Kết quả bước đầu của tạo hình gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi bằng vạt đùi trước ngoài

Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU CỦA TẠO HÌNH GẦN TOÀN BỘ VÀ TOÀN BỘ  
LƯỠI BẰNG VẠT ĐÙI TRƯỚC NGOÀI  
1
1
2
3
NGUYỄN QUỐC CẨN , NGUYỄN ANH KHÔI , NGÔ THỊ XUÂN THẮM , LÊ HÙNG KHƯƠNG  
TÓM TẮT  
Điều trị bệnh nhân với cắt toàn bộ lưỡi tạo ra thách thức cho phẫu thuật tạo hình. Vạt đùi trước ngoài  
là một trong những lựa chọn được ưa thích hiện nay. Có 38 bệnh nhân chẩn đoán ung thư lưỡi tiến xa  
được cắt toàn bộ lưỡi và tạo hình bằng vạt đùi trước ngoài. Có 1 trường hợp hoại tử vạt toàn bộ với tỷ lệ  
thành chuyển vạt thành công là 97%. Tỷ lệ sống còn sau thời gian theo dõi trung bình 8 tháng là 79%. Sự  
phục hồi chức năng nói và nuốt là chấp nhận được. Chúng tôi tin rằng vạt đùi trước ngoài là lựa chọn tốt  
cho tạo hình cắt toàn bộ lưỡi.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cắt gần toàn bộ hay toàn bộ lưỡi là chỉ định cho  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu được tiến hành tại Khoa Ngoại đầu  
cổ, hàm mặt bệnh viện Ung Bướu TP. HCM. Tất cả  
những bệnh nhân được cắt toàn bộ lưỡi và tạo hình  
bằng vạt đùi trước ngoài từ 2/2019 đến 8/2020.  
Những đặc điểm của bệnh nhân và kết quả lâm sàng  
được ghi nhận bao gồm: tuổi, giới, vị trí bướu, giai  
đoạn T, tình trạng di căn hạch,giải phẫu bệnh của  
bướu; cũng như những thông tin ghi nhận về kỹ  
thuật tạo hình (thời gian lấy vạt, số lượng đảo da…),  
điều trị bổ túc sau mổ.  
những trường hợp ung thư lan rộng ở vị trí sàn  
miệng, lưỡi di động hoặc đáy lưỡi.Trước khi có  
những tiến bộ của kỹ thuật tạo hình, cắt toàn bộ lưỡi  
tàn phá nặng nề đến chức năng nói và nuốt của  
bệnh nhân; thậm chí phải phẫu thuật cắt thanh quản  
toàn phần kèm theo mặc dù ung thư không lan đến  
cơ quan này để tránh nguy cơ hít sặc vào đường  
thở. Với sự ra đời của vạt có cuống và vạt tự do, tạo  
hình lưỡi sau cắt toàn bộ lưỡi giúp phục hồi chức  
năng nói và nuốt của bệnh nhân; đồng thời bảo tồn  
thanh quản.  
Những dữ liệu sau mổvà chất lượng cuộc sống  
của bệnh nhân được thu thập và đánh giá như: Tỷ lệ  
sống còn vạt, biến chứng sau mổ, thời gian nằm  
viện,tỷ lệ tái phát, phục hồi chức năng nói và nuốt.  
Có rất nhiều vạt tạo hình được lựa chọn trong  
đó có vạt có cuống như vạt cơ ngực lớn, vạt trên  
đòn; cũng như vạt tự do như vạt cơ thẳng bụng và  
vạt đùi trước ngoài. Mục tiêu của tạo hình trong cắt  
toàn bộ lưỡi là tái lập lại thể tích lưỡi tạo hình đủ lớn  
; giúp dễ dàng đẩy thức ăn khi nuốt và đồng thời bảo  
vệ đường thở, phục hồi chức năng nói.  
