Đặc điểm của bệnh gút ở người lớn tuổi tại khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Thống Nhất

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH GÚT Ở NGƯỜI LỚN TUỔI  
TẠI KHOA NỘI CƠ XƯƠNG KHỚP BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT  
Hồ Thị Thanh Tâm*, Ngô Thế Hoàng*, Nguyễn Đức Công*  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng, bệnh lý kèm theo ở bệnh nhân gút lớn tuổi.  
Thiết kế nghiên cứu: Tiền cứu, mô tả 44 trường hợp bệnh gút trên 60 tuổi điều trị nội trú tại khoa Nội Cơ  
Xương Khớp bệnh viện Thống Nhất từ 3/2012 đến tháng 4/2013.  
Kết quả: Trong số 44 bệnh nhân, gồm nam 42 (95,5%), nữ 2 (4,5%). Tỉ lệ nam/nữ: 21/1. Tuổi trung bình  
72,5 ± 7,9 tuổi (60‐92). Lâm sàng: đa số bệnh nhân ở giai đoạn gút mạn (86,3%). Bệnh nhân sưng đau nhiều  
hơn 2 khớp 81,8%. Chẩn đoán nhầm viêm khớp nhiễm khuẩn 22,7% (10/44 bệnh nhân). Tophi chỉ gặp ở 29,5%  
bệnh nhân. Cận lâm sàng: nồng độ axít uric máu trung bình 499,8 ± 97,0 µmol/L; 11,8% đợt cấp gút mạn không  
tăng axít uric máu. Tổn thương khớp trên phim X‐quang tỉ lệ hẹp khe khớp 38,6% và khuyết xương chỉ ghi nhận  
13,6%. Bệnh lý kèm theo: thường gặp tăng huyết áp 70,5%; thiếu máu cơ tim 40,9%; rối loạn lipid máu 34,1%  
và đái tháo đường type 2 29,5%.  
Kết luận: Gút ở người lớn tuổi thường mạn tính, đợt cấp dễ chẩn đoán nhầm viêm khớp nhiễm khuẩn.  
Kháng sinh và kháng viêm không steroids thường được sử dụng trước khi vào viện. Tăng huyết áp, thiếu máu cơ  
tim, rối loạn lipid máu và đái tháo đường type 2 là những bệnh lý thường kết hợp ở bệnh nhân gút lớn tuổi.  
Từ khóa: Gút, người lớn tuổi, tophi.  
ABSTRACT  
CLINICAL AND LABORATORY FEATURES OF GOUT IN ELDERLY PATIENTS AT THE  
RHEUMATIC MUSCULOSKELETAL MEDICINE DEPARTMENT AT THONG NHAT HOSPITAL  
Ho Thi Thanh Tam, Ngo The Hoang, Nguyen Duc Cong  
* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 17 ‐ Supplement of No 3‐ 2013: 270 ‐ 274  
Objective: To describe clinical and laboratory characteristics and diseases associated with gout in elderly  
patients.  
Subjects and Methods: This prospective study included 44 patients aged 60 years old or older, who were  
diagnosed with gout and treated in the Rheumatic Musculoskeletal Medicine Department at Thong Nhat  
Hospital during the period from March 2012 to April 2013.  
Results: Of the 44 patients, 42 were male (95.5%) and 2 were female (4.5%) and the male/female ratio  
was 24/1. The mean age of these patients was 72.5 ± 7.9 years (ranged from 60 to 92). Clinical features:  
86.3% patients had chronic gout. 81.8% patients had polyarthritis in 2 or more joints. Misdiagnosed as  
septic arthritis 22.7% (10/44 patients). Tophaceous gout developed in 29.5% patients. Laboratory features:  
the mean serum uric acid level was 499.8 ± 97.0 µmol/L. 11.8% of exacerbations of chronic gout had no  
hyperuricemia. Radiographical abnormalities of bone and joints were joint‐space narrowing 38.6% and  
erosive bone lesions 13.6%. Associated medical diseases: Hypertension 70.5%, ischemic heart disease 40.9%,  
dyslipidemia 30.1% and diabetes mellitus 29.5%.  
Conclusions: Gout in aged patients was most frequently presented in the form of chronic disease and the  
* Bệnh viện Thống Nhất TPHCM  
Tác giả liên lạc: BSCKII. Ngô Thế Hoàng ĐT: 0908418109  
270  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
diagnosis was often mistaken for pyogenic arthritis. Abusive treatment with NSAIDs and antibiotics was  
common. Hypertension, ischemic heart disease, dyslipidemia and diabetes mellitus are often associated with gout  
in elderly patients.  
