Khóa luận Nghiên cứu tuổi thành thục số lượng và thành thục kinh tế của rừng trồng keo tai tượng tại xã Phúc Xuân, Thái Nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VŨ ĐỨC TIỆP  
NGHIÊN CỨU TUỔI THÀNH THỤC SỐ LƯỢNG VÀ THÀNH THỤC  
KINH TẾ CỦA RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG  
TẠI XÃ PHÚC XUÂN, THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm Nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên - năm 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
VŨ ĐỨC TIỆP  
NGHIÊN CỨU TUỔI THÀNH THỤC SỐ LƯỢNG VÀ THÀNH THỤC  
KINH TẾ CỦA RỪNG TRỒNG KEO TAI TƯỢNG  
TẠI XÃ PHÚC XUÂN, THÁI NGUYÊN  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR - N01  
: Lâm Nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Đăng Cường  
Thái Nguyên - năm 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng cá nhân tôi. Nội  
dung khóa luận có sự tham khảo và sử dụng các tài liệu, thông tin được đăng  
tải trên các tác phẩm, tạp chí và các trang web theo danh mục tài liệu tham  
khảo của khóa luận.  
Giảng viên hướng dẫn  
Sinh viên  
TS. Nguyễn Đăng Cường  
Vũ Đức Tiệp  
XÁC NHẬN CỦA GV CHẤM PHẢN BIỆN  
Xác nhận đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng đánh giá chấm  
(Ký, họ và tên)  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong thời gian học tập nghiên cứu tại trường, được sự quan tâm giúp  
đỡ của các thầy cô giáo trong khoa lâm nghiệp – Trường Đại học Nông Lâm  
Thái Nguyên hướng dẫn em thực hiện khóa luận: “Nghiên cứu tuổi thành  
thục số lượng và thành thục kinh tế của rừng keo tai tượng tại xã Phúc  
Xuân, Thái Nguyên, giai đoạn 2011- 2019”.  
Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự cố gắng, kỹ năng, học thức và  
kinh nghiệm tiếp thu qua quá trình học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái  
Nguyên cùng với đó là sự phấn đấu của bản thân cá nhân, em xin bày tỏ lòng  
biết ơn sâu sắc đến những người, đơn vị đã giúp đỡ em trong thời gian qua.  
Em xin được bày tỏ lòng kính trọng và gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến  
giảng viên – tiến sĩ Nguyễn Đăng Cường, người đã trực tiếp giúp đỡ và  
hướng dẫn em trong suốt quá trình từ khi chọn đề tài, xây dựng đề cương cho  
đến khi hoàn thành đề tài theo đúng kế hoạch dự kiến và đảm bảo thời gian.  
Em xin được chân thành và biết ơn sâu sắc tới các cán bộ thuộc ban  
quản lý rừng phòng hộ hồ Núi Cốc và các cán bộ thường trực tại trạm kiểm  
lâm xã Phúc xuân đã tạo điều kiện, cung cấp thông tin, số liệu, hướng dẫn và  
giúp đỡ em tìm hiểu, khảo sát địa bàn cơ sở để em hoàn thành khóa luận này.  
Tuy nhiên do thời gian thực hiện khóa luận hạn chế và năng lực của  
bản thân nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận  
được sự giúp đỡ đóng góp ý kiến, tham vấn của thầy cô, bạn bè để khóa luận  
của em được hoàn thiện hơn.  
Em xin chân thành cảm ơn  
Sinh viên  
Vũ Đức Tiệp  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT  
A
Tuổi cây  
BNN  
C1.3  
D1.3  
G
Bộ Nông Nghiệp  
Chu vi cây ở vị trí 1.3 mét  
Đường kính cây ở vị trí 1.3 mét  
Tiết diện ngang thân cây  
Chiều cao vút ngọn  
Kĩ thuật lâm sinh  
Hvn  
KTLS  
M
Trữ lượng cây  
N
Mật độ cây (số cây)  
Ô tiêu chuẩn  
OTC  
QĐ  
Quyết định  
TCLN  
STT  
V
Tổng cục Lâm Nghiệp  
Số thứ tự  
Thể tích  
BCR  
IRR  
FSC  
Tỷ lệ hiệu quả vốn và đầu tư  
Tỷ suất hoàn vốn nội tại  
Chứng nhận bảo vệ rừng (Forest  
Stewardship Council)  
Giá trị hiện tại thuần  
Giá trị mong đợi của đất  
NPV  
LEV  
 
vi  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
 
1
PHẦN 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Rừng đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người, cũng  
như đối với hệ sinh thái rừng. Rừng không những là cơ sở phát triển kinh tế  
xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kỳ quan trọng, rừng tham gia vào  
quá trình điều hoà khí hậu, đảm bảo chu chuyển ôxy và các nguyên tố cơ  
bản khác trên hành tinh, duy trì tính ổn định và độ màu mỡ của đất, hạn chế lũ  
lụt, hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, làm giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của  
thiên tai, bảo vệ nguồn nước mặt và nước ngầm và làm giảm mức ô nhiễm  
không khí và nước.  