Phương pháp nghiên cứu là can thiệp không  
nhóm chứng. Chức năng nói và nuốt được đánh giá  
theo bảng bên dưới bởi ít nhất 3 bác sĩ.  
Bảng 1. Đánh giá chức năng nói[2]  
Từ khi được giới thiệu bởi Song và các cộng sự  
1984,vạt đùi trước ngoài ngày càng trở nên phổ biến  
và là một trong những chọn lựa hàng đầu cho tạo  
hình khuyết hổng vùng đầu cổ[1]. Ưu điểm của vạt là  
thiết kế tùy biến về thành phần và thể tích tùy theo  
khuyết hổng, cuống mạch máu dài, đường kính  
mạch máu lớn và di chứng để lại nơi cho vạt thấp.  
0
1
2
3
4
Không bao giờ hiểu, phải giao tiếp bằng chữ viết  
Khó để hiểu  
Thường là hiểu, phải giao tiếp trực tiếp  
Hầu hết là hiểu, đôi khi phải nói lại  
Luôn luôn hiểu  
Ngày nhận bài: 12/10/2020  
Ngày phản biện: 03/11/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 05/11/2020  
Địa chỉ liên hệ: Nguyễn Quốc Cẩn  
1 BSCKI. Khoa Ngoại đầu cổ, hàm mặt - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
2 TS.BS. Trưởng Khoa Ngoại đầu cổ, hàm mặt - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM;  
Phó Trưởng Bộ môn Ung Bướu ĐHYK Phạm Ngọc Thạch  
3 BSCKII. Phó Trưởng Khoa Ngoại đầu cổ, hàm mặt - Bệnh viện Ung Bướu TP. HCM  
98  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
Bảng 2. Đánh giá chức năng nuốt của hốc miệng[3]  
Mức  
độ  
Mô tả  
1
2
Miệng không nuốt được gì  
Phụ thuộc vào ống nuôi ăn, nuốt được thức ăn và  
nước tối thiểu  
3
4
5
6
Phụ thuộc vào ống nuôi ăn, thường xuyên nuốt được  
thức ăn và nước  
Nuốt thức ăn với một độ đặc nhất định bằng miệng  
hoàn toàn  
Hình 2. Khuyết hổng lưỡi và thành bên hầu tạo hình  
với vạt đùi trước ngoài 2 đảo  
Nuốt thức ăn với nhiều độ đặc bằng miệng hoàn  
toàn, thức ăn được lựa chọn hoặc chuẩn bị đặc biệt  
Thời gian lấy vạt trung bình là 124 phút, kích  
thước vạt trung bình là 6 x 10cm. Trong đó có  
6 trường hợp chúng tôi lấy 2 đảo da dựa trên  
2 nhánh xuyên để tạo hình khuyết hổng ở 2 bình  
diện khác nhau (lưỡi - thành bên hầu: 3 trường hợp;  
lưỡi - da dưới cằm: 3 trường hợp). Một trường hợp  
chúng tôi phải lấy 2 vạt đùi trước ngoài tạo hình cho  
khuyết hổng lưỡi và da dưới cằm do vạt chỉ có  
1 nhánh xuyên.  
Nuốt thức ăn với nhiều độ đặc bằng miệng hoàn  
toàn, thức ăn không cần chuẩn bị đặc biệt nhưng chỉ  
với một số nhóm thức ăn giới hạn  
7
Nuốt thức ăn bằng miệng hoàn toàn, không có bất  
kỳ trở ngại nào  
KẾT QUẢ  
Trong thời gian nghiên cứu có 38 bệnh nhân  
ung thư lưỡi lan rộng được cắt toàn bộ lưỡi và tạo  
hình bằng vạt đùi trước ngoài. Độ tuổi trung bình của  
bệnh nhân là 47 (khoảng tuổi 30 - 63), có 25 nam và  
13 nữ. Chúng tôi có 2 trường hợp ung thư đáy lưỡi,  
2 trường hợp ung thư sàn miệng và 34 trường hợp  
còn lại là ung thư lưỡi. Giai đoạn bệnh của tất cả  
bệnh nhân là T4 với giải phẫu bệnh hầu hết là  
carcinom tế bào gai, chỉ có 1 trường hợp là carcinom  
bọc dạng tuyến; có 28 trường hợp có di căn hạch  
(N1: 5,N2:11,N3:13). Tất cả bệnh nhân được xạ trị  
bổ túc sau mổ.  