Keywords: Gout, elderly patients, tophi.  
Tiến hành thu thập số liệu theo bệnh án mẫu  
và các xét nghiệm đều được thực hiện tại phòng  
xét nghiệm bệnh viện Thống Nhất. Xử lý số liệu  
bằng phần mềm SPSS 13.0 for Window.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Gút là một bệnh chuyển hóa thường gặp,  
liên quan đến rối loạn chuyển hóa purine. Hậu  
quả tăng axít uric máu kéo dài và lắng đọng tinh  
(1,11)  
KẾT QUẢ  
thể urát sodium ở khớp . Tỉ lệ mắc bệnh gút  
có xu hướng tăng lên trong hai thập kỉ qua,  
thường xảy ra ở nam giới với tỷ lệ lưu hành là  
0,16‐1,36% . Ở Việt Nam gút là bệnh khá  
Sau 13 tháng thành lập khoa, tại khoa Cơ  
Xương Khớp Bệnh viện Thống Nhất chúng tôi  
có 44 trường hợp được chẩn đoán gút. Kết quả  
như sau:  
(9,8)  
thường gặp, nhưng do một số biểu hiện của  
bệnh lại có thể gặp trong một số bệnh khớp khác  
(viêm khớp nhiễm khuẩn, viêm khớp dạng  
thấp…) nên dễ bị chẩn đoán nhầm. Do đó, bệnh  
nhân phải chịu hậu quả do không được chẩn  
đoán sớm và điều trị đúng cách. Bên cạnh  
những tổn thương về xương khớp, suy thận  
trong giai đoạn muộn đã làm giảm chất lượng  
cuộc sống, đặc biệt ở những người lớn tuổi. Tại  
bệnh viện Thống Nhất, khoa Nội Cơ Xương  
Khớp là khoa mới thành lập với cơ cấu bệnh tật  
đa dạng. Thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo  
sát một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và  
các bệnh lý kèm theo ở bệnh nhân gút trên 60  
tuổi. Từ đó, có thể xây dựng kế hoạch điều trị,  
nâng cao trình độ chuyên môn góp phần cải  
thiện chất lượng cuộc sống bệnh nhân gút lớn  
tuổi.  
Dịch tễ học  
Tuổi trung bình 72,5 ± 7,9 tuổi (thấp nhất 60,  
cao nhất 92 tuổi). Nam 95,5% (42/44), nữ 4,5%  
(2/44). Tỉ lệ nam/ nữ = 21/1. Sống ở thành thị  
56,8% (25/44), ở vùng nông thôn 43,2% (19/44).  
Thời gian mắc bệnh trung bình 5,8 ± 3,6 năm  
(thấp nhất 1 tháng, cao nhất 15 năm). Ghi nhận 1  
trường hợp (2,3%) có người thân mắc bệnh gút.  
Bảng 1. Phân bố theo tuổi.  
Nhóm tuổi  
60 – 69  
70 – 79  
≥ 80  
n=44 (100%)  
15 (34,1)  
20 (45,5)  
9 (20,5)  
Nhận xét: 79,6% bệnh nhân ở nhóm 60‐79  
tuổi, trên 80 tuổi ít gặp hơn.  
Bảng 2. Chẩn đoán và điều trị trước vào khoa.  
Chẩn đoán trước khi vào khoa, n=19 (43,2%)  
ĐỐITƯỢNG‐PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
Viêm khớp dạng thấp  
Thoái hóa khớp  
2 (10,5)  
7 (36,8)  
10 (52,6)  
Đối tượng nghiên cứu: tất cả các bệnh nhân  
≥60 tuổi được chẩn đoán gút theo tiêu chuẩn  
Bennett‐Wood năm 1968, điều trị nội trú tại  
khoa Cơ Xương Khớp từ tháng 3/2012 đến tháng  
4/2013. Loại trừ các bệnh nhân lú lẫn, suy thận  
mạn giai đoạn cuối, gút thứ phát hoặc bệnh  
nhân có dùng các thuốc ảnh hưởng đến sự sản  
xuất và bài tiết acid uric trong vòng 10 ngày  
trước nhập viện.  
