Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát ở xã Bảo Ninh – Thành phố Đồng Hới – Tỉnh Quảng Bình

PHẦN I. MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Nước ta là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ  
bản, giữ vai trò chủ đạo trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội. Chính vì vậy việc  
đầu tư phát triển ngành nông nghiệp là rất cần được quan tâm. Trong đó, sản xuất rau  
cũng là lĩnh vực rất cần thiết cho cuộc sống ngày càng phát triển hiện nay.  
Với ưu thế về điều kiện tự nhiên thuận lợi và lao động dồi dào, nước ta có tiềm  
năng lớn về sản xuất các loại rau quả có giá trị kinh tế cao như: dưa chuột, khoai tây,  
cà chua, su hào, bắp cải v.v.  
Rau xanh là nhu cầu không thể thiếu trong cơ cấu ba ăn hàng ngày của con người.  
Đặc biệt, khi lương thực và các thức ăn nhiều đạm đã được đảm bảo thì yêu cầu về chất  
lượng và số lượng rau lại càng gia tăng như một nhân tố tích cực trong cân bằng dinh  
dưỡng và tăng sức đề kháng, tăng cường khả năng miễn dịch cho cơ thể, kéo dài tuổi thọ  
và phòng chống bệnh tật.  
Chính vì thế, rau xanh trở thành sản phẩm nông nghiệp có giá trị kinh tế cao và có  
thị trường tiêu thụ rộng lớn ở nội địa và xuất khẩu. Hiện nay, do nhu cầu hội nhập quốc tế  
và sự phát triển kinh tế xã của đất nước, hoạt động sản xuất và tiêu dùng rau ở Việt  
Nam đang được triển khai rộng khắp, đáp ứng nhu cầu bảo vệ môi trường và sức khỏe  
cộng đồng.  
Tg tiếtrình phát triển về kinh tế nông nghiệp, ngành sản xuất rau xanh đã thực  
sự được trọng, và đang dần khẳng định vị trí của nó trong chiến lược phát triển một  
nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa. Tuy nhiên, việc tiêu thụ rau còn gặp  
nhiều khó khăn do sản phẩm chưa đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Những yếu  
kém trong khâu tiêu thụ cộng thêm tình trạng sản xuất không gắn với thị trường đã ảnh  
hưởng không nhỏ đến thu nhập và đời sống của người trồng rau.  
Xã Bảo Ninh là một xã vùng ven biển của thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, là  
một trong những địa phương được biết đến với thế mạnh đánh bắt và chế biến thuỷ hải  
1
sản. Đây là vùng đất khắc nghiệt, địa hình không bằng phẳng, chủ yếu là những đồi cát  
lớn. Trước đây, do điều kiện tự nhiên không thuận lợi và người dân chưa có kinh nghiệm  
sản xuất nên việc sản xuất nông nghiệp mà đặc biệt là sản xuất rau gặp nhiều khó khăn và  
thường chỉ tiến hành manh mún nhỏ lẻ. Trong thời gian gần đây, rất nhiều hộ dân ở xã  
Bảo Ninh đã phát triển mạnh nghề trồng rau trên cát đã mang lại hiệu quả kinh tế khá  
cao. Nhờ vậy, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, diện tích đất được khai  
thác một cách triệt để, giải quyết được việc làm cho một bộ phận dân cư.  
Trước thực trạng đó, để nghiên cứu kỹ hơn vấn đề này tôi quyết địh chọn đề tài:  
“Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát ở xã Bảo Ninh – thành  
phố Đồng Hới – tỉnh Quảng Bình”.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Việc nghiên cứu đề tài nhằm mục đích:  
- Đánh giá chính xác kết quả, hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát.  
- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau.  
- Đề xuất một số giải pháp cụ thể nhằm phát triển mô hình trồng rau trên cát  
trong thời gian tới.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
- Phương pháp điều họn mẫu: Để kết quả nghiên cứu được chính xác và đại  
diện được cho tổng thể, tôi tiến hành chọn ngẫu nhiên 120 hộ nông dân xã Bảo Ninh  
để điều tra thu thập số liệu.  
- Phng áp thu thập số liệu:  
+ thập số liệu thứ cấp: Các sách, báo, tạp chí, báo cáo viết về hiệu quả kinh  
tế của các mô hình trồng rau trên cát ở trong và ngoài nước.  
+ Thu thập số liệu sơ cấp: Trong quá trình tiến hành làm đề tài, tôi đã sử dụng  
phiếu điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ gia đình về tình hình sản xuất rau.  
- Phương pháp thống kê, mô tả: Là phương pháp nghiên cứu áp dụng đối với các  
hiện tượng kinh tế xã hội số lớn, với đối tượng nghiên cứu là mặt lượng trong mối  
quan hệ mật thiết với mặt chất của các số lớn các hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều  
2
kiện thời gian và không gian nhất định. Đặc điểm của những hiện tượng này là đa dạng  
và phức tạp nên người nghiên cứu phải phát hiện được tính quy luật từ sự đa dạng đó.  
Nội dung gồm có :  
+ Tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu trên cơ sở phân tích thống kê.  
+ Phân tích tài liệu bằng các mô hình kinh tế lượng.  
- Phương pháp phân tích số liệu: Sử dụng phần mềm Excel để nhập, xử lí dữ liệu  
điều tra. Đồng thời áp dụng mô hình kinh tế lượng hồi quy để xác định các yếu tố ảnh  
hưởng đến năng suất và hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát.  
- Phương pháp so sánh: Là phương pháp đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng  
kinh tế đã được lượng hóa có cùng một nội dung, một tính chất để xác định mức độ, xu  
hướng tác động của hiện tượng. Trên cơ sở so sánh đưa ra những kết luận chính xác.  
- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp nghiên cứu dựa vào ý kiến của các  
chuyên gia (nhà khoa học, nhà trồng rau có kinh nghiệm…). Phương pháp này giúp  
chúng ta nắm tốt hơn về lý luận, định hướng và giải pháp cơ bản.  
4. Giới hạn đề tài  
- Địa điểm nghiên cứu: Xã Bảo Ninh thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình.  
