Kết quả phẫu thuật tiệt căn xương chũm tối thiểu đường xuyên ống tai
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT TIỆT CĂN XƯƠNG CHŨM
TỐI THIỂU ĐƯỜNG XUYÊN ỐNG TAI
Nguyễn Thị Tố Uyên, Nguyễn Tấn Phong
Trường Đại học Y Hà Nội
Nghiên cứu mô tả loạt ca lâm sàng nhằm đánh giá thời gian ổn định hốc mổ và khả năng tái phát sau
phẫu thuật tiệt căn xương chũm tối thiểu đường xuyên ống tai. Kết quả cho thấy trong số 40 bệnh nhân viêm
xương chũm mạn tính có cholesteatoma hoặc xẹp nhĩ độ IV hoặc viêm thượng nhĩ với xương chũm đặc ngà
được lấy vào nghiên cứu có 29 nữ và 11 nam (tuổi từ 16 đến 71, trung bình 40,6); 35/40 bệnh nhân (87,5%)
bị viêm xương chũm mạn tính có cholesteatoma; 27/40 bệnh nhân được tạo hình hòm nhĩ nhỏ; Thời gian
khô tai trung bình là 14 ± 4,4 ngày sau phẫu thuật, trong đó 26/40 bệnh nhân (65%) chỉ chảy tai trong
khoảng 14 ngày; Sau phẫu thuật 8 tuần, 100% bệnh nhân có hốc mổ hoàn toàn ổn định với kích thước chỉ
rộng hơn 2 lần ống tai bình thường và cửa tai gọn nhưng vẫn đảm bảo dẫn lưu và thông thoáng. Kết luận:
đây là phương pháp phẫu thuật gây tổn thương giải phẫu tối thiểu nhưng đạt hiệu quả tối đa với thời gian
khô tai nhanh, tạo điều kiện phục hồi chức năng nghe mà vẫn đảm bảo tính an toàn (biến chứng ít, nhẹ, hồi
phục tốt).
Từ khoá: cholesteatoma, xẹp nhĩ, viêm thượng nhĩ, mở sào bào đường xuyên ống tai, tiệt căn xương
chũm tối thiểu
là tạo ra một hốc mổ lớn với nhiều khó chịu
cho người bệnh: thời gian chảy tai sau phẫu
thuật dài (3 đến 4 tháng); lỗ tai bị mở rộng gấp
2 đến 3 lần có thể gây chóng mặt khi đi ra gió
lạnh, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và gây khó
khăn trong việc sử dụng máy trợ thính…[1, 2].
Năm 2008, Holt đã công bố phẫu thuật mở
sào bào đường xuyên ống tai điều trị viêm
xương chũm mạn tính, đây là đường phẫu
thuật gần hơn để đi vào vùng bệnh tích ở sào
bào [3]. Tại Việt Nam, năm 2009 Nguyễn Tấn
Phong đã trình bày phẫu thuật tiệt căn xương
chũm tối thiểu đường xuyên ống tai (thuộc
nhóm phẫu thuật xương chũm kỹ thuật hở).
Sở dĩ đường phẫu thuật này được nghĩ đến vì
trong thực tế lâm sàng, nhiều trường hợp
viêm xương chũm mạn tính có cholesteatoma
hoặc xẹp nhĩ độ IV hoặc viêm thượng nhĩ
được chẩn đoán khi bệnh tích còn gọn, xương
chũm đặc ngà với kích thước sào bào nhỏ,
nếu áp dụng phẫu thuật tiệt căn xương chũm
thông thường sẽ tạo ra một hốc mổ quá lớn
so với bệnh tích. Nếu thực hiện kỹ thuật kín
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Phẫu thuật tiệt căn xương chũm - còn gọi
là phẫu thuật xương chũm kỹ thuật hở (Open
technic) - được Kuster mô tả từ năm 1889: hạ
thấp thành sau ống tai xương để đi vào vùng
bệnh lý). Hơn 100 năm qua, phẫu thuật này
ngày càng được hoàn thiện với nhiều cải biên
nhằm đạt tới một đích chung là đảm bảo lấy
sạch bệnh tích, hạn chế tái phát và cố gắng
hồi phục chức năng nghe [1]. Phẫu thuật tiệt
căn xương chũm kinh điển dù đi đường trước
tai hay sau tai đều khoan bỏ một phần rộng
của vỏ xương chũm cho đến khi bộc lộ được
toàn bộ bệnh tích ở sào bào, sào đạo, thượng
nhĩ và các thông bào chũm. Nhiều trường hợp