Viêm khớp nhiễm khuẩn  
Thuốc điều trị trước khi vào khoa, n=30 (68,2%)  
NSAIDs  
Corticoides  
Kháng sinh  
Thuốc đông y  
14 (46,7)  
6 (20,0)  
10 (33,3)  
4 (13,3)  
Nhận xét: chẩn đoán trước khi vào viện  
không phải gút 43,2% (trong đó 53,6% viêm  
khớp nhiễm khuẩn; 36,8% thoái hóa khớp);  
46,7% được sử dụng NSAIDs; 33,3% kháng sinh  
và 20% corticoides.  
Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu, mô tả  
cắt ngang.  
271  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng  
Bảng 3. Triệu chứng lâm sàng.  
Các bệnh kèm theo  
Bảng 7. Các bệnh lý kèm theo.  
Tại thời điểm nghiên cứu  
n=44 (100%)  
Bệnh kèm theo  
n
31  
18  
15  
13  
8
%
Sưng đau 1 khớp (bàn ngón chân cái)  
8 (18,2)  
Tăng huyết áp  
70,5  
40,9  
34,1  
29,5  
20,5  
6,8  
Sưng đau 2 khớp (bàn ngón cái, cổ chân  
hoặc gối)  
Thiếu máu cơ tim  
23 (52,3)  
Rối loạn lipid máu  
Sưng đau ≥ 3 khớp (bàn ngón cái, cổ chân,  
gối và chi trên 2 bên)*  
Đái tháo đường type 2  
Viêm phế quản mạn  
Viêm loét dạ dày tá tràng  
13 (29,5)  
13 (29,5)  
Tophi  
3
2 bệnh nhân (4,5%) được chẩn đoán là viêm  
khớp dạng thấp.  
Nhận xét: Bệnh lý thường gặp cao nhất là  
tăng huyết áp, kế tiếp là thiếu máu cơ tim, rối  
loạn lipid máu, đái tháo đường type 2 và viêm  
phế quản mạn.  
Nhận xét: 81,8% bệnh nhân sưng đau ≥ 2  
khớp. 29,5% bệnh nhân có tophi.  
Bảng 4. Acid uric máu.  
BÀN LUẬN  
Axít uric máu  
µmol/L  
609,8 ± 59,0  
Tại thời điểm  
nghiên cứu  
Axít uric  
máu tăng  
n (%)  
Dịch tễ học  
Gút cấp  
6 (13,6)  
6 (100)  
Trong nghiên cứu của chúng tôi nhóm tuổi  
gặp nhiều nhất là 70‐79 tuổi, trung bình 72,5 ±  
7,9 tuổi; tỉ lệ nam/ nữ = 21/1. Bệnh thường gặp  
Đợt cấp gút mạn 17 (38,6) 15 (88,2) 523,7 ± 107,8  
Gút mạn  
Tổng  
21 (47,7) 17 (80,9) 441,8 ± 44,5  
44 (100) 38 (86,4) 499,8 ± 97,0  
chủ yếu ở nam, tương tự với một số nghiên  
Nhận xét: Đợt gút cấp mạn và gút mạn  
chiếm 86,3%; gút cấp chỉ 13,6%. 86,4% bệnh  
nhân có tăng axít uric máu. 11,8% đợt cấp gút  
mạn không tăng axit uric máu. Nồng độ axít uric  
máu trung bình 499,8 ± 97,0 µmol/L; có sự khác  
biệt có ý nghĩa thống kê của nồng độ axít uric  
máu giữa gút cấp với gút mạn và giữa đợt cấp  
gút mạn với gút mạn (p<0,01), nhưng không có  
khác biệt giữa gút cấp hoặc đợt cấp gút mạn với  
gút mạn (p=0,1).  
(3,6,7)  
cứu trong nước  
. Chúng tôi chỉ ghi nhận 1  
trường hợp có yếu tố gia đình, kết quả này  
(6)  
khác với nghiên cứu tại bệnh viện Chợ Rẫy ,  
có lẽ do mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ.  
Một số nghiên cứu trong nước cho thấy  
khoảng 2/3 dân số nghiên cứu sống ở thành  
(4,10)  
thị  
nhưng trong nghiên cứu này, chúng tôi  
nhận thấy tỉ lệ này không có sự khác biệt đáng  
kể, do ngày nay mức sống và điều kiện sống  
của người dân ở nông thôn đã tăng lên nên sự  
khác biệt này không nhiều.  
Bảng 5. Tổn thương thận qua siêu âm bụng.  
