Khóa luận Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinh của sinh viên trường Đại học Tây Đô

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ  
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC  
MÃ SỐ: 52720401  
KHẢO SÁT NHẬN THỨC VỀ  
TỰ Ý SỬ DỤNG KHÁNG SINH CỦA  
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ  
Cán bộ hướng dẫn  
Sinh viên thực hiện  
PGS.TSKH. BÙI TÙNG HIỆP  
MSSV: 12D720401138  
VÕ THẢO NGUYÊN  
LỚP: ĐẠI HỌC DƯỢC 7B  
Cần Thơ, năm 2017  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ  
KHOA DƯỢC – ĐIỀU DƯỠNG  
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC  
CHUYÊN NGÀNH DƯỢC HỌC  
MÃ SỐ: 52720401  
KHẢO SÁT NHẬN THỨC VỀ  
TỰ Ý SỬ DỤNG KHÁNG SINH CỦA  
SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY ĐÔ  
Cán bộ hướng dẫn  
Sinh viên thực hiện  
PGS.TSKH. BÙI TÙNG HIỆP  
MSSV: 12D720401138  
VÕ THẢO NGUYÊN  
LỚP: ĐẠI HỌC DƯỢC 7B  
Cần Thơ, năm 2017  
MỤC LỤC  
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................i  
LỜI CAM KẾT................................................................................................................ii  
TÓM TẮT ........................................................................................................................iii  
DANH MỤC CÁC BẢNG...............................................................................................iv  
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ .........................................................................................v  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT.............................................................................vi  
CHƯƠNG 1. MỞ ĐẦU ...................................................................................................1  
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU ........................................................................3  
2.1. Khái quát sơ lược về kháng sinh ..........................................................................3  
2.1.1. Định nghĩa kháng sinh.........................................................................................3  
2.1.2. Nguyên tắc chung trong sử dụng kháng sinh ......................................................4  
2.1.3. Tác dụng phụ khi sử dụng kháng sinh.................................................................6  
2.1.4. Những sai lầm khi sử dụng kháng sinh trong cộng đồng ....................................6  
2.1.5. Tự ý sử dụng thuốc kháng sinh............................................................................7  
2.2. Hồi cứu y văn..........................................................................................................8  
2.2.1. Trên thế giới.........................................................................................................8  
2.2.2. Tại Việt Nam .......................................................................................................11  
CHƯƠNG 3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ...........................13  
3.1. Đối tượng nghiên cứu............................................................................................13  
3.1.1. Tiêu chí chọn vào ................................................................................................13  
3.1.2. Tiêu chí loại trừ ...................................................................................................13  
3.2. Phương pháp nghiên cứu......................................................................................13  
3.2.1. Thiết kế nghiên cứu.............................................................................................13  
3.2.2 Cỡ mẫu.................................................................................................................13  
3.2.3. Kỹ thuật chọn mẫu...............................................................................................14  
3.2.4. Thu thập dữ kiện..................................................................................................14  
3.2.5.Xử lý dữ liệu.............................................................................................................14  
3.2.6.Phân tích dữ kiện......................................................................................................14  
3.3. Đạo đức trong nghiên cứu......................................................................................15  
3.3.2. Ảnh hưởng lên các đối tượng nghiên cứu ...........................................................15  
3.3.2. Ảnh hưởng lên xã hội ..........................................................................................15  
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN..................................................................16  
4.1. Nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinh của sinh viên.........................................16  
4.1.1. Đặc điểm sinh viên ..............................................................................................16  
4.1.2. Tỉ lệ tự ý sử dụng kháng sinh ..............................................................................17  
4.1.3. Đặc điểm gia đình................................................................................................19  
4.1.4. Bệnh điều trị lâu dài.............................................................................................20  
4.1.5. Kiến thức về thuốc kháng sinh ............................................................................22  
4.1.6. Thái độ về việc tự ý sử dụng thuốc kháng sinh...................................................24  
Thái độ về việc kháng kháng sinh với cộng đồng ...............................................26  
4.1.7. Thực hành về việc sử dụng thuốc kháng sinh .....................................................26  
4.2. Các yếu tố liên quan đến nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinh trong điều  
trị bệnh của sinh viên.............................................................................................31  
4.2.1. Đặc điểm sinh viên ..............................................................................................31  
4.2.2. Đặc điểm gia đình................................................................................................32  
4.2.3. Bệnh điều trị lâu dài.............................................................................................33  
4.2.4. Kiến thức - thái độ - thực hành về việc sử dụng kháng sinh ...............................33  
4.3. Mặt mạnh, mặt hạn chế và tính ứng dụng của đề tài.........................................37  
4.3.1. Mặt mạnh.............................................................................................................37  
4.3.2. Mặt hạn chế..........................................................................................................37  
4.3.3. Tính ứng dụng......................................................................................................37  
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ......................................................................38  
5.1. Kết luận.......................................................................................................................38  
5.2. Đề nghị .......................................................................................................................38  
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................................41  
PHỤ LỤC .........................................................................................................................44  
LỜI CẢM ƠN  
Để hoàn thành bài báo cáo khóa luận tốt nghiệp này, em đã nhận được rất nhiều  
sự giúp đỡ từ nhà trường, thầy cô, gia đình và bạn bè.  
Trước tiên, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Tây  
Đô cùng quý thầy cô Khoa Dược – Điều dưỡngđã dạy dỗ, ủng hộ, giúp em học tập,  
trau dồi kiến thức và thực hành suốt 5 năm học tại trường để có thể hoàn thành khóa  
học.  
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn thầy PGS.TS Bùi Tùng Hiệp với kiến thức  
Dược lâm sàng chuyên sâu cũng như những kinh nghiệm thực tế đã tận tình hướng  
dẫn, tạo điều kiện giúp đỡ em trong quá trình nghiên cứu đề tài làm khóa luận tốt  
nghiệp.  
