Khóa luận Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------------------  
HOÀNG THỊ THANH  
Tên đề tài:  
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC  
TẠI XÃ Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
: Chính quy  
Chuyên ngành : Quản lý Tài nguyên rừng  
Khoa  
: Lâm Nghiệp  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Thái Nguyên - 2019  
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM  
--------------------------------  
HOÀNG THỊ THANH  
Tên đề tài:  
NGHIÊN CỨU TRI THỨC BẢN ĐỊA SỬ DỤNG CÂY THUỐC  
TẠI XÃ Y TÝ, HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
Hệ đào tạo  
Chuyên ngành  
Lớp  
: Chính quy  
: Quản lý Tài nguyên rừng  
: K47 - QLTNR  
: Lâm Nghiệp  
Khoa  
Khóa học  
: 2015 - 2019  
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Thị Thu Hiền  
Thái Nguyên – 2019  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của bản  
thân tôi. Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình  
điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, khách quan, chưa công bố trên  
tài liệu nào. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện  
luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã  
được chỉ rõ nguồn gốc.  
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam kết trên.  
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019  
Người viết cam đoan  
Hoàng Thị Thanh  
 
ii  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này em xin gửi lời cảm ơn chân  
thành tới toàn thể các thấy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái  
Nguyên, đặc biệt là các thấy giáo, cô giáo của khoa Lâm Nghiệp đã truyền đạt  
cho em những kiến thức quý báu và bổ ích trong suốt những năm học vừa qua  
cũng như trong quá trình em đi thực tập tốt nghiệp.  
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo TS. Nguyễn Thị Thu Hiền đã  
tận tình giúp đỡ và hướng dẫn em trong suốt quá trình thực tập để hoàn thành  
khóa luận tốt nghiệp này.  
Em xin chân thành cảm ơn UBND xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai,  
và cán bộ Chi cục Kiểm lâm huyện Bát Xát, cùng sự chỉ bảo tận tình của các  
thấy lang, bà mế thuộc xã Y Tý.  
Em xin bày tỏ lời biết ơn sâu sắc đến toàn thể gia đình, bạn bè đồng  
nghiệp đã giúp đỡ và động viên em trong suốt quá trình học tập cũng như  
trong thời gian thực tập tốt nghiệp.  
Trong quá trình thực tập và tổng hợp báo cáo do em chưa có được nhiều  
kinh nghiệm nên Khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những sai  
sót, hạn chế.  
Em kính mong được sự góp ý hoàn thiện của Quý thấy cô.  
Em xin trân trọng cảm ơn !  
Thái Nguyên, tháng 05 năm 2019  
Sinh viên  
HOÀNG THỊ THANH  
 
iii  
DANH MỤC BẢNG  
 
v
MỤC LỤC  
vi  
vii  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
Chữ cái viết tắt/ký hiệu  
Cụm từ đầy đủ  
Cc  
Cả cây  
Đ
Sống ở đồi  
HTKK  
KVNC  
KH&CN  
L
Hoạt tính kháng khuẩn  
Khu vực nghiên cứu  
Khoa học & công nghệ  
Lá  
Lp  
Dây leo  
Me  
Cây gỗ trung bình  
Cây gỗ nhỏ  
Mi  
Na  
Cây bụi  
NCTN&MT  
Nghiên cứu và tài nguyên và môi trường  
NĐ – CP  
Nghị định Chính phủ  
Kí sinh và bán kí sinh  
Quả, hoa  
Pp  
Q
R
Rễ  
R
Sống ở rừng  
ST&TNSV  
Sinh thái và tài nguyên sinh vật  
Th  
Thân thảo/thân  
UBND  
Ủy ban nhân dân  
V
Vỏ  
Vs  
Vu  
Sống ven sông ven suối  
Sống ở vườn  
1
Phần 1  
MỞ ĐẦU  
1.1.Tính cấp thiết của đề tài  
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là  
nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương  
trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn  
nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học.  
