng suất cao đã làm  
tăng hiệu quả sản xuất, đồng thời trong một số khâu sản xuất máy móc đã thay thế  
được sức lao động của con người. Để hoạt động sản xuất có hiệu quả cần phải tăng  
cường công tác huyến nông để người nông dân thấy được tầm quan trọng của việc áp  
dụng tikhoa học công nghệ vào trong quy trình sản xuất, mặt khác Nhà nước  
cũng cần có chính sách hợp lí như dồn điền đổi thửa, quy hoạch vùng sản xuất theo  
từng vùng sản xuất theo từng giống lúa…để máy móc hoạt động có hiệu quả hơn.  
- Trình độ của người nông dân:  
Trình độ của người nông dân cũng là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng tới năng  
suất và sản lượng cây trồng.Nếu trình độ của người nông dân thấp, không có kinh  
nghiệm trong sản xuất sẽ hạn chế tới khả năng tiếp cận và việc áp dụng khoa học kĩ  
13  
thuật vào trong quá trình sản xuất, khả năng nắm bắt các thông tin về các yếu tố ảnh  
hưởng trong quá trình sản xuất , từ đó làm cho năng suất cây trồng giảm, đạt hiệu quả thấp  
- Khả năng áp dụng khoa học- kĩ thuật  
Việc áp dụng khoa học- kĩ thuật vào trong sản xuất có tác động rất lớn tới năng  
suất và sản lượng cây trồng. Nếu con người biết tiếp cận tốt và áp dụng khoa học kĩ  
thuật vào trong hoạt động sản xuất thì sẽ làm cho hoạt động có hiệu quả hơn,năng suất  
và chất lượng tốt hơn.  
1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất lúa  
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá mức độ đầu tư các yếu tố sản xuất  
* Chi phí đầu tư phân bón / sào  
* Chi phí giống / sào  
* Chi phí thuốc BVTV / sào  
* Chi phí khác / sào ( bao gồm các khoản thuê lao động, thuê máy móc, thuê  
các khoản dịch vụ khác)  
- Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả sản xuất.  
+ Giá trị sản xuất (GO)  
Giá trị sản xuất (GO): là chỉ tiêu cho biết trong một năm hoặc một vụ thì đơn vị  
sản xuất tạo ra được khối lượng sản phẩm có giá trị là bao nhiêu, chỉ tiêu này phản ánh  
qui mô về giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tạo ra cho xã hội. Có công thức xác  
định như sau:  
GOi = Qi * Pi (1)  
n
GO= Qi*Pi (2)  
i=1  
Trong đó :  
Qi : Khối lượng sản phẩm i  
Pi : Giá cả của sản phẩm i  
Trong sản xuất lúa chỉ sử dụng công thức (1)  
14  
+ Chi phí trung gian trên một đơn vị diện tích ( IC) bao gồm những khoảng chi  
phí vật chất và dịch vụ thuê hoặc mua ngoài được sử dụng trong quá trình sản xuất sản  
phẩm nông nghiệp  
+ Giá trị gia tăng (VA)  
Giá trị gia tăng (VA): là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng  
phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành thành phần kinh  
tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kỳ nhất định. Đó là nguồn gốc của  
mọi khoản thu nhập, sự giàu có và phồn vinh xã hội. Nó không chỉ biểu hiện hiệu quả  
của sản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để tính các  
chỉ tiêu kinh tế khác. Được xác đinh bởi công thức sau:  
VA = GO – IC  
-
Hệ thống các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản uất  
+ Hiệu suất GO/IC  
GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phi trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một đồng  
chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ.  
+ Hiệu suất VA/IC  
VA/IC: Giá trị tăng thêm trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một  
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra bao nhiêu đồng giá trị tăng thêm trong kỳ.  