- Thời gian nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu từ tháng 10 năm 2009 đến tháng 10  
năm 2010.  
5. Bố cục đề tài  
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và kiến nghị nội dung đề tài nghiên cứu những  
vấn đề s
Chưg I. Cơ sở khoa học của vấn đề cần nghiên cứu.  
Chương II. Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát.  
Chương III. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau.  
Chương IV. Các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau  
trên cát.  
3
PHẦN II. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
CHƯƠNG I. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU  
1.1. Cơ sở lí luận  
1.1.1. Vai trò của việc sản xuất rau  
Rau xanh là mặt hàng nông sản có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống con  
người. Việc sản xuất rau có vai trò rất to lớn trong nhiều mặt của đời sống của nhiều  
khu vực nông thôn cũng như những vùng ven đô.  
Rau là nguồn thực phẩm có tác dụng tốt đến sức khỏe con người, giúp con người  
hấp thu đầy đủ các vitamin và dưỡng chất trong rau. Việc tăng cường rau quả vào khẩu  
phần ăn sẽ giúp cải thiện tình trạng sức khỏe như giảm uyết áp, tăng cường khả năng  
miễn dịch của cơ thể và phòng bệnh tật. Chúng còn cung cấp cho cơ thể nhiều chất  
hoạt tính sinh học, đặc biệt là các muối khoáng có tính kiềm, các vitamin, các chất  
pectin và axit hữu cơ. Ngoài ra trong rau tươi còn có loại đường tan trong nước và chất  
xenluloza, rau còn là nguồn chất sắt quan trọng. Sắt trong rau được cơ thể hấp thu tốt  
hơn sắt ở các hợp chất vô cơ. Hầu hết các loại rau tươi thường dùng của nhân dân ta  
đều giàu vitamin nhất là vitamin A và C, đây là những vitamin rất cần thiết cho cơ thể  
của chúng ta và hầu như ng có hoặc chỉ có rất ít trong thức ăn động vật. Tóm lại  
rau tươi có vai trò quan trọng trong dinh dưỡng, bữa ăn hàng ngày của chúng ta không  
thể thiếu rau. Điều quan trọng là phải đảm bảo rau sạch, không có vi khuẩn gây bệnh  
và các hoá chất ộc nguy hiểm.  
Về trường, bằng việc áp dụng những biện pháp canh tác đảm bảo cho cây rau  
hấp thu tốt nhất chất dinh dưỡng, nước mà không để lại tồn dư trong sản phẩm, sản  
xuất rau đã làm giảm nguy cơ ô nhiễm môi trường và thực sự trở nên thân thiện với  
môi trường, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp sinh thái bền vững.  
Về kinh tế, thực tế tại nhiều vùng trồng rau đã khẳng định trồng rau cho hiệu quả  
kinh tế cao gấp nhiều lần trồng lúa cũng như các loại cây trồng khác.  
4
Về hiệu quả xã hội, khác với trồng lúa hay một số cây trồng khác, mọi thành viên  
trong gia đình đều có thể tham gia trồng rau. Điều này rất có ý nghĩa trong việc giải  
quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. Mặt khác do có hiệu quả kinh tế cao, trồng  
rau làm tăng thu nhập cho người dân, cải thiện cuộc sống của họ qua đó góp phần ổn  
định trật tự xã hội.  
1.1.2. Những quan điểm về hiệu quả kinh tế  
Hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế, phản ánh trình độ sử dụng, khai thác  
các nguồn lực và phương thức quản lý. Nó phản ánh mặt chất và mặlượng của các  
hoạt động kinh tế. Chính vì vậy trong điều kiện hiện nay các doanh nghiệp muốn tồn  
tại thì phải đặt ra mục tiêu là hiệu quả kinh tế.  
Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vào được  
sử dụng. Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động hao phí, chi  
phí thường xuyên. Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm [Lê Dân, 2007].  
Hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kết quả thu được với chi phí bỏ ra.  
Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sản xuất kinh doanh [Hoàng Hùng, 2007].  
Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế là một phạm trù  
kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để  
đạt được mục tiêu xác định.  
Chung quy lại, hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được  
xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó. Từ  
khái niệm khái uát này có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu  
quả kinhư sau:  
KQ  
H   
C
Trong đó:  
H
: Hiệu quả kinh tế  
KQ : Kết quả thu được  
: Toàn bộ chi phí bỏ ra  
C
5
Phương pháp này đã đánh giá được tốt nhất trình độ sử dụng các nguồn lực, xem  
xét một đơn vị nguồn lực đã sử dụng đem lại được bao nhiêu kết quả. Qua đó giúp  
chúng ta có thể so sánh hiệu quả ở các quy mô khác nhau.  
1.1.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả kinh tế  
1.1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá kết quả  
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các chỉ tiêu phản ánh kết quả  
sản xuất sau:  
- Giá trị sản xuất (GO): là chỉ tiêu cho biết một năm hoặc một vụ thì đơn vị sản  
xuất tạo ra được khối lượng sản phẩm có giá trị là bao nhiêu, chỉ tiêu này phản ánh  
quy mô về giá trị sản xuất mà ngành nông nghiệp tạo ra cho xã hội.  
Được xác định bằng công thức sau:  
GO = Q * P  
Trong đó:  
Q : Khối lượng sản phẩm  
P : Giá của sản phẩm  
- Chi phí sản xuất: là toàn bộ chi phí được sử dụng vào quá trình sản xuất sản  
phẩm. Bao gồm chi phí trung gian và chi phí về lao động gia đình.  
Trong đó, chi phí trung gian (IC): là bộ phận cấu thành giá trị sản xuất bao gồm  
những chi phí vật chất và vụ cho sản xuất (không kể khấu hao).  