Cho đến nay Việt Nam vẫn được đánh giá là nước có nguồn tài nguyên  
sinh vật đa dạng và phong phú, trong đó có tài nguyên cây thuốc, đặc biệt là  
khu vực Trường Sơn. Thêm vào đó với những kinh nghiệm đã được tích lũy  
qua 4000 năm lịch sử, đã sử dụng nguồn tài nguyên phục vụ cho nhu cầu cuộc  
sống từ ăn, mặc, ở, chăm sóc sức khỏe và chữa bệnh vv… của cộng đồng 54  
dân tộc anh em. Đó là một ưu thế lớn trong việc sử dụng nguồn tài nguyên  
thực vật trong đó có nguồn tài nguyên cây thuốc góp phần nâng cao đời sống  
và sức khỏe của mọi người đặc biệt là các đồng bào Dân tộc thiểu số ở các  
vùng sâu, vùng xa nơi cuộc sống của họ gặp nhiều khó khăn phụ thuộc rất  
nhiều vào tài nguyên thiên nhiên trong đó có rừng.  
Theo các nhà phân loại thực vật ở Việt Nam giàu tài nguyên thực vật  
nhất Đông Nam Á, nơi có khoảng 12.000 loài thực vật bậc cao. Trong đó có  
3.948 loài được dùng làm thuốc (Viện Dược liệu, 2004) [8] chiếm khoảng  
37% số loài đã biết. Đó chưa kể đến những cây thuốc gia truyền của 54 dân  
tộc thiểu số Việt Nam, cho đến nay chúng ta chỉ mới biết được có một phần.  
Ngoài ra các nhà khoa học Nông Nghiệp đã thống kê được 1.066 loài cây trồng  
trong đó cũng có 179 loài cây sử dụng làm thuốc. Theo kết quả điều tra của  
viện dược liệu trong thời gian 2002 – 2005 số loài cây thuốc ở một số  
vùng trọng điểm thuộc các tỉnh gắn với dãy Trường Sơn như sau: Đắc Lắc  
(751 loài), Gia Lai (783 loài), Kon Tum (814 loài), Lâm Đồng (756 loài).  
   
2
Với hệ thực vật như vậy, thành phần các loài cây thuốc hết sức phong phú  
và đa dạng.  
Cây thuốc dân gian từ lâu đã được nhiều người quan tâm đến đây là  
nguồn tài nguyên thực vật có giá trị thiết thực cho các cộng đồng địa phương  
trong việc phòng chữa bệnh, ngoài ra nó còn có giá trị trong việc bảo tồn  
nguồn gen, cung cấp cho lĩnh vực dược học.  
Dân tộc Hà Nhì là một trong những dân tộc thiểu số ít người. Nguồn  
kiến thức bản địa của họ vô cùng quý giá, nhất là nguồn kiến thức về các loài  
thực vật được sử dụng làm dược liệu. Kho kiến thức của họ về dược liệu được  
đúc kết qua rất nhiều thế hệ và được lưu truyền từ đời này sang đời khác.  
Nguồn kiến thức này chưa được khoa học công nhận nhưng qua việc sử dụng  
và kiểm nghiệm trên thực tế đã được người dân sử dụng một cách có hiệu quả  
và tốt hơn cả mong đợi. Bằng chứng là bao đời nay họ đã sử dụng chúng để  
chữa bệnh cho cộng đồng, các bài thuốc Đông Nam đều được chế biến từ các  
loài cây dược liệu có nguồn gốc từ rừng tự nhiên. Những kinh nghiệm quý  
báu, công thức pha chế, cách sử dụng cây cỏ tự nhiên làm thuốc đã được lưu  
truyền và tích luỹ qua nhiều thế hệ. Các ông lang, bà mế của đồng bào các  
dân tộc miền núi nước ta đã tích luỹ nhiều đời tạo nên nhiều bài thuốc dân  
gian quý giá lấy từ cây cỏ. Những kiến thức này chủ yếu được người dân  
truyền miệng, truyền từ đời này sang đời khác. Vấn đề đặt ra là làm thế nào có  
thể ghi nhận và gìn giữ vốn kiến thức qúy báu trong việc trong việc sử dụng cây  
thuốc, bài thuốc đồng thời làm sao để việc khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc  
của cộng đồng dân tộc Hà Nhì đạt một cách hiệu và bền vững.  