Chúng tôi chuyển vạt thành công 37 trường hợp  
đạt tỷ lệ 97%. Có 2 trường hợp tắc mạch; một  
trường hợp tắc tĩnh mạch chúng tôi tái thông được  
mạch; và 1 trường hợp tắc động mạch phát hiện trễ  
nên chúng tôi không cứu được vạt và phải tạo hình  
lại bằng vạt cơ ngực lớn. Chảy máu sau mổ có 5  
trường hợp. Dò nước bọt xuống cổ có 5 trường hợp.  
Thời gian nằm viện trung bình là 18 ngày. Tất cả các  
trường hợp đều được khai khí đạo dự phòng sau mổ  
và rút ống khai khí đạo trung bình 8 ngày sau.  
Hầu hết bệnh nhân đều ăn được qua đường miệng  
sau xuất viện; chức năng nói phục hồi khá tốt (theo  
bảng tóm tắt). Có 8 trường hợp tử vong sau thời  
gian theo dõi trung bình là 8 tháng; trong đó có  
7 trường hợp tái phát (tại chỗ: 5,di căn xa: 2), một  
trường hợp chết do bệnh lý kèm theo là viêm phổi.  
Bảng kết quả  
Giới  
Nam  
Nữ  
25(65%)  
13(35%)  
Vị trí bướu  
Lưỡi  
34(90%)  
2(5%)  
Hình 1. Hình ảnh bệnh nhân cắt toàn bộ lưỡi  
Đáy lưỡi  
Sàn miệng  
Giai đoạn T  
T4  
hậu phẫu ngày 7  
2(5%)  
38(100%)  
10(26%)  
Hạch di căn  
N0  
99  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
BÀN LUẬN  
Phẫu thuật cắt ung thư lưỡi lan rộng tạo ra  
N1  
5(13%)  
11(29%)  
13(32%)  
N2  
khuyết hổng rất lớn trong hốc miệng đòi hỏi phải tạo  
hình bằng vạt có kích thước lớn tương ứng. Do nguy  
cơ hít sặc sau mổ nên trước kia những trường hợp  
cắt toàn bộ lưỡi phải kèm theo cắt thanh quản toàn  
phần. Chiến lược điều trị để làm giảm nguy cơ hít  
sặc này là phải tạo hình với vạt có kích thước đủ lớn  
và tạo độ lồi của vạt sao cho vạt có thể tiếp xúc với  
vòm khẩu cái cứng. Chức năng nói và nuốt cũng liên  
quan mật thiết với những đặc điểm này của vạt tạo  
hình[4-6]. Trong nghiên cứu của chúng tôi hầu hết các  
trường hợp bệnh nhân đều ăn qua đường miệng  
sau trung bình khoảng 18 ngày và thường là thức ăn  
bán lỏng như cháo và chức năng nói có thể hiểu  
được khi giao tiếp. Có 2 bệnh nhân phải phụ thuộc  
vào ống nuôi ăn sau mổ và 2 trường hợp này chức  
năng nói cũng hồi phục ít. Trong đó một trường hợp  
có khuyết hổng lan rộng 2 bình diện từ lưỡi lan  
thành bên hầu, chúng tôi sử dụng 1 vạt tạo hình  
phần lưỡi sang thành bên hầu nên sau tạo hình  
phần lưỡi bị lõm ảnh hưởng đến chức năng nuốt và  
nói. Trường hợp còn lại bệnh nhân quá gầy nên vạt  
đùi mỏng (< 1cm) không tạo được độ lồi của vạt.  