Ví dụ:  
Chi phí vật chất trong sản xuất rau đó là các yếu tố đầu vào như: giống cây trồng,  
phân bloại thuốc trừ sâu, kích thích…  
Chi phí dịch vụ trong sản xuất rau như: công lao động thuê ngoài, dịch vụ vận  
chuyển, thủy lợi…  
- Giá trị gia tăng (VA): là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng  
phản ánh kết quả cuối cùng của các hoạt động sản xuất của các ngành thành phần kinh  
tế và toàn bộ nền kinh tế quốc dân trong một thời kì nhất định. Đó là nguồn gốc của  
mọi khoản thu nhập, sự giàu có và phồn vinh xã hội. Nó không chỉ biểu hiện hiệu quả  
6
của sản xuất theo chiều rộng mà còn là một trong những cơ sở quan trọng để tính các  
chỉ tiêu kinh tế khác.  
Được xác định bằng công thức sau:  
VA = GO – IC  
- Thu nhập hỗn hợp (MI): là phần thu nhập (gồm cả công lao động và lãi) nằm  
trong giá trị sản xuất sau khi đã trừ đi chi phí trung gian, khấu hao tài sản cố định  
(TSCĐ), thuế.  
Được xác định bởi công thức sau:  
MI = VA – khấu hao TSCĐ – thuế, phí, lệ phí phải nộp  
- Khấu hao TSCĐ (chi phí cố định): là phần giá trị của tài sản cố định bị hao mòn  
trong quá trình sản xuất.  
- Lợi nhuận (LN): là phần chênh lệch giữa tổng doanh thu và tổng chi phí của  
một quá trình sản xuất.  
- Năng suất cây trồng (NS): chỉ tiêu này phản ánh sản lượng thu được trên một  
đơn vị diện tích.  
Được xác định bằng công thức sau:  
NS  
S
Trong đó:  
Q : Sản lượng cây trồng  
S : Diện tích gieo trồng  
1Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả  
Theo hệ thống tài khoản quốc gia SNA, chúng ta có các nhóm chỉ tiêu phản ánh  
hiệu quả sản xuất sau:  
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả của vốn đầu tư:  
+ GO/IC: Giá trị sản xuất trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một  
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sản  
xuất.  
7
+ VA/IC: Giá trị gia tăng trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này phản ánh một  
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản  
xuất.  
+ MI/IC: Thu nhập hỗn hợp trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một  
đồng chi phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳ  
sản xuất.  
+ LN/IC: Lợi nhuận trên chi phí trung gian, chỉ tiêu này cho biết một đồng chi  
phí trung gian có thể tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sản uất.  
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sức lao động:  
+ GO/lao động (LĐ): Giá trị sản xuất trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một  
lao động có thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản xuất trong kỳ sản xuất.  
+ VA/LĐ: Giá trị gia tăng trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có  
thể tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị gia tăng trong kỳ sản xuất.  
+ MI/LĐ: Thu nhập hỗn hợp trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động  
có thể tạo ra được bao nhiêu đồng thu nhập hỗn hợp trong kỳ sản xuất.  
+ LN/LĐ: Lợi nhuận trên lao động, chỉ tiêu này phản ánh một lao động có thể  
tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kỳ sản xuất.  
1.1.4. Mô hình nghiên các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất rau  
Năng suất cây trồng là một trong những chỉ tiêu kết quả rất quan trọng và rất  
được bà con nông dân quan tâm. Nó cho biết trên một diện tích sản xuất ra được bao  
nhiêu sảhẩmHiện nay, có rất nhiều các phương pháp phân tích các nhân tố ảnh  
hưởng đăng suất cây trồng, đứng trên góc độ nông nghiệp, một phương pháp  
thông dụng nhất được sử dụng đó chính là phương pháp phân tích hồi quy đối với hàm  
sản xuất Cobb – Douglas .  
Hàm sản xuất Cobb- Douglas có dạng:  
Y A.X11.X22.X33.X44  
(*)  
8
Trong đó:  
Y: là biến phụ thuộc, Y là các chỉ tiêu về kết quả như năng suất, thu nhập, GO,  
VA…  
A: là hệ số xác định, đo lường mức độ biến động của Y xảy ra ngoài các tác động  
của các biến X.  
X1: là các biến phân Đạm (N).  
X2: là biến phân phân Lân (P)  
X3: là biến phân Kali (K)  
X4: là biến phân chuồng  
1,2,3,4: lần lượt là độ co giãn của biến biến phân N, biến phân P, biến phân  
K, biến phân chuồng theo biến Y. Đối với hàm sản xut Cobb – Douglas khi cố định  
các yếu tố đầu vào khác, nếu ta tăng 1% một yếu tố đầu vào nào đó so với mức trung  
bình thì sẽ làm cho Y thay đổi đúng bằng  
%.  
Đối với hàm sản xuất có dạng như trên, để phân tích được theo phương pháp hồi  
quy chúng ta cần chuyển dạng hàm sản xuất từ hàm số mũ sang dạng tuyến tính bằng  
cách logarit 2 vế của phương trình (*) ta được:  
LnY = LnA +1Ln X1 + 2 LnX2 +3LnX3 +4 Ln4X4  
Như vậy lúc này hàm n xuất Cobb – Douglas đã được chuyển sang dạng tuyến  
tính, sẽ giúp cho việc phân tích hồi quy được tiến hành đơn giản hơn rất nhiều.  
1.2. Cơ sở thực tiễn  
1.2.hình sản xuất và tiêu thụ rau của một số nước trên thế giới  
Trong những năm gần đây tình tình sản xuất và tiêu thụ rau quả của các nước trên  
thế giới có nhiều sự biến động. Để hiểu rõ hơn vấn đề này ta xem xét tình hình sản  
xuất và thị trường các mặt hàng rau quả của một số nước. Theo nguồn số liệu thống kê  
từ Rau – Hoa – Quả Việt Nam cho thấy:  
- Trung quốc:  
Hiện nay, Trung Quốc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, chế biến và xuất khẩu cà chua.  
Năm 2009, sản lượng cà chua của Trung quốc được dự báo đạt mức kỷ lục 39,5 triệu  
9
tấn. Phần lớn sản lượng cà chua được sử dụng cho công nghiệp chế biến, làm tương cà  
chua. Lợi nhuận từ cà chua đã thúc đẩy một số nông dân trồng bông chuyển sang canh  
tác loại cây này trong niên vụ tới.  
