Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây Lôi Khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MOONG BÁ KHIỂU  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA  
CÂY LÔI KHOAI (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)  
TẠI HUYỆN NA HANG, TỉNH TUYÊN QUANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm Nghiệp  
: 2016 – 2020  
Khóa học  
Thái Nguyên, năm 2020  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
MOONG BÁ KHIỂU  
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA  
CÂY LÔI KHOAI (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)  
TẠI HUYỆN NA HANG, TỈNH TUYÊN QUANG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Khoa  
: Chính quy  
: Quản lý tài nguyên rừng  
: Lâm Nghiệp  
Lớp  
: K48 - QLTNR  
: 2016 – 2020  
Khóa học  
Giảng viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Tuấn Hùng  
Thái Nguyên, năm 2020  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan các số liệu nghiên cứu này đều được tiến hành đo đếm,  
thu thập từ kết quả theo dõi của 12 ô tiêu chuẩn định vị được thiết lập năm  
2020 tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang. Kết quả nghiên cứu trong khóa  
luận là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.  
Thái Nguyên, ngày tháng 7 năm 2020  
XÁC NHẬN CỦA GVHD  
NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN  
TS. Nguyễn Tuấn Hùng  
Moong Bá Khiểu  
XÁC NHẬN CỦA GIÁO VIÊN CHẤM PHẢN BIỆN  
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên đã sửa sai sót  
sau khi hội đồng chấm yêu cầu!  
(Ký, ghi rõ họ tên)  
Nguyễn Thanh Tiến  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Trong thời gian 4 năm được học tập tại trường Đại học Nông Lâm Thái  
Nguyên tôi cũng như bao sinh viên khác được sự quan tâm dạy bảo tận tình của  
thầy cô giáo.  
Để hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ và tạo  
mọi điều kiện thuận lợi của thầy cô giáo Khoa Lâm nghiệp. Đối với công tác đo  
đếm, thu thập số liệu tại 12 ô tiêu chuẩn, tôi đã nhận được những sự giúp đỡ  
của các thầy cô giáo trong khoa Lâm Nghiệp, nhất là giáo viên hướng dẫn  
Nguyễn Tuấn Hùng, cán bộ trạm kiểm lâm khu C, hạt Kiểm Lâm huyện Na  
Hang - tỉnh Tuyên Quang và người dân trong các xã thuộc khu C, đã giúp đỡ  
tôi trong quá trình thực hiện đề tài, nhân dịp này tôi xin trân thành cảm ơn sự  
giúp đỡ quý báu đó.  
Trong suốt quá trình thực tập, mặc dù tôi đã cố gắng hết sức nhưng do  
kinh nghiệm cũng như trình độ của bản thân còn hạn chế. Vì vậy đề tài không  
tránh khỏi những thiếu sót. Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng góp ý  
kiến của thầy cô giáo và các bạn để đề tài hoàn thiện hơn.  
Tôi xin trân trọng cảm ơn!  