+ Hiệu suất lợi ntrên chi phí ( Pr/TC): đối với chỉ tiêu này việc xác định  
lợi nhuận khó khăn do hầu hết các hộ đều sử dụng nhiều đến lao động gia đình. Chỉ  
tiêu này cho biết cứ một đồng chi phí bỏ ra có được bao nhêu đồng lợi nhuận  
1.1.4. Đđiểm và giá trị kinh tế của cây lúa  
1. Đặc điểm sinh học  
Sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất nhiều yếu tố, từ điều kiện tự  
nhiên, tình hình canh tác, phân bón đất đai, mùa vụ gieo trồng, giống và thời gian sinh  
trưởng của từng giống lúa.Quá trình sinh trưởng của cây lúa có thể chia ra làm hai thời  
kỳ: Sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực.  
- Thời kỳ sinh trưởng dinh dưỡng: Ở thời kỳ này cây lúa chủ yếu hình thành và  
phát triển các cơ quan dinh dưỡng như ra lá, phát triển rễ, đẻ nhánh…  
15  
- Thời kỳ sinh trưởng sinh thực: Là thời kỳ phân hoá, hình thành cơ quan sinh  
sản bắt đầu từ khi làm đòng đến khi thu hoạch. Bao gồm các quá trình làm đòng, trổ  
bông, hình thành hạt. Quá trình làm đốt tuy là sinh trưởng dinh dưỡng nhưng lại tiến  
hành song song với quá trình phân hoá đòng nên nó cũng nằm trong quá trình sinh  
thực. Thời kỳ này có ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành số bông, tỷ lệ hạt chắc  
và trọng lượng hạt lúa.  
+ Quá trình nẩy mầm: Hạt hút nước, độ ẩm trong hạt tăng, hoạt động các men  
hô hấp và phân giải rõ rệt, một loạt các phản ứng sinh hoá xảy ra, phôi được cung cấp  
glucoza, axitamin, các tế bào phân chia, lớn lên trục phôi phình to, đẩy mầm khi nẩy  
mầm, đầu tiên xuất hiện lá bao hình vảy, không có diệp lục. Đồng thời trong quá trình  
nẩy mầm, từ phôi xuất hiện rễ phôi. Rễ này dài, sau này phát triển thành các lông tơ  
giúp hạt hút nước trong thời kỳ đầu.  
+ Quá trình phát triển của bộ rễ: Sau khi nẩy mầm rễ lúa phát triển từ phôi là rễ  
mộng, rễ này chủ yếu có một cái. Rễ mộng xuất hiện rồi dài ra, có thể hình thành lông  
rễ, rễ mộng hoạt động trong một thời gian ngắn rồi chết đi và được thay thế bằng các lớp rễ  
phụ được hình thành từ mặt các đốt gốc của cây. Những mắc đầu chỉ ra được trên dưới năm  
rễ, nhưng mắc sau có thể đạt tới 3-20 rễ. Tập hợp các lớp sẽ tạo thành rễ chùm.  
+ Quá trình phát triển lá: Lá được hình thành từ các mầm lá ở mắc thân, khi hạt  
nẩy mầm, hình thành các ầu tiên là lá bao mầm, lá không hoàn toàn rồi đến lá thật  
1,2,3… Các lá phát triển liên tục từ ba lá đầu này, cây lúa đã tự nuôi dưỡng hoàn toàn  
sống độc lập, lá quang hợp, rễ hút dinh dưỡng. Thông thường trên cây lúa có khoảng  
5-6 lá cùng hoạộng, lá già tàn rụi dần để các lá non mới lại tiếp tục.  
+ trình đẻ nhánh: Lúa sau khi bén rễ hồi xanh thì làm đốt, làm đòng.  
Nhánh lúa hình thành từ các mầm nách ở gốc thân. Quá trình hình thành một nhánh  
qua bốn giai đoạn: phân hoá nhánh, hình thành nhánh, nhánh dài trong bọc lá và nhánh  
xuất hiện. Trong quá trình hình thành nhánh đầu tiên xuất hiện một lá bao hình ống  
dẹt, rồi xuất hiện các lá của nhánh, nhánh phát triễn 3-4 lá có thể tách ra khỏi cây mẹ  
và sống tự lập.  