Để khắc phục tình trạng phải tạo hình vạt cho nhiều  
bình diện khác nhau chúng tôi sử dụng vạt 2 đảo da  
dựa trên 2 nhánh xuyên của vạt đùi trước ngoài.  
tácgiả Di Deng và cộng sự báo cáo 18 trường hợp  
ung thư đầu cổ tái phát và tạo hình bằng vạt đùi  
trước ngoài 2 đảo da với kết quả chuyển vạt thành  
công 98%[7]. Trong nghiên cứu của chúng tôi có  
6 trường hợp với 3 trường hợp khuyết hổng lưỡi -  
thành bên hầu và 3 trường hợp lưỡi - da dưới cằm;  
cả 6 trường hợp đều chuyển vạt thành công.  
Tuy nhiên điều kiện để chia đảo da là phải có ít nhất  
2 nhánh xuyên. Y văn ghi nhận có 74% những  
trường hợp có ít nhất 2 nhánh xuyên[8]. Vạt 2 đảo da  
giúp tiết kiệm thời gian tạo hình cho khuyết hổng thứ  
2 và di chứng không cần thiết nếu lấy thêm vạt.  
N3  
Giải phẫu bệnh  
Carcinom tế bào gai  
Carcinom bọc dang tuyến  
Thời gian lấy vạt trung bình  
Kích thước vạt trung bình  
Số lượng vạt  
1 đảo da  
37(97%)  
1(3%)  
124 phút  
5x10cm  
31(81%)  
6(15%)  
1(4%)  
2 đảo da  
2 vạt  
Chuyển vạt thành công  
Biến chứng  
37(97%)  
Hoại tử toàn bộ vạt  
Tắc mạch  
1
2
Chảy máu  
5
5
Dò hốc miệng - cổ  
Thời gian nằm viện trung bình  
Theo dõi sau mổ  
Thời gian trung bình  
Sống  
18 ngày  
8 tháng  
30(79%)  
Chết  
8(21%)  
Tái phát  
7
5
2
Tại chỗ  
Di căn xa  
Bảng chức năng nói và nuốt sau mổ  
Chức năng nói  
4 điểm  
3 điểm  
10 (26%)  
20 (52%)  
6 (15%)  
2 (7%)  
Trong nghiên cứu này chúng tôi chuyển vạt  
thành công 37/38 đạt tỷ lệ 97%; tỷ lệ cao so với các  
nghiên cứu khác[9,10]. Chúng tôi có 2 trường hợp tắc  
mạch sau mổ; một trường hợp tắc động mạch được  
phát hiện trễ sau chảy máu vào ngày thứ 5. Trường  
hợp thứ 2 là tắc tĩnh mạch vào ngày thứ 4, vạt thay  
đổi màu sắc và khi kiểm tra thấy tắc tĩnh mạch,  
miệng nối tĩnh mạch tắc là với tĩnh mạch hầu ngoài,  
chúng tôi bơm rửa và nối lại với nhánh của tĩnh  
mạch hầu trong với kết quả mạch máu tái thông tốt  
sau đó.  
2 điểm  
1 điểm  
Chức năng nuốt  
7 diểm  
2 (5%)  
21 (55%)  
8 (21%)  
5 (13%)  
2 (6%)  
6 điểm  
5 điểm  
4 điểm  
3 điểm  
Trong nghiên cứu của chúng tôi có 5 trường  
hợp dò hốc miệng - cổ do hở vạt trong miệng; gặp  
nhiều ở sàn miệng trướcvà đáy lưỡi.Okazaki và  
cộng sự đề xuất vùi 1 phần vạt (đã bỏ phần biểu bì )  
100  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
xuống vùng sàn miệng và khâu cố định vào xương  
hàm dưới để lấp đầy sàn miệng giảm tình trạng dò  
nướt bọt sau mổ[11].Trong nghiên cứu chúng tôi ở  
những ca đầu tiên vạt được đính vào khuyết hổng  
bằng mũi đơn không liên tục, sau đó, chúng tôi  
chuyển sang khâu bằng mũi chữ “U” và nhận thấy  
giảm hẳn tình trạng dò hốc miệng - cổ.  