Thái Nguyên, tháng 7 năm 2020  
Sinh viên  
Moong Bá Khiểu  
 
iii  
MỤC LỤC  
 
iv  
v
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT  
A1, A2,B1,B2,C1,C2  
Các tầng đất  
Công thức tổ thành  
Đường kính thân cây tại 1.3m  
Đường kính tán  
Đông tây  
CTTT  
D1.3  
Dt  
ĐT  
Hvn  
Chiều cao vút ngọn  
Chiều cao bình quân  
Chiều cao dưới cành  
Lớn nhất  
Hbq  
Hdc  
Max  
Min  
HST  
NXB  
OTC  
ODB  
TB  
Nhỏ nhất  
Hệ sinh thái  
Nhà xuất bản  
Ô tiêu chuẩn  
Ô dạng bảng  
Trung bình  
T
Tốt  
X
Xấu  
PD  
Phẫu diện  
TS  
Tái sinh  
ST  
Sinh trưởng  
TCN  
Trước công nguyên  
 
vi  
DANH MỤC BẢNG  
 
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1. Đặt vấn đề  
Theo quy luật sinh học, trong vùng khí hậu á nhiệt đới, nhiều thực vật khi  
trải qua một thời gian sống có nhiệt độ môi trường thấp kéo dài trong năm,  
màu lá của chúng thay đổi mạnh qua các thời kỳ sinh trưởng, lá non đỏ thắm,  
lá trưởng thành màu xanh lục, đến lúc già cỗi sắp lìa cành thì lại đỏ hay vàng  
rực lên rất đẹp mắt. Cây Lôi khoai là một trong những ví dụ điển hình. Do vậy,  
những cây Lôi khoai dẫn giống từ A Lưới về thành phố Huế không khoe sắc lá  
đỏ son được như ở vùng núi cao. Đó là những kết quả bước đầu, cũng có thể do  
cây còn nhỏ bé. Dù sao cũng phải tiếp tục theo dõi, đến lúc cây trưởng thành  
mới kết luận chắc chắn được mức độ thích nghi của nó.Việc nghiên cứu đặc  
điểm sinh học, khả năng sinh trưởng, tái sinh trong tự nhiên, tái sinh nhân tạo  
(nhân giống bằng hom) Lôi Khoai là rất quan trọng và cần thiết góp phần bảo  
vệ phát triển loài cây này một cách hiệu quả và tiến tới khai thác lợi dụng sản  
phẩm quý từ rừng cho con người trên cơ sở đảm bảo sử dụng bền vững và ổn  
định hệ sinh thái rừng. Góp phần nâng cao đời sống của người dân địa phương.  
Với mong muốn được đóng góp một phần công sức nhỏ bé vào việc bảo  
tồn những loài cây có nguy cơ bị suy thoái và bảo vệ môi trường thiên nhiên,  
được sự cho phép của Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành  
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây Lôi Khoai  
(Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) tại huyện Na Hang, tỉnh  
Tuyên Quang”  
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
- Xác định được một số đặc điểm cấu trúc rừng có loài cây Lôi Khoai  
(Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) Phân bố - tại khu vực nghiên cứu.  
- Xác định một số đặc điểm tái sinh của cây Lôi Khoai (Gymnocladus  
angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)  
       
2
- Đề xuất giải pháp cho bảo tồn và phát triển Lôi Khoai (Gymnocladus  
angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) cho khu vực nghiên cứu.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học  
Qua nghiên cứu đề tài giúp tôi hiểu thêm về sự phân bố và sinh trưởng của cây  
Lôi Khoai. Ứng dụng những kiến thức đã học vào trong thực tiễn. Biết được tầm  
quan trọng của loài thực vật quý hiếm như cây Lôi Khoai nói riêng, và các  
loài cây quý hiếm sống kèm cây Lôi Khoai nói chung. Biết được tầm quan  
trọng của công tác bảo tồn trong sự nghiệp bảo vệ và phát triển rừng hiện  
nay. Kết quả nghiên cứu của khoá luận sẽ là cơ sở cho các nghiên cứu khác  
về loài cây Lôi Khoai.  
1.3.2. Ý nghĩa trong thực tiễn  
Việc nghiên cứu và đánh giá đặc điểm sinh thái, tình trạng phân bố của  
loài Lôi Khoai nhằm đề xuất một số giải pháp bảo tồn. Đặc biệt nhằm nâng cao  
chất lượng rừng và chức năng đa mục đích của rừng.  
     
3
Phần 2  
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU  
2.1. Cơ sở khoa học  
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất  
biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong  
kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu. Theo đó,  
các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để  
trong nghiên cứu đặc điểm của một loài cụ thể nào đó.  
Odum E.P (1971) [17], Học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở thuật ngữ  
hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P, ông đã phân chia ra sinh thái học cá  
thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh  
vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích  
nghi với môi trường được đặc biệt chú ý.  
Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái  
và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Đây là bước đầu tiên, làm  
tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan. Có rất nhiêu công trình liên  
quan đến hình thái và phân loại các loài cây. Những nghiên cứu này đầu tiên  
tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài... có thể kể đến một vài  
công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí  
Hong Kong (1861), thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874),  
thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977),  
thực vật chí Vân Nam (1977), thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập).  
Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên  
cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền  
khác nhau.  
Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ  
quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố  
ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt. Điều này có ý nghĩa  
     
4
cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công các chọn tạo giống.  