phần vỏ xương chũm bị lấy đi hoàn toàn bình
thường và nhược điểm của phương pháp này
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Thị Tố Uyên, Bộ môn Tai Mũi
Họng, trường Đại học Y Hà Nội
Email: [email protected]
Ngày nhận: 24/12/2013
Ngày được chấp thuận: 26/4/2013
64
TCNCYH 82 (2) - 2013
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
2. Phương pháp
thì rất khó và dễ gặp tai biến (do các cấu trúc
quan trọng như tĩnh mạch bên, màng não, dây
VII, ống bán khuyên ngoài thường nằm lấn về
phía sào bào). Kỹ thuật khoan mở thượng nhĩ
– sào đạo – sào bào từ tường thượng nhĩ ra
sau cho tới đáy sào bào, chỉ lấy bỏ đi thành
sau trên ống tai ngoài, gần như giữ nguyên vỏ
xương chũm đã tạo ra một hốc mổ nhỏ, gọn,
nhưng vẫn đảm bảo lấy triệt để bệnh tích và
dẫn lưu tốt. Hơn nữa, khi niêm mạc trung nhĩ
và hạ nhĩ sạch ta vẫn có thể tạo hình hòm nhĩ
nhỏ để tái tạo hệ truyền âm [4, 5].
Nghiên cứu mô tả loạt ca lâm sàng có can
thiệp, thực hiện qua 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 1: chọn bệnh nhân vào nghiên
cứu theo những tiêu chuẩn trên.
Sau khi chẩn đoán dựa trên đặc điểm lâm
sàng, tất cả bệnh nhân được chụp cắt lớp vi
tính xương thái dương 2 hướng cắt Coronal
và Axial, mỗi lát cắt cách nhau 1 mm để đánh
giá vị trí, độ lan rộng của tổn thương và cấu
tạo của xương chũm.
- Giai đoạn 2: thực hiện Phẫu thuật tiệt căn
xương chũm tối thiểu đường xuyên ống tai;
theo dõi và đánh giá kết quả sau phẫu thuật.
Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục
tiêu: đánh giá thời gian ổn định hốc mổ và
khả năng tái phát sau phẫu thuật tiệt căn
xương chũm tối thiểu đường xuyên ống tai.
Thực hiện phẫu thuật:
- Vô cảm: gây mê nội khí quản, có thể gây
tê tại chỗ khi có chống chỉ định gây mê.
- Phẫu thuật dưới nội soi với màn hình và
optique 0º, đường kính 4 mm.
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
1. Đối tượng
- 40 bệnh nhân với chẩn đoán viêm xương
chũm mạn tính có cholesteatoma hoặc xẹp
nhĩ độ IV hoặc viêm thượng nhĩ được phẫu
thuật tiệt căn xương chũm tối thiểu đường
xuyên ống tai từ tháng 9 năm 2010 đến hết
tháng 12 năm 2011 tại bệnh viện Tai – Mũi –
Họng Trung ương.
- Tạo vạt da hình quả đào (hay hình chữ V)
ở thành sau trên ống tai ngoài, bộc lộ ống tai
xương. Nếu cửa tai nhỏ: dùng đường rạch thứ
2 ở vùng cửa tai từ vị trí 12 giờ kéo lên sát
khe giữa sụn nắp và rễ luân nhĩ.
- Khoan mở xương chũm từ tường thượng
nhĩ ra sau, mở rộng thượng nhĩ – sào đạo –
sào bào, hạ thấp tường dây VII, hoà thượng
nhĩ – sào đạo – sào bào vào ống tai ngoài
thành một hốc chung. Lấy hết bệnh tích viêm.
- Tiêu chuẩn lựa chọn:
+ Bệnh nhân được chẩn đoán viêm xương
chũm mạn tính có cholesteatoma hoặc xẹp
nhĩ độ IV hoặc viêm thượng nhĩ.
+ Có đo thính lực đơn âm trước phẫu thuật
(để đối chiếu với kết quả đo sau phẫu thuật).
+ Có chụp cắt lớp vi tính xương thái
dương: xương chũm cấu trúc đặc, tổn thương
khu trú ở hòm nhĩ, thượng nhĩ, sào đạo, sào
bào, bao gồm cả những tổn thương nguy
hiểm: ăn mòn trần xương gây hở màng não,
hở ống bán khuyên ngoài, khuyết vỏ xương
dây VII.
