Khóa luận Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ  
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
CHUYÊN NGÀNH: DƯỢC HỌC  
MÃ SỐ: 52720401  
KHẢO SÁT SỰ HIỂU BIẾT VÀ THÓI QUEN  
SỬ DỤNG THUỐC KHÁNG SINH CỦA  
NGƯỜI DÂN TẠI HUYỆN THOẠI SƠN,  
TỈNH AN GIANG  
Sinh viên thực hiện  
Cán bộ hướng dẫn  
ĐẶNG NGỌC NHI  
Ths. TRẦN QUANG TRÍ  
Ds: LƯU HOÀNG MINH KHOA  
MSSV: 12D720401144  
LỚP: ĐẠI HỌC DƯỢC 7B  
Cần Thơ, 2017  
 
LỜI CẢM ƠN  
Trong suốt thời gian từ khi tôi bắt đầu học tập và nghiên cứu tại Trường Đại học Tây  
Đô, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ từ quý thầy cô, gia đình, bạn bè để  
hoàn thành tốt luận văn: “Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng kháng sinh của  
người dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang”. Với lòng tri ân sâu sắc nhất, tôi xin được  
gửi lời cảm ơn chân thành đến:  
Ban Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu, quý thầy cô Trường Đại học Tây Đô nói  
chung và quý thầy cô Khoa Dược – Điều dưỡng nói riêng đã tạo mọi điều kiện tốt nhất  
giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này trong thời gian qua. Đặc biệt, tôi xin được gửi lời  
cảm ơn đến thầy Trần Quang Trí và thầy Lưu Hoàng Minh Khoa đã quan tâm, hướng  
dẫn tôi tận tình để hoàn thiện luận văn này.  
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn nhiều hạn chế của một sinh viên,  
luận văn này không thể tránh nhiều sơ sót. Tôi rất mong nhận được nhiều sự chỉ bảo,  
đóng góp ý kiến của các thầy cô để tôi có điều kiện bổ sung, nâng cao kiến thức của  
mình, phục vụ tốt hơn cho công tác sau này.  
Sau cùng, tôi xin được gửi đến Ban Hội đồng quản trị, Ban Giám hiệu, quý thầy cô  
lời chúc thật nhiều sức khỏe, niềm tin để tiếp tục truyền đạt kiến thức của mình đến với  
thế hệ mai sau.  
Tôi xin chân thành cảm ơn!  
i
LỜI CAM ĐOAN  
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi. Các  
số liệu sử dụng phân tích đều có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo đúng quy  
định. Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung  
thực khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam. Các kết quả này chưa từng  
được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.  
Sinh viên nghiên cứu  
Đặng Ngọc Nhi  
ii  
 
TÓM TẮT LUẬN VĂN  
Với mục tiêu tìm hiểu thực trạng việc sử dụng thuốc kháng sinh và kiến thức của  
người dân về thuốc kháng sinh của người dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang. Đề tài  
nghiên cứu: “Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng thuốc kháng sinh của người  
dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” được thực hiện từ tháng 12/2016 đến tháng  
4/2017 với kết cấu như sau:  
1. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:  
1.1. Mục đích nghiên cứu:  
Tìm hiểu tình hình sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại địa bàn huyện Thoại  
Sơn, tỉnh An Giang. Từ đó, đưa ra một số kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện.  
1.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:  
- Làm rõ thực trạng việc sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại địa bàn huyện  
Thoại Sơn, tỉnh An Giang;  
- Làm rõ thực trạng kiến thức của người dân về thuốc kháng sinh tại địa bàn huyện  
Thoại Sơn, tỉnh An Giang;  
- Đưa ra kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện.  
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:  
2.1. Đối tượng nghiên cứu:  
Những người dân mua thuốc kháng sinh ở các nhà thuốc.  
2.2. Phạm vi nghiên cứu:  
3. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:  
3.1. Cơ sở lý luận:  
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở các tài liệu hướng dẫn sử dụng thuốc kháng sinh  
của Bộ Y tế, các công trình nghiên cứu về tình trạng tiêu thụ thuốc kháng sinh của các  
tổ chức trong nước và quốc tế.  
3.2. Phương pháp nghiên cứu:  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang.  
4. Đóng góp của luận văn:  
- Làm sáng tỏ vấn đề về thực trạng sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại  
huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang;  
- Làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, học tập.  
iii  
 