Các công trình như nêu trên cũng đã ít nhiều nêu ra các đặc điểm về chu kỳ  
hoa, quả và các đặc trưng vật hậu của từng loài, nhóm loài.  
Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [11], nước ta có khoảng 11373 loài thực vật  
thuộc 2524 chi và 378 họ. Các nhà thực vật học dự đoán con số loài thực vật  
ở nước ta còn có thể lên đến 15000 loài. Trong các loài cây nói trên có  
khoảng 7000 loài thực vật có mạch, số loài thực vật đặc hữu của Việt Nam  
chiếm khoảng 30% tổng số loài thực vật ở miền Bắc và chiếm khoảng 25%  
tổng số loài thực vật trên toàn quốc, có ít nhất 1000 loài cây đạt kích thước  
lớn, 354 loài cây có thể dùng để sản xuất gỗ thương phẩm.  
2.2. Những nghiên cứu trên thế giới và trong nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới  
Lôi Khoai là chi thực vật có nhiều chủng loại phong phú, có nhiều tác  
dụng, theo thống kê trên thế giới có khoảng trên 300 loài và hàng chục biến chủng  
khác nhau.  
Những năm 60 của thế kỷ XX, lần đầu tiên Lôi Khoai được phát hiện ở  
Quảng Tây, Trung Quốc và được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Từ đó  
nó được các nước rất quan tâm nghiên cứu vì có một số công dụng đặc biệt.  
Lôi Khoai ưa khí hậu nóng ẩm, thường mọc ở nơi đất tơi xốp bên bờ suối  
có bóng râm, thoát nước tốt. Phạm vi phân bố tự nhiên rất hẹp, chỉ thấy  
mọc hoang ở vùng đồi gò 100-200m, huyện Ung Nhinh - Nam Ninh -  
Quảng Tây - Trung Quốc. Được đưa vào danh sách các loài cây bảo hộ cấp  
I của Trung Quốc.  
Trong lá của Lôi Khoai có chứa rất nhiều nguyên tố vi lượng như  
Germanium (Ge), Selenium (Se), Mangan (Mn), Molypden (Mo), Kẽm (Zn),  
Vanadium …. Các hoạt chất trong lá, hoa của Lôi Khoai có tác dụng hạ huyết  
áp, giảm tiểu đường, hạ cholesterol, hạ mỡ máu, chống u bướu, tăng cường hệ  
miễn dịch và kéo dài tuổi thọ. Germanium có hoạt tính sinh lý rất cao, có thể  
   
5
phát huy, tăng cường năng lực hấp thu O2 của tế bào, đảm bảo cung cấp  
dưỡng khí cho cơ thể, có lợi cho việc trao đổi chất. Germanium hữu cơ làm  
tăng sức đề kháng, chống u bướu, hạn chế tế bào u bướu phát triển, tăng khả  
năng miễn dịch, có tác dụng phòng và chống ung thư. Selenium có tác dụng  
chống oxy hoá, có thể tiêu trừ các gốc tự do có hại trong cơ thể, nâng cao năng  
lực tự bảo vệ, do đó kéo dài tuổi thọ. Vanadium có thể xúc tiến cơ năng tạo  
máu, giảm cholesterol trong huyết tương. Nghiên cứu lâm sàng chứng tỏ Lôi  
Khoai giúp giảm mỡ máu rõ rệt hơn alpha-Napthothiourea, thuốc đã được thế  
giới công nhận về công dụng giúp giảm mỡ máu.  
Các hợp chất của Lôi Khoai có khả năng kiềm chế sự sinh trưởng của các  
khối u đến 33,8% trong khi chỉ cần đạt đến ngưỡng 30% đã có thể xem là  
thành công trong điều trị ung thư. Giúp giảm đến 35% hàm lượng cholesterol  
trong máu, trong khi dùng các loại thuốc khác thì mức độ giảm chỉ là 33.2%...  
Chất chiết xuất từ Lôi Khoai còn có tác dụng làm giảm tới 36.1% lượng  
lipoprotein trong cơ thể, cao hơn 10% so với các liệu pháp sử dụng tân dược  
hiện nay. Ông Lipuren, chuyên gia y học dân tộc nổi tiếng của Trung Quốc,  
trong một công trình nghiên cứu khoa học đã khẳng định Lôi Khoai "có những  
công dụng y học vô giá".  