Thị trường xuất khẩu lớn nhất là Nga, chiếm trên 70% tổng lượng xuất khẩu. từ  
tháng 1-5/2009, xuất khẩu cà chua của Trung quốc đã tăng 10%, đạt 23.000 tấn, nhờ  
nhu cầu tăng nhanh tại Hồng Kông, Việt nam. Tuy nhiên, xuất khẩu sang Nga lại giảm  
12% so với cùng kỳ năm trước, xuống còn 35.000 tấn.  
Theo số liệu thống kê từ Bộ nông nghiệp Trung Quốc, tổng kim nạch xuất nhập  
khẩu nông sản của Trung Quốc trong bốn tháng đầu năm 2010 đã tăng 33,1% so với  
cùng kỳ năm trước, đạt 35,01 tỷ USD. Trong giai đoạn này, kim ngạch xuất khẩu nông  
sản đã tăng 21%, đạt 14,06 tỷ USD, và kim ngạch nhập khẩu nông sản đã tăng 42,8%,  
đạt 20,95 tỷ USD. Thâm hụt thương mại đã nới rộng đến 130%, lên đến 6,89 tỷ USD.  
Tính riêng tháng 4/2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu nông sản đã tăng  
25,9%, đạt 9,51 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu nông sản đã tăng 17,9%, đạt  
3,74 tỷ USD, và kim ngạch nhập khẩu nông sản đã tăng 31,7%, đạt 5,77 tỷ USD.  
Thâm hụt thương mại đã nới rộng đến 67,9%, lên đến 2,03 tỷ USD.  
Trong 10 tháng đầu năm 2010, Trung Quốc tiếp tục dẫn đầu trong số các thị  
trường xuất khẩu sang Nhật cả về lượng, đạt 1409 ngàn tấn, với mức tăng trưởng  
11,6% về lượng và 13,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.  
- Ấn Độ:  
Năm 1993Ấn Độ xuất khẩu 68,500 tấn rau đã qua chế biến. Và kể từ đó đến  
nay, tốăng trưởng kim ngạch xuất khẩu rau đạt trung bình 25% và lượng xuất  
khẩu đạt 16%. Trong đó, lượng xuất khẩu hành chiếm 93% tổng khối lượng xuất khẩu  
rau tươi của Ấn Độ. Ngoài ra Ấn Độ còn xuất khẩu một số các sản phẩm rau tươi khác  
như: khoai tây, cà chua, đậu, cà rốt, ớt…Các thị trường nhập khẩu rau tươi chủ yếu  
của Ấn Độ là các quốc gia vùng vịnh, Anh, Sri Lanka, Malaysia và Singapo. Mặc dù,  
đứng thứ 2 thế giới về sản lượng rau tươi nhưng sản lượng trung bình của các loại rau  
Ấn Độ còn thấp hơn so với các nước khác trên thế giới. Hiện tại ở Ấn Độ, nguyên liệu  
rau tươi không đủ để cung cấp cho các nhà máy chế biến.  
10  
Các loại rau như: khoai tây, cà chua, hành, bắp cải và súp lơ có tổng khối lượng  
chiếm khoảng 60% sản lượng rau của Ấn Độ. Rau tươi của Ấn Độ hiện được trồng  
phổ biến trên đồng ruộng, trái ngược với các quốc gia phát triển, hiện tại ở các quốc  
gia phát triển họ đang sử dụng kỹ thuật trồng rau trong nhà, kỹ thuật này sẽ giúp cho  
sản lượng rau đạt kết quả cao hơn nhiều. Ngành sản xuất rau tươi của Ấn Độ đang đề  
nghị chính phủ giúp đỡ nguồn nguyên liệu trồng trọt có chất lượng tốt, giảm sử dụng  
hạt giống cây lai, nâng cao trình độ quản lý và trình độ kỹ thuật để tăng sản lượng rau  
của Ấn Độ.  
- Ucraina:  
Do diện tích trồng bắp cải trắng tại Ucraina được mở rộng nên sản lượng đã tăng  
mạnh. Lượng bắp cải thu hoạch dồi dào không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà  
Ucraina đã tăng cường xuất khẩu loại rau thế mạnh này. Nguồn cung bắp cải dồi dào  
nên giá bán trong nước giảm nhẹ. Hiện tại, giá bắp cải bán tại Ucraina từ 0,07- 0,10  
USD/kg, song cũng có thể giảm nếu lượng đặt hàng lớn hoặc hình thức thanh toán  
thuận tiện  
- Mỹ:  
Theo báo cáo của Cục thống kê Liên bang (FBS), xuất khẩu rau của Mỹ đã tăng  
trưởng lần lượt là 71,22 % trong 10 tháng đầu của năm tài khóa hiện tại.  
Xuất khẩu rau trong thời gian này đạt 100,9 triệu USD, tăng 71,22 % so với kim  
ngạch xuất khẩu cùng kỳ năm tài khóa trước là 58,9 triệu USD. Tuy nhiên, so với kim  
ngạch xuất khẩu đạt 6,56 triệu USD trong cùng tháng của năm 2009, xuất khẩu trong  
tháng đã tăng 70,53 %.  
Xuất khẩu rau trong tháng 4/2010 của Mỹ đạt 15,13 triệu USD, giảm 32,04 % so  
với kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2010 là 22,26 triệu USD. Tuy nhiên, xuất khẩu rau  
trong tháng 4 năm 2010 đã tăng 49,30 % so với tháng 4/2009 với kim ngạch xuất khẩu  
rau chỉ đạt 10,13 triệu USD.  
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu rau củ quả sang Nhật Bản lớn thứ hai chỉ sau  
Trung Quốc, trong 10 tháng đầu năm 2010, đã xuất khẩu được 789 ngàn tấn rau củ  
quả, đạt tăng trưởng 11,2% về lượng và 9,1% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.  