Em cũng xin cảm ơn các bạn sinh viên học tập tại trường đã bỏ thời gian trả lời  
bộ câu hỏi khảo sát phỏng vấn về đề tài của em, cũng như những người bạn đã chia sẻ,  
cùng em vượt qua những khó khăn trong học tập và nghiên cứu.  
Em cũng xin gửi lời cảm ơn gia đình đã quan tâm, chăm sóc, động viên đểem  
có thời gian nghiên cứu và hoàn thành đề tài tốt nghiệp.  
Một lần nữa, em xin gửi lời cảm ơn đến tất cả những người đã trực tiếp và gián  
tiếp giúp đỡ, tạo điều kiện để em có thể hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.  
Dù đã cố gắng nỗ lực để hoàn thành đề tài khóa luận nhưng cũng không thể nào  
tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được sự cảm thông và góp ý của quý  
thầy cô để bài báo cáo đề tài được hoàn thiện hơn.  
Cuối cùng, em xin kính chúc quý thầy cô có nhiều sức khỏe để có thể hoàn  
thành tốt công tác và đạt được nhiều thành công trong sự nghiệp.  
Cần Thơ, ngàytháng  
Sinh viên thực hiện  
năm 2017  
VÕ THẢO NGUYÊN  
i
LỜI CAM KẾT  
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi. Các dữ kiện, kết quả  
nêu trong khoá luận là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình  
nào khác.  
Cần Thơ, ngày tháng  
Sinh viên thực hiện  
năm 2017  
VÕ THẢO NGUYÊN  
ii  
TÓM TẮT  
Mở đầu: Thực trạng kháng thuốc kháng sinh đang là vấn đề mang tính toàn cầu.  
Để sử dụng được kháng sinh, cần phải có sự chỉ định và hướng dẫn của bác sĩ. Nhưng  
theo WHO, Việt Nam là một trong những nước có tỉ lệ người dân tự ý sử dụng kháng  
sinh cao nhất thế giới, dẫn đến nguy cơ đề kháng kháng sinh rất cao.Một trong những  
mục tiêu cụ thể của “Kế hoạch hành động quốc gia chống kháng thuốc 2013-2020” là  
nâng cao nhận thức cộng đồng.Nhưng để thực hiện được điều đó, cần tiếp cận một  
phần từ nền giáo dục đại học mà gần nhất là sinh viên.Để tìm hiểu xem nhận thức của  
sinh viên đang ở mức độnào, nghiên cứu “Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng  
sinh của sinh viên trường đại học Tây Đô và các yếu tố liên quan” được tiến hành.  
Mục tiêu của đề tài:Khảo sát nhận thức về tự ý sử sụng kháng sinh trong điều trị  
bệnh của sinh viên trường Đại học Tây Đô và các yếu tố liên quan đến nhận thức của  
sinh viên.  
Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 341 sinh viên  
đang học hệ chính quy tại trường Đại học Tây Đô. Công cụ thu thập số liệu là bộ câu  
hỏi được thiết kế sẵn. Số liệu thu thập được nhập và phân tích bằng phần mềm SPSS  
16.0.  
Kết quả cho thấy tỉ lệ sinh viên sử dụng kháng sinh không theo chỉ định của bác  
sĩ là 45,2%. Tỉ lệ sinh viên có kiến thức đúng về kháng sinh là 51,6%; thái độ tốt là  
70,4%; thực hành đúng là 50,1%. Nghiên cứu tìm thấy mối liên quan giữa hành vi sử  
dụng kháng sinh không theo chỉ định của bác sĩ với thói quen thường sử dụng bảo  
hiểm y tế (p = 0,009, OR = 0,51; KTC 95%: 0,30 – 0,85); với kiến thức (p = 0,038,  
OR = 0,64; KTC 95%: 0,41 – 0,98) và thực hành (p < 0,001, OR = 0,09; KTC 95%:  
0,06 – 0,15) về việc sử dụng thuốc kháng sinh.  
Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ sinh viên tự ý sử dụng kháng sinh  
không theo chỉ định của bác sĩ còn cao. Cần tăng cường công tác giáo dục cũng như  
truyền thông về sử dụng kháng sinh hợp lý với sự phối hợp của nhiều cơ quan. Nhấn  
mạnh về vai trò của nhà thuốc tư nhân trong việc cung cấp thuốc và tuyên truyền kiến  
thức cho cộng đồng.  