Siêu âm bụng  
n
11  
4
%
Chúng tôi ghi nhận có đến 43,2% bệnh nhân  
trước khi vào khoa chúng tôi đã được chẩn đoán  
và điều trị ở tuyến trước không phải bệnh gút, tỉ  
lệ này cao hơn nghiên cứu tại bệnh viện Chợ  
Sỏi thận  
25,0  
9,1  
Vôi hóa  
Bệnh lý chủ mô thận mạn  
Bình thường  
7
15,9  
43,2  
19  
(6)  
Rẫy . Trong số này, phần lớn bệnh nhân bị chẩn  
Nhận xét: Tỉ lệ sỏi thận, vôi hóa và bệnh lý  
chủ mô thận mạn được phát hiện qua siêu âm  
lần lượt 25%; 9,1% và 15,9%.  
đoán nhầm là viêm khớp nhiễm khuẩn (52,6%)  
hoặc thoái hóa khớp (36,8%). Do vậy, đã có  
46,7% bệnh nhân được sử dụng NSAIDs; 33,3%  
kháng sinh và 20% corticoides. Việc kê đơn  
thuốc chưa hợp lý cho bệnh nhân hoặc bệnh  
nhân tự ý dùng thường xuyên, kéo dài các loại  
kháng sinh, NSAIDs, corticoids đã để lại một số  
hậu quả nghiêm trọng như tăng sự đề kháng  
Bảng 6. Tổn thương khớp trên X‐Quang.  
X-Quang khớp  
Hẹp khe khớp  
Gai xương  
n
17  
13  
6
%
38,6  
29,5  
13,6  
Khuyết xương  
Nhận xét: Tỉ lệ hẹp khe khớp và gai xương là  
38,6% và 29,5%; khuyết xương 13,6%.  
272  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
kháng sinh của vi khuẩn, viêm loét dạ dày, tổn  
thương gan, thận, cushing do thuốc….  
đây cho thấy tỉ lệ sỏi thận 25 ‐ 30,5%; bệnh lý  
chủ mô thận mạn từ 20 ‐ 22,9%; nang thận 7,6%;  
vôi hóa 7,6% . Kết quả nghiên cứu của chúng  
(5,6)  
Đặc điểm lâm sàng  
tôi cũng cho kết quả tương tự (bảng 4).  
Tại thời điểm nghiên cứu phần lớn bệnh  
nhân trong nghiên cứu này có tổn thương ở  
nhiều khớp (52,3% sưng đau 2 khớp, 18,2% sưng  
đau ≥ 3 khớp). Theo một số nghiên cứu, tỉ lệ  
bệnh nhân có sưng đau từ 4 khớp viêm trở lên  
X quang khớp  
Theo thống kê sau đợt gút cấp đầu tiên từ 6‐  
12 năm, các tổn thương xương khớp có thể thấy  
(11)  
được trên phim X‐quang xương khớp . Tuy  
(4, 6)  
chiếm 66,7‐71,2% . Chúng tôi cũng ghi nhận  
nhiên, trong nghiên cứu này chúng tôi ghi nhận  
tỉ lệ có có hình ảnh hẹp khe khớp, gai xương và  
khuyết xương trên X‐quang lần lượt là 38,6%;  
29,5% và 13,6% thấp hơn kết quả nghiên khác  
bệnh nhân có tổn thương ở cả chi trên lẫn chi  
dưới và xuất hiện ở cả 2 bên (bảng 3) cao hơn so  
(3,4,6,7)  
với các nghiên cứu khác 8‐18%  
, giai đoạn  
(4,5,6)  
này có 2 bệnh nhân (4,5%) được chẩn đoán là  
viêm khớp dạng thấp.  
theo thứ tự 69,7%; 31,7‐36,8% và 57,9% . Có lẽ  
do mẫu nghiên cứu chúng tôi còn nhỏ và một  
lần nữa cho thấy việc chẩn đoán sớm bệnh gút  
và điều trị hợp lý sẽ giảm được tỉ lệ tổn thương  
xương khớp, nhờ đó sẽ cải thiện được chất  
lượng cuộc sống ở người lớn tuổi thường có các  
bệnh lý xương khớp khác kèm theo.  
Chúng tôi ghi nhận tỉ lệ bệnh nhân có tophi  
là 29,5%. Theo y văn, diển tiến của gút nếu  
không được điều trị đúng sau 10 ‐ 20 năm,  
khoảng 2/3 bệnh nhân sẽ xuất hiện hạt tophi.  