Rừng giữ vai trò chủ đạo trong mối quan hệ tương tác giữa môi trường  
và sinh vật. Rừng là lá phổi xanh của trái đất. Đây là một quần lạc địa sinh.  
Trong đó bao gồm đất, khí hậu và sinh vật rừng tạo nên một quần thể thống  
nhất. Có quan hệ tương trợ lẫn nhau. Do đó, một quốc gia có tỷ lệ rừng đảm  
bảo diện tích tối ưu 45% là chỉ tiêu an ninh môi trường quan trọng. Rừng  
đóng vai trò mật thiết đối với sự phát triển của nền kinh tế tại mọi quốc gia.  
Trong luật Bảo vệ và phát triển rừng nước ta có ghi: “Rừng là một trong  
những tài nguyên quý báu mà thiên nhiên ưu ái ban tặng cho nước ta, rừng có  
khả năng tái tạo, là bộ phận quan trọng với môi trường sinh thái, đóng góp giá  
trị to lớn với nền kinh tế quốc gia, gắn liền với đời sống của nhân dân và sự  
sống còn của dân tộc.”[6].  
Theo công bố tại Quyết định số 911/QĐ-BNN-TCLN[18] ngày 19  
tháng 03 năm 2019, diện tích rừng trên toàn quốc có 14.491.295 ha, trong đó,  
rừng tự nhiên có 10.255.525 ha, rừng trồng có 4.235.770 ha. Diện tích rừng  
đủ tiêu chuẩn để tính độ che phủ toàn quốc là 13.785.642 ha, độ che phủ  
tương ứng là 41,65%.  
   
2
Nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế ở vùng miền núi phía Bắc,  
trong những năm qua Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách, đầu tư thực  
hiện nhiều chương trình, dự án, áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó  
phát triển lâm nghiệp đã được quan tâm chú trọng hơn như đầu tư thực hiện  
Chương trình 327 và hiện nay là Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng. Tuy nhiên,  
sự quan tâm của chúng ta trong thời gian qua chỉ tập trung nhiều vào 2 đối  
tượng là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chưa được chú  
ý nhiều và hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, trong đó  
có vấn đề về sinh trưởng và tính thích ứng của một số loài cây trồng. Hiện  
nay, ở nước ta có rất nhiều loài cây được trồng thành rừng sản xuất như: Keo,  
Mỡ, Bạch đàn, Bồ đề… Nhưng phổ biến hơn cả là một số loài Keo như: Keo  
Tai tượng (Acacia mangium Willd), Keo lai... Hiện tại diện tích rừng trồng Keo  
chiếm khoảng 36% tổng diện tích rừng trồng tại Việt Nam.  
Rừng trồng là nguồn sinh kế chính của nông hộ, thực tế hiện nay hầu  
hết các chủ rừng đều lựa chọn chu kỳ kinh doanh ngắn, sản phẩm là cây gỗ  
nhỏ do các yếu tố về vay vốn, chi phí sản xuất còn hạn chế, chưa có căn cứ,  
thông tin để kéo dài chu kỳ kinh doanh và tâm lý lo ngại những rủi ro tiềm ẩn  
nếu kéo dài chu kỳ kinh doanh như rủi ro từ bão lũ, sâu bệnh và cháy rừng…  
Thêm vào đó hiện nay Chính phủ cũng đang thiếu những chính sách khuyến  
khích, hỗ trợ các đơn vị kinh doanh lâm nghiệp kéo dài chu kỳ kinh doanh để  
trồng cây gỗ lớn.  