iii  
DANH MỤC CÁC BẢNG  
Bảng 4.1 Phân bố mẫu nghiên cứu theo cac đăc  
̣
điểm của sinh viên................................16  
y sư dung kháng sinh........................17  
́
Bảng 4.2 Phân bố mẫu nghiên cứu theo hanh vi tư  
̣
̣
̉
̀
́
Bảng 4.3 Phân bố mẫu nghiên cứu theo bên  
̣
h điều trị lâu dài...........................................20  
u tri bênh mắc lâu dài...................22  
Bảng 4.5 Phân bố mẫu nghiên cứu theo trai nghiêm đã tưng nghe vê thuốc khang  
Bảng 4.4 Phân bố mẫu nghiên cứu theo cach thưc điê  
̀
̣
̣
́
́
̣
̀
̉
̀
́
sinh….................................................................................................................................22  
Bảng 4.6 Phân bố mẫu nghiên cứu theo nguôn thông tin về kháng sinh ..........................22  
Bảng 4.7 Phân bố mẫu nghiên cứu theo kiến thức về thuốc kháng sinh...........................23  
Bảng 4.8 Phân bố mẫu nghiên cứu theo thai đô về viêc tư y sư dung kháng sinh............24  
Bảng 4.9 Phân bố mẫu nghiên cứu theo thai đô về sự đề kháng kháng sinh trong cộng  
đồng ...................................................................................................................................26  
̀
̣
̣
̣
̣
̉
́
́
̣
́
̉
̣ ̣  
hanh về nơi mua thuốc kháng sinh đê tư  
̀
Bảng 4.10 Phân bố mẫu nghiên cứu theo thưc  
điêu tri bênh.......................................................................................................................29  
Bảng 4.11 Phân bố mẫu nghiên cứu theo thưc hanh vê viêc sư dung thuôc kháng sinh ..30  
Bảng 4.12 Môi liên quan giưa nguy cơ tư y sư dung khang sinh va cac đăc điểm cua  
sinh viên.............................................................................................................................31  
Bảng 4.13 Môi liên quan giưa việc sinh viên tư y sư dung khang sinh va nghề nghiệp  
của phụ huynh....................................................................................................................32  
Bảng 4.14 Môi liên quan giưa việc sinh viên tư y sư dung khang sinh va bênh điều trị  
lâu dài ................................................................................................................................33  
Bảng 4.15 Môi liên quan giưa việc sinh viên tư y sư dung khang sinh va trai nghiêm  
́
việc tưng nghe vê c khang sinh ..................................................................................33  
́
̀
̣
̣
̣
̀
̣
̣
́
̉
̀
́
̣
̣
̣
̉
̉
̃
́
́
̀
́
́
̣
̣
̉
̃
́
́
̀
́
̣
̣
̣
̉
̃
́
́
̀
́
̣
̣
̣
̉
̉
̃
́
́
̀
̀
thuô  
̣ ̣ ̀  
i liên quan giưa việc tư y sư dung khang sinh va nguôn thông tin về  
̉
́ ́ ̀  
̀
Bảng 4.16 Mô  
thuốc kháng sinh................................................................................................................34  
Bảng 4.17 Môi liên quan giưa việc sinh viên tư y sư dung khang sinh va kiên thưc -  
thai đô - thưc hanh vê  
́
̃
́
̣
̣
́
̉
̃
́
́
̀
́
̣
̣
̀
viêc  
̣
tư  
̣
y sư dun  
̣
g khang sinh.........................................................35  
̉
́
̀
́
́
iv  
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT  
BHYT  
GPP  
Bảo hiểm y tế  
Thực hành tốt nhà thuốc  
- Health insurance  
- Good Pharmacy Practices  
KAP  
KS  
Kiến thức – Thái độ – Thực hành - Knowledge – Attitude –Practice  
Kháng sinh  
- Antibiotic  
KTC  
OR  
Khoảng tin cậy  
Tỉ số chênh  
- Confidence interval  
- Odds Ratio  
PR  
Tỉ số lỉ lệ hiện mắc  
- Prevalance  
TYSDKS  
WHO  
Tư  
̣
y sư dun  
̣
g khang sinh  
- Self-medication with antibiotics  
- The World Health Organization  
̉
́
́
Tổ chức Y tế thế giới  
vi  
CHƯƠNG 1.MỞ ĐẦU  
Kháng sinh đã trở thành một trong những phát minh vĩ đại của nhân loại. Từ  
những năm đầu thế kỷ 20, kháng sinh đã được đưa vào sử dụng và đóng vai trò quan  
trọng trong điều trị các bệnh nhiễm khuẩn. Nhờ có kháng sinh, tỉ lệ tử vong do các  
bệnh nhiễm khuẩn trên toàn thế giới đã giảm xuống. Vô hình chung, kháng sinh được  
xem như “thần dược” và được sử dụng tràn lan để điều trị bệnh.  
Trình độ dân trí phát triển,điều kiện kinh tế cũng như đời sống ngày một nâng  
cao, mọi nhu cầu sinh hoạt của con người đều được đáp ứng một cách tiện lợi  
nhất.Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ cũng vậy, cùng với sự đầu tư ngày càng hoàn  
thiện của hệ thống y tế công, y tế tư nhân cũng được khuyến khích và tạo điều kiện  
phát triển. Có rất nhiều các nhà thuốc tư nhân được mở rađể hỗ trợ công tác chăm sóc  
sức khoẻ ban đầu và tham gia vào hoạt động tự điều trị, bao gồm cung cấp thuốc, tư  
vấn dùng thuốc, tự điều trị triệu chứng của một số bệnh đơn giản(Bộ Y tế, 2007).  
Nhưng mặt trái của sự tiện lợi quá mức đó là thuốc kháng sinh được sử dụng một cách  
tự do vượt ngoài tầm kiểm soát. Chính điều này dẫn đến việc xuất hiện ngày một nhiều  
các chủng mầm bệnh kháng thuốc, đặc biệt là sự gia tăng thất bại điều trị ở các loại  
kháng sinh mới ngày càng phổ biến.Như vậy, vô tình kho vũ khí điều trị bệnh của  
nhân loại bị thu hẹp, tốc độ nghiên cứu các loại thuốc mớithay thế đang không theo  
kịp so với sự đề kháng kháng sinh tự nhiên của vi khuẩn. Nhiều bệnh nhiễm khuẩn  
thông thường sẽ không còn phương pháp chữa trị(Chan M., 2011).Việc tự ý dùng  
thuốc kháng sinh không theo chỉ định của bác sĩ, không đủ thời gian, không đủ liều  
lượng, lạm dụng thuốc kháng sinh mạnh, phổ tác dụng rộng, thế hệ mới vừa gây tốn  
kém cho bệnh nhân, vừa gây hiện tượng đề kháng kháng sinh rất đáng lo ngại. Ước  
tính thiệt hại hàng năm bắt nguồn từ kháng kháng sinh ở Mỹ khoảng 21-34 tỉ đô la và  
khoảng 1,5 tỉ ơ-rô ở châu Âu. Thái Lan cũng đã ước tínhthiệt hại 84,6-202,8 triệu đô  
latrong chi phí y tế trực tiếp, 1333 triệu đô la trong chi phí y tế gián tiếp; 3,2 triệu ngày  