Xuất phát từ những yêu cầu thực tế trên và được sự đồng ý của Ban  
giám hiệu nhà trường, ban chủ nhiệm khoa Lâm Nghiệp, chúng tôi tiến  
hành nghiên cứu đề tài:  
"Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Y Tý, huyện Bát  
Xát, tỉnh Lào Cai”.  
3
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài  
- Đánh giá được tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc và kinh  
nghiệm sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Hà Nhì tại xã Y Tý, huyện  
Bát Xát, tỉnh Lào Cai.  
- Đánh giá được hoạt tính kháng khuẩn của một số loài cây thuốc có giá  
trị cao được cộng đồng dân tộc Hà Nhì tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, Tỉnh Lào  
Cai sử dụng trong phòng và trị bệnh.  
- Xác định được những cây thuốc thuộc diện quý hiếm ở Việt Nam, hiện  
có ở khu vực nghiên cứu.  
1.3. Ý nghĩa của đề tài  
1.3.1. Ý nghĩa về mặt khoa học  
- Xác định tri thức bản địa sử dụng các loài cây thuốc của cộng đồng dân  
tộc thiểu số tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.  
- Xác định được hoạt tính kháng khuẩn của loài cây thuốc có giá trị cao  
tại khu vực nghiên cứu.  
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn  
- Kết quả thu được sẽ là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất công tác bảo tồn  
và phát triển nguồn gen cây thuốc của cộng đồng dân tộc Hà Nhì tại xã Y Tý,  
huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai.  
       
4
PHẦN 2  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Cơ sở thꢀc hiện đề tài  
Tri thức bao gồm sự hiểu biết về sự vật, hiện tượng của thế giới tự nhiên  
xung quanh con người. Hệ thống tri thức là sản phẩm trí tuệ của loài người  
được tích lũy từ những kinh nghiệm của quá trình lao động sản xuất thực tiễn  
trong cuộc sống hàng ngày. Hệ thống tri thức này hình thành trong thời gian  
dài lịch sử, tồn tại và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn xã hội qua  
sự trải nghiệm của nhân dân lao động.  
Vậy tri thức bản địa là gì? Theo định nghĩa chung của tổ chức Di sản văn  
hóa thế giới (UNESCO), tri thức bản địa là tri thức hoàn thiện được duy trì,  
tồn tại và phát triển trong một thời gian dài với sự tương tác qua lại gần gũi  
giữa con người với môi trường tự nhiên nó được truyền miệng từ đời này sang  
đời khác và rất ít khi được ghi chép lại. Tri thức bản địa là tri thức được tạo ra  
bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên  
nhiên trong một vùng nhất định. Tri thức bản địa là nguồn tài nguyên quốc gia  
giúp ích rất nhiều cho quá trình phát triển theo những phương sách ít tốn kém,  
có sự tham gia của người dân và đạt được sự bền vững. Các dự án phát triển  
dựa trên cơ sở tri thức bản địa sẽ lôi kéo được nhiều người dân tham gia, vì nó  
hợp với suy nghĩ của nhân dân, dân biết phải làm gì và làm như thế nào. Đó  
chính là cơ sở của sự thành công. Đặc điểm quan trọng của tri thức bản địa là  
luôn thích ứng với sự thay đổi của môi trường, các cộng đồng cư dân địa  
phương luôn có ý thức bản địa hóa những du nhập từ bên ngoài có lợi và thích  
hợp với cộng đồng.  