11  
- Nhật Bản  
Theo số liệu thống kê của Nhật Bản, xuất nhập khẩu hàng rau củ quả của Nhật  
Bản sang các thị trường chính trong tháng 10/2010 đạt trên 240,2 nghìn tấn, kim ngạch  
đạt 37,41 tỷ yên. Tính chung 10 tháng đầu năm 2010, tổng lượng xuất khẩu rau quả  
của Nhật Bản đạt 30,68 nghìn tấn, kim ngạch đạt 387,37 tỷ yên.  
Xuất khẩu rau củ quả của Nhật Bản trong tháng 10/2010 tập trung vào hai thị  
trường chính là Đài Loan và Trung Quốc. Trong đó, Đài loan vẫn là thị trường có  
lượng nhập khẩu cao nhất là 1791 tấn, với kim ngạch xuất khẩu đạt 75,2 triệu yên,  
nhưng lại giảm 21,9% về lượng và 3,8% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.  
Đáng chú ý là tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu rau củ quả của Nhật Bản sang các thị  
trường gồm Hàn Quốc và Malaysia đã tăng trưởng khá trong tháng 10/2010 so với cùng  
kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu sang Hàn Quốc đạt 305 tấn, trị giá 83,8 triệu yên, tăng  
116,3% về lượng và 47,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước; tính chung 10 tháng đầu  
năm 2010, xuất khẩu của Nhật Bản sang thị trường Hàn Quốc đạt 1260 tấn, trị giá 519,2  
triệu yên, tăng 58,6% về lượng và 33% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu của  
Nhật Bản sang Malaysia trong tháng 10/2010 chỉ đạt 8,2 tấn, trị giá 5 triệu yên, nhưng đã  
tăng đến 65,3% về lượng và 91,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.  
- Các nước Liên minh châu Âu (EU):  
Liên minh châu Âu (EU) bao gồm 27 quốc gia với 485 triệu dân, là khu vực văn  
minh sớm và phát triển vào bậc nhất toàn cầu, vì thế cũng là khu vực có khối lượng  
giao dịch thương mại khổng lồ, chiếm 45% tổng kim ngạch nhập khẩu và 46% tổng  
kim ngất khẩu của thế giới. Số liệu thống kê từ Eurostat cho thấy Thổ Nhĩ Kỳ,  
Italia, và Tây Ban Nha là các nước sản xuất nhiều rau quả nhất tại EU. Sản lượng rau  
quả của ba quốc gia này luôn đứng đầu EU trong nhiều năm qua.  
Theo thống kê của Cơ quan Nông nghiệp Nước ngoài (FAS) thuộc Bộ Nông  
nghiệp Mỹ, một số mặt hàng xuất khẩu tiêu biểu của EU như sau:  
+ Thổ Nhĩ Kỳ là nước xuất khẩu nhiều cà chua nhất tại EU, chủ yếu sang Nga  
và Đông Âu. Trong 5 tháng đầu năm 2009, Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất khẩu 335.000 tấn cà  
chua, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước.  
12  
+ Xuất khẩu khoai tây đông lạnh của EU giảm 10 % trong niên vụ 2008-2009,  
xuống còn 440.000 tấn do nhu cầu giảm tại Ả Rập Xê Út, Nga, và Brazil. Đây là ba thị  
trường tiêu thụ khoai tây đông lạnh lớn nhất của EU, với mức tiêu thụ chiếm khoảng  
một nửa xuất khẩu của EU.  
1.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam  
Với đặc điểm khí hậu đa dạng, miền Bắc có đầy đủ bốn mùa xuân hạ thu đông,  
miền Nam chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô, các sản phẩm rau của Việt Nam rất  
đa dạng, từ các loại rau nhiệt đới như rau muống, rau ngót, rau cải đến ác loại rau xứ  
lạnh như xu hào, bắp cải, cà rốt...  
1.2.2.1. Diện tích gieo trồng và năng suất rau  
Tính đến năm 2010, tổng diện tích trồng rau các loại trên cả nước đạt 810,6  
nghìn ha, sản lượng đạt 13.819,7 nghìn tấn; so với năm 2005 thì diện tích đất trồng rau  
tăng 175,5 nghìn ha tương ứng với 27,63%, sản lượng tăng 8.138,5 nghìn tấn tương  
ứng với 140,51%.  
Bảng 1: Diện tích gieo trồng và năng suất rau phân theo vùng  
Diện tích  
Sản lượng  
(1000 tấn)  
2010/2005  
(%)  
2010/2005  
(%)  
(1000 ha)  
STT  
Vùng  
2005  
2010  
2005  
2010  
1
2
3
4
5
6
7
8
ĐB sông Hồng  
TDMN phía Bắc  
Trung Bộ  
DH Nam Trung Bộ  
Tây Nguyên  
164,3 229,3  
39,56  
33,37  
23,07  
29,77  
48,78  
07,72  
20,11  
27,63  
2.852,8 4.114,7  
44,23  
36,73  
52,28  
45,38  
36,69  
47,94  
50,11  
140,51  
91,1  
68,5  
44  
121,5  
84,3  
57,1  
72,9  
64,2  
1.008  
670,2  
616,4  
988,2  
722,1  
2.732,6  
1.378,2  
1.020,6  
896,1  
49  
1.350,8  
1.068,3  
4.102  
Đông Nam Bộ  
ĐB sông Cửu Long  
Cả nước  
59,6  
158,6 190,5  
635,1 810,6  
5.792,2 13.930,7  
(Nguồn: Viện nghiên cứu rau quả và tính toán của tác giả)  
13  
Qua bảng trên ta thấy tính đến năm 2010 thì vùng sản xuất rau lớn nhất là ĐB  
sông Hồng chiếm 28,29% về diện tích đất trồng rau và 29,54 sản lượng rau của cả  
nước, tiếp đến vùng ĐB sông Cửu Long chiếm 23,5% về diện tích đất trồng rau và  
29,45% sản lượng rau của cả nước. Đây là những vùng đất đai màu mỡ, điều kiện tự  
nhiên thuận lợi nên sản xuất rau phát triển khá mạnh. Còn vùng sản xuất rau thấp nhất  
là DH Nam Trung Bộ chiếm 7.04% diện tích đất trồng rau và 6.43% sản lượng rau của  
cả nước. Nguyên nhân chính là do khu vực này đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt  
(thường xuyên phải hứng chịu những đợt gió Tây – Nam thổi vào khiến cho thời tiết oi  
bức, khô nóng, đây còn là trung tâm của những cơn bão lớn nhất trong năm) vì vậy  
ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất rau nên sản lượng rau ở đây chiếm phần nhỏ trong  
tổng sản lượng rau của cả nước.  