nằm viện thêm và 38481 người chết vì kháng kháng sinh trong năm 2010(Sumpradit  
N. et al., 2012).  
Trong khi đó, mô hình bệnh tật ở Việt Nam phần lớn vẫn là các bệnh truyền  
nhiễm.Kháng sinh vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong công tác điều trị.Việc sử dụng  
kháng sinh tự do, không kiểm soát đang trở thành vấn đề báo động của Việt  
Nam(HeimanWertheim, 2013). Tổ chức Y tế thế giới(WHO) đã xếp Việt Nam vào  
danh sách các nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới.Một báo cáo của  
trường Đại học Dược Hà Nội cho thấy: Việt Nam có số lượng người bệnh sử dụng  
kháng sinh cao gấp 5 lần so với các nước châu Âu. Tính trên 39916 cơ sở bán lẻ thuốc  
ở cộng đồng Việt Nam,90% kháng sinh được bán ra không có đơn thuốc(Heiman  
1
Wertheim, 2013). Phần lớn người dân tự ý mua thuốc kháng sinh, tự điều trị không cần  
chẩn đoán, không cần kê đơn của bác sĩ. Theo công bốmới nhất của Cục quản lý khám  
chữa bệnh (Bộ Y tế) tại hội thảo về “Sử dụng kháng sinh”, các loại thuốc kháng sinh  
được bán không theo đơn của bác sĩ chiếm tỉ lệ 88% tại các nhà thuốc ở thành thị và  
91% tại các nhà thuốc ở nông thôn(GARP, 2010).  
Mặc dù Bộ Ytế cũng đã quy định thuốc kháng sinh phải được bán theo đơn của  
bác sĩ, nhưng thực tế thuốc kháng sinh có thể được mua rất dễ dàng mà không cần có  
đơn thuốc. Việc ngăn chặn tình trạng đề kháng kháng sinh đang và sẽ trở thành nhiệm  
vụ cấp thiết của toàn xã hội.Bệnh nhân, các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe,  
quản lý bệnh viện, và các nhà hoạch định chính sách phải làm việc cùng nhau, đề ra  
các chiến lược hiệu quả cải thiện cách thức sử dụng kháng sinh.Một trong những mục  
tiêu cụ thể của “Kế hoạch hành động quốc gia chống kháng thuốc 2013-2020” là nâng  
cao nhận thức cộng đồng.Nhưng để thực hiện được điều đó, chúng ta cần cụ thể hóa  
một phần bằng cách tiếp cận từ nền giáo dục đại học.Sinh viên đại học là những người  
trưởng thành mang nhận thức cao và sẽ là cộng đồng trong tương laicủa đất  
nước.Thông qua sinh viên, chúng ta phần nào có được cái nhìn rõ nét hơn về sự hiểu  
biết, thói quen, cũng như các yếu tố liên quan đến vấn đề tự ý sử dụng thuốc kháng  
sinh. Từ đó nhân rộng ra nhận thức chung của cộng đồng và có hướng hành động đúng  
đắn.Vậy hiện tại, muốn biết nhận thức của sinh viên đang ở mức độnào, nghiên cứu  
“Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinhcủa sinh viên tại trường đại học  
Tây Đô” được tiến hành.  
Mục tiêu nghiên cứu  
1. Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinhtrong điều trị bệnh của sinh viên  
trường Đại học Tây Đô.  
2. Khảo sát các yếu tố liên quan đến nhận thức về tự ý dùng kháng sinh trong điều  
trị bệnh của sinh viên trường Đại học Tây Đô.  
2
CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
2.1. Khái quát sơ lược về kháng sinh  
2.1.1. Định nghĩa kháng sinh  
Kháng sinh là thuốc chống lại các bệnh nhiễm trùng dovi khuẩn. Kháng sinh có  
tác dụngtiêu diệt vi khuẩn hoặc kiềm hãm sự phát triển của vi khuẩn một cách đặc  
hiệu. Kháng sinh có nhiều nguồn gốc khác nhau, có thể tổng hợp bằng phương pháp  
hoá học, trích từ động vật, thực vật hoặc vi sinh vật(CDC, 2013).  
Kháng sinh không có bất kì tác dụng nào trêncác bệnhdo vi rút gây ra, chẳng  
hạn như: cảm lạnh, cảm cúm, ho,viêm họng(trừkhi do Streptoccocus).Nếu vi rút là  
nguyên nhân gây bệnh, dùng kháng sinh có thể gây hại nhiều hơn ích lợi. Mỗi khi  
dùng kháng sinh, vi khuẩn trong cơ thểlại có cơ hội tăng khả năng kháng thuốc. Sau  
đó, chúng ta có thể bị nhiễm hoặc tự mình lây lannhiễm khuẩndo các loại vi trùng  
kháng thuốc mà kháng sinh không thể chữa trị được nữa. Ví dụ như vi trùng  
Staphylococcus aureus kháng Methicillin (MRSA) gây nhiễm trùng có khả năng  
kháng một số kháng sinh thông thường(MedlinePlus, 2013).  
Kháng sinh có tác dụng đặc hiệu nghĩa là một loại kháng sinh sẽ tác động lên  
một loại vi khuẩn hay một nhóm vi khuẩn nhất định. Như vậy thuốc kháng sinh không  
có cùng một hoạt tính như nhau đối với tất cả các loại vi khuẩn(Nguyễn Thanh Bảo,  
2011).  