Trước đây người ta khái niệm lâm sản chủ yếu là gỗ, ít quan tâm đến các  
thành phần khác gỗ. Ngày nay, trong các chiến lược phát triển bền vững của  
các dự án lâm nghiệp xã hội, nông lâm kết hợp người ta đã chú ý nhiều đến  
     
5
các lâm sản khác ngoài gỗ. Và có khái niệm cơ bản về Lâm sản ngoài gỗ là  
bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được  
từ rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ  
ở tất cả các hình thái của nó. Các loài cây thuốc đa phần là các sản phẩm Lâm  
sản ngoài gỗ thuộc một phần của tài nguyên thực vật. Tài nguyên thực vật là  
tổng hợp của sinh quyển trong một loạt các thảm thực vật. Tài nguyên thực  
vật như là các nhà sản xuất chính, để duy trì chu kỳ dinh dưỡng sinh quyển và  
cơ sở dòng năng lượng trên trái đất. Tài nguyên thực vật giữ một vai trò vô  
cùng quan trọng đối với cuộc sống của con người nói riêng và sinh vật nói  
chung. Nhưng trong thời gian vừa qua tài nguyên này đã bị suy thoái nghiêm  
trọng do sự tác động tiêu cực của con người, chính vì vậy, gần đây Đảng và  
nhà nước ta đã có những chủ trương, đường lối mới như: Luật Bảo vệ và phát  
triển rừng năm 2004, Luật đất đai năm 2013, Luật đa dạng sinh học năm  
2008, Nghị định 32 của Chính phủ năm 2010,…cùng với hàng loạt các văn  
bản khác đã ra đời nhằm bảo vệ và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên  
hợp lí. Đây là một cơ sở pháp lí quan trọng để thực hiện thành công đề tài tri  
thức bản về khai thác và sử dụng cây thuốc của cộng đồng dân tộc Hà Nhì ở  
xã Y Tý  
2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước  
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới  
Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm sản ngoài gỗ để làm  
thuốc, họ đã sớm phát hiện những cây cỏ trong tự nhiên có thể sử dụng làm  
thuốc, các nước đã có các đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử dụng  
nhiều nguồn tài nguyên này để xuất khẩu làm dược liệu và thu được một  
nguồn tài chính khá lớn.  
Trong những năm gần đây, những nghiên cứu về sử dụng cây thuốc cho  
mục đích chữa bệnh của người dân bản địa ở các khu vực, các quốc gia được  
các nhà khoa học thực hiện trên khắp các châu lục trên Thế giới:  
   
6
Châu Á là châu lục có nhiều dân tộc bản địa sinh sống, với vốn tri  
thức bản địa về việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc phong phú và đa  
dạng, đã có những nghiên cứu cụ thể ở các cộng đồng người, các khu vực  
khác nhau như:  
“Nghiên cứu việc sử dụng truyền thống cây thuốc giữa các cộng đồng  
của vùng  
Manju Panghal và cộng sự (2010) khi nghiên cứu kiến thức bản địa về  
cây thuốc được sử dụng ở cộng đồng Saperas của làng Khetawas, quận  
Jhajjar, Haryana, Ấn Độ đã tìm thấy 57 loài thực vật thuộc 51 chi và 35 họ  
được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau, theo nghiên cứu này  
cây thuốc được cộng đồng Saperas sử dụng nhiều nhất là các cây thuộc họ  
Fabaceae [10].  
Arshad Abbasi và cộng sự (2013) khi thẩm định về thực vật học và các  
giá trị văn hóa của các loại rau ăn được hoang dã quan trọng trong y học của  
Lesser dãy Hymalaya đã ghi nhận 45 loại rau ăn được hoang dã thuộc 38 chi  
và 24 họ đã được người dân sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau và tiêu  
thụ [34].  
Mi-Jang Song và cộng sự (2013) khảo sát cây thuốc ở đảo Jeju, Hàn  
Quốc đã tìm thấy 171 loài thực vật thuộc 141 chi và 68 họ, 777 cách sử dụng  
các loài cây thuốc của người dân bản địa được ghi lại [54].  
Auemporn Junsongduang và cộng sự (2013) nghiên cứu về cây thuốc từ  
nương rẫy và rừng thiêng của dân tộc Karen và Lawa ở Thái Lan đã chỉ ra  
365 loài thực vật thuộc 244 chi và 82 họ được sử dụng làm thuốc, trong đó  
các cây thuộc họ Euphorbiaceae và Lauraceae được người dân sử dụng nhiều  
nhất [35].  
Homervergel G. Ong và Young - Dong Kim (2014) nghiên cứu về thực  
vật học định lượng của các cây thuốc được sử dụng bởi các nhóm bản địa Ati  
7
Negrito ở đảo Guimaras, Philippin đã tìm thấy 142 loài cây dược liệu thuộc  
55 họ được sử dụng trong 16 loại bệnh [47].  