6months. American Journal of Otolaryngology,  
2018. 39: p. 317-320.  
4. Kimata, Y., et al., Postoperative complications  
and functional results after total glossectomy  
with  
microvascular  
reconstruction.  
Plast  
Reconstr Surg. 2000 Oct;106(5):1028-35. doi:  
10.1097/00006534-200010000-00012.  
Nghiên cứu của chúng tôi có thời gian theo dõi  
trung bình 8 tháng (ngắn nhất 3 tháng và dài nhất  
21 tháng) và hiện đang có 32 bệnh nhân đang theo  
dõi và không tái phát; đạt tỉ lệ sống còn không bệnh  
79%. Bước đầu cao hơn một số nghiên cứu khác,  
tuy nhiên thời gian theo dõi sau điều trị một số ca  
của chúng tôi còn ngắn[12,13]. Nghiên cứu chúng tôi  
có 8 trường hợp tử vong, với 7 trường hợp tái phát  
và 1 trường hợp chết vì viêm phổi trong quá trình xạ  
trị bổ túc. Những trường hợp tái phát này phần lớn  
trong khoảng thời gian đầu nghiên cứu; khi chúng tôi  
cắt lưỡi qua ngã miệng, chừa lại 1 phần cơ trên  
móng. Sau đó chúng tôi thực hiện cắt bướu bằng kỹ  
thuật “pull through” (cắt nhóm cơ trên móng và kéo  
lưỡi xuống phẫu trường cổ)và chẻ xương hàm dưới  
; kết quả bước đầu tỉ lệ tái phát giảm hơn lúc đầu;  
nhưng kết quả này cũng cần thời gian theo dõi thêm.  
5. Weber, R.S., et al., Functional results after total  
or near total glossectomy with laryngeal  
preservation. Arch Otolaryngol Head Neck Surg.  
1991  
May;117(5):512-5.  
doi:  
10.1001/archotol.1991.01870170058013.  
6. Suh, J.D., et al., Analysis of outcome and  
complications in 400 cases of microvascular  
head and neck reconstruction. Arch Otolaryngol  
Head Neck Surg. 2004 Aug; 130(8): 962 -6. doi:  
10.1001/archotol.130.8.962.  
7. Deng, D., et al., Double-island anterolateral thigh  
free flap used in reconstruction for salvage  
surgery for locally recurrent head and neck  
carcinoma. Medicine. 97(41): p. e12839-e12839.  
8. Patrik pipkorn, o.v.z., anterolateral thigh (alt) free  
flap for head and neck reconstruction open  
access atlas of otolaryngology, head & neck  
operative surgery.  
KẾT LUẬN  
Cắt toàn bộ lưỡi là phẫu thuật tàn phá đòi hỏi  
bắt buộc phải tạo hình nhằm khôi phục lại chức năng  
nói và nuốt cho bệnh nhân. Thể tích vạt cần cho tái  
tạo toàn bộ lưỡi lớn và vạt đùi trước ngoài đáp ứng  
tốt cho yêu cầu này. Trong nghiên cứu này bên cạnh  
kết quả khả quan về mặt ung thư học là khả năng  
nói và nuốt cũng phục hồi khá tốt góp phần tăng chất  
lượng cuộc sống cho bệnh nhân ung thư lưỡi giai  
đoạn tiến xa.  
9. Wei, F.-c., et al., Have we found an ideal soft-  
tissue flap? An experience with 672 anterolateral  
thigh flaps. Plastic and reconstructive surgery,  
2002. 109(7): p. 2219-26; discussion 2227-30.  