- Nếu tình trạng niêm mạc trung nhĩ, hạ nhĩ
và lỗ vòi còn tốt, tiến hành tạo hình hòm nhĩ
nhỏ, trường hợp xẹp nhĩ sẽ phối hợp đặt ống
thông khí. Nếu trung nhĩ và hạ nhĩ có bệnh
tích cholesteatoma thì làm sạch bệnh tích và
để hở (tạo hình hòm nhĩ sẽ xem xét ở thì 2).
Đánh giá kết quả:
- Giai đoạn hậu phẫu: theo dõi biến chứng
sớm, tình trạng chảy dịch tai.
- Tiêu chuẩn loại trừ: viêm xương chũm
mạn tính hồi viêm.
- Sau phẫu thuật 1 tháng: tình trạng hốc mổ.
TCNCYH 82 (2) - 2013
65
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
- Sau phẫu thuật 3 tháng: tình trạng hốc
mổ, thính lực đồ lần 1 sau phẫu thuật.
tiểu đường týp 2 (2 bệnh nhân). Những bệnh
nhân này được theo dõi và phối hợp điều trị
bệnh toàn thân ổn định trước, trong và sau
phẫu thuật.
- Sau phẫu thuật 1 năm: đánh giá tái phát
cholesteatoma.
2. Kết quả phẫu thuật tiệt căn xương
chũm tối thiểu đường xuyên ống tai
III. KẾT QUẢ
1. Đặc điểm mẫu nghiên cứu
2.1. Phương pháp vô cảm
- Trong số 40 bệnh nhân đủ tiêu chuẩn lựa
chọn cho nghiên cứu có 29 nữ và 11 nam.
- Tuổi trung bình của nhóm là 40,58 ±
15,82, trong đó bệnh nhân nhỏ nhất là 16 tuổi
và lớn nhất là 71 tuổi.
Có 33 bệnh nhân (chiếm 82,5%) được gây
mê nội khí quản và 7 trường hợp (17,5%)
được tiền mê và tê tại chỗ. Phần lớn bệnh
nhân mổ gây tê có thời gian phẫu thuật kéo
dài hơn từ 30 đến 60 phút do phải dừng lại
nhiều lần để tiêm bổ sung thuốc tê.
- Có 26 trường hợp phẫu thuật tai phải và
14 trường hợp phẫu thuật tai trái.
- Các bệnh phối hợp: cao huyết áp (3 bệnh
nhân), hẹp động mạch vành (1 bệnh nhân),
2.2. Đặc điểm bệnh
Bảng 1. Phân bố tỷ lệ bệnh trong nghiên cứu
Loại tổn thương
Số bệnh nhân
%
Cholesteatoma
Xẹp nhĩ độ IV
Viêm thượng nhĩ
Tổng số
40
35
3
2
87,5
7,5
5,0
100
87,5% bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu bị viêm xương chũm mạn tính có cholesteatoma, số
còn lại có 7,5 % bệnh nhân được chẩn đoán là Xẹp nhĩ độ IV (tiền Cholesteatoma) và 5 % bệnh
nhân viêm thượng nhĩ (một thể viêm tai nguy hiểm).
Bảng 2. Các tổn thương nguy hiểm quan sát được trong phẫu thuật
và các biến chứng liên quan
Có tổn thương
Không tổn thương
Các tổn thương nguy hiểm
Tổng số
n
5
3
6
%
n
%
Hở màng não
12,5
7,5
35
37
34
87,5
92,5
85,0
40
40
40
Hở ống bán khuyên ngoài
Hở đoạn 2 dây VII
15,0
Nghiên cứu có 13/40 bệnh nhân (32%) có những tổn thương nguy hiểm: hở màng não, hở
ống bán khuyên ngoài, hở đoạn 2 dây VII… Trong đó có 1 bệnh nhân có 2 tổn thương (vừa hở
màng não vừa lộ trần đoạn 2 dây VII). Tổn thương của dây VII trong nghiên cứu này chỉ gặp
66
TCNCYH 82 (2) - 2013
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
dạng lộ trần bao đoạn 2. Trong phẫu thuật chúng tôi đã khắc phục các tổn thương trên bằng cách
dùng vật liệu tự thân để che phủ nhằm tránh các biến chứng sau phẫu thuật.