Sử dụng đúng cách, kháng sinh có thể cứu sống con người.Khi dùng kháng  
sinh,nên tuân thủ đúng theo sự hướng dẫn điều trị.Điều quan trọnglà phải hoàn thành  
đủ liệu trình kháng sinhngay cả khi bản thân đã cảm thấy khoẻ hơn. Nếu ngừng điều  
trị quá sớm, một số vi khuẩn có thể vẫn còn tồn tại và gây bệnh trở lại. Không giữ lại  
kháng sinh sau một đợt điều trị hoặc sử dụng thuốc theo đơn của người  
Phân loại kháng sinh  
Có nhiều cách để phân loại kháng sinh(Đông Thị Hoài Tâm, 2006), (Nguyễn  
Huỳnh Minh Quyên, 2011):  
- Dựa vào nguồn gốc: Tự nhiên, tổng hợp, bán tổng hợp.  
- Dựa vào cấu trúc phân tử: Lipid, peptid, nucleosid.  
- Dựa vào khả năng tác dụng: Kháng sinh diệt khuẩn, kháng sinh kìm khuẩn.  
- Dựa vào cơ chế tác dụng: Ức chế tổng hợp thành hay màng tế bào, tổng hợp  
protein, sao chép gen, ức chế chuyển hoá.  
3
- Dựa vào phổ tác dụng: Kháng sinh phổ rộng (tác dụng trên cả vi khuẩn gram  
âm và gram dương), kháng sinh phổ hẹp (tác dụng trên một loại vi khuẩn), kháng sinh  
phổ giới hạn (chỉ tác dụng trên vi khuẩnGram dương).  
2.1.2. Nguyên tắc chung trong sử dụng kháng sinh  
Chỉ dùng kháng sinh khi bị nhiễm khuẩn  
Căn cứ vào kết quả khám lâm sàng và cận lâm sàng để có quyết định sử dụng  
kháng sinh.Nếu không có điều kiện làm xét nghiệm thì phải dựa vào kinh nghiệm của  
người có chuyên môn để có dự đoán tối ưu về tác nhân gây bệnh như: bị thú vật cắn có  
thể do Pasteurella multocida, viêm phổi, viêm phế quản có thể do Pneumococcus,  
Haemophilus Influenzae.  
Chỉ dùng kháng sinh trong trường hợp nhiễm trùng do tác nhân vi khuẩn: viêm  
phổi, viêm tai, nhiễm trùng tiểu, viêm mô mềm, nhiễm trùng vết thương…  
Không dùng kháng sinh cho những bệnh do vi rút gây ra (cúm, sởi, bại liệt…)  
hoặc do cơ thể suy nhược, thiếu máu, dị ứng, bướu cổ.  
Chọn đúng kháng sinh  
Muốn chọn đúng kháng sinh phải xác định đúng nguyên nhân gây bệnh.  
Để biết vi khuẩn gây bệnh nhạy cảm với loại kháng sinh nào có thể làm kháng  
sinh đồ. Tuy nhiên, không phải lúc nào cũng làm kháng sinh đồ. Chỉ làm kháng sinh  
đồ khi có điều kiện, hoặc ca bệnh nặng, hoặc nghi có đề kháng kháng sinh.Mặt khác  
phải nắm vững được phổ kháng khuẩn, độc tính, chống chỉ định của các kháng sinh.  
Tránh lạm dụng các kháng sinh phổ rộng. Nên chọn các kháng sinh diệt khuẩn cho  
bệnh nhân nhiễm khuẩn nhẹ và còn sức đề kháng.  
Chọn dạng thuốc thích hợp  
Căn cứ vào vị trí và mức độ nhiễm trùng để chọn kháng sinh ở dạng tiêm hay  
dạng uống. Nên hạn chế sử dụng kháng sinh tại chỗ vì dễ gây dị ứng hoặc hiện tượng  
kháng kháng sinh. Chỉ nên dùng kháng sinh tại chỗ như nhiễm trùng mắt. Đối với  
những nhiễm trùng ngoài da nên dùng thuốc sát khuẩn.  
Dùng đúng liều lượng  
Muốn chọn liều dùng kháng sinh, phải căn cứ vào: độ nhạy cảm của vi khuẩn,  
cơ địa của bệnh nhân: tuổi, cân nặng, bệnh nội khoa mạn tính, suy giảm miễn dịch, yếu  
tố di truyền, phụ nữ có thai hoặc cho con bú, trẻ em, người già.Bắt đầu dùng kháng  
sinh từ liều điều trị cần thiết, không được dùng liều nhỏ rồi tăng liều dần lên.  
Dùng đúng thời gian quy định  
Thời gian dùng kháng sinh phụ thuộc vào mục đích điều trị.Có thể gợi ý khoảng  
thời gian trị liệu bằng kháng sinh:  
- Nhiễm khuẩn thông thường:Dùng kháng sinh từ 5-7 ngày.  
- Viêm amidan: 1 tuần.  
4
- Viêm phổi, phế quản: 2 tuần.  
- Viêm màng trong tim: 4-6 tuần.  
- Nhiễm trùng huyết: 4-6 tuần.  
- Nếu điều trị lao có thể dùng kháng sinh trong 6-18 tháng.  
Không nên thay đổi kháng sinh trước thời hạn quy định và nên tuân thủ thời  
gian dùng kháng sinh cho mỗi loại bệnh lý.Bệnh nhân có thể hết triệu chứng lâm sàng  
sau vài ngày đầu dùng kháng sinh nhưng không có nghĩa là đã diệt hết tác nhân gây  
bệnh. Vì vậy sau khi hết triệu chứng, phải tiếp tục dùng kháng sinh cho đủ thời gian  
quy định, điều trị liên tục không ngắt quãng hay ngừng thuốc đột ngột, không giảm  
liều từ từ.  
Sử dụng kháng sinh dự phòng hợp lí  
Chỉ nên dùng kháng sinh để dự phòng khi: Phòng bội nhiễm do phẫu thuật hay  
phòng nguy cơ viêm màng trong tim do liên cầu khuẩn trong bệnh thấp khớp.  