MỤC LỤC  
iv  
 
DANH MỤC BẢNG  
vii  
 
DANH MỤC HÌNH  
viii  
 
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU  
Hiện nay, có thể nói thuốc kháng sinh là một trong những nhóm thuốc được dùng  
nhiều nhất tại Việt Nam. Đặc biệt, trong những năm gần đây, chủng loại và số lượng  
kháng sinh được đưa vào thị trường Việt Nam ngày càng đa dạng và phong phú. Thêm  
vào đó, sự phát triển mạnh mẽ của mạng lưới cung ứng thuốc đã đưa thuốc đến hầu hết  
người dân.  
Song song đó, là sự xuất hiện của thành phần những người bán thuốc lệ thuộc vào lợi  
nhuận kinh tế, bỏ qua những điều luật và đạo đức hành nghề y dược, sẵn sàng bán thuốc  
phải kê đơn – cụ thể ở đây là thuốc kháng sinh – mà không cần đơn thuốc. Từ đó, người  
dân có thể tự mua thuốc kháng sinh một cách dễ dàng để tự điều trị.  
Do tự sử dụng theo thói quen, theo những bài viết không xác thực, trôi nổi trên  
internet, hay theo sự mách bảo của những người không có chuyên môn… thời gian dùng  
thuốc, cách dùng thuốc không đúng nguyên tắc, dẫn đến việc vi khuẩn kháng thuốc  
kháng sinh ngày càng gia tăng.  
Trước thực trạng đó, để tìm hiểu một cách cụ thể tình hình sử dụng thuốc kháng sinh  
của người dân, đề tài nghiên cứu: “Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng thuốc  
kháng sinh của người dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang” ra đời, nhằm làm rõ  
các mục tiêu:  
- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng thuốc kháng sinh của người dân nơi đây;  
- Tìm hiểu kiến thức của người dân về thuốc kháng sinh;  
- Đưa ra một số kết luận và đề xuất giải pháp cải thiện.  
1
 
CHƯƠNG 2. LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU  
2.1. Định nghĩa kháng sinh:  
Kháng sinh được định nghĩa: “Kháng sinh (antibiotics) là những chất kháng khuẩn  
(antibacterial substances) được tạo ra bởi các chủng vi sinh vật (vi khuẩn, nấm,  
Actymomycetes) có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi sinh vật khác”.  
Hiện nay từ kháng sinh được mở rộng đến cả những chất kháng khuẩn có nguồn gốc  
tổng hợp như các sulfonamide và quinolone.  
Để đảm bảo sử dụng thuốc hợp lý, cần nắm vững những kiến thức liên quan đến  
kháng sinh, vi khuẩn gây bệnh và người bệnh.  
2.2. Nguyên tắc sử dụng kháng sinh:  
2.2.1. Lựa chọn kháng sinh và liều lượng:  
Lựa chọn thuốc kháng sinh phụ thuộc hai yếu tố: người bệnh và vi khuẩn gây bệnh.  
Yếu tố liên quan đến người bệnh cần xem xét bao gồm: lứa tuổi, tiền sử dị ứng thuốc,  
chức năng gan – thận, tình trạng suy giảm miễn dịch, mức độ nặng của bệnh, bệnh mắc  
kèm, cơ địa dị ứng. Nếu là phụ nữ: cần lưu ý đối tượng phụ nữ có thai, đang cho con bú  
để cân nhắc lợi ích/nguy cơ. Về vi khuẩn: loại vi khuẩn, độ nhạy cảm với kháng sinh  
của vi khuẩn. Cần cập nhật tình hình kháng kháng sinh để có lựa chọn phù hợp. Cần lưu  
ý các biện pháp phối hợp để làm giảm mật độ vi khuẩn và tăng nồng độ kháng sinh tại  
ổ nhiễm khuẩn như làm sạch ổ mủ, dẫn lưu, loại bỏ tổ chức hoại tử... khi cần.  
Chính sách kê đơn kháng sinh nhằm giảm tỷ lệ phát sinh vi khuẩn kháng thuốc và đạt  
được tính kinh tế hợp lý trong điều trị. Với những kháng sinh mới, phổ rộng, chỉ định  
sẽ phải hạn chế cho những trường hợp có bằng chứng là các kháng sinh đang dùng đã  
bị kháng.  
Liều dùng của kháng sinh phụ thuộc nhiều yếu tố: tuổi người bệnh, cân nặng, chức  
năng gan – thận, mức độ nặng của bệnh. Do đặc điểm khác biệt về dược động học, liều  
lượng cho trẻ em, đặc biệt là trẻ sơ sinh và nhũ nhi có hướng dẫn riêng theo từng chuyên  
luận. Liều lượng trong các tài liệu hướng dẫn chỉ là gợi ý ban đầu. Không có liều chuẩn  
cho các trường hợp nhiễm khuẩn nặng. Kê đơn không đủ liều sẽ dẫn đến thất bại điều  
trị và tăng tỷ lệ vi khuẩn kháng thuốc. Ngược lại, với những kháng sinh có độc tính cao,  
phạm vi điều trị hẹp (ví dụ: các aminoglycosid, polypeptide) phải đảm bảo nồng độ  
thuốc trong máu theo khuyến cáo để tránh độc tính. Do vậy, việc giám sát nồng độ thuốc  
trong máu nên được triển khai.  
2
       