+ Quá trình làm đòng: Ở thời kỳ này thân lúa chính thức mới được hình thành,  
số lóng kéo dài và chiều dài các lóng quyết định chiều cao của cây. Quá trình làm  
16  
đòng là quá trình phân hoá và hình thành các cơ quan sinh sản, có ảnh hưởng trực tiếp  
đến quá trình hình thành năng suất lúa.  
+ Quá trình trổ bông, nở hoa, thụ phấn: Sau khi hoàn thành quá trình làm đòng  
thì cây lúa trổ ra ngoài do sự phát triển nhanh của lóng trên cùng. Khi cây lúa thoát ra  
khỏi bẹ lá là quá trình trổ xong. Cùng với quá trình trổ bao phấn trên một bông các hoa  
ở đầu bông và đầu gié nở trước, các hoa ở gốc bông, các hoa ở gốc bông nở cuối cùng.  
Khi hoa nở phơi màu, váy cá hút nước trương to lên, đồng thời với áp lực của vòi nhị  
làm cho vỏ trấu nở ra, hạt phấn rơi vào đầu nhuỵ, đó là quá trình thụ phấn. Sau quá  
trình thụ phấn là quá trình thụ tinh và hình thành hạt. Trong điều kiện bình thường hạt  
phấn rơi xuống đầu nhuỵ, sau 15 phút ống phấn bắt đầu dài ra, các chất trong hạt bắt  
đầu dồn về ống phấn. Sau thụ tinh là quá trình phát triển phôi và phôi nhũ.  
+ Quá trình chín hạt: Chúng ta có thể chia quá trnh chín hạt ra làm ba thời kỳ:  
chín sữa, chín sáp và chín hoàn toàn.  
Chín sữa: Sau phơi màu 6-7 ngày các chất dự trữ trong hạt ở dạng lỏng, trắng như  
sữa, hình dạng hạt hoàn thành có màu xanh, trọng lượng hạt tăng nhanh ở thời kỳ này.  
Chín sáp: Ở thời kỳ này chất dịch trong hạt dần dần đặc lại, hạt cứng và màu  
xanh dần chuyển sang màu vàng.  
Chín hoàn toàn: Thời kỳ này hạt chắc cứng, màu vàng nhạt và trọng lượng hạt  
đạt tối đa.  
Quá trình lúa chín kéo dài 30-40 ngày tuỳ theo giống, thời vụ. Đây là quá trình  
quyết định năng suất lúa.  
1..2. ặc điểm sinh thái  
Nsự tác động của con người thì khí hậu thời tiết là yếu tố quan trọng nhất  
của điều kiện sinh thái, nó có ảnh hưởng lớn nhất và thường xuyên đến quá trình sinh  
trưỡng và phát triển của cây lúa.  
+ Về nhiệt độ: Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa phụ thuộc rất  
nhiều về nhiệt độ trong vụ gieo trồng. Nếu thời tiết thuận lợi, nhiệt độ trung bình cao  
cây lúa đạt được tổng nhiệt cần thiết sẽ ra hoa và chín sớm hơn tức là rút ngắn thời  
gian sinh trưởng và ngược lại. Để cho cây lúa phát triển tốt thì cần nhiệt độ khác nhau  
qua các thời kỳ sinh trưởng  
17  
Thời kỳ nẩy mầm: Nhiệt độ thích hợp cho cây lúa nẩy mầm là 30-350C. Nhiệt  
độ giới hạn thấp nhất là 10-120C và quá cao là trên 400C không có lợi cho quá trình  
nẩy mầm của lúa.  
Thời kỳ đẻ nhánh, làm đòng: Ở thời kỳ này cây lúa đã bén rễ, hồi xanh. Nhiệt  
độ thích hợp là 25-320C. Nhiệt độ dưới 160C quá trình bén rễ, đẻ nhánh, làm đòng  
không thuận lợi.  
Thời kỳ trổ bông làm hạt: Thời kỳ này cây lúa rất nhạy cảm trước sự thay đổi  
của nhiệt độ. Trong quá trình nở hoa, phơi màu, thụ tinh đòi hỏi nhiệt đphải ổn định.  
Nếu gặp nhiệt độ quá thấp hoặc quá cao đều không có lợi.  