Mi-Jang Song và cộng sự (2014) khi điều tra và phân tích các kiến thức  
truyền thống về cây thuốc được sử dụng bởi các cư dân tại Vườn quốc gia  
(VQG) Gayasan, Hàn Quốc đã điều tra và thống kê 200 loài thực vật thuộc  
168 chi và 87 họ được các cư dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau  
như: rối loạn cơ xương, đau nhức, rối loạn hệ hô hấp, bệnh gan và các vết cắt  
vết thương [55].  
Dol Luitel và cộng sự (2014) khi nghiên cứu cây thuốc được sử dụng bởi  
cộng đồng người Tamang ở quận Makawanpur của Trung tâm Nepal đã tìm  
thấy 161 loài thực vật thuộc 144 chi và 86 họ đã được người dân sử dụng để  
điều trị các loại bệnh khác nhau [42]  
Ở châu Âu, những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa  
học về việc sử dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dân  
bản địa được thực hiện: “Một nghiên cứu về thực vật học của cây thuốc trong  
công viên tự nhiên của Joana Camejo – Rodrigues và cộng sự (2004) khi  
nghiên cứu về thực vật học của cây thuốc trong công viên tự nhiên của Sera  
de Saox Mamede, Bồ Đào Nha đã cung cấp thông tin của 165 loài thực vật  
được sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau [48].  
Y học dân gian châu Âu có một lịch sử lâu dài, những tri thức dân gian  
bản địa được truyền lại cho các thế hệ sau bằng việc ghi chép lại và thông qua  
truyền miệng qua nhiều thế kỉ (Cassandra L. Quave và cộng sự 2012) [39].  
Những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về việc sử  
dụng các loài thực vật để điều trị các loại bệnh của người dân bản địa được  
thực hiện:  
Maria Leporatti và cộng sự (2007) khi nghiên cứu về một số công  
dụng của cây thuốc trong khu vực Alto Tirreno Cosentino, Calabria, miền  
Nam nước Ý đã chỉ ra 52 loài thực vật thuộc 35 họ được người dân sử dụng  
8
để điều trị các loại bệnh chủ yếu như: bệnh ngoài da, bệnh về đường hô  
hấp, đau răng, sâu răng và đau thấp khớp [50].  
Maria Leporatti và Kamel Gheddira (2009) khi phân tích so sánh các cây  
thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền tại Ý và Tunisia đã ghi nhận 153 loài  
thực vật thuộc 60 họ được người dân sử dụng trong việc điều trị các bệnh khác  
nhau [51].  
Behxhet Mustafa và cộng sự (2012) nghiên cứu về các loài thực vật  
được sử dụng làm thuốc của dãy núi Alps Albania ở Kosovo đã ghi nhận 98  
loài thực vật thuộc 39 họ được người dân sử dụng để điều trị các loại bệnh khác  
nhau, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu thuộc các họ Rosaceae,  
Asteraceae và Lamiaceae [37].  
Gorka Menedez-Baceta và cộng sự (2014) nghiên cứu về cây dược liệu  
truyền thống được sử dụng ở phía Tây Bắc của xứ Basque, bán đảo Iberia đã  
chỉ ra 139 loài thực vật thuộc 58 họ được người dân sử dụng để điều trị bệnh,  
trong đó các cây được sử sụng nhiều nhất thuộc họ Asteraceae [46].  
Cecilia Almeida và cộng sự (2006) nghiên cứu cây thuốc phổ biến được  
sử dụng trong các khu vực Xingo – một khu vực khô hạn ở Đông Bắc Brazil  
đã tìm thấy 187 loài thực vật thuộc 128 chi và 64 họ được người dân sử dụng để  
điều trị các bệnh: cảm lạnh thông thường, viêm phế quản, bệnh tim mạch, bệnh  
thận, viêm và an thần [40]. Gabriele Volpato và cộng sự (2009) nghiên cứu sử  
dụng cây thuốc của người nhập cư Haiti và con cháu của họ ở tỉnh Camaguey,  
Cuba đã chỉ ra 123 loài thực vật thuộc 112 chi và 63 họ được người nhập cư Haiti  
sử dụng để điều trị các bệnh khác nhau [44]  
Gaia Luziatelli và cộng sự, (2010) khi nghiên cứu cây thuốc của cộng  
đồng Ashaninka, một nghiên cứu từ các cộng đồng bản địa của Bajo  
Quimiriki, Junin, Peru đã tìm thấy 402 loài thực vật được cộng đồng sử dụng  
để điều trị các loại bệnh, trong đó các cây được sử dụng nhiều nhất chủ yếu  
9
thuộc các họ: Asteraceae, Araceae, Rubiaceae, Euphorbiaceae, Solanaceae và  
Piperaceae [45].  