Do đó, để có cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc đánh giá lựa chọn chu  
kỳ kinh doanh tối ưu của rừng trồng Keo tai tượng tại Phúc Xuân, tôi thực  
hiện đề tài: “Nghiên cứu tuổi thành thục số lượng và thành thục kinh tế của  
rừng trồng keo tai tượng tại xã Phúc Xuân, Thái Nguyên”.  
3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài  
- Xác định được tuổi thành thục số lượng của rừng trồng Keo tai tượng  
tại xã Phúc Xuân, tỉnh Thái Nguyên.  
- Xác định được tuổi khai thác tối ưu về kinh tế của rừng trồng Keo tai  
tượng tại xã Phúc Xuân, tỉnh Thái Nguyên.  
- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh rừng trồng  
Keo tai tượng tại xã Phúc Xuân, tỉnh Thái Nguyên.  
1.3. Ý nghĩa đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
Củng cố kiến thức môn học, bổ sung kiến thức còn thiếu, áp dụng  
những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn. Nâng cao kĩ năng cá nhân bản  
thân sinh viên trong quá trình thực địa, điều tra thu thập dữ liệu, đồng thời  
củng cố tiền đề cho công việc sau này.  
Thông qua nghiên cứu giúp cho sinh viên tiếp cận những phương pháp  
mới trong quản lý rừng trồng, đặc biệt đối với rừng trồng thuần loài được quy  
hoạch là rừng sản xuất. Đồng thời, vận dụng những kiến thức đã học như điều  
tra rừng, xử lý số liệu thống kê lâm nghiệp và sản lượng rừng để áp dụng vào  
công tác quản lý rừng trồng của ngành Lâm nghiệp.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
Xác định tuổi khai thác rừng trồng sẽ xác định được trữ lượng gỗ khai  
thác hàng năm nhằm cung cấp gỗ cho các cơ sở chế biến như cơ sở dăm, ván  
bóc và ván xẻ ở trên địa bàn nghiên cứu, từ đó sẽ có giải pháp để quản lý bảo  
vệ rừn trồng tốt hơn. Bên cạnh đó, xác định tuổi thành thục số lượng và thành  
thục công nghệ sẽ góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho cán bộ quản lý và  
người dân trong việc xác định tuổi rừng trồng để tiến hành khai thác nhằm  
đem lại hiệu quả kinh tế cao nhất.  
       
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu  
Theo báo cáo của Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO, 2009) thì Việt  
Nam là một trong số 10 nước có diện tích trồng rừng lớn nhất trên thế giới.  
Tại Quyết định số 2410/QĐ-BNN-TCLN ngày 9 tháng 8 năm 2010, tính đến  
thời điểm tháng 12 năm 2009, diện tích rừng toàn quốc là 13,259 triệu ha,  
trong đó có 10.339.305 ha rừng tự nhiên và 2.919.538 ha rừng trồng, độ che  
phủ đạt 39,1%. Để có thể xác định được thời điểm khai thác rừng trồng đem  
lại hiệu quả kinh tế nhất thì xác định tuổi thành thục số lượng và kinh tế đóng  
vai trò rất quan trọng. Vậy xác định thời điểm khai thác rừng trồng hiệu quả  
nhất đối với một loài cây chúng ta đi sâu tìm hiểu một số vấn đề sau:  
Tuổi của lâm phần là: Tuổi lâm phần là nhân tố cấu trúc về mặt thời  
gian, phản ánh giai đoạn sinh trưởng phát triển của lâm phần theo cây rừng có  
chủ đích kinh doanh tại lâm phần. Tuổi của lâm phầm chủ yếu áp dụng và  
hiệu quả phân loại chính xác đối với các loại rừng trồng. Cấp tuổi của rừng  
trồng lại phụ thuộc vào đặc điểm tốc độ sinh trưởng nhanh hoặc chậm của  
từng loài cây trồng rừng có thời gian ngăn hay dài:  
Cấp tuổi 1: lâm phần rừng non  
Cấp tuổi 2: lâm phần rừng sào  
Cấp tuổi 3: lâm phần rừng trung niên  
Cấp tuổi 4: lâm phần rừng gần thành thục  
Cấp tuổi 5: lâm phần rừng thành thục  
Cấp tuổi 6: lâm phần rừng quá thành thục  
Tuổi của lâm phầm cũng không phải là yếu tố đồng nhất để tách biệt  
lâm phần riêng, do vậy đôi khi nhân tố này lại được dùng mô tả cho đặc điểm  
   
5
về mặt thành phần thời gian của lâm phần: lâm phần khác tuổi và lâm phần  
đều tuổi.  
