Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
Bài tổng quan  
Open Access Full Text Article  
Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố  
nước ngoài  
Ngô Minh Phương Thảo*  
TÓM TẮT  
Toàn cầu hóa là cầu nối để các quốc gia xích lại gần nhau hơn, không chỉ lĩnh vực lao động và  
thương mại quốc tế phát triển mà quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
trở nên phổ biến. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì ly hôn có yếu tố  
nước ngoài là một nội dung quan trọng luôn nhận được sự quan tâm nhất định của các nhà làm  
luật. Hiện nay, các quy định của Tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố  
nước ngoài tương đối đầy đủ, có thể giải quyết được phần lớn những vấn đề liên quan phát sinh  
từ thực tiễn, bảo vệ được quyền lợi của công dân Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ. Tuy nhiên,  
nhìn một cách tổng thể từ các điều khoản xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với vụ việc  
ly hôn có yếu tố nước ngoài đến cách thức xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ pháp lý này  
thì vẫn còn một số vướng mắc cần phải được làm rõ. Từ kinh nghiệm trong ngành luật Tư pháp  
quốc tế của các nước, mà cụ thể là pháp luật EU và Tư pháp quốc tế Bỉ quy định về ly hôn có yếu  
tố nước ngoài, bài viết sẽ chỉ ra một số bất cập cơ bản, đồng thời góp phần đề xuất các giải pháp  
hoàn thiện tương ứng cho pháp luật Việt Nam cũng như phù hợp với nền tảng kinh tế, chính trị và  
xã hội của nước ta.  
Từ khoá: Ly hôn có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền tòa án, pháp luật áp dụng, Tư pháp quốc tế  
Tư pháp quốc tế Việt Nam nghiên cứu ly hôn có yếu  
tố nước ngoài dưới 03 góc độ: (a) Xác định thẩm  
quyền của Tòa án Việt Nam (giải quyết xung đột thẩm  
quyền) đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài; (b)  
Xác định pháp luật áp dụng (giải quyết xung đột pháp  
luật) trong ly hôn có yếu tố nước ngoài và; (c) Công  
nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, sự phát triển của  
khoa học - công nghệ và giao lưu quốc tế không chỉ tác  
động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh tế mà còn làm biến  
đổi sâu sắc xã hội của một quốc gia. Những gia đình  
đa quốc tịch xuất hiện ngày càng nhiều làm tiền đề  
Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG  
cho sự hình thành các vụ việc ly hôn xuyên biên giới  
(có yếu tố nước ngoài) với tình tiết ngày càng phức  
tạp. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.  
eo Điều 3.14 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly  
hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,  
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đối với  
ly hôn có yếu tố nước ngoài thì các nhà làm luật Việt  
Nam không đưa ra khái niệm cụ thể cho quan hệ pháp  
lý này. Tuy nhiên, chúng ta có thể dựa vào Điều 3.25  
Luật hôn nhân và gia đình 2014 để định nghĩa, theo  
đó, ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc một trong các  
trường hợp sau: (i) ít nhất một bên tham gia là người  
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (ii)  
các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để  
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát  
sinh tại nước ngoài hoặc (iii) tài sản liên quan đến quan  
hệ đó ở nước ngoàia.  
HCM, Việt Nam  
Tòa án nước ngoài. Quy định của pháp luật Việt Nam  
liên quan đến các nội dung trên về cơ bản đã đáp ứng  
được các yêu cầu từ thực tiễn, thế nhưng, vẫn còn rất  
nhiều tình huống có thể xảy ra nhưng thiếu vắng quy  
định pháp luật tương ứng.  
Bài viết này sẽ góp phần đề xuất một số giải pháp  
nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam  
điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài ở hai phương  
diện chính là xác định thẩm quyền của Tòa án Việt  
Nam và xác định pháp luật áp dụng giải quyết vụ việc  
ly hôn có yếu tố nước ngoài. Riêng đối với vấn đề công  
nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của  
Tòa án nước ngoài sẽ được tác giả đề cập ở một bài  
Liên hệ  
Ngô Minh Phương Thảo, Trường Đại học  
Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM, Việt Nam  
Email: [email protected]u.vn  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 12/01/2021  
• Ngày chấp nhận: 21/5/2021  
• Ngày đăng: 30/5/2021  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.751  
Bản quyền  
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ mà  
ít nhất một trong các bên tham gia là người nước ngoài hoặc; Các bên  
tham gia đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,  
thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc; Các  
bên tham gia đều là công dân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ  
đó ở nước ngoài”. Đối với chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước  
ngoài, nếu còn giữ quốc tịch Việt Nam thì họ là công dân Việt Nam,  
ngược lại, đối tượng này là công dân nước ngoài.  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
aeo quan điểm của tác giả, Điều 3.25 Luật hôn nhân và gia đình  
2014 nên được sửa đổi theo hướng phù hợp với quy định tại Điều  
663.2 BLDS 2015 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:  
Trích dẫn bài báo này: Thảo N M P. Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố  
nước ngoài. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1611-1618.  