Chỉ phối hợp kháng sinh khi thật cần thiết  
Ngày nay ít dùng phối hợp vì có nhiều kháng sinh phổ rộng. Về lý luận sự phối  
hợp kháng sinh nhằm mục đích:  
- Ngăn chặn đề kháng của vi khuẩn khi sử dụng lâu dài: phối hợp thuốc kháng  
lao.  
- Trong các bệnh nặng đe doạ tính mạng mà nguyên nhân chưa được biết: Viêm  
màng não do nhiễm khuẩn.  
- Có những loại nhiễm trùng do vi khuẩn hỗn hợp: Viêm màng bụng do vỡ nội  
tạng sẽ nhiễm nhiều vi khuẩn như Enterobacteriaceae hiếu khí, cầu khuẩn Gram (+)  
hiếu khí và kị khí, trực khuẩn kị khí Bacteroides fragilis phối hợp kháng sinh trong  
trường hợp này để mỗi kháng sinh nhắm vào một vi khuẩn.  
- Tăng hiệu lực của kháng sinh: Chữa nhiễm Enterococci dùng Vancomycin hoặc  
Ampicillin chỉ ức chế chứ không tiêu diệt được vi khuẩn, để có tác dụng diệt khuẩn  
nên phối hợp một trong hai thuốc trên với Gentamicin.  
- Đối với các trường hợp nhiễm khuẩn thông thường nên hạn chế phối hợp kháng  
sinh. Nhưng trong trường hợp điều trị lao phải phối hợp kháng sinh để hạn chế hiện  
tượng kháng thuốc.  
- Càng dùng nhiều kháng sinh đồng nghĩa với tăng tác dụng phụ, chi phí cao hơn  
nhưng đôi khi hiệu quả trị liệu không tăng. Không nên phối hợp hai kháng sinh cùng  
cơ chế tác động vì có thể gây đề kháng chéo. Tốt nhất là nên tìm cho ra tác nhân gây  
bệnh để chỉ sử dụng một kháng sinh mạnh nhất và hiệu quả nhất(Nguyễn Huy Công  
ctv., 2006),(Trần Thị Thu Hằng, 2007),(Đông Thị Hoài Tâm, 2006).  
5
2.1.3. Tác dụng phụ khi sử dụng kháng sinh  
Phản ứng phụ có thể xảy ra khi sử dụng kháng sinh, biểu hiện bằng nhiều cách  
khác nhau(Nguyễn Huy Công ctv., 2006), (Trần Thị Thu Hằng, 2007), (Đông Thị Hoài  
Tâm, 2006).  
Phản ứng tại chỗ(hiện tượng không dung nạp thuốc tại chỗ)  
- Thuốc tiêm bắp gây đau, viêm cơ.  
- Thuốc tiêm mạch gây viêm tĩnh mạch, huyết khối.  
- Thuốc uống gây kích thích dạ dày.  
Gây độc các cơ quan  
Bản thân kháng sinh có ảnh hưởng lên các cơ quan khác nhau  
- Gây tổn thương dây thần kinh: Streptomycin gây điếc, rối loạn tiền đình,  
Isoniazid gây viêm dây thần kinh.  
- Gây tai biến về máu như:Nhóm Cephalosporin gây giảm dòng bạch cầu hạt,  
Chloramphenicol gây suy tủy.  
- Gây tổn thương chức năng gan như: Tetracycline, Rifampin, Novobiocin.  
- Gây tổn thương chức năng thận với các biểu hiện protein niệu, huyết niệu, suy  
thận cấp: Cephalosporin, Aminoglycoside, Polymyxin, Sulfonamid.  
- Gây tổn hại xương, răng: Tetracycline làm hại răng trẻ em.  
- Gây tai biến cho thai nhi (tổn hại, quái thai, dị tật thai): Sulfamid,  
Chloramphenicol, Imidazol.  
Phản ứng dị ứng  
Khi vào cơ thể, thuốc phối hợp với protein huyết tương và trở thành một kháng  
nguyên cho cơ thể tạo phản ứng dị ứng. Các phản ứng quá mẫn này khác nhau tùy liều  
dùng hoặc cách dùng, có thể xảy ra chậm sau một thời gian dùng thuốc và cũng có thể  
nặng, cấp tính, biểu hiện ngay sau khi dùng thuốc như :  
- Phát ban, nổi mề đay, ngứa, nổi hạch, đau khớp.  
- Hội chứng Stevens Johnson: Viêm da quanh các lỗ tự nhiên.  
- Xuất huyết dưới da, xuất huyết nội tạng.  
- Nặng nhất là sốc phản vệ, thường gặp nhất là với Penicillin, có thể gây tử vong  
cần phòng tránh.  
Loạn khuẩn đường ruột  
Kháng sinh đường uống, vào hệ tiêu hoá, sẽ kìm hãm các vi trùng sống cộng  
sinh, gây rối loạn hấp thu, biểu hiện bằng tiêu chảy. Đây là tác dụng phụ thường gặp.  
Đối với trẻ em, có thể gây mất nước nghiêm trọng hoặc thiếu vitamin.  
2.1.4. Những sai lầm khi sử dụng kháng sinh trong cộng đồng  
6
Một suy nghĩ sai lầm khá phổ biến: có sốt có nhiễm trùng dùng kháng  
sinh.Hậu quả là:Nhiều bệnh sốt do vi rút đã dùng kháng sinh, nhiều bệnh nội khoa có  
sốt không do nhiễm trùng vẫn được dùng kháng sinh(Nguyễn Hồng Hà, 2014).  
Dùng thuốc kháng sinh không đúng liều lượng  
- Dùng liều thấp hơn so với liều chuẩn/ngày.  
- Không điều chỉnh liều phù hợpvới tình trạng bệnh nhân (cân nặng, chức năng  
thận).  