Trung Quốc đã xây dựng được khu bảo tồn gen các loại Lôi Khoai (trên  
20 loài và biến chủng) và đi sâu nghiên cứu các mặt cấu tạo gỗ, nhiễm sắc thể,  
đặc trưng hình thành phấn hoa, lai giống và nhân giống Lôi Khoai.  
2.2.2. Nghiên cứu ở Việt Nam  
2.2.2.1: : Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học  
Ở nước ta rất nhiều bộ sách chuyên khảo đã góp phần vào việc nghiên  
cứu đa dạng sinh học thực vật chung, như các bộ về Cây gỗ rừng Việt Nam  
(Viện điều tra quy hoạch, (1971 - 1988) [9], Bộ Lâm nghiệp (1971 - 1988)  
[1], Cây thuốc Việt Nam (Viện dược liệu, 1990) [14], Cây tài nguyên (Trần  
Đình lý và Cộng sự 1993), Cây gỗ kinh tế ở Việt Nam (Trần Hợp & Nguyễn  
 
6
Bội Quỳnh, 1993), 100 loài cây bản địa (Trần Hợp & Hoàng Quảng Hà,  
1997), Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999) [4], Tài  
nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002)… Gần đây, Viện sinh thái và tài  
nguyên sinh vật cũng đã xây dựng và biên soạn được 11 tập chuyên khảo đến  
họ riêng biệt. Đây là những tài liệu vô cùng quý giá góp phần vào việc nghiên  
cứu về thực vật của Việt Nam.  
Nguyễn Kim Đào (2003) [5], đã nghiên cứu đầy đủ mặt về họ Long não  
và công trình của tác giả đã nghiên cứu về đa dạng và phân bố của loài trong  
họ Lauraceae ở khu vực khác nhau trên cả nước. Kết quả được tổng hợp và  
giới thiệu trong “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” với 265 loài và 21 chi.  
Lê Phương Triều (2003) [15], đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật  
học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số  
kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài  
ra tác giả còn kết luận là: có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố  
N-D1.3, N-Hvn, các mối quan hệ H-D1,3, Dt-D1,3.  
Đặng Kim Vui (2002) [16], đã nghiên cứu đặc điểm cấu trúc rừng phục  
hồi sau nương rẫy để làm cơ sở đề xuất giải pháp khoanh nuôi, làm giàu rừng  
ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã kết luận đối với giai đoạn phục hồi từ  
1 – 2 tuổi (hiện trạng là thảm thực vật cây bụi) thành phần thực vật 72 loài  
thuộc 36 họ và họ Hòa thảo (Poaceae) có số lượng lớn nhất (10 loài), sau đó  
đến họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) 6 loài, họ Trinh nữ (Mimosaceae) và họ Cà  
phê (Rubiaceae) mỗi họ có 4 loài. Bốn họ có 3 loài là họ Long não  
(Lauraceae), họ Cam (Rutaceae), họ Khúc khắc (Similacaceae) và họ Cỏ roi  
ngựa (Verbenaceae). Ngoài ra, cấu trúc trạng thái thảm thực vật cây bụi này  
có số cá thể trong OTC cao nhất nhưng lại có cấu trúc hình thái đơn giản, độ  
che phủ thấp nhất 75 – 80%, chủ yếu tập trung vào các loài cây bụi.  
Nguyễn Toàn Thắng (2008) [10], đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm  
học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng. Tác giả đã có  
7
những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử  
dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 - 41 loài, với các  
loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam….  
Võ Đại Hải (2008) [6], đã nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên loài  
vối thuốc (Schima wallichii Choisy) ở các trạng thái rừng tự nhiên phục hồi  
tại huyện Lục Ngạn và Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.  
Trần Minh Tuấn (1997) [12], đã nghiên cứu một số đặc tính sinh vật  
học loài Phỉ ba mũi làm cơ sở cho việc bảo tồn và gây trồng tại Vườn Quốc  
gia Ba Vì - Hà Nội, ngoài những kết quả về đặc điểm hình thái, tái sinh tự  
nhiên, sinh trưởng và phân bố của loài, tác giả còn đưa ra một số định hướng  
về kỹ thuật lâm sinh để tạo cây con từ hạt và trồng rừng đối với loài cây này.  