Theo nghiên cứu “Thực vật dân tộc của người dân Rayones, Nuevo  
León, Mexico” năm 2014, đã ghi nhận 252 loài thực vật thuộc 228 chi và 91  
họ được người dân Rayones sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó các họ  
được sử dụng chủ yếu là: Asteraceae và Fabaceae (Eduardo Estrada-Castillón  
và cộng sự, 2014) [43].  
Ở châu Phi, nhiều nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc của Người dân  
đã sử dụng cây thuốc bản địa hàng nghìn năm nay để bảo vệ sức khỏe của họ,  
những nghiên cứu gần đây cho thấy việc sử dụng cây thuốc của những người  
dân bản địa ở châu Phi rất đa dạng và phong phú:  
Theo nghiên cứu của David J. Simbo “Một cuộc khảo sát về các loài  
thực vật được sử dụng làm thuốc trong Babungo, khu vực Tây Bắc,  
Cameroon”, đã xác định và ghi nhận 107 loài thực vật thuộc 98 chi và 54 họ  
được người dân địa phương sử dụng để điều trị các bệnh, trong đó họ được sử  
dụng chủ yếu là họ Asteraceae (David J. Simbo, 2010) [40].  
“Nghiên cứu về thực vật học và kiến thức bản địa về sử dụng cây thuốc  
của các thầy lang trong khu vực Oshikoto, Namibia”, đã tìm thấy 61 loài cây  
thuốc thuộc 25 họ được các thầy lang trong khu vực sử dụng để điều trị các  
bệnh khác nhau như: Tâm thần, nhiễm trùng da, vết thương ngoài da, rắn cắn  
và các vấn đề tim mạch (Ahmad Cheikhyoussef và cộng sự, 2011) [33].  
“Nghiên cứu cây thuốc của Otwal và Ngãi ở quận Oyam, Bắc Uganda”,  
đã chỉ ra 71 loài thực vật thuộc 41 họ được người dân địa phương sử dụng để  
điều trị các loại bệnh khác nhau, trong đó họ được sử dụng chủ yếu là họ  
Asteraceae (Maud M. Kamatenesi và cộng sự, 2011) [52].  
Nghiên cứu “cây thuốc được sử dụng bởi phụ nữ từ rừng ven biển  
Agnalazaha Đông Nam Madagascar”, đã thống kê được 152 loài cây thuốc  
được sử dụng bởi người dân địa phương để điều trị các bệnh, trong đó ghi  
10  
nhận 8 loài được sử dụng bởi những người phụ nữ để điều trị các biến chứng  
trong khi sinh, các bệnh nhiệt đới như: sốt rét, giun chỉ và các bệnh liên quan  
đến tình dục như bệnh lậu và giang mai (Mendrika Razafindraibe và cộng sự,  
2013) [53].  
Nghiên cứu về “sử dụng và quản lý cây thuốc truyền thống của cộng  
đồng dân tộc thiểu số Maale và Ari, ở miền nam Ethiopia”, đã ghi nhận 128  
loài cây thuốc thuộc 111 chi và 49 họ được cộng đồng người Maale và Ari  
sử dụng để điều trị các loại bệnh khác nhau (Berhane Kidane và cộng sự,  
2014) [38].  
Kết quả nghiên cứu về cây thuốc được sử dụng trong y học cổ truyền bởi  
những người Oromo, quận Ghimbi, Tây Nam Ethiopia, đã thống kê được 49  
loài cây thuốc thuộc 31 họ và 46 chi được người Oromo sử dụng để điều trị  
các loại bệnh khác nhau (Balcha Abera, 2014) [36].  