Dùng thuốc kháng sinh không đúng thời gian  
- Quá ngắn: Dùng kháng sinh chưa đủ liệu trình điều trị.  
- Quá dài: Kéo dài thời gian điều trị kháng sinh ở bệnh nhân nằm viện lâu.  
- Số lần dùng kháng sinh/ngày và khoảng cách giữa các lần dùng không hợp lí.  
- Thời điểm dùng kháng sinh: Uống thuốc lúc nào trong ngày, có liên quan đến  
bữa ăn hay không(CDC, 2012).  
Phối hợp kháng sinh chưa đúng  
- Phối hợp kháng sinh khi không cần thiết.  
- Phối hợp quá nhiều kháng sinh.  
- Phối hợp kháng sinh có tương tác làm giảm tác dụng của nhau(Nguyễn Hồng  
Hà, 2014).  
2.1.5. Tự ý sử dụng thuốc kháng sinh  
Định nghĩa tự ý sử dụng thuốc kháng sinh  
Tự ý sử dụng kháng sinh (TYSDKS) là sử dụng kháng sinh không có chỉ định  
hoặc không đúng chính xác như sự hướng dẫn, tư vấn của bác sĩ, bao  
gồm(WHO, 2000):  
- Tự chẩn đoán các triệu chứng và tự mua thuốc kháng sinh về chữa trị.  
- Ngừng kháng sinh sớm hơn liệu trình khi thấy triệu chứng vừa thuyên giảm.  
- Tự tăng liều kháng sinh để nhanh khỏi bệnh.  
- Sử dụng lại đơn thuốc cũ cho đợt bệnh mới có những triệu chứng tương tự.  
Hậu quả của việc tự ý sử dụng thuốc kháng sinh  
WHO cảnh báo việc TYSDKSgây ra các tác hại(MayoClinic, 2012):  
- Lạm dụng kháng sinh làm tăng sức đề kháng của vi khuẩn. Số lượng các loại  
thuốc chống lại bệnh nhiễm trùng hiệu quả sẽ giảm xuống. Tình trạng kháng thuốc  
kháng sinh sẽ tăng cao và đe doạ nền y học nhân loại.  
- Kháng sinh chống nhiễm trùng là một trong những loại thuốc quan trọng không  
thể thiếu ở nhiều quy trình phẫu thuật và liệu pháp điều trị ung thư. Nếu tình trạng  
kháng kháng sinh tăng, chúng ta sẽ gặp khó khăn trong điều trị bệnh và kéo dài  
thờigian nằm viện (chi phí điều trị tăng cao từ 4-5 tỉ đô la mỗi năm tại Hoa Kỳ và 9tỉ  
ơ-rô mỗi năm ở châu Âu), thậm chí có thể gây tử vong.  
7
- Tác dụng phụ của thuốc: Phản ứng có hại của thuốc gây ra do sử dụng sai, hoặc  
phản ứng dị ứng với các loại thuốc có thể dẫn đến tăng thêm tỉ lệ bệnh tật (tiêu chảy,  
dị ứng, nhiễm trùng nghiêm trọng hơn), đau đớn và tử vong. Để điều trị tác dụng phụ,  
ước tính chi phí hàng triệu đô la mỗi năm.  
- 10–40% ngân sách y tế quốc gia được chi tiêu cho thuốc hàng năm. Nếu thuốc  
không được quy định và sử dụng đúng cách, chi phí mua các loại thuốc có thể gây ra  
khó khăn tài chính nghiêm trọng cho các cá nhân và gia đình người bệnh. Rất nhiều  
tiền quỹ công và tư bị lãng phí.  
2.2. Hồi cứu y văn  
2.2.1. Trên thế giới  
Theo tổng kết của WHO năm 2010, ước tính rằng hơn 50% các loại thuốc quy  
định được kê đơn, phân phối hoặc bán không thích hợp, và trên 50% bệnh nhân dùng  
thuốc không chính xác. Sử dụng thuốc không đúng có thể là: uống quá liều, uống chưa  
đủ liều, ngưng thuốc giữa chừng hay lạm dụng thuốc kê đơn hoặc không theo đơn  
thuốc. Vấn đề phổ biến bao gồm: kết hợp quá nhiều loại thuốc, lạm dụng kháng sinh  
và thuốc tiêm, thất bại trong việc quy định theo hướng dẫn lâm sàng, tự điều trị không  
phù hợp. Ở các nước phát triển, tỉ lệ bệnh nhân được điều trị theo hướng dẫn lâm sàng  
trong chăm sóc ban đầu là < 40% ở khu vực công và 30% ở khu vực tư nhân. Trên  
40% bệnh nhân nhận được chỉ định thuốc kháng sinh không cần thiết, chỉ khoảng 50–  
70% bệnh nhân viêm phổi được điều trị bằng kháng sinh thích hợp, nhưng ≥60 %  
những người bị nhiễm trùng đường hô hấp trên do vi rút nhận được thuốc kháng sinh  
không thích hợp(WHO, 2010).  