So sánh diện tích gieo trồng năm 2010 so với năm 2005 và sản lượng rau thu  
được giữa năm 2010 so với năm 2005 ta thấy:  
- Đối với diện tích gieo trồng thì Tây nguyên là vùng có diện tích trồng rau tăng  
lớn nhất tăng 48,78%. Đây là vùng đất đỏ bazan màu mỡ, không chỉ phù hợp với sản  
xuất cây công nghiệp như cao su, cà phê mà còn phù hợp với sản xuất rau. Vùng có  
diện tích tăng thấp nhất là Đông Nam Bộ tăng 07,72%.  
- Đối với sản lượng rau thì Bắc Trung Bộ là vùng có sản lượng rau tăng lớn nhất  
tăng 52,28%, tiếp đến là sông Cửu Long tăng 50,11% và thấp nhất là vùng Tây  
Nguyên tăng 36,69 %. Nếu tính chung cho cả nước thì sản lượng rau năm 2010 tăng  
so với năm 2005 là 140,51%. Với diện tích đất trồng rau tăng không nhiều tăng  
27,63% ới năm 2005 nhưng sản lượng rau tăng lên rất lớn, điều này cho thấy  
người dân ã có các biện pháp canh tác hợp lý nhằm tăng năng suất cây trồng như các  
biện pháp luân canh, xen canh cây trồng; ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào  
trong sản xuất; chăm sóc, phòng bệnh kịp thời…  
Nhiều vùng rau an toàn (RAT) đã được hình thành đem lại thu nhập cao và an  
toàn cho người sử dụng đang được nhiều địa phương chú trọng đầu tư xây dựng mới  
và mở rộng: Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ Chí Minh, Đà Lạt…  
14  
Theo đánh giá của Viện nghiên cứu rau quả, trong những năm gần đây những loại  
rau được xác định có khả năng phát triển để cung cấp sản phẩm cho xuất khẩu là cà  
chua, dưa chuột, đậu rau, ngô rau....phát triển mạnh cả về quy mô và sản lượng, trong  
đó sản phẩm hàng hoá chiếm tỷ trọng cao.  
Hiện nay rau được sản xuất theo 2 phương thức: tự cung tự cấp và sản xuất hàng  
hoá, trong đó rau hàng hoá tập trung chính ở 2 khu vực:  
- Vùng rau chuyên canh tập trung ven thành phố, khu tập trung đông dân cư. Sản  
phẩm chủ yếu cung cấp cho dân phi nông nghiệp, với nhiều chủng loại au phong phú  
(gần 80 loài với 15 loài chủ lực), hệ số sử dụng đất cao (4,3 vụ/năm), trình độ thâm  
canh của nông dân khá, song mức độ không an toàn sản phẩm rau xanh và ô nhiễm  
môi trường canh tác rất cao.  
- Vùng rau luân canh: đây là vùng có diện tích, sản lượng lớn, cây rau được trồng  
luân canh với cây lúa hoặc một số cây màu. Tiêu thụ sản phẩm rất đa dạng: phục vụ ăn  
tươi cho cư dân trong vùng, ngoài vùng, cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu.  
Sản xuất rau theo hướng nông nghiệp công nghệ cao đã bước đầu được hình  
thành như: sản xuất trong nhà màn, nhà lưới chống côn trùng, sản xuất trong nhà  
plastic không cố định để hạn chế tác hại của các yếu tố môi trường bất lợi, trồng  
rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh dưỡng, nhân giống và sản xuất các loại cây  
quý hiếm, năng suất cao bằng công nghệ nhà kính có điều khiển kiểm soát các yếu  
tố môi trường.  
1.2.2.2. Mt số vùng trồng sản xuất rau hàng hoá tập trung  
- ắc:  
+ Sản xuất rau ở Hà Nội: Năm 2010, tổng diện tích gieo trồng rau các loại của  
thành phố Hà Nội có 12,1 ngàn ha, năng suất đạt 196,2 tạ/ha, sản lượng 170,8 ngàn  
tấn.  
Chủng loại rau rất phong phú, đa dạng. Các loại rau ăn lá như cải xanh, rau  
muống, cải thảo, cải làn, bắp cải, cải ngọt, cải bó xôi...chiếm ưu thế về diện tích và sản  
lượng (chiếm khoảng 70 –80% diện tích), có tỷ suất hàng hoá cao. Tuy nhiên sản xuất  
rau hiện nay chủ yếu vẫn theo phương pháp truyền thống nên chất lượng rau không  
15  
đảm bảo. Do đó chủ chương của thành phố là đẩy nhanh việc xây dựng các vùng sản  
xuất RAT, nhằm đảm bảo an toàn cho người sử dụng, người sản xuất và môi trường  
sinh thái. Hiện nay trên địa bàn thành phố, diện tích sản xuất RAT chiếm khoảng 23 –  
28% diện tích canh tác rau, tập trung chính ở các huyện ngoại thành như Đông Anh,  
Gia Lâm, Thanh Trì. Lượng rau an toàn chiếm khoảng 20 – 25% sản lượng rau của  
toàn thành phố.  
+ Vùng sản xuất chuyên canh cà rốt, hành tỏi, dưa hấu hàng trăm ha tại Nam  
Sách, Bình Giang, Kim Thành tỉnh Hải Dương hàng năm cho thu nhậ70 - 90 triệu  
đồng/ha.  