2.3. Tạo hình hòm nhĩ
Bảng 3. Số bệnh nhân được tạo hình hòm nhĩ và tạo hình xương con
Không tạo hình
Tạo hình hòm nhĩ
Tổng số
Các can thiệp cải thiện
sức nghe
hòm nhĩ
n1
3
%
n2
%
n
3
%
Chuỗi xương con còn liên tục
Tạo hình xương con bằng gốm
Tạo hình xương con bằng sụn
Không tạo hình xương con
Tổng số
7,5
0
0
7,5
7
17,5
35,0
7,5
7
17,5
35,0
40,0
100
14
3
0
14
16
40
13
13
32,5
32,5
27
67,5
Có 27/40 bệnh nhân (67,5%) được tạo hình hòm nhĩ trong phẫu thuật (khi trung nhĩ và hạ nhĩ
sạch, không có bệnh tích cholesteatoma). Chất liệu dùng để tạo hình là màng nhĩ và vạt da ống
tai ngoài, hoặc cân cơ thái dương, hoặc màng sụn, hoặc sụn kèm màng sụn nắp tai. Có 24/40
bệnh nhân (60%) được tạo hình hòm nhĩ đồng thời tạo hình chuỗi xương con nhằm cải thiện sức
nghe. Vật liệu tái tạo chuỗi xương con là gốm sinh học hoặc sụn nắp tai của chính bệnh nhân.
2.4. Các tai biến của phẫu thuật
Bảng 4. Số bệnh nhân có tai biến của phẫu thuật tiệt căn xương chũm tối thiểu đường
xuyên ống tai trong nghiên cứu
Tai biến
Số bệnh nhân (n = 40)
%
Liệt mặt
Chóng mặt
Viêm sụn vành tai
Tổng số
1
4
1
6
2,5
10,0
2.5
15
Tỷ lệ tai biến chung của phẫu thuật là 15 %, trong đó 5% là tai biến nặng với 1 bệnh nhân liệt
VII ngoại biên không hoàn toàn (chủ yếu nhánh cổ mặt, hồi phục tốt sau 1 tháng), 1 bệnh nhân bị
viêm sụn vành tai xuất hiện muộn (ngày thứ 25 sau phẫu thuật); 10% là tai biến nhẹ với 4 bệnh
nhân bị chóng mặt khi thay đổi tư thế trong 2 - 4 ngày sau phẫu thuật.
2.5. Khả năng hồi phục của hốc mổ sau
phẫu thuật
dịch rỉ viêm chảy ra cửa tai ít hơn phẫu thuật
tiệt căn xương chũm kinh điển. Thời gian chảy
tai trung bình sau phẫu thuật là 14 ± 4,4 ngày.
Có 26/40 bệnh nhân (chiếm 65%) chỉ chảy tai
trong khoảng 14 ngày.
Từ ngày thứ 2 sau phẫu thuật hầu hết
bệnh nhân tự phục vụ được những sinh hoạt
cá nhân. Cảm giác đau vùng mổ và lượng
TCNCYH 82 (2) - 2013
67
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Bệnh nhân được thay Merocel tai vào ngày
thứ 8 đến thứ 10 sau phẫu thuật, lần thay
Merocel tiếp theo được hẹn sau khoảng 10
đến 14 ngày. Thời gian da phủ kín hốc mổ
trung bình là: 6 ± 1,3 tuần. Sau 8 tuần, 100%
bệnh nhân có hốc mổ ổn định. Nhìn chung
việc chăm sóc sau ra viện tương đối đơn giản,
thời gian theo dõi ngắn.
phẫu thuật này cũng không có chống chỉ định
tuyệt đối.
Kết quả phẫu thuật tiệt căn xương
chũm tối thiểu đường xuyên ống tai
Phương pháp vô cảm và phương tiện quan
sát trong phẫu thuật:
Do cấu trúc xương chũm đặc, rắn với kích
thước sào bào nhỏ, trường mổ hẹp, khi phẫu
thuật phải khoan và bóc tách ở những vùng
nguy hiểm như tường dây VII, ống bán
khuyên ngoài, cửa sổ bầu dục, cửa sổ tròn…
nên gây mê nội khí quản là phương pháp vô
cảm tốt và an toàn. Nhận định này cũng trùng
hợp với N.T.Phong [5, 6].