+ Nước: Là thành phần chủ yếu trong cơ thể lúa, là điều kiện để thực hiện quá  
trình sinh lý trong cây và là điều kiện ngoại cảnh không thể thiếu của cây lúa.  
Theo Goutchin, để tạo ra một đơn vị thân lá, cây lúa cần 400-450 đơn vị nước,  
để tạo ra một đơn vị hạt, cây lúa cần 300-350 đơn vị nước. Nhu cầu nước của cây lúa  
qua các thời kỳ sinh trưởng là khác nhau.  
Thời kỳ nẩy mầm: Hạt giống được bảo quản dưới độ ẩm 13%, khi ngâm hạt, hạt  
hút nước đạt 22% thì có thể hoạt động và nẩy mầm tốt khi độ ẩm của hạt đạt 25-28%.  
Thời kỳ cây con: Trong điều kiện gieo thẳng cây lúa ở giai đoạn cây con  
không cần nước nhiều, ta chủ động giữ đủ ẩm và cho nước vào ruộng từ từ khi cây  
được 2-4 lá.  
Thời kỳ đẻ nhánh: Ở giai đoạn này chủ động tháo nước sát gốc lúa. Để tạo  
điều kiện cho cây lúa đẻ nhánh, sau khi cây đẻ nhánh hữu hiệu làm đòng trổ bông ta  
cần cho c vo đầy đủ tránh bị khô nước làm ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng  
của cây lúĐể lúa sinh trưởng thuận lợi, đạt năng suất cao cần cung cấp nước đầy đủ.  
Đối vơí công nghiệp chế biến.  
- Gạo dùng làm nguyên liệu để sản xuất bia, rượu…  
- Tấm dùng để sản xuất tinh bột, rượu, cồn, aceton, thuốc chũă bệnh….  
- Cám dùng để chế biến thức ăn cho gia súc non và vỗ béo, chế biến thức ăn  
tổng hợp, điều chế thuốc chữa bệnh, chế tạo sơn, xà phòng, làm mĩ phẩm…  
- Trấu dùng để sản xuất làm men nấm, làm chất đốt…  
18  
- Rơm rạ làm chất đốt, sản xuất nấm rơm, làm thức ăn cho gia súc, làm phân  
bón. Nếu tận dụng và khâi thác tốt các sản phẩm phụ thì giá trị cây lúa khá lớn.  
Giá trị xuất khẩu.  
Do cây lúa được trồng ở các nước châu Á, ngoài việc sử dụng trong nội địa lúa  
gạo còn là mặt hàng xuất khẩu. Ở Thái Lan trong những thập niên 60 xuất khẩu lúa  
gao chiếm đến 40 – 50 tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu. Nước ta hiện nay là nước  
xuất khẩu gạo lớn thứ 2 trên thế giới.  
Xuất khẩu từ tầm quan trọng của cây lúa, vấn đề đặt ra hiện nay trong sản xuất  
lúa là phải áp dụng tiến bộ của khoa học công nghệ vào tất cả các khâu sản xuất nhằm  
tạo ra sản phẩm lúa có chất lượng cao, năng suất lớn và hướng tới nền sản xuất nông  
nghiệp bền vững, nâng cao giá trị kinh tế đem lại từ sản xuất lúa.  
1.2. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA GẠO Ở VỆT NAM  
Xuất phát điểm của Việt nam là một nước nông nghiệp, cây lúa là cây trồng  
chính và lâu đời, cây lúa được phân bố khắp mọi miền của đất nước từ Bắc vào Nam,  
là một trong những nước có điều kiện khí hậu thuận lợi cho sự phát triển của cây lúa.  