2.2.2. Sử dụng kháng sinh dự phòng:  
Kháng sinh dự phòng là việc sử dụng kháng sinh trước khi xảy ra nhiễm khuẩn nhằm  
mục đích ngăn ngừa hiện tượng này. Kháng sinh dự phòng nhằm giảm tần suất nhiễm  
khuẩn tại vị trí hoặc cơ quan được phẫu thuật, không dự phòng nhiễm khuẩn toàn thân  
hoặc vị trí cách xa nơi được phẫu thuật.  
2.2.2.1. Chỉ định sử dụng kháng sinh dự phòng:  
Phẫu thuật được chia làm bốn loại: phẫu thuật sạch, phẫu thuật sạch – nhiễm, phẫu  
thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn.  
Kháng sinh dự phòng được chỉ định cho tất cả các can thiệp phẫu thuật thuộc phẫu  
thuật sạch – nhiễm.  
Trong phẫu thuật sạch, liệu pháp kháng sinh dự phòng nên áp dụng với một số can  
thiệp ngoại khoa nặng, có thể ảnh hưởng đến sự sống còn và/hoặc chức năng sống (phẫu  
thuật chỉnh hình, phẫu thuật tim và mạch máu, phẫu thuật thần kinh, phẫu thuật nhãn  
khoa).  
- Phẫu thuật nhiễm và phẫu thuật bẩn: kháng sinh đóng vai trò trị liệu. Kháng sinh dự  
phòng không ngăn ngừa nhiễm khuẩn mà ngăn ngừa nhiễm khuẩn đã xảy ra không phát  
triển.  
2.2.2.2 Lựa chọn kháng sinh dự phòng:  
Kháng sinh có phổ tác dụng phù hợp với các chuẩn vi khuẩn chính thường gây nhiễm  
khuẩn tại vết mổ cũng như tình trạng kháng thuốc tại địa phương, đặc biệt trong từng  
bệnh viện.  
Kháng sinh ít hoặc không gây tác dụng phụ hay các phản ứng có hại, độc tính của  
thuốc càng ít càng tốt. Không sử dụng các kháng sinh có nguy cơ gây dộc không dự  
đoán được và có mức độ gây độc nặng không phụ thuộc liều (ví dụ: kháng sinh nhóm  
phenicol và sulfamid gây giảm bạch cầu miễn dịch dị ứng, hội chứng Lyell).  
Kháng sinh không tương tác với các thuốc dùng để gây mê (ví dụ: polymyxin,  
aminosid).  
Kháng sinh ít có khả năng chọn lọc vi khuẩn đề kháng kháng sinh và thay đổi hệ vi  
khuẩn thường trú.  
Khả năng khuếch tán của kháng sinh trong mô tế bào phải cho phép đạt nồng độ thuốc  
cao hơn nồng độ kháng khuẩn tối thiểu của vi khuẩn gây nhiễm.  
Liệu pháp kháng sinh dự phòng có chi phí hợp lý, thấp hơn chi phí kháng sinh trị liệu  
lâm sàng.  
3
 