+ Vùng chuyên sản xuất dưa chuột tại Lý Nhân tỉnh Hà Nam hàng năm sản xuất  
500 - 600 ha cà chua và dưa chuột cung cấp cho các nhà máy chế biến của Tổng công  
ty rau quả, nông sản. Vụ Xuân 2010, Tổng công ty rau quả đã tổ chức sản xuất rau  
nguyên liệu vụ xuân ở các tỉnh Nam Định, Bắc Giang, Thanh Hoá đạt 940 ha (trong đó  
dưa chuột bao tử 294 ha, ớt 320 ha, ngô ngọt 146 ha, cà chua bi 65 ha) và đã thu mua  
trên 8.000 tấn sản phẩm.  
+ Thái Bình đã hình thành được nhiều vùng sản xuất nông nghiệp mang tính  
chuyên canh với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực như: hành, tỏi, ớt, khoai tây ở  
huyện Quỳnh Phụ; dưa chuột, ngô bao tử, sa lát ở huyện Thái Thụy... Một số rau màu  
xuất khẩu được tỉnh mở rg gieo trồng: khoai tây Đức, Hà Lan; ớt Đài Loan, Hàn  
Quốc, Nhật Bản; cải bắp cuộn, bí xanh, đậu cô ve Trung Quốc; khoai lang Nhật và cà  
chua bi... để tăng giá trị thu nhập và hiệu quả sản xuất.  
ng măng ở Đan Phượng – Hà Tây: Cây măng Điền Trúc, có nguồn gốc từ  
Trung Qu, được trồng ở xã Song Phượng, Đan Phượng, Hà Tây; trên diện tích đất  
chân đồi bạc màu. Sau 12 tháng trồng cho thu hoạch, sau khi trừ mọi chi phí, thu lãi từ  
60 –70 triệu đồng/ha. Trồng măng Điền trúc cho giá trị kinh tế cao là vì sản phẩm của  
nó có khả năng tận thu cao.  
- Miền Trung:  
Sản xuất rau hàng hoá xuất khẩu Quỳnh Lưu, Nghệ An:  
16  
Sản xuất rau ở xã Quỳnh Lương, Quỳnh Lưu vào chính vụ (vụ Đông và Hè  
Thu), bình quân mỗi ngày nông dân trong xã đưa ra thị trường từ 45 đến 50 tấn rau. Xã  
đã thành lập trang web giới tiệu, quảng bá và bán sản phẩm, thông qua trang web này  
nhiều hợp đồng bán rau xanh cho khách hàng trong, ngoài nước đã được ký. Trong  
năm 2010, xã Quỳnh Lương, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An đã xuất sang Hà Lan  
900 tấn rau xanh các loại (cà chua, rau cải, đậu, bắp cải, rau thơm, hành), tăng hơn  
năm ngoái 100 tấn.  
- Miền Nam:  
+ Trồng rau nông nghiệp công nghệ cao ở thành phố Hồ Chí Minh.  
Hiện thành phố có 1.863 ha sản xuất rau an toàn với sản lượng đạt khoảng 40.000  
tấn/năm. Hiện nay thành phố đang xây dựng khu nông nghiệp công nghệ cao trên 100  
ha tại huyện Củ Chi, áp dụng công nghệ trồng rau bằng kỹ thuật thuỷ canh, màng dinh  
dưỡng và canh tác trên giá thể không đất, nuôi cấy mô cho rau, hoa, cây cảnh, cây ăn  
trái… ứng dụng chất điều hoà sinh trưởng thực vật, công nghệ gen, sản xuất nấm và  
các chế phẩm vi sinh.  
+ Trồng nấm tại tỉnh Vĩnh Long  
Dự án cung cấp giống chương trình nấm thực phẩm đã hỗ trợ nông dân ở 20 xã  
trồng trong vụ Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông với diện tích 834,5 ha nấm rơm.  
+ Vùng trồng rau tỉnh Tiền Giang  
Hiện nay, diện tích rau của Tiền Giang lên đến 45.000 ha, mỗi năm cho sản  
lượng xấp xỉ 5.000 tấn với tổng thu nhập khoảng 160 tỷ đồng. Vùng trồng rau an  
toàn củđược quy hoạch ở các xã Thân Cửu Nghĩa, Long An, Phước Thạnh,  
Tân Hiệp; Long Bình Điền, Bình Phan, Bình Phục Nhất (Chợ Gạo); Bình Nhì,  
Long Vĩnh (Gò Công Tây); Mỹ Phong, Tân Mỹ Chánh (thành phố Mỹ Tho) và  
Long Hưng (thị xã Gò Công)  
+ Vùng trồng nấm Tân Phước - Tiền Giang  
Toàn huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang có khoảng 600 ha nấm rơm, chủ yếu  
trồng tập trung ở các xã Tân Hoà Tây, Mỹ Phước, Phước Lập, Thạnh Mỹ, Tân Hoà  
17  
Đông… giá nấm rơm khoảng 22.000 – 25.000 đồng/kg, có khi lên đến 30.000  
đồng/kg, vốn đầu tư thấp, nguồn nguyên liệu sẵn có (rơm rạ), kĩ thuật đơn giản.  
+ Vùng sản xuất rau ôn đới tỉnh Lâm Đồng  
Diện tích trồng rau tại Lâm Đồng năm 2010 đạt khoảng 37.315 ha, sản lượng  
87.700 tấn, sản lượng xuất khẩu khoảng 27.324 tấn. Chủng loại rau phong phú, có  
nhiều loại rau chất lượng cao như cải bắp, cải thảo, súp lơ (chiếm 55 – 60%), nhóm rau  
ăn củ chiếm 20 - 25% (khoai tây, cà rốt, củ dền), nhóm rau ăn quả chiếm 10 -12% (cà  
chua, đậu Hà lan...)  
Diện tích rau an toàn trên 700 ha theo công nghệ sản xuất cách ly trong nhà lưới  
không sử dụng phân bón, nông dược vô cơ và cách ly trong nhà lưới có sử dụng giới  
hạn nông dược vô cơ.  