Nghiên cứu về loài cây Căm xe (Vương Hữu Nhị, 2004), cây Giáng  
hương (Hà Thị Mừng, 2005), cây Huỷnh, Giổi xanh (Nguyễn Xuân Tý và  
Nguyễn Đức Minh, 2002), cây Mun (Ngô Văn Nhương, 2014), cây Vối thuốc  
(Đoàn Đình Tam, 2012). Các tác giả đã tập trung làm rõ, hình thái, sinh thái, thu  
hái chế biến, bảo quản hạt giống, sản xuất cây con, trồng rừng và sinh trưởng của  
một số loài cây nghiên cứu.  
Vũ Văn Cần (1997) [4], đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của  
loài Chò đãi làm cơ sở cho công tác tạo giống trồng rừng ở Vườn Quốc gia Cúc  
Phương, ngoài những kết luận về đặc điểm phân bố, hình thái, vật hậu, tái sinh  
tự nhiên, đặc điểm lâm phần… Tác giả cũng đưa ra kỹ thuật tạo cây con từ hạt  
đối với loài Chò đãi.  
Lê Phương Triều (2003) [15], đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật  
học của loài trai lý tại vườn quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một số kết  
quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài, ngoài ra tác  
giả còn kết luận: Có thể dùng hàm khoảng cách để biểu thị phân bố N-D.  
2.2.2.2 : Những nghiên cứu về họ Đậu (Fabaceae) và loài lôi khoai  
a) Những nghiên cứu về họ Đậu ( Fabaceae)  
8
Trong các họ cây của nước ta cũng như trên thế giới, họ Đậu  
(Fabaceae) có khoảng 18.000 loài, đây là một trong những họ lớn và phổ biến.  
Trên cơ sở những công trình nghiên cứu trong nước và trên thế giới đã công  
bố gần đây, Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) đã thống kê các họ đa dạng nhất của  
hệ thực vật Việt Nam trong đó họ Đậu có 400 loài, Nguyễn Tiến Bân (chủ  
biên) và cs (2003) đã thống kê họ Đậu (gồm cả 3 họ Fabaceae,  
Caesalpiniaceae và Mimosaceae) có khoảng 600 loài chỉ đứng sau họ  
Orchidaceae (hơn 800 loài). Đây cũng là họ phức tạp nhất bao gồm đầy đủ  
các dạng sống từ cây gỗ lớn đến cây thảo hay dây leo. Nhiều loài cây trong họ  
này có ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân bởi nhiều công dụng  
khác nhau, như cho gỗ, làm thuốc, làm cảnh, làm thức ăn,... rất có ý nghĩa  
đối với đời sống con người (Nguyễn Tiến Bân (chủ biên) và cs, 2003; Võ  
Văn Chi, 2012).  
b) Những nghiên cứu về loài Lôi khoai Khoai (Gymnocladus  
angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.)  
Ở Việt Nam, Lôi Khoai có thể tìm thấy tại các tỉnh trung du và miền núi  
phía Bắc nước ta như Tuyên Quang, Vĩnh Phúc, Yên Bái, Lào Cai…, chúng  
thường mọc ở độ cao 300 - 800m so với mặt biển, phần lớn là trong rừng thứ  
sinh, xen giữa các nương rẫy, ở một số địa hình quá dốc hoặc nhiều đá lộ đầu, ven  
khe suối cạn.  
Mặc dù đã phát hiện Lôi Khoai gần một thế kỷ nhưng đến nay công tác  
bảo tồn chưa được chú ý, việc nghiên cứu ứng dụng hầu như còn bỏ ngỏ.  
Không chỉ 2 loài Lôi Khoai có tên trong sách đỏ Việt Nam mà hàng chục loài  
Trà hoa vàng khác đều đang trong tình trạng nguy cấp. Trước mắt, chủ yếu là  
bảo tồn tại chỗ, đồng thời nghiên cứu di thực về trồng khảo nghiệm tại Đà  
Lạt, vườn Quốc gia Tam Đảo… Trong tương lai, để bảo tồn và quản lý bền  
vững nguồn gen quý này, cần tập trung nhân giống để trồng với qui mô lớn.  