2.2.2.3. Liều kháng sinh dự phòng:  
Liều kháng sinh dự phòng tương đương liều điều trị mạnh nhất của kháng sinh đó.  
2.2.2.4. Đường dùng thuốc:  
Đường tĩnh mạch: thường được lựa chọn do nhanh đạt nồng độ thuốc trong máu và  
mô tế bào.  
Đường tiêm bắp: có thể sử dụng nhưng không đảm bảo về tốc độ hấp thu của thuốc  
và không ổn định.  
Đường uống: chỉ sử dụng khi chuẩn bị phẫu thuật trực tràng, đại tràng.  
Đường tại chỗ: hiệu quả thay đổi theo từng loại phẫu thuật (trong phẫu thuật thay  
khớp, sử dụng chất xi măng tẩm kháng sinh).  
2.2.2.5. Thời gian dùng thuốc:  
Thời gian sử dụng kháng sinh dự phòng nên trong vòng 60 phút trước khi tiến hành  
phẫu thuật và gần thời điểm rạch da.  
Cephalosporins tiêm tĩnh mạch trong 3 – 5 phút ngay trước thủ thuật và đạt nồng độ  
cần thiết ở da sau vài phút.  
Vancomycin và ciprofloxacin cần phải được dùng trước một giờ và hoàn thành việc  
truyền trước khi bắt đầu rạch da.  
Clindamycin cần được truyền xong trước 10 – 20 phút.  
Gentamycin cần được dùng một liều duy nhất 5mg/kg để tối đa hóa sự thấm vào mô  
và giảm thiểu độc tính. Nếu người bệnh lọc máu hoặc ClCr < 20ml/phút, dùng liều  
2mg/kg.  
Đối với phẫu thuật mổ lấy thai, kháng sinh dự phòng có thể được sử dụng trước khi  
rạch da hoặc sau khi kẹp dây rốn để giảm biến chứng nhiễm khuẩn ở mẹ.  
Bổ sung liều trong thời gian phẫu thuật:  
Trong phẫu thuật tim kéo dài hơn 4 giờ, cần bổ sung thêm một liều kháng sinh;  
Trong trường hợp mất máu với thể tích trên 1500ml ở người lớn và trên 25ml/kg ở  
trẻ em, nên bổ sung liều kháng sinh dự phòng sau khi bổ sung dịch thay thế.  
2.2.2.6. Lưu ý khi sử dụng kháng sinh dự phòng:  
Không sử dụng kháng sinh để dự phòng cho các nhiễm khuẩn liên quan đến chăm  
sóc sau mổ và những nhiễm khuẩn xảy ra trong lúc mổ. Nguy cơ khi sử dụng kháng sinh  
dự phòng:  
- Dị ứng thuốc;  
- Sốc phản vệ;  
- Tiêu chảy do kháng sinh;  
4
- Vi khuẩn đề kháng kháng sinh;  
- Lây truyền vi khuẩn đa kháng.  
2.2.3. Sử dụng kháng sinh điều trị theo kinh nghiệm:  
Điều trị kháng sinh theo kinh nghiệm khi chưa có bằng chứng về vi khuẩn học do  
không có điều kiện nuôi cấy vi khuẩn (do không có Labo vi sinh, không thể lấy được  
bệnh phẩm) hoặc khi đã nuôi cấy mà không phát hiện được nhưng có bằng chứng lâm  
sàng rõ rệt về nhiễm khuẩn.  
Phác đồ sử dụng kháng sinh theo kinh nghiệm là lựa chọn kháng sinh có phổ hẹp nhất  
gần với hầu hết các tác nhân gây bệnh hoặc với các vi khuẩn nguy hiểm có thể gặp trong  
từng loại nhiễm khuẩn.  
Kháng sinh phải có khả năng đến được vị trí nhiễm khuẩn với nồng độ hiệu quả nhưng  
không gây độc.  
Trước khi bắt đầu điều trị, cố gắng lấy mẫu bệnh phẩm để phân lập vi khuẩn trong  
những trường hợp có thể để điều chỉnh lại kháng sinh phù hợp hơn.  
Nên áp dụng mọi biện pháp phát hiện nhanh vi khuẩn khi có thể để có được cơ sở  
đúng đắn trong lựa chọn kháng sinh ngay từ đầu.  
Nếu không có bằng chứng về vi khuẩn sau 48 giờ điều trị, cần đánh giá lại lâm sàng  
trước khi quyết định tiếp tục sử dụng kháng sinh.  
Cần thường xuyên cập nhật tình hình dịch tễ và độ nhạy cảm của vi khuẩn tại địa  
phương để lựa chọn được kháng sinh phù hợp.  
2.2.4. Sử dụng kháng sinh khi có bằng chứng vi khuẩn học:  
Nếu có bằng chứng rõ ràng về vi khuẩn và kết quả của kháng sinh đồ, kháng sinh  
được lựa chọn là kháng sinh có hiệu quả cao nhất với độc tính thấp nhất và có phổ tác  
dụng hẹp nhất, gần với các tác nhân gây bệnh được phát hiện.  
Ưu tiên sử dụng kháng sinh đơn độc.  
Phối hợp kháng sinh chỉ cần thiết nếu:  
Chứng minh có nhiễm đồng thời nhiều loại vi khuẩn nên cần phối hợp mới đủ phổ  
tác dụng (đặc biệt những trường hợp nghi ngờ có vi khuẩn kỵ khí hoặc vi khuẩn nội  
bào);  
Hoặc khi gặp vi khuẩn kháng thuốc mạnh, cần phối hợp để tăng thêm tác dụng;  
Hoặc khi điều trị kéo dài, cần phối hợp để giảm nguy cơ kháng thuốc (ví dụ: điều trị  
lao, HIV…).  
5
   