Đối chiếu thính lực đồ đơn âm trước và
sau phẫu thuật 3 tháng, chúng tôi nhận thấy
ngưỡng nghe đường xương ở tất cả các
trường hợp không có sự thay đổi.
Đánh giá viêm xương chũm mạn tính tái
phát: 32 bệnh nhân (chiếm 80%) được theo
dõi sau phẫu thuật 1 năm trở lên, 40 bệnh
nhân (100%) có thời gian theo dõi trên 9
tháng. Trong số này, có 1 bệnh nhân tái phát
cholesteatoma với kích thước nhỏ (đường
kính 1mm) được phát hiện trên phim chụp
MRI diffusion và bệnh nhân này đã được mổ
lại xương chũm kiểm tra. Ngoài ra, 3 bệnh
nhân có biểu hiện xẹp nhĩ tiến triển sau khi
ống thông khí hòm nhĩ đào thải.
Nội soi là phương tiện phẫu thuật tốt. So
với kính hiển vi phẫu thuật trường nhìn của
nội soi rộng hơn, nhờ đó phẫu thuật viên có
thể dễ dàng quan sát đánh giá bệnh tích. Khi
sử dụng nội soi ta phải làm quen với việc một
tay cầm optic và chỉ còn một tay để sử dụng
các dụng cụ vi phẫu tai. Tuy vậy việc sử dụng
một tay để thực hiện các thao tác phẫu thuật
cũng không phải là quá khó và nó cũng không
cản trở các thao tác tinh tế như bộc lộ và bóc
tách cholesteatoma ở ngách mặt, xoang nhĩ,
tạo hình xương con, tái tạo hòm nhĩ nhỏ… [4,
5, 7]. Hiện nay bộ nội soi tai - mũi - họng đã
được trang bị phổ biến cho các bệnh viện
tuyến tỉnh và huyện nên phẫu thuật này có thể
phổ cập tới các tuyến điều trị.
IV. BÀN LUẬN
Đặc điểm mẫu nghiên cứu
Sự khác biệt về tỷ lệ nam/nữ, tỷ lệ tai phẫu
thuật bên phải/bên trái trong nghiên cứu này
được giải thích bởi cỡ mẫu chưa đủ lớn.
Tuổi trung bình của mẫu nghiên cứu là 41,
phần lớn bệnh nhân ở độ tuổi lao động nên
thời gian hồi phục sau phẫu thuật ngắn và kết
quả phẫu thuật tốt sẽ đóng góp nhiều vào tái
sản xuất sức lao động cho xã hội.
Đặc điểm bệnh tích và các tai biến của
phẫu thuật
Viêm xương chũm mạn tính có cholestea-
toma hoặc xẹp nhĩ độ IV hoặc viêm thượng
nhĩ là một trong những bệnh có chỉ định phẫu
thuật bắt buộc, hơn thế nên phẫu thuật càng
sớm càng tốt. Trong nghiên cứu chủ yếu là
viêm xương chũm mạn tính có cholesteatoma
(87,5%), do đây là bệnh hay gặp ở Việt Nam.
Trong phẫu thuật chúng tôi quan sát được
Giống như phẫu thuật tiệt căn xương chũm
kinh điển, phẫu thuật tiệt căn xương chũm tối
thiểu đường xuyên ống tai có thể áp dụng cho
bệnh nhân có bệnh phối hợp như cao huyết
áp, mạch vành, tiểu đường type 2… Trong
nghiên cứu không xảy ra tai biến nào ở nhóm
bệnh nhân có bệnh phối hợp này. Như vậy,
68
TCNCYH 82 (2) - 2013
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
các tổn thương nguy hiểm như hở màng não,
hở ống bán khuyên ngoài, hở đoạn 2 dây VII.
Hầu hết các tổn thương này đã được khắc
phục trong phẫu thuật.
Khả năng hồi phục của hốc mổ sau
phẫu thuật:
Kỹ thuật mở thượng nhĩ - sào đạo - sào
bào từ trước ra sau đã được áp dụng nhiều
trong các phẫu thuật tiệt căn xương chũm ở
những bệnh nhân có sào bào nhỏ, xương
chũm đặc. Trong các phẫu thuật kinh điển
này, phẫu thuật viên đồng thời khoan bỏ phần
vỏ xương chũm, tạo ra một hốc mổ tiệt căn
lớn, kèm theo là việc chỉnh hình cửa tai rộng
để đảm bảo dẫn lưu.