Trong nghiên cứu này, thời gian mắc bệnh trung  
bình là 5,1 ± 4,6 năm, thấp hơn kết quả của các  
Các bệnh kèm theo  
(2,6,7)  
tác giả khác . Điều này cho thấy một tỉ lệ khá  
Tuy còn nhiều quan điểm trái chiều, nhưng  
đã có nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước cho  
thấy tăng axit uric là yếu tố nguy cơ cho bệnh  
tim mạch và là yếu tố nguy cơ độc lập của tử  
lớn bệnh nhân gút không được chẩn đoán sớm,  
do vậy không được điều trị đúng cách cũng như  
tuân thủ nghiêm chế độ ăn uống.  
vong tim mạch. Tỉ lệ tăng huyết áp trên bệnh  
Axít uric máu  
(10,12)  
nhân gút từ 25‐50%  
và tăng huyết áp là yếu  
Axít uric máu là xét nghiệm cơ bản để chẩn  
đoán gút. Kết quả của chúng tôi ghi nhận có  
88,6% bệnh nhân có tăng axít uric máu, tương tự  
(4,9)  
tố nguy cơ của bệnh gút . Trong nghiên cứu  
của chúng tôi, tỉ lệ các bệnh lý kèm theo theo thứ  
tự tăng huyết áp 70,5%; thiếu máu cơ tim 40,9%;  
rối loạn lipid máu 34,1% và đái tháo đường type  
2 29,5%. Kết quả này cao hơn so với một số các  
(4,5,6)  
với một số nghiên cứu khác từ 68,9‐91,7%  
và  
11,4% không có tăng axít uric máu. Như vậy,  
không phải lúc nào chẩn đoán gút cũng có tăng  
axít uric máu, trong đợt gút cấp tỉ lệ này có thể  
(4,5,6)  
nghiên cứu khác , nhưng tương tự với kết  
(9)  
một nghiên cứu trước đây của chúng tôi cũng tại  
bệnh viện Thống Nhất, tỉ lệ tăng huyết áp 73,1%;  
từ 30 ‐ 40% . Axít uric máu trung bình ở người  
đàn ông Việt Nam trên 60 tuổi khỏe mạnh là  
368,22 ± 85,09 µmol/L. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi, nồng độ axít uric máu trung bình là  
478,6 ± 90,1 (gút cấp 504,9 ± 15,4; gút mạn 449,8 ±  
33,9) (bảng 4). Do đó, khai thác bệnh sử và xét  
nghiệm axít uric máu nhiều lần đóng vai trò  
quan trọng trong chẩn đoán.  
(7)  
đái tháo đường type 2 21,2% . Lí giải cho kết  
quả này vì đây là các bệnh lý thường gặp ở  
người lớn tuổi, một đặc trưng riêng của bệnh  
viện Thống Nhất, khám và điều trị cho các đối  
tượng bệnh nhân có tuổi. Mặt khác, phải cân  
nhắc phối hợp điều trị hợp lí mặc dù tăng axít  
uric máu là yếu tố nguy cơ độc lập cho bệnh  
mạch vành, nhưng bệnh mạch vành và tăng axít  
uric máu đều liên quan đến chức năng thận,  
Siêu âm bụng  
Tỉ lệ sỏi thận ở bệnh nhân mắc bệnh gút từ  
(7)  
10‐25% , một số nghiên cứu trong nước trước  
(9)  
thuốc lợi tiểu và hội chứng chuyển hóa . Sự kết  
273  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
Y Học TP. Hồ Chí Minh * Tập 17 * Phụ bản của Số 3 * 2013  
Nghiên cứu Y học  
hợp giữa tăng triglyceride máu và tăng axit uric  
đã được xác định chắc chắn. Có đến 80% người  
tăng triglyceride máu có sự phối hợp của tăng  
axit uric và khoảng 50‐70% bệnh nhân gút có  
kèm tăng triglyceride. Cũng vậy, đái tháo  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1.  
Choi HK, Mount DB, and Reginato AM (2005), Pathogenesis of  
Gout. Annals of Internal Medicine, Vol 143, N 7, pp. 499‐516.  
Dương Thị Phương Anh (2004), Nghiên cứu các triệu chứng  
lâm sàng và cận lâm sàng của tổn thương xương khớp trong  
gút mãn tính, Luận văn tốt nghiệp Bác sĩ y khoa Đại học y Hà  
nội.  