2.2.5. Lựa chọn đường đưa thuốc:  
Đường uống là đường dùng được ưu tiên vì tính tiện dụng, an toàn và giá thành rẻ.  
Cần lưu ý lựa chọn kháng sinh có sinh khả dụng cao và ít bị ảnh hưởng bởi thức ăn  
(bảng 2.1).  
Sinh khả dụng từ 50% trở lên là tốt, từ 80% trở lên được coi là hấp thu đường uống  
tương tự đường tiêm. Những trường hợp này chỉ nên dùng đường tiêm khi không thể  
uống được. Việc chọn kháng sinh mà khả năng hấp thu ít bị ảnh hưởng bởi thức ăn sẽ  
bảo đảm được sự tuân thủ điều trị của người bệnh tốt hơn và khả năng điều trị thành  
công cao hơn.  
Đường tiêm chỉ được dùng trong những trường hợp sau:  
Khi khả năng hấp thu qua đường tiêu hoá bị ảnh hưởng (do bệnh lý dường tiêu hoá,  
khó nuốt, nôn nhiều…);  
Khi cần nồng độ kháng sinh trong máu cao, khó đạt được bằng đường uống: điều trị  
nhiễm khuẩn ở các tổ chức khó thấm thuốc (viêm màng não, màng trong tim, viêm  
xương khớp nặng…), nhiễm khuẩn trầm trọng và tiến triển nhanh. Tuy nhiên, cần xem  
xét chuyển ngay sang đường uống khi có thể.  
Bảng 2.1. Sinh khả dụng của một số kháng sinh đường uống  
Kháng sinh  
Ampicillin  
Sinh khả dụng (%)  
Ảnh hưởng của thức ăn đến hấp thu  
40  
90  
30  
90  
50  
40  
50  
90  
90  
80  
↓
±
↓
±
↓
↓
↓
±
±
±
Amoxicillin  
Lincomycin  
Clindamycin  
Erythromycin  
Azithromycin  
Tetracyclin  
Doxycyclin  
Pefloxacin  
Ofloxacin  
Ghi chú: ↓: Giảm hấp thu  
±: Không ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng không đáng kể  
2.2.6 Độ dài đợt điều trị:  
Độ dài đợt điều trị phụ thuộc vào tình trạng nhiễm khuẩn, vị trí nhiễm khuẩn và sức  
đề kháng của người bệnh. Các trường hợp nhiễm khuẩn nhẹ và trung bình thường đạt  
6
     