Phẫu thuật điều trị viêm xương chũm mạn
tính có cholesteatoma hoặc viêm thượng nhĩ
hoặc xẹp nhĩ độ IV thường có tỷ lệ biến chứng
cao hơn các dạng viêm tai khác do đặc điểm
bệnh lý và do cấu trúc bất thường của xương
chũm. Chúng tôi có 1 bệnh nhân bị liệt VII
ngoại biên không hoàn toàn ngay sau phẫu
thuật và hồi phục sau 1 tháng. Những biến
chứng liệt VII ngoại biên không hoàn toàn,
chóng mặt nhẹ, viêm sụn vành tai muộn ở
nghiên cứu này gặp với tỷ lệ tương tự trong
các phương pháp phẫu thuật tiệt căn xương
chũm khác [1, 2, 7].
Bệnh nhân được chọn vào nghiên cứu này
đều có cấu trúc xương chũm đặc, sào bào
nhỏ, bệnh tích khu trú, không lan ra các nhóm
thông bào khác nên chúng tôi vẫn sử dụng kỹ
thuật mở thượng nhĩ – sào đạo – sào bào từ
trước ra sau nhưng hạn chế tối đa việc lấy bỏ
phần vỏ xương chũm lành mà vẫn tạo ra một
hốc mổ tiệt căn xương chũm kích thước nhỏ,
tương xứng với tổn thương, đảm bảo dẫn lưu
tốt vào ống tai ngoài.
Trên thính lực đồ đơn âm, ngưỡng nghe
đường xương thay đổi không đáng kể trước
và sau phẫu thuật 3 tháng. Thông thường,
phẫu thuật tiệt căn xương chũm có thể gặp
biến chứng mê nhĩ gây điếc tiếp âm, thường
do tổn thương cholesteatoma ăn vào vùng các
cửa sổ hoặc gây hở ống bán khuyên ngoài và
do động tác phẫu thuật thô bạo. Như vậy nếu
được tiến hành thận trọng thì phẫu thuật này
cũng an toàn với tai trong.
Phần lớn bệnh nhân trong nghiên cứu
không cần chỉnh hình cửa tai do lỗ ống tai
ngoài rộng và hốc mổ tiệt căn nhỏ, quan điểm
này cũng giống của Marchioni [7]. Khám lại khi
tai phẫu thuật đã hoàn toàn ổn định ta thấy
cửa tai rộng hơn khoảng 1,5 lần và hốc mổ chỉ
rộng hơn ống tai ngoài cũ khoảng 2 lần, tỷ lệ
Va/S luôn đảm bảo. Khi cửa tai không quá
rộng, việc lựa chọn và sử dụng máy trợ thính
cũng dễ dàng hơn với người bệnh. Để giải
thích việc hốc mổ khô và liền da nhanh hơn
phương pháp phẫu thuật tiệt căn xương chũm
kinh điển chúng tôi thấy có 2 lý do chính. Thứ
nhất, khi kết thúc phẫu thuật hốc mổ tiệt căn
tối thiểu thường chỉ rộng gấp 2 lần ống tai
ngoài. Thứ hai, việc sử dụng vạt da hình quả
đào (hay hình chữ V) ở thành sau trên ống tai
ngoài (đỉnh ở sát cửa tai, cuống chính là màng
nhĩ) lót hốc mổ tiệt căn đã giúp che phủ 1/2
diện tích hốc mổ. Bên cạnh đó, việc tái tạo
Tạo hình hòm nhĩ:
Việc tạo hình hòm nhĩ ở thì phẫu thuật đầu
tiên đã tạo ra cơ hội tái tạo hệ truyền âm [3, 5,
6]. Màng sụn và sụn nắp tai được sử dụng để
tăng cường màng nhĩ là một chất liệu tốt,
không có sự thải ghép, hơn nữa đây là những
chất liệu có độ chắc cao đối với những bệnh lý
tai ít nhiều liên quan đến tình trạng lỗ vòi. Vào
thời điểm phẫu thuật, nếu tình trạng mũi
xoang và họng chưa ổn định thì ống thông khí
sẽ được đặt phối hợp, để giảm nguy cơ xẹp
nhĩ sau phẫu thuật. Tùy từng trường hợp mà
chúng tôi sử dụng trụ gốm sinh học hoặc sụn
để tái tạo chuỗi xương con.
TCNCYH 82 (2) - 2013
69
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
hòm nhĩ cũng giúp thu hẹp hốc mổ.