1611  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
viết khác.  
• Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người  
không quốc tịchf, nếu cả hai vợ chồng cư trú,  
làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.  
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT  
NAM ĐỐI VỚI VỤ VIỆC LY HÔN CÓ  
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI  
Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết  
giữa Việt Nam và các nướcb , nguyên tắc chung để  
xác định thẩm quyền của Tòa án Nước ký kết đối với  
vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài như sauc:  
Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền riêng biệt đối  
với yêu cầu ly hôn (không có yếu tố tranh chấp) giữa  
công dân Việt Nam và công dân nước ngoài hoặc  
người không quốc tịch nếu các bên đều cư trú, làm ăn,  
sinh sống tại Việt Nam theo quy định tại Điều 470.2.a  
BLTTDS 2015.  
Như vậy, pháp luật Việt Nam sử dụng yếu tố “quốc  
tịch” và yếu tố “nơi cư trú” để xác định thẩm quyền  
của Tòa án đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.  
Đây là hai yếu tố có mối liên hệ mật thiết nhất với ly  
hôn, gắn liền với nhân thân của một cá nhân. Đặc  
biệt, yếu tố “quốc tịch” rất được chú trọng, là một tiêu  
chí cơ bản để xác định thẩm quyền của Tòa án quốc  
gia liên quan đến vụ việc nàyg.  
• Nếu hai vợ chồng cùng quốc tịch thì Tòa án  
Nước ký kết nơi vợ chồng là công dân có thẩm  
quyền;  
• Nếu hai vợ chồng không cùng quốc tịch thì Tòa  
án Nước ký kết nơi vợ chồng cùng cư trú có  
thẩm quyền;  
• Nếu hai vợ chồng không cùng quốc tịch và  
không cùng nơi cư trú thì Tòa án Nước ký kết  
nhận được đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu  
trước có thẩm quyền.  
Có thể thấy, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chungh  
hay thẩm quyền riêng biệti là phụ thuộc vào “nơi  
thường trú” của các đương sự (và một trong các bên  
đương sự này là công dân Việt Nam). Nếu các đương  
sự thường trú tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có  
thẩm quyền riêng biệt, ngược lại, nếu các bên không  
thường trú tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm  
quyền chung.  
ực tiễn xét xử của Tòa án Việt Nam cho thấy, việc  
phân biệt thẩm quyền chung hay thẩm quyền riêng  
biệt của Tòa án đối với từng vụ việc ly hôn cụ thể  
không phải lúc nào cũng dễ dàng. ậm chí, Tòa án  
thường có xu hướng viện dẫn cả Điều 469.1.d và Điều  
470.1.b của BLTTDS 2015 để xác định thẩm quyền  
của Tòa án Việt Nam, trong khi nội dung của các quy  
eo quy định tại Điều 469.1.d Bộ luật Tố tụng dân sự  
năm 2015 (sau đây BLTTDS 2015), Tòa án Việt Nam  
có thẩm quyền chung đối với vụ việc ly hôn có yếu tố  
nước ngoài mà trong đó:  
• Nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam.  
Đây là trường hợp công dân Việt Nam ly hôn  
với công dân nước ngoài mà một trong các bên  
đương sự ở Việt Nam hoặc các đương sự đều ở  
nước ngoài.  
• Các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm  
ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Namd.  
Ngoài ra, đối với các trường hợp sau thì Tòa án Việt định này là hoàn toàn khác nhau.  
Nam có thẩm quyền riêng biệt (Điều 470.1.b BLTTDS  
2015):  
Chẳng hạn, theo Bản án số 03/2018/HNGĐ-ST ngày  
22/11/2018 của TAND tỉnh Đắk Lắk5, chị Nguyễn ị  
Cẩm T (công dân Việt Nam) và anh William Kin-SW  
(Wong W- công dân Canada) kết hôn với nhau dựa  
• Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công  
dân nước ngoàie nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm  
ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;  
f Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam  
cũng không có quốc tịch nước ngoài [2, Điều 3.2].  
bHiện nay, Việt Nam đã ký kết 18 Hiệp định tương trợ tư pháp với  
các quốc gia trong lĩnh vực tư pháp quốc tế. Xem thêm:1.  
cVí dụ, Điều 25 HĐTTTP Việt Nam - Cuba; Điều 27 HĐTTTP  
Việt Nam - Lào; Điều 25 HĐTTTP Việt Nam - Liên Bang Nga; Điều  
26 HĐTTTP Việt Nam - Ucraina; Điều 26 HĐTTTP Việt Nam -  
Mông Cổ; Điều 28 HĐTTTP Việt Nam - Belarut;…  
gCác nhà làm luật Việt Nam dường như “ưu ái” nguyên tắc luật  
quốc tịch so với nguyên tắc luật nơi cư trú. Vấn đề này xuất phát từ  
rất nhiều nguyên nhân. Riêng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài,  
theo quan điểm của tác giả, thì đây là một trong những cách thức hữu  
hiệu để bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ  
Việt Nam khi mà thực tế