Đoàn Văn Đệ (2003), Đặc điểm lâm sàng, chẩn đoán phân biệt  
bệnh gút với viêm khớp dạng thấp, Y học thực hành 452(5), tr.  
61‐63.  
2.  
đường type 2 thường đi kèm với gút, liên quan  
3.  
4.  
(10,12)  
đến sự đề kháng insulin  
. Tóm lại, tăng huyết  
áp, thiếu máu cơ tim, rối lọan lipid máu và đái  
tháo đường type 2 là những bệnh lý thường kết  
hợp trên bệnh nhân gút lớn tuổi. Theo dự đoán  
năm 2030 nước ta có khoảng 30% người trên 60  
tuổi, đây là độ tuổi con người mắc nhiều bệnh  
tim mạch, đái tháo đường và bệnh xương khớp.  
Ngày nay tỷ lệ đái tháo đường toàn quốc chiếm  
2,7%, trong đó nam giới chiếm 3,3% và nữ chiếm  
3,7%. Như vậy, mỗi chuyên khoa sâu tim mạch,  
nội tiết và xương khớp đều phải đối mặt với hội  
chứng chuyển hóa ở bệnh nhân gút. Sự xuất  
hiện đồng thời của nhiều bệnh lý trên làm ảnh  
hưởng rất nhiều đến chất lượng cuộc sống của  
bệnh nhân. Do đó chúng phải được quan tâm và  
điều trị đồng thời với điều trị gút cũng như phải  
có một chế độ dinh dưỡng hợp lí.  
Lê Thị Viên (2006), Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm  
sàng và đánh giá kết quả điều trị bệnh gút có hạt tophi, Luận  
văn tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp II.  
5.  
6.  
Lê Văn Diễn (2004), Khảo sát acid uric niệu 24 giờ trên bệnh  
nhân gút, Luận văn thạc sĩ Y học.  
Lưu Văn Ái, Lê Anh Thư (2010), 104 đặc đểm của bệnh gút ở  
bệnh nhân lớn tuổi tại bệnh viện Chợ Rẫy. Y Hoc TP. Ho Chi  
Minh, Tập 14 ‐ Phụ bản số 2, tr. 570 – 76  
7.  
Ngô Thế Hoàng, Nguyễn Thị Thanh Loan (2002), Đánh giá  
tình hình bệnh Gout tại khoa A2 bệnh viện Thống Nhất từ  
1999‐2002. Kỉ yếu công trình nghiên cứu khoa học bệnh viện  
Thống Nhất, tr. 71‐80.  
8.  
9.  
Nguyễn Thị Ngọc Lan (2011). Bệnh gút. Bệnh học Cơ xương  
khớp nội khoa. NXB Giáo dục Việt Nam, tr. 189‐212.  
Pillinger MH, Rosenthal P, and Abeles AM, (2007),  
“Hyperuricemia and Gout: New Insights Pathogenesis and  
treatment”, Bulletin of the NYU for Join diseases, 65 (3), pp.  
215‐21.  
10. Sanghamitra P (2004). The role of uric acid in cardiovascular  
and renal disease and its clinical implications. Orissa Journal of  
Medical Biochesmistry,1,pp.39‐43.  
11. Underwood M (2006), “Diagnosis and management of gout”,  
BMJ, 332, pp. 1315‐19.  
KẾT LUẬN  
12. Viazzi  
F (2006). Serum uric acid as a risk factor for  
Chẩn đoán nhầm bệnh gút với viêm khớp  
nhiễm khuẩn chiếm tỉ lệ khá cao, dẫn đến lạm  
dụng kháng sinh.  
cardiovascular and renal disease: an old controversy revived.  
The journal of clinical hypertension; 8, pp. 510‐18.  
Ngày nhận bài báo  
Ngày phản biện nhận xét bài báo:  
Ngày bài báo được đăng:  
01‐7‐2013  
07‐7‐2013  
01‐8‐2013  
Bệnh gút ở bệnh nhân lớn tuổi đa số là gút  
mạn tính, tổn thương nhiều khớp.  
Cần phải điều trị gút song song với điều trị  
các bệnh nội khoa của người lớn tuổi, đặc biệt  
tăng huyết áp và đái tháo đường.  
274  
Hội Nghị Khoa Học Nội Khoa Toàn Quốc năm 2013  
pdf 5 trang yennguyen 15880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm của bệnh gút ở người lớn tuổi tại khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Thống Nhất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_cua_benh_gut_o_nguoi_lon_tuoi_tai_khoa_noi_co_xuong.pdf