Lôi Khoai có giá trị kinh tế và y dược rất cao. Lá có thể pha uống, làm  
9
thuốc chữa kiết lỵ và rửa vết thương, lở loét. Hoa chữa tiêu chảy ra máu, cũng  
có thể dùng làm màu thực phẩm. Gỗ cứng có thể làm đồ dùng gia đình và  
hàng mỹ nghệ. Hạt có thể để ép lấy dầu.  
Lôi Khoai là cây gỗ nhỏ, chịu bóng, thường mọc dưới tán các cây khác  
trong rừng tự nhiên. Do đó Lôi Khoai có khả năng trồng làm cây tầng dưới  
cho các đai rừng phòng hộ nuôi dưỡng nguồn nước, chống xói mòn. Cây có  
nhiều lá, dễ phân giải, có tác dụng giữ nước và cải tạo đất tốt.  
Lôi Khoai có thời gian ra hoa khá dài, hoa có màu vàng sặc sỡ, hoa từ trung  
bình đến lớn, có đường kính 4 - 8cm. Do có hoa đẹp, nhiều loài nở hoa vào dịp  
Tết âm lịch nên người chơi cây cảnh đã sưu tầm các cây Lôi Khoai dã sinh về  
trồng làm cảnh ở sân vườn. Hiện chỉ có giá trị cảnh quan được quan tâm đến,  
còn các giá trị về sinh, dược học chưa được quan tâm và khai thác.  
Lôi Khoai lần đầu tiên được người Pháp phát hiện ở miền Bắc nước ta  
năm 1910, nhưng cho đến nay các công tác nghiên cứu về Lôi Khoai không  
đáng kể. Theo ước tính, ở nước ta có khoảng gần 20 loài khác nhau. Những  
năm 90 của thế kỷ XX, Lôi Khoai mới được quan tâm điều tra nghiên cứu về  
hình thái, phân loại Lôi Khoai.  
Gần đây đề tài “Nghiên cứu khả năng bảo tồn ngoại vi (Ex situ) và nhân  
giống một số loài Lôi Khoai nhằm bảo vệ và phát triển” đã được thực hiện cho  
hai loài C. tonkinensis và C. euphlebia. Đề tài đã tìm hiểu điều kiện sống của 2  
loài Lôi Khoai Ba Vì và Sơn Động làm cơ sở cho việc xác định biện pháp kĩ  
thuật gây trồng nó sau này. Việc tìm thấy loài Lôi Khoai Ba vì là thành công  
do trước đây năm 1995 Rosmann đã đi tìm nhưng chưa thấy và tưởng loài này  
đã mất. Đề tài đã giâm hom cho 2 loài này đạt tỉ lệ ra rễ và sống 50 – 80.6%.  
Lần đầu tiên phân tích các nguyên tố vi lượng trong lá Lôi Khoai Ba Vì và  
Sơn động tại nơi sinh sống tự nhiên của chúng.  
10  
2.3. Tổng quan về khu vực nghiên cứu  
2.3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu  
2.3.1.1 Vị trí địa lý:  
Na Hang là một huyện vùng cao nằm ở phía Bắc của tỉnh Tuyên  
Quang, cách thị xã Tuyên Quang 113 km. Nằm trong hệ toạ độ từ 22014’ đến  
220 42’ vĩ Bắc và 105008’ đến 105036’ kinh Đông. Phía Bắc huyện Nà Hang  
giáp với các huyện Bảo Lạc (tỉnh Cao Bằng) huyện Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn),  
huyện Bắc Mê (tỉnh Hà Giang); Phía Nam giáp với huyện Chiêm Hoá (tỉnh  
Tuyên Quang); Phía Đông giáp với huyện Chợ Đồn (tỉnh Bắc Kạn); Phía Tây  
giáp với huyên Bắc Quang (tỉnh Hà Giang).  