kết quả sau 7 – 10 ngày nhưng những trường hợp nhiễm khuẩn nặng, nhiễm khuẩn ở  
những tổ chức khó thâm nhập (màng tim, màng não, xương – khớp,…), bệnh lao… thì  
đợt điều trị kéo dài hơn nhiều. Tuy nhiên, một số bệnh nhiễm khuẩn chỉ cần một đợt  
ngắn như nhiễm khuẩn tiết niệu – sinh dục chưa biến chứng (khoảng 3 ngày, thậm chí  
một liều duy nhất).  
Sự xuất hiện nhiều kháng sinh có thời gian bán thải kéo dài đã cho phép giảm được  
đáng kể số lần dùng thuốc trong đợt điều trị, làm dễ dàng hơn cho việc tuân thủ điều trị  
của người bệnh; ví dụ: dùng azithromycin chỉ cần một đợt 3 – 5 ngày, thậm chí một liều  
duy nhất.  
Không nên điều trị kéo dài để tránh kháng thuốc, tăng tỷ lệ xuất hiện tác dụng không  
mong muốn và tăng chi phí điều trị.  
2.2.7. Lưu ý tác dụng không mong muốn và độc tính khi sử dụng kháng sinh:  
Tất cả các kháng sinh đều có thể gây ra tác dụng không mong muốn (ADR), do đó  
cần cân nhắc nguy cơ/lợi ích trước khi quyết định kê đơn. Mặc dù đa số trường hợp  
ADR sẽ tự khỏi khi ngừng thuốc nhưng nhiều trường hợp hậu quả rất trầm trọng, ví dụ:  
khi gặp hội chứng Stevens – Johnson, Lyell… ADR nghiêm trọng có thể dẫn đến tử  
vong ngay là sốc phản vệ. Các loại phản ứng quá mẫn thường liên quan đến tiền sử dùng  
kháng sinh ở người bệnh, do đó phải khai thác tiền sử dị ứng, tiền sử dùng thuốc ở người  
bệnh trước khi kê đơn và phải luôn sẵn sàng các phương tiện chống sốc khi sử dụng  
kháng sinh.  
Gan và thận là hai cơ quan chính thải trừ thuốc, do đó sự suy giảm chức năng những  
cơ quan này dẫn đến giảm khả năng thải trừ kháng sinh, kéo dài thời gian lưu của thuốc  
trong cơ thể, làm tăng nồng độ thuốc dẫn đến tăng độc tính. Do đó, phải thận trọng khi  
kê đơn kháng sinh cho người cao tuổi, người suy giảm chức năng gan – thận vì tỷ lệ gặp  
ADR và độc tính cao hơn người bình thường.  
Vị trí bài xuất chính chỉ nơi kháng sinh đi qua ở dạng còn hoạt tính. Từ bảng 2.2 cho  
thấy hai kháng sinh có thể ở cùng một nhóm nhưng dược tính dược động học không  
giống nhau. Đặc điểm này giúp cho việc lựa chọn kháng sinh theo cơ địa của người  
bệnh.  
Cần hiệu chỉnh lại liều lượng và/hoặc khoảng cách đưa thuốc theo chức năng gan –  
thận để tránh tăng nồng độ quá mức cho phép với những kháng sinh có độc tính cao trên  
gan và/hoặc thận.  
Với người bệnh suy thận, phải đánh giá chức năng thận theo độ thanh thải creatinin  
và mức liều tương ứng sẽ được ghi ở mục “Liều dùng cho người bênh suy thận”.  
7
 
Với người bệnh suy gan, không có thông số hiệu chỉnh như với người bệnh suy thận  
mà phải tuân theo hướng dẫn của nhà sản xuất, thường là căn cứ vào mức độ suy gan  
theo phân loại Child – Pugh.  
Bảng 2.2. Cơ quan bài xuất chính của một số kháng sinh  
Kháng sinh  
Cefotaxim  
Vị trí bài xuất chính  
Thận  
Gan  
Gan  
Gan  
Gan  
Gan  
Thận  
Gan  
Gan  
Thận  
Cefoperazol  
Lincomycin  
Clindamycin  
Erythromycin  
Azithromycin  
Tetracyclin  
Doxycyclin  
Pefloxacin  
Ofloxacin  
Những nội dung chính trong các nguyên tắc trên được tóm tắt thành nguyên tắc  
MINDME (bảng 2.3):  
Bảng 2.3 Nguyên tắc MINDME trong sử dụng kháng sinh  
Microbiology guides wherever  
possible  
Theo chỉ dẫn vi khuẩn học bất kỳ khi nào  
có thể  
M
Indication should be evidence-  
based  
I
Chỉ định phải căn cứ trên bằng chứng  
N
D
M
E
Narrowest spectrum required  
Dosage appropriate to the site  
and type of infection  
Minimum duration of therapy  
Ensure monotherapy in most  
situation  
Lựa chọn phổ hẹp nhất cần thiết  
Liều lượng phù hợp với loại nhiễm khuẩn  
và vị trí nhiễm khuẩn  
Thời gian điều trị tối thiểu cho hiệu quả  
Bảo đảm đơn trị liệu trong hầu hết các  
trường hợp  
8
   