Những nghiên cứu về tự ý sử dụng thuốc kháng sinh để điều trị bệnh cũng đã  
được tiến hành ở nhiều quốc gia trên thế giới :  
Vào năm 2005, một nghiên cứu về tỉ lệ tự dùng thuốc kháng sinh và thuốc  
chống sốt rét ở thủ đô Khartoum, Sudan và đánh giá các yếu tố liên quan đến tự dùng  
thuốc đã khảo sát trên 600 hộ gia đình(1750 người trưởng thành) cho kết quả: 73,9%  
dân số nghiên cứu đã sử dụng thuốc kháng sinh hoặc thuốc chống sốt rét mà không có  
một đơn thuốc trong vòng một tháng trước khi nghiên cứu. 48,1% người được hỏi  
đồng ý rằng họ đã sử dụng thuốc kháng sinh, 43,4% sử dụng thuốc chống sốt rét, trong  
khi 17,5% sử dụng cả hai. Tự uống thuốc với một trong hai loại thuốc kháng sinh hoặc  
thuốc chống sốt rét đã được tìm thấy có liên quan đáng kể với tuổi tác, thunhập, giới  
tính và trình độ học vấn. Nhìn chung, việc tự uống thuốc với bất kỳ thuốc kháng sinh  
hoặc thuốc chống sốt rét là phổ biến hơn trong nhóm người cao tuổi (≥60 tuổi) (OR =  
0,07; KTC 95%: 0,04-0,11),phổ biến trong giới nữ (OR = 1,8; KTC 95%: 1,4-2,4),  
nhóm thu nhập trung bình (OR = 3,7; KTC 95%: 2,6-5,3) và sinh viên tốt nghiệp đại  
học. Tự uống thuốc kháng sinh đã được tìm thấy cao hơn đáng kể ở nữ giới (OR = 1,5;  
8
KTC 95%: 1,16-1,87) và trung niên độ tuổi từ 40-59 (OR = 2,1; KTC 95%: 1,5-3,0) so  
với người trẻ. Thu nhập thấp và mức độ giáo dục cao hơn cũng đã được tìm thấy có  
liên quan với sự gia tăng nguy cơ tự dùng thuốc kháng sinh. Nguy cơ tự dùng thuốc  
sốt rét tăng cao ở nhóm nam giới trẻ tuổi (< 40 tuổi) và nhóm người có thu nhập trung  
bình, ít học. Lý do chính của việc tự điều trị là do khó khăn về tài chính. Các nguồn  
cung cấp thuốc chủ yếu là nhà thuốc tư nhân-nơi được coi như một sự thay thế rẻ hơn  
các nguồn cung cấp dịch vụ y tế chính khác (Awad A. et al., 2005).  
Trong nghiên cứu về tự điều trị triệu chứng bằng thuốc kháng sinh ở 19 nước  
Châu Âu trong vòng 12 tháng trước đó được công bố vào năm 2006, cho kết quả như  
sau: Đầu tiên là nguồn thuốc cung cấp cho việc tự điều trị: thuốc được mua trực tiếp từ  
các hiệu thuốc mà không có đơn bác sĩ là 68% ở các nước phía Đông, 46% ở các nước  
phía Nam, 19% ở các nước phía Bắc và Tây; thuốc còn sót lại từ các đợt điều trị trước  
là 26% ở phía Đông, 51% ở các nước phía Nam, 44% ở các nước phía Bắc và Tây; còn  
lại là nguồn từ người thân hoặc bạn bè, thuốc đã được lưu trữ sau khi thu được ở nước  
ngoài và các loại thuốc thu được qua internet. Tỉ lệ tự điều trị thuốc kháng sinh cũng  
rất khác nhau giữa các vùng của châu Âu: tỉ lệ cao nhất trong các nước Đông và  
Nam,thấp nhất ở miền Bắc và miền Tây. Thời gian trung bình của một đợt tự điều trị  
là 5 ngày (từ 1-100 ngày) và có ý nghĩa hơn trong những người có bệnh mạn tính. Lý  
do tự dùng thuốc ở những nước có hơn 40% người tham gia trả lời bộ câu hỏi thì triệu  
chứng ở họng (bao gồm sưng hoặc đau họng), đau răng hoặc các triệu chứng sưng  
nướu, viêm phế quản là những nguyên nhân phổ biến nhất. Ngoài ra còn có các triệu  
chứng ít phổ biến hơn như: viêm, nhiễm trùng da, tiêu chảy đã được báo cáo ở những  
nước có tỉ lệ trả lời thấp hơn, viêm thận, bể thận đã được báo cáo chỉ ở  
Lithuania(Berzanskyte A. et al., 2006). Bên cạnh đó, ảnh hưởng của đặc điểm cá nhân  
và bệnh mạn tính trên thực tế tự điều trị được mô tả: tuổi trẻ hơn, trình độ học vấn cao  
hơn, và sự hiện diện của một căn bệnh mạn tính đều liên quan đáng kể với việc tự điều  
trị(Grigoryan L. et al., 2006). Chiến dịch cộng đồng quy mô lớn, chẳng hạn như tại  
Hoa Kỳ, Canada, Bỉ, và Úc (Finch R.G. et al., 2004), đã đưa ra hướng dẫn chi tiết và  
nhấn mạnh những nguy cơ tiềm ẩn của việc sử dụng thuốc kháng sinh mà không có  
hướng dẫn y tế.  
Năm 2009, một nghiên cứu ước tính tỉ lệ tự điều trị bằng kháng sinh ở cộng  
đồng Abu Dhabi,các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (United Arab Emirates), một  
nghìn đối tượng được mời tham gia vào nghiên cứu.Kết quả: trong số 860 người tham  
gia, 56% đối tượng có sử dụng thuốc kháng sinh trong vòng một năm qua(Amoxicillin  
là kháng sinh phổ biến nhấtchiếm 46,3%). Các khảo sát cho thấy có mối liên hệ giữa  
thuốc kháng sinh được sử dụng và nhóm tuổi (p <0,001). 46% số người tham gia khảo  
sát nói rằng họ cố ý sử dụng thuốc kháng sinh để tự điều trị bệnh mà không có bất kì  
sự tư vấn y tế nào, hành vi này bị ảnh hưởng đáng kể bởi trình độ học vấn (p <0,001).  
9
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 73 trang yennguyen 14400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Khảo sát nhận thức về tự ý sử dụng kháng sinh của sinh viên trường Đại học Tây Đô", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_khao_sat_nhan_thuc_ve_tu_y_su_dung_khang_sinh_cua.pdf