1.2.2.3. Tình hình tiêu thụ sản phẩm rau  
Hiện nước ta có khoảng 90 cơ sở chế biến rau quả với tổng năng suất 350.000  
tấn sản phẩm/năm. Hiện nay tiêu thụ rau chủ yếu cho tiêu dùng trong nước, sản phẩm  
rau cho chế biến chiếm tỷ lệ không đáng kể, năm 2010 rau quả xuất khẩu chỉ đạt 375  
triệu USD, trong đó phần lớn là từ quả chế biến. Sản phẩm rau cho xuất khẩu chủng  
loại rất hạn chế, hiện chỉ một số loại như cà chua, dưa chuột, ngô ngọt, ngô rau, ớt,  
dưa hấu ở dạng sấy khô, đóng lọ, đóng hộp, muối mặn, cô đặc, đông lạnh và một số  
xuất ở dạng tươi.  
Tiêu thụ trong nước không nhiều và giá cả thất thường phụ thuộc vào lượng hàng  
nông sản cung ấp trong khi mức tiêu thụ hạn chế dẫn đến tình trạng một mặt hàng  
nông săm rất đắt, có năm lại rất rẻ ảnh hưởng đến tính bền vững trong sản xuất.  
Sản phẩm rau trở thành hàng hoá ngay sau khi thu hoạch và nó rất dễ bị hư hỏng  
trong khi hầu hết các vùng sản xuất hàng hoá lớn chưa có nơi sơ chế và kho bảo quản  
tạm thời.  
18  
1.2.2.4. Tình hình xuất khẩu rau quả ở Việt Nam  
- Kim ngạch xuất khẩu:  
Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu rau quả tiếp  
tục duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao trong tháng 10 năm 2010, đạt 36,2 triệu USD,  
tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2009. Tính chung 10 tháng năm 2010, kim ngạch xuất  
khẩu rau quả đạt 337,8 triệu USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2009.  
Rau quả là một trong 9 mặt hàng nông sản được Bộ Công thương đưa vào kế  
hoạch các nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực trong năm 2011. Đây là iều kiện thuận  
lợi để ngành rau quả đẩy mạnh xuất khẩu trong năm 2011.  
Diễn biến kim ngạch xuất khẩu rau quả từ năm 2008 đến tháng 10 năm 2010 như  
sau:  
(Đơn vị tính: Triệu USD)  
45  
35  
25  
15  
5
T1  
27.9  
31.3  
0  
T2  
T3  
34  
T4  
T5  
T6  
T7  
T8  
T9  
T10  
29.5  
32  
T11  
50.3  
38.4  
T12  
43.3  
47.4  
26.6  
29.4  
31.7  
29.6  
32.5  
39.3  
39.8  
33.6  
33.3  
26.5  
42.6  
38.9  
23.9  
21.5  
46.56  
24.8  
25.2  
36.4  
31.8  
38.6  
29.66  
N¨m 2008  
N¨m 200
N¨m
34.6  
45.8  
36.2  
(Nguồn: Rau Hoa Quả Việt Nam)  
Biểu đồ 1: Kim ngạch xuất khẩu rau từ năm 2008 đến tháng 10 năm 2010  
Qua biểu đồ cho thấy, nhìn chung kim ngạch xuất khẩu rau quả tính đến tháng 10  
năm 2010 tăng so với các năm 2008 và 2009. Những tháng đầu năm và cuối năm nhu  
cầu tiêu thụ rau quả trên thế giới tăng mạnh nên kim ngạch xuất khẩu cũng tăng lên so  
với các tháng khác trong năm.  
19  
- Cơ cấu thì trường:  
Theo nguồn bản tin “Thông tin Thương mại” của Trung tâm Thông tin Công  
nghiệp và Thương mại – Bộ Công thương ta có:  
Bảng 2: Thị trường xuất khẩu rau quả 10 tháng năm 2010  
T10/2009 T10/2010 2010/2009 10T/2009  
(USD) (USD) (%) (USD)  
10T/2010 2010/2009  
(USD) (%)  
22,1  
Thị trường  
Trung Quốc  
Nhật Bản  
Hà Lan  
5.664.143 7.187.998  
2.622.511 3.175.823  
1.378.902 2.391.165  
1.941.495 3.477.094  
2.557.653 1.950.581  
2.095.418 1.276.286  
26,9 42.706.629 52.146.423  
21,1 25.823.857 29.386.149  
73,4 14.248.219 25.996.543  
79,1 29.050.433 22.445.694  
-23,7 16.485.636 20.278.945  
-39,1 17.060.184 16.659.538  
157,7 7.228.204 12.531.884  
40,8 8.119.003 12.344.000  
78,1 7.753.891 9.147.057  
109,7 6.518.214 7.519.620  
159,4 4.033.871 7.127.950  
6,3 4.651.731 6.377.345  
34,6 4.711.061 5.908.615  
-50,0 4.845.454 5.441.065  
-30,1 4.484.070 4.896.471  
24,5 4.646.519 4.893.536  
108,8 2.931.290 4.168.484  
19,3 2.599.063 3.010.572  
13,8  
82,5  
-22,7  
23,0  
-2,3  
LB Nga  
Hoa Kỳ  
Đài Loan  
Indonesia  
Singapore  
Hàn Quốc  
Thái Lan  
Malaixia  
Canada  
280.452  
922.383 1.298.735  
471.036 838.773  
551.017 1.155.567  
722.678  
73,4  
52,0  
18,0  
15,4  
76,7  
37,1  
25,4  
12,3  
9,2  
330.02
864.71  
855.991  
918.774  
768.186  
576.067  
340.767  
750.23  
CHLB Đức  
Italia  
570.871  
1.152.968  
487.613  
602.403  
218.029  
433.796  
117.327  
Ph
Hồng Kông  
Campuchia  
Anh  
5,3  
455.228  
517.432  
365.112  
42,2  
15,8  
-36,2  
Ucraina  
211,2 1.368.530  
872.503  
(Nguồn: Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương Mại)  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 88 trang yennguyen 22240 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Khóa luận Đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình trồng rau trên cát ở xã Bảo Ninh – Thành phố Đồng Hới – Tỉnh Quảng Bình", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfkhoa_luan_danh_gia_hieu_qua_kinh_te_cua_mo_hinh_trong_rau_tr.pdf