Kết luận:  
Để điều trị thành công nhiễm khuẩn phụ thuộc nhiều yếu tố, bao gồm tình trạng bệnh  
lý, vị trí nhiễm khuẫn và sức đề kháng của người bệnh. Các kiến thức về phân loại kháng  
sinh, về PK/PD sẽ giúp cho việc lựa chọn kháng sinh và xác định lại chế độ liều tối ưu  
cho từng nhóm kháng sinh, là cơ sở để thực hiện các nguyên tắc sử dụng kháng sinh hợp  
lý. Đây cũng là những nội dung quan trọng đối với mỗi thầy thuốc để đảm bảo hiệu quả  
– an toàn – kinh tế và giảm tỷ lệ kháng kháng sinh trong điều trị.  
2.3. Tình hình sử dụng kháng sinh trên thế giới và tại Việt Nam:  
Hiện nay, thị trường thuốc kháng sinh trên thế giới rất đa dạng về cả chủng loại và số  
lượng. Tình hình sử dụng thuốc kháng sinh ở người ngày càng gia tăng trên toàn cầu.  
Sự gia tăng lớn nhất là giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2010. Thuốc kháng sinh được  
sử dụng một cách tràn lan, kể cả những bệnh nhẹ, bệnh không phải do vi khuẩn gây ra  
cũng được dùng thuốc kháng sinh. Có đến 80% số thuốc kháng sinh được sử dụng trong  
cộng đồng là được mua mà không có đơn thuốc, đặc biệt là tại các quốc gia có thu nhập  
thấp và trung bình.  
Từ năm 2000 đến năm 2010, tổng tiêu thụ kháng sinh toàn cầu tăng hơn 30%, từ  
khoảng 50 tỷ đến 70 tỷ đơn vị tiêu chuẩn (SU). Penicillin và cephalosporin chiếm gần  
60% tổng tiêu dùng trong năm 2010 (hình 2.1), tăng 41% so với năm 2000.  
9
 
Hình 2.1. Tình hình sử dụng kháng sinh theo nhóm trên toàn cầu, giai đoạn  
2000 – 2010 (đơn vị tiêu chuẩn)  
10  
Hầu hết các quốc gia phát triển đều có lượng tiêu thụ kháng sinh cao trong giai đoạn  
từ năm 2000 đến năm 2010.  
Hình 2.2. Tình hình tiêu thụ thuốc kháng sinh thay đổi trong giai đoạn năm  
2000 – 2010, theo các quốc gia (đơn vị %)  
Qua hình 2.2 , ta có thể nhận thấy các quốc gia có tỷ lệ tiêu thụ thuốc kháng sinh tăng  
trong giai đoạn năm 2000 – 2010 hầu hết là các quốc gia tại châu Á, châu Phi và nam  
Mỹ.  
Riêng tại Việt Nam, tỷ lệ này nằm trong khoảng 1 – 10 (%). Và qua hình 2.3, ta nhận  
thấy tỷ lệ này tăng thấy rõ, trừ kháng sinh penicillin phổ rộng, phổ hẹp, trimethoprim và  
cloramphenicols có xu hướng giảm, còn lại tất cả các kháng sinh khác đều có tỷ lệ tiêu  
thụ tăng.  
11  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 55 trang yennguyen 18460 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Khảo sát sự hiểu biết và thói quen sử dụng thuốc kháng sinh của người dân tại huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_khao_sat_su_hieu_biet_va_thoi_quen_su_dung_thuoc_k.pdf