10. Bianchi, B., et al., The free anterolateral thigh  
musculocutaneous flap for head and neck  
reconstruction: one surgeon's experience in 92  
cases. Microsurgery. 2012 Feb;32(2):87-95. doi:  
10.1002/micr.20952. Epub 2012 Jan 20.  
LỜI CẢM ƠN  
Để thực hiện và hoàn thành nghiên cứu này ,  
chúng tôi xin cảm ơn Sở Khoa học và Công nghệ  
Thành Phố Hồ Chí Minh đã tài trợ với mã nghiên  
cứu của chúng tôi là 93/2019/HĐ-QPTKHCN.  
11. Okazaki, M., et al., Reconstruction with rectus  
abdominis  
myocutaneous  
flap  
for  
total  
glossectomy with laryngectomy. J Reconstr  
Microsurg. 2007 Jul;23(5):243-9. doi: 10.1055/s-  
2007-981502.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Y. G. SONG, G.Z.C., and Y. L. SONG The free  
thigh flap: a new free flap concept based on the  
septocutaneous artery British Journal of Plastic  
Surgery 1984. 37: p. 149-159.  
12. Vega, C., et al., Total or subtotal glossectomy  
with microsurgical reconstruction: functional and  
oncological  
results.  
Microsurgery.  
2011  
Oct;31(7):517-23. doi: 10.1002/micr.20922. Epub  
2011 Sep 23.  
2. List MA, R.-S.C., Lansky SB, A Performance  
Status Scale for Head and Neck Cancer  
Patients. cancer, 1990. 66: p. 564-569.  
13. Han, A.Y., et al., Total Glossectomy With Free  
Flap Reconstruction: Twenty-Year Experience at  
a Tertiary Medical Center. Laryngoscope. 2019  
May;129(5):1087-1092. doi: 10.1002/lary.27579.  
Epub 2019 Jan 22.  
3. Khoi Anh Nguyen, T.X.B., Hue Van Nguyen,  
Richard O. Wein, Progressive functional  
improvement in hemiglossectomy defects  
reconstructed with radial forearm free flap at  
101  
Tạp chí Ung thư học Việt Nam Số 5 - 2020 - Tập 1  
Journal of Oncology Viet Nam - Issue N5 - 2020 - Vol 1  
ABSTRACT  
Preliminary results of total or subtotal glossectomy defects reconstruction using  
anterolateral thigh flap  
Patient management with total glosectomy pose chalenge for reconstruction of complex three dimentional  
tongue defects. The anterolateral thigh flap (ALT) is one of the most preferred options in reconstruction for total  
glosectomy. Thirty eight consecutive patients with advanced carcinoma of the tongue undergoing total  
glosectomy and reconstruction with a ALT free flap. There was one complete flap failure, with a resultant flap  
success rate of 97%. The survival rate after mean follow-up period of 8 months was 79%. The restoration of  
speech and deglutition is aceptable. We believe ALT free flap is a good choice for total glosectomy  
reconstruction mouth reconstruction.  
The LAF flap is a common flap that can be used to reconstruction for many positions. This was first  
described in 1982 by Song et al. By 1991, Katsaros J and Kuek L.B reported using extended lateral arm free  
flap for arm, shoulder, and head and neck defection. LAF can be harvested as fasciocutaneous or  
osteofascicutaneous flap. In this article, we present surgical techniques, advantages and disadvantages of  
using the extended lateral arm free flap, and report some of the clinical cases that have been performed in the  
Head and Neck Surgery Department in the past year. We evaluate that the extended lateral arm free flap is a  
fairly flexible flap, simple flap harvesting, and conducive to reconstructing head and neck flaps.  
102  
pdf 5 trang yennguyen 21120 Free
Bạn đang xem tài liệu "Kết quả bước đầu của tạo hình gần toàn bộ và toàn bộ lưỡi bằng vạt đùi trước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfket_qua_buoc_dau_cua_tao_hinh_gan_toan_bo_va_toan_bo_luoi_ba.pdf