2.3.1.2. . Điều kiện Địa hình:  
Địa hình đồi núi thuộc cánh cung Sông Gâm, có nhiều núi đá vôi, tập  
trung ở phía Nam và phía Bắc, độ cao thấp dần từ Bắc xuống Nam, Na  
Hangđược chia thành 3 tiểu vùng.  
Tiểu vùng khu A, ở phía Nam của huyện gồm 3 xã và 1 thị trấn, so với  
2 khu B, C, giao thông ở khu A thuận lợi hơn.  
Tiểu vùng khu B, ở phía Bắc của huyện gồm 5 xã, địa hình có nhiều núi  
đá cao, xã xa nhất là Xuân Lập, cách trung tâm huyện 51 km.  
Tiểu vùng khu C, ở phía Đông và Bắc của huyện gồm 8 xã, địa hình  
chủ yếu là núi cao.  
Na Hang nằm trong lưu vực của 2 sông lớn: Sông Gâm bắt nguồn từ  
Trung Quốc chảy qua núi Đổ xã Thượng Tân huyện Bắc Mê vào địa phận Na  
Hang với chiều dài 53 km, hướng sông chảy từ Bắc xuống Nam; Sông Năng  
bắt nguồn từ tỉnh Cao Bằng xuống hồ Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn) chảy qua Thác  
Đầu Đẳng vào địa bàn huyện Na Hang với chiều dài 25 km; hai sông hợp  
với nhau tại chân núi Pắc Tạ cách thượng lưu đập thuỷ điện 2 km. Ngoài ra  
2 con sông Gâm và sông Năng, Na Hang còn có nhiều khe, lạch, suối nhỏ  
và trung bình.  
   
11  
2.3.1.3. Điều kiện khí hậu thời tiết:  
Khí hậu nhiệt đới gió mùa, có mùa đông lạnh. Mùa hè nóng, ẩm, mưa  
nhiều và mùa đông lạnh, khô hanh ít mưa, có nhiều sương muối cục bộ. Nhiệt  
độ trung bình 26oC, cao nhất 40oC, thấp nhất 0oC. Lượng mưa trung bình  
hàng năm: 1.800 mm. Độ ẩm không khí trung bình: 85%.  
2.3.2: Điều kiện kinh tế - xã hội.  
2.3.2.1. Về Diện tích và dân số  
Diện tích: 1.461 km².  
Dân số: 60.900 người.  
Năm 2009, huyện Na Hang có số dân 59.951 người. Sau khi chia tách 5  
xã về huyện mới Lâm Bình, dân số của huyện năm 2001 còn 41.868 người  
Na Hang được chia thành 3 khu: A, B, C.  
Na Hang là nơi sinh sống của các dân tộc: Tày (57,52%), Dao  
(23,38%), Kinh (9,72%), H’Mông (5,31%), còn lại là các dân tộc khác.  
Người Tày ở Na Hang sống chủ yếu bằng việc nghề nông và chăn nuôi gia  
súc, gia cầm, trồng bông, dệt vải, trồng khoai môn, đậu tương giống mới trên  
đất đồi dốc trên 15 độ, đồi dốc dưới 15 độ và trên đất 1 vụ lúa...  
Người Tày ở Na Hang thường sống trong những ngôi nhà sàn độc lập, có  
khuôn viên bằng nứa đan thành phên hoặc những đoạn nứa cắm sát vào nhau,  
bên cạnh thường có mảnh vườn nhỏ trồng các loại rau, cây gia vị, cây thuốc.  
Duới gầm sàn được sử dụng để nuôi trâu, bò, lợn, gà, chứa củi, đặt cối giã  
gạo, cối xay, để các loại nông cụ và phương tiện đi lại.  
Bà con các dân tộc ở Na Hang rất thích hát dân ca như người Tày thích  
hát Lượn, hát Cọi, hát Then, hát Bụt, hát quan Làng; người Dao thích hát Páo  
dung, Phủng dung, ái dung. Còn người H’Mông thích thổi khèn lá, đàn môi  
và hát dân ca Mông.  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 72 trang yennguyen 17360 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của cây Lôi Khoai (Gymnocladus angustifolia (Gagn.) J.E. Vid.) tại huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_mot_so_dac_diem_sinh_hoc_cua_cay_loi_kh.pdf