Thành thục rừng là trạng thái của cây rừng hay lâm phần trong quá  
trình sinh trưởng và phát triển đạt đến trạng thái phù hợp nhất với mục đích  
điều chế và kinh doanh. Tuổi ở trạng thái đó được gọi là tuổi thành thục.  
Chu kỳ kinh doanh được hiểu là toàn bộ rừng của một đơn vị điều chế  
được khai thác, tương ứng với số năm để lâm phần của thế hệ mới có thể đạt  
đến tuổi khai thác. Chu kỳ được xác định xấp xỉ tuổi khai thác chính, sao cho  
qua khai thác, đảm bảo những điều kiện lâm sinh và kinh tế có lợi nhất. Có  
hai tuổi khai thác được đề cập phổ biến nhất là tuổi thành thục số lượng và  
tuổi thành thục kinh tế.  
Thành thục số lượng/luân kỳ sinh học: Thành thục số lượng là hiện  
tượng mà cây rừng hoặc lâm phần đạt trị số tăng trưởng bình quân cao nhất.  
Tuổi đạt trạng thái đó là tuổi thành thục số lượng. Thành thục số lượng phụ  
thuộc vào các yếu tố sau:  
- Về loài cây  
- Về nguồn gốc  
- Về điều kiện lập địa  
- Biện pháp tác động/ kinh doanh  
Ý nghĩa thành thục số lượng: thành thục số lượng có ý nghĩa quan trọng  
trong thực tiễn và trong lý luận. Vì nó là căn cứ chủ yếu để xác định chu kỳ  
kinh doanh. Đặc biệt là đối với rừng sản xuất lấy gỗ làm mục tiêu chính.  
Thành thục số lượng là cơ sở quan trọng để xác định tuổi khai thác chính.  
Tuổi thành thục số lượng được xác định thông qua quy luật biến đổi Zt và t  
theo tuổi.  
Quy luật biến đổi của Zt và t theo tuổi:  
6
- Giai đoạn 1: Cả Zt và t đều tăng theo tuổi, nhưng Zt tăng nhanh hơn  
và đạt giá trị cực đại sớm hơn t. Sau khi đạt cực đại Zt giảm dần trong khi  
đó t vẫn tiếp tục tăng. Trong giai đoạn này Zt luôn lớn hơn t  
- Giai đoạn 2: t đạt giá trị cực đại và bằng Zt. Tại thời điểm này cây  
đạt thành thục số lượng  
- Giai đoạn 3: Cả t và Zt đều giảm trong khi tuổi vẫn tăng lên, ở giai  
đoạn này Zt luôn nhỏ hơn t.  
Thành thục kinh tế: Thành thục kinh tế là trạng thái lầm phần trong quá  
trình sinh trưởng, phát triển đạt được tăng trưởng giá trị lớn nhất, tuổi ở trạng  
thái đó là tuổi thành thục kinh tế (giá trị). Các tiêu chí ra quyết định phổ biến  
hiện nay như NPV, BCR và IRR đã phần nào giúp các nhà đâu tư lựa chọn  
được các dự án hoặc phương án tối ưu trong kinh doanh lâm nghiệp. Bên  
cạnh đó một số tiêu chí mới khác được sử dụng như giá trị tương đương hàng  
năm (AEV), tỷ lệ hoàn vốn thực tế (RRR), tỷ suất doanh thu ròng trên vốn  
đầu tư năm gốc (NR/C0), và giá trị mong đợi của đất (LEV/SEV).  
2.2. Tình hình nghiên cứu tuổi khai thác tối ưu trên thế giới và Việt Nam  
2.2.1. Nghiên cứu tuổi khai thác tối ưu trên thế giới  
Các nghiên cứu về chu kỳ khai thác rừng tối ưu trong khoảng 30 năm  
gần đây chủ yếu hướng vào mở rộng công thức Faustmann, thay đổi, bổ sung  
các biến của mô hình để phản ảnh chính xác hơn thực tế và bao hàm đầy đủ  
hơn các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định của chủ rừng về luân kỳ khai thác.  