Ở châu Úc: Những nghiên cứu về việc sử dụng cây thuốc bản địa được  
thực hiện ở châu Úc còn rất ít. Một nghiên cứu về các loài cây thuốc được  
sử dụng bởi cộng đồng thổ dân Yaegl ở miền Bắc New South Wales,  
Australia, đã ghi nhận 32 loài cây thuốc thuộc 21 họ được thổ dân Yaegl sử  
dụng để điều trị các bệnh (Joanne Packera và cộng sự, 2012) [49].  
Như vậy, việc điều tra và thống kê các loài cây thuốc đã để lại những  
công trình mang tính khoa học, tính dân tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dân  
gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế giới là vô cùng đa dạng và phong phú.  
Vậy để, phục vụ cho mục đích chăm sóc bảo vệ sức khỏe con người và để  
chồng lại các bệnh nan y là vấn đề thực sự cần thiết của các nhà khoa học, các nhà  
y học cổ truyền. Có thể thấy việc điều tra và nghiên cứu các loài cây thuốc của các  
nhà khoa học, để lại những công trình nghiên cứu mang tính khoa học, tính dân  
tộc sâu sắc, cho thấy vốn tri thức dân gian bản địa về sử dụng cây thuốc trên thế  
giới là vô cùng đa dạng và phong phú.  
11  
2.2.2. Tình hình nghiên cứu tại Việt nam  
Ở Việt Nam, phong tục tập quán sử dụng cây thuốc đã có từ lâu đời.  
Hơn 4000 năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã trải qua cuộc  
đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đấu tranh với thiên nhiên và bệnh tật.  
Ngay từ những buổi đầu sơ khai, khi con người còn sống theo lối nguyên  
thủy, trong quá trình tìm thức ăn, tổ tiên chúng ta đã phát hiện ra công  
dụng và tác hại của nhiều loại cây. Suốt một thời gian dài như vậy, tổ tiên  
chúng ta đã dần dần tích lũy được nhiều kinh nghiệm, biết lợi dụng tính  
chất của cây rừng để làm thức ăn và làm thuốc chữa bệnh (Trần Thúy và  
cộng sự, 2005) [27].  
Thế kỷ thứ XI (TCN), nhân dân ta có tục ăn trầu cho ấm người, thơm  
miệng, uống nước chè xanh cho mát, nụ vối cho dễ tiêu,… điều đó nói lên  
những hiểu biết về dinh dưỡng và sử dụng thuốc của dân tộc (Lê Trần Đức,  
1997) [12].  
Từ thời Hùng Vương, tổ tiên ta đã biết nấu rượu, biết dùng Thủy ngân để  
ướp xác và sử sách đã ghi chép về một lương y tên là Thôi Vỹ đã biết chữa  
bệnh lao hạch ở thời An Dương Vương (257 – 207) (Trần Thúy và cộng sự,  
2005) [27].  
Thời nhà Lý (1010 – 1221) đã có tổ chức Ty Thái Y chăm lo và bảo vệ  
sức khỏe cho nhà vua, có nhiều thầy thuốc chuyên lo việc chữa bệnh cho nhân  
dân và phương pháp chữa bệnh bằng tâm lý liệu pháp phát triển. Trong sử  
sách còn ghi lại năm 1136, vua Lý Thần Tông bị điên được lương y Nguyễn  
Chí Thành người Gia Viễn – Ninh Bình dùng tâm lý liệu pháp và tắm nước  
Bồ hòn chữa cho khỏi bệnh. Nhà Lý đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung  
Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc (Trần Thúy và cộng sự, 2005) [27].  
Ở thời này, làng Đại Yên là một làng thuốc nổi tiếng, chuyên trồng và bán các  
loại cây thuốc Nam phục vụ công tác chữa bệnh (Viện Dược liệu, 1993) [30].  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 78 trang yennguyen 13540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Nghiên cứu tri thức bản địa sử dụng cây thuốc tại xã Y Tý, huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_nghien_cuu_tri_thuc_ban_dia_su_dung_cay_thuoc_tai.pdf