đã giải quyết triệt để bệnh tích với tổn thương
giải phẫu tối thiểu - hiệu quả tối đa, tạo ra hốc
mổ tiệt căn ổn định nhanh hơn các phẫu thuật
tiệt căn xương chũm kinh điển. Thứ ba, phẫu
thuật đã góp phần bảo vệ chức năng nghe
của tai giữa bằng việc tạo hình hòm nhĩ nhỏ,
tạo điều kiện thuận lợi cho tạo hình xương
con; thêm vào đó, cửa tai nhỏ cũng giúp bệnh
nhân sử dụng máy trợ thính dễ dàng hơn.
Phẫu thuật này có thể phổ cập tới tuyến dưới.
Tái phát cholesteatoma là một trong những
biến chứng muộn của phẫu thuật tai - xương
chũm. Hầu hết các tác giả theo dõi sau phẫu
thuật từ 9 tháng trở lên. Đây là phẫu thuật tiệt
căn xương chũm nên việc theo dõi tái phát
cholesteatoma chỉ đặt ra ở những bệnh nhân
có tạo hình hòm nhĩ nhỏ. Nếu việc tạo hình
này sử dụng vật liệu là màng nhĩ cũ hoặc cân
cơ thái dương hoặc màng sụn thì việc đánh
giá tái phát qua khám nội soi tai tương đối
đơn giản. Nếu tái tạo hòm nhĩ bằng sụn thì
việc đánh giá tái phát cholesteatoma khó hơn.
Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam đã sử
dụng phương pháp chụp cộng hưởng từ diffu-
sion sọ não để phát hiện cholesteatoma tái
phát với độ nhạy cao. Phối hợp giữa theo dõi
lâm sàng và cận lâm sàng chúng tôi đã xác
định có 1/40 bệnh nhân (2,5%) tái phát cho-
lesteatoma. Kết quả này phù hợp với kết quả
nghiên cứu của một số tác giả khác [3, 5, 7].
Lời cảm ơn
Chúng tôi chân thành cảm ơn các bác sỹ,
tập thể khoa Tai - Thần kinh và khoa Tai B5,
bệnh viện Tai - Mũi - Họng Trung ương đã tạo
điều kiện cho chúng tôi thực hiện nghiên
cứu này.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Glasscock and Shambaugh (1990).
The open cavity mastoid operations, Surgery
of the ear, 229 - 247.
Xẹp nhĩ tái phát ở những bệnh nhân có tạo
hình hòm nhĩ nhỏ là một vấn đề nan giải.
Những bệnh nhân này đều đã được đặt ống
thông khí trong phẫu thuật nhưng sau một thời
gian ống bị đào thải tự nhiên thì xẹp nhĩ xuất
hiện trở lại. Rất nhiều tác giả đã cho rằng
trong bệnh xẹp nhĩ thì nguyên nhân không chỉ
là viêm, tắc vòi nhĩ mà còn có hiện tượng
thoái hóa, teo đét của niêm mạc hòm nhĩ và
vòi nhĩ.
2. Nguyễn Tấn Phong (2000). Phẫu thuật
tai, Nhà xuất bản Y học.
3. Holt J.J. (2008). Transcanal antrotomy,
The Laryngoscope, 118, 2036 - 2039.
4. Nguyễn Tấn Phong (2009). Phẫu thuật
nội soi chức năng tai, Nhà xuất bản Y học.
5. Nguyễn Tấn Phong (2010). Khoét chũm
tiệt căn tối thiểu kết hợp tạo hình tai giữa, Tạp
chí Y học thực hành, 730 (8), 80 - 82.
6. Nguyễn Thị Tố Uyên, Nguyễn Tấn
Phong (2012). Kết quả ban đầu của phẫu
thuật tiệt căn xương chũm đường xuyên ống
tai, Tạp chí Nghiên cứu y học, 78 (1), 48 - 53.
V. KẾT LUẬN
Phẫu thuật tiệt căn xương chũm tối thiểu
đường xuyên ống tai bước đầu khẳng định
những ưu điểm trong điều trị viêm xương
chũm mạn tính có cholesteatoma, xẹp nhĩ độ
IV, viêm thượng nhĩ khi bệnh tích còn khu trú.