Hơn 70 % dân số Việt nam sống bằng nghề trồng lúa, nhân dân ta rất cần cù, sáng tạo  
và giàu kinh nghiệm trong nghề trồng lúa nước, được kế thừa những kinh nghiệm của  
cha ông và đúc rút nhiều thành công trong công tác chăm sóc và gieo trồng  
Bảng 1: diệh, năng suất, sản lượng lúa gạo việt nam  
2009/2008  
Chỉ tiêu  
ĐVT  
2008  
7400,2  
2009  
7440,1  
±
+39,9  
-0,1  
%
+ Diện tílúa  
+ Năng s
+ Sản lượng  
Nghìn ha  
Tạ/ha  
0,5  
52,3  
52,2  
0,2  
0,4  
Nghìn tấn  
38729,8  
38895,5  
165,7  
(Nguồn: Niên giám thống kê cả nước 2009)  
Qua số liệu thực tế, diện tích sản xuất lúa của nước ta qua 2 năm tăng lên . Từ  
7400,2 nghìn ha (năm 2008), tănglên 7440,1 nghìn ha (năm 2009), tức tăng 39,9 nghìn  
ha so với năm 2009, tương ứng giảm 0,5%.Tuy vậy năng suất cũng không tăng lên qua  
2 năm. Từ 52,3 ta/ha (năm 2008) xuống còn 52,2 tạ/ha (năm 2009), tức giảm 0,1 tạ/ha,  
19  
tương ứng 0,2%. Sản lượng lúa vẫn tăng được ổn định khi diện tích tăng qua 2 năm.  
Sản lượng năm 2009 đạt 38895,5 nghìn tấn, tăn 165,7 tấn so với năm 2008, tương ứng  
tăng 0,4%  
1.3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT LÚA CỦA TỈNH THỪA THIÊN HUẾ  
Những năm vừa qua tình hình sản xuất lúa của tỉnh TT Huế có những biến  
động theo chiều hướng tích cực.  
Qua số liệu thu thập được ta thấy rằng tỉnh TT Huế sản xuất lúa ba vụ. Tuy  
nhiên chủ yếu là vụ ĐX và vụ HT, còn vụ Mùa chiếm diện tích không đáng kể, cụ thể  
là năm 2003 gieo trồng 625 ha, đạt năng suất 14,7 tạ/ha. Con số này năm 2004 là 692  
ha, đạt năng suất 15,2 tạ/ha. Nếu xem xét cả năm thì có kết quả như sau: Diện tích sản  
xuất lúa năm 2003 là 51.414 ha, đạt năng suất 106,4 tạ/ha. Đến năm 2004, diện tích  
giảm còn 51.316 ha, tức giảm 98 ha, tương ứng giảm 02%. Tuy nhiên, năng suất lúa  
lại tăng lên 112 tạ/ha (2004), tức tăng 5,6 tạ/ha, tương ứng tăng 5,3%. Nguyên nhân là  
do thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, chuyển diện tích trồng lúa kém hiệu quả  
sang trồng các lại cây khác có hiệu quả kinh tế hơn. Mặc dù giảm diện tích trồng lúa  
nhưng do tăng năng suất lúa không những ổn định được sản lượng lúa mà còn tăng sản  
lượng năm 2004 lên 246.496,6 tấn, tăng so với năm 2003 là 11.920,9 tấn, tương ứng  
tăng 5,1%. Đây là một kết quả đạt được của tỉnh TT Huế  
Bảng 2: diện tích, g suất và sản lượng lúa của tỉnh TT Huế  
Năm 2003  
HT  
Năm 2004  
HT  
2004/2003  
+/- %  
Cả  
Cả  
Chỉ tiêu  
năm  
năm  
ĐX  
mùa  
ĐX  
mùa  
1. Diện tích  
gieo trồng (ha) 26,647 24,142 625 51,68 26,323 24,301 692 51,316 - 368 -0,71  
2. Năng suất  
(tạ/ha)  
49  
42,7 14,7 106,4  
50,5  
46,3  
15,2  
112  
+5,6 +5,26  
3. Sản lượng  
(tấn)  
130,65 104,16 921 235,73 123,92 112,51 1,052 246,49 +10,75 +4,56  
(Nguồn: niên giám thống kê tỉnh TT Huế 2005)  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 57 trang yennguyen 11100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất lú ở xã Thuỷ Tân, thị xã Hương Thuỷ, tỉnh Thừa Thiên Huế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_san_xuat_lu_o_xa_thuy_ta.pdf