Theo một số nghiên cứu mở rộng mô hình bằng việc bổ sung biến thâm  
canh lâm sinh (silvicultural efforts) vào hàm sản lượng rừng, khi đó có kết  
quả xác định chu kỳ khai thác tối ưu lại phụ thuộc vào vấn đề hai biến của  
hàm sản lượng rừng (thời gian và thâm canh) chúng là sự bổ sung hay thay  
thế cho nhau, cần các ước lượng thực nghiệm về hàm sản lượng để trả lời câu  
hỏi này. Cũng về hàm sản lượng gỗ, Johansson và Lofgren (1985) khảo sát  
   
7
ảnh hưởng của tiến bộ công nghệ (qua đó ảnh hưởng đến hàm tăng trưởng  
sinh học của rừng) đến chu kỳ khai thác tối ưu, kết quả cho thấy, dưới ảnh  
hưởng của sự gia tăng sản lượng rừng, luân kỳ khai thác sẽ có xu thế giảm  
trong ngắn hạn và kéo dài trong dài hạn.  
Mc Connell và các cộng sự (1983) khảo sát ảnh hưởng của thay đổi giá  
gỗ và chi phí trồng rừng đến chu kỳ khai thác tối ưu bằng phương pháp giải  
bài toán tối ưu động, trong đó đặt tình huống trong tương lai, đất trồng rừng  
có thể dịch chuyển khỏi khu vực lâm nghiệp và khi đó, chi phí trồng rừng có  
thể rất cao. Kết quả nghiên cứu của họ cho thấy, nếu giá gỗ tăng với tỷ lệ tăng  
không đổi, và chi phí trồng rừng tăng nhanh, thì chu kỳ khai thác tối ưu sẽ  
tăng theo thời gian, còn ngược lại, nếu giá gỗ tăng với tốc độ tăng cao hơn tỷ  
lệ tăng của chi phí, thì chu kỳ khai thác tối ưu sẽ giảm theo thời gian. Ngoài  
ra, tỷ lệ tăng của giá thuần (net price) của gỗ phải nhỏ hơn tỷ lệ chiết khấu,  
bởi nếu ngược lại, thì việc khai thác rừng sẽ bị trì hoãn đến vô cùng do giá trị  
hiện tai của thu nhập từ trồng rừng sẽ liên tục tăng theo thời gian (nghĩa là sẽ  
không có điểm cực đại, mà ở đó, chu kỳ khai thác được coi là tối ưu).  
Các nghiên cứu về ảnh hưởng của rủi ro như cháy rừng và thiên tai đến  
luân kỳ khai thác tối ưu được đề cập đến trong các nghiên cứu kỹ thuật khác  
nhau như mô hình Markov với xác suất cháy rừng cố định, hoặc đưa xác suất  
cháy rừng bình quân vào tỷ lệ chiết khấu, kết quả chung của các nghiên cứu  
này là mức độ rủi ro cao sẽ dẫn tới rút ngắn chu kỳ khai thác tối ưu.  
Một số lượng đáng kể các nghiên cứu về chu kỳ kinh doanh rừng tối ưu  
cũng được tập trung vào việc tính đến các lợi ích ngoài gỗ, nhất là các ngoại  
ứng tích cực như cảnh quan, phòng hộ, cố định cacbon… của rừng trồng. kết  
quả cho thấy ảnh hưởng của lợi ích ngoài gỗ sẽ làm kéo dài hay rút ngắn luân  
kỳ khai thác tối ưu tùy thuộc vào các lợi ích ngoài gỗ đó tăng hay giảm theo  
tuổi rừng.  
8
2.2.2. Nghiên cứu tuổi khai thác tối ưu Việt Nam  
Theo Thái Anh Hòa (1999) [9], chu kỳ kinh tế hay tuổi thành thục về  
kinh tế của rừng là thời điểm khai thác rừng có lợi nhất về mặt kinh tế.  
Nguyên lý xác định chu kỳ khai thác rừng tối ưu về kinh tế theo quan điểm lợi  
nhuận tối đa cho rằng, chủ rừng cần phải xem xét mức thu nhập tăng lên hàng  
năm hay thu nhập cận biên và những chi phí phải gánh chịu hàng năm nếu  
tiếp tục nuôi rừng thêm. Nói theo cách khác, để xác định được tuổi khai thác  
rừng tối ưu về kinh tế, chủ rừng cần phải so sánh giữa lợi ích thu được từ vốn  
rừng gia tăng hàng năm với chi phí cơ hội của vốn phải chịu thêm hàng năm.  
Chi phí phải chịu thêm hàng năm chính là khoản tiền mà chủ rừng có thể nhận  
được khi việc khai thác rừng được thực hiện sớm hơn và đầu tư thu nhập do  
khai thác rừng vào những hoạt động kinh doanh khác mang lại mức lãi suất  
hiện hành [10].  
Các nghiên cứu về chu kỳ khai thác rừng ở Việt Nam trong những năm  
gần đây tập chung chủ yếu vào các giá trị như NPV, IRR, BCR. Các tiêu chí  
xác định chu kỳ kinh doanh tối ưu được trình bày trong các giáo trình kinh tế  
lâm nghiệp, kinh tế tài nguyên, đề cập đến các tiêu chí chung, tham khảo các  
học giả nước ngoài. Trong đó, ba tiêu chí được giới thiệu phổ biến là: tối đa  
hóa sản lượng rừng bình quân, tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ  
1 luân kỳ trồng rừng, tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập ròng từ vô số các  
luân kỳ (Nguyễn Quang Hà, 2001, Dương Thị Thanh Tân 2016) [7].  
Tuy nhiên, trong thực tiễn hầu hết các nghiên cứu đánh giá hiệu quả  
trồng rừng đều sử dụng các chỉ tiêu liên quan đến giá trị hiện tại của thu nhập  
ròng (NPV) từ trồng rừng, với giả định chu kỳ kinh doanh đã được xác định  
trước, để so sánh lựa chọn các mô hình trồng rừng trên góc độ loài cây, kỹ  
thuật chứ không phải lựa chọn chu kỳ kinh doanh tối ưu.  
 
9
Theo hướng sử dụng hiệu quả kinh tế để xác định chu kỳ kinh doanh tối  
ưu cũng đã có một số ít nghiên cứu được thực hiện, nhưng ở phạm vi hẹp.  
Nguyễn Quang Hà (2001) [7] ứng dụng mô hình FPO để xác định chu kỳ kinh  
doanh tối ưu cho hai loài cây rừng trồng nguyên liệu (bồ đề và mỡ). Tuy  
nhiên, nghiên cứu này giữ nguyên toàn bộ các giả định của công thức  
Faustmann, trong đó có giả định giá gỗ rừng trồng không phụ thuộc vào cấp  
tuổi, nên chỉ có thể ứng dụng, tham khảo cho trồng rừng nguyên liệu giấy.  
Đỗ Anh Tuân (2013) [23] sử dụng phương pháp so sánh các chỉ tiêu  
tổng NPV, NPV/năm theo các chu kỳ kinh doanh khác nhau (5-9 năm), để đề  
xuất chu kỳ kinh doanh tối ưu. Trong việc tính toán xác định chi phí, thu  
nhập, nghiên cứu này sử dụng giá cả thực tế của các sản phẩm thương phẩm  
theo cấp tuổi của rừng trồng keo, nên đảm bảo độ tin cậy về phương pháp.  
Tuy nhiên, một trong các hạn chế của tiêu chí sử dụng trong nghiên cứu này  
là chỉ dừng lại ở cấp tuổi 9, trong khi giá trị của tổng NPV và NPV/năm đều  
tăng theo cấp tuổi. Hơn nữa việc sử dụng chỉ tiêu NPV cho 1 luân kỳ, thay vì  
nhiều luân kỳ (ít nhất là trong phạm vi số năm thuộc thời hạn giao đất) là kém  
thuyết phục.  
Do đó, tối đa hóa giá trị hiện tại của thu nhập thuần từ vô số các luân  
kỳ trồng rừng (Maximization of the Discounted Net revenue from an Infinite  
rotations) đang được nhiều tác giả quan tâm. Mô hình này được xây dựng đầu  
tiên bởi Faustmann năm 1894 và sau đó bởi Pressler và Ohlin, nên còn được  
gọi là mô hình FPO.  
Các tên gọi sử dụng nguyên lý tương tự với mô hình này là SL (soil  
rent), SEV (soil expectation value) hoặc LEV (land expectation value). Mô  
hình này giả định rừng sẽ được tiếp tục trồng ở các luân kỳ tiếp theo, nghĩa là  
quyết định về luân kỳ khai thác rừng hiện tại chịu ảnh hưởng của các khả  
năng sinh lợi trong tương lai.  
10  
2.3. Tình hình nghiên cứu về Keo tai tượng  
2.3.1. Tình hình nghiên cứu keo tai tượng trên thế giới  
Cây keo có tên khoa học là Acacia Mangium, phân họ Trinh nữ  
(Minosaceae), thuộc họ Đậu (Fabaceae), bộ rễ có nốt sần cố định đạm vì thế  
cải tạo đất rất tốt, cây Keo có phân bố trên các điều kiện địa lí sinh thái rộng,  
đặc biệt có nhiều loài sinh trưởng tốt trên các vùng đấy trống đồi núi trọc, khu  
vực khô hạn, khu vực đồi núi cao... Lần đầu tiên cây Keo được mô tả năm  
1773 tại Châu Phi, hiện có tới trên 1.300 loài Keo trên toàn thế giới được phát  
hiện, trong đó có nguồn gốc từ Australia là khoảng 950. Keo thusch nghi  
trong các khu vực khô, nhiệt đới, ôn đới ẩm, phân bố rộng khắp từ Châu Phi,  
Nam Châu Á, Châu Mỹ.  
Keo tai tượng (Acacia mangium Willd) là loài cây nguyên sản ở phía  
bắc Queensland (Australia), có ở Irian Jaya, Maluku của Indonesia (Doran và  
Skelton, 1982) [32]. Đây là loài cây sinh trưởng nhanh, cây được sử dụng  
rỗng rãi cho mục đích khác nhau như lấy gỗ, củi, ta nanh, trồng nông lâm kết  
hợp, trồng cây đường phố và là cây cải tạo đất (Turnbull, 1986) [34]. Với  
những đặc điểm ưu việt như vậy, loài cây này đã được đưa vào trồng ở nhiều  
quốc gia khác nhau, đặ biệt là ở Indonesia, Malaysia và Thái Lan.  
Trong những năm 1980, các loài keo Acacia đã được đưa vào thử  
nghiệm ở nhiều nước vì những khả năng tốt của chúng. Nhất là khả năng cải  
tạo đất, chống sói mòn, năng suất cao. Khảo nghiệm ở Philippin với 7 loài  
cho thấy keo tai tượng có chiều cao đứng thứ 3 ở cả 2 điểm thí nghiệm  
(Havmoller, 1989).  
   
11  
Bảng 2.1. Sinh trưởng chiều cao các loài Keo 18 tháng tuổi  
Loài  
Mindoro (Hvn: m)  
Mindanao (Hvn: m)  
A.crassicarpa  
A.auriculiPormis  
A.mangium  
4.8  
4.3  
3.5  
3.5  
2.8  
2.8  
2.6  
5.9  
5.3  
5.0  
3.9  
4.3  
3.7  
3.1  
A.aulacocarpa  
A.leptocarpa  
A.cincinnata  
A.polystachya  
Năm 1986, trên đảo Hải Nam – Trung Quốc với 20 xuất xứ của 8 loài keo  
đã được thực hiện ở tuổi thứ 2. Trong đó Keo tai tượng không nằm trong nhóm  
loài và xuất xứ dẫn đầu. Sau 2 năm tuổi keo tai tượng sinh trưởng D < 7,4 cm, H <  
4,7 cm (Minquan, Ziayu and Yutian, 1989). Năm 1985,23 xuất xứ của 12 loài keo  
đã được khảo nghiệm tại 6 điểm tại Thái Lan (P.chittanchumnonK and SirilaK  
1991)[30].  
Bảng 2.2. Sinh trưởng của 8 loài Keo ở tuổi 2 tại Hải Nam – Trung Quốc  
Loài  
Xuất xứ  
Oriomo RiVer  
Weroi Wimpim  
IoKWa  
H (m)  
6.0  
D (cm)  
7.8  
A.crassicarpa  
A.crasicarpa  
A.auriculiformis  
A.aulacocarpa  
A.crasicarpa  
5.7  
8.0  
5.3  
7.8  
Oriomo RiVer  
Shoteel la  
4.9  
6.9  
4.7  
7.4  
15 xuất xứ còn lại, bao gồm các xuất xứ Keo là tràm, Keo tai tượng,  
A.cincinnata, A.melanoxylon, A.oraria, A.confusa, như vậy Keo tai tượng không  
nằm trong nhóm loài và xuất xứ dẫn đầu, tức là sau hai năm tuổi sinh trưởng D <  
   
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 60 trang yennguyen 19160 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu tuổi thành thục số lượng và thành thục kinh tế của rừng trồng keo tai tượng tại xã Phúc Xuân, Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_tuoi_thanh_thuc_so_luong_va_thanh_thuc.pdf