Thứ nhất, đây là phương pháp phẫu thuật có
tỷ lệ tai biến thấp. Thứ hai, phương pháp này
7. Marchioni D, Villary D, Alicandri
Ciufelli M, et al (2011). Endoscopic open
technique in patients with middle ear cho-
lesteatoma, Eur Arch Otorhinolaryngol, Nov,
268 (11), 1557 - 1563.
70
TCNCYH 82 (2) - 2013
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC
Summary
THE MINIRADICAL TRANSCANAL MASTOIDECTOMY
The recovery time and risk of recurrence of miniradical transcanal mastoidectomy in Viet Nam
are currently unknown. In this study, we used a series of clinical cases to determine the recovery
time and the recurrence of miniradical transcanal mastoidectomy. Forty (40) patients with cho-
lesteatomas otitis, adhesive otitis grade IV, or attic inflammation containing small and localized
lesion have been selected for this study. They are 29 female and 11 male, ages ranging from 16
to 71 years olds (mean age of 40.6). Thirty-five of forty patients (or 87.5%) had cholesteatoma.
Twenty-seven of the forty (27/40) patients underwent reconstructive tympanal cavity. Within 14 +
4.4 days post-surgery, there were no visible signs of otorrhea. After 14 days post-surgery, 26/40
patients (65%) exhibited visible signs of otorrhea. After 8 weeks following the reconstructive sur-
gery, all patients (100%) with miniradical mastoidectomies were stable. In these patients, minradi-
cal mastoectomies were able to double the width of the external auditory canal and widen the ear-
hole large enough for drainage. This is an effective mini-surgery that yields perfect cavities of
mastoidectomy, and achieves a faster recover time and a better hearing ability.
Keywords: cholesteatoma, adhesive otitis grade IV, retraction pocket, attic inflammation, transcanal
antrotomy, miniradical mastoidectomy
KẾT QUẢ PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ XẸP NHĨ
TẠI KHOA TAI MŨI HỌNG - BỆNH VIỆN BẠCH MAI
Lê Công Định, Đào Trung Dũng
Trường Đại học Y Hà Nội
Xẹp nhĩ là một loại viêm tai giữa nguy hiểm vì có thể tiến triển thành cholesteatoma. Nghiên cứu được
thực hiện nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị xẹp nhĩ. Kết quả cho thấy tổn thương các xương con
gặp ở 42,4% trường hợp, hay gặp nhất là xương đe. Theo dõi trung bình 5,8 tháng sau phẫu thuật thấy tỷ lệ
không tái phát xẹp nhĩ chiếm 92,4%, các trường hợp thất bại đều gặp ở xẹp nhĩ toàn bộ giai đoạn III và IV
chiếm 7,6%. Kết quả phục hồi sức nghe sau mổ với PTA ≤ 30 dB chiếm 45,4%, ABG ≤ 20 dB chiếm 51,5%.
Phẫu thuật chỉnh hình tai giữa là biện pháp can thiệp có hiệu quả cả về mặt giải phẫu và chức năng nghe
trong điều trị xẹp nhĩ.
Từ khoá: xẹp nhĩ, túi co kéo, chỉnh hình tai giữa
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
sợi màng nhĩ. Biểu hiện co lõm có thể ở toàn
Xẹp nhĩ là tình trạng màng nhĩ bị co lõm về
phía trong, làm giảm thể tích hòm tai do hậu
quả của rối loạn chức năng vòi nhĩ và tiêu lớp
bộ màng nhĩ gọi là xẹp nhĩ toàn bộ hoặc một
phần của màng nhĩ gọi là xẹp nhĩ khu trú.
Xẹp nhĩ tiến triển qua nhiều giai đoạn; theo
Magnan và Bremond có khoảng 30% xẹp nhĩ
tiến triển thành cholesteatoma, vì vậy hiện nay
trong phân loại viêm tai đã xếp xẹp nhĩ vào
nhóm viêm tai giữa mạn tính nguy hiểm [1].
Việc chẩn đoán và đưa ra phương pháp điều
Địa chỉ liên hệ: Lê Công Định, bộ môn Tai Mũi Họng,
trường Đại học Y Hà Nội, điện thoại: 0913 557 808,
Email: [email protected]
Ngày nhận: 06/01/2013
Ngày được chấp thuận: 26/4/2013
TCNCYH 82 (2) - 2013
71
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả phẫu thuật tiệt căn xương chũm tối thiểu đường xuyên ống tai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
ket_qua_phau_thuat_tiet_can_xuong_chum_toi_thieu_duong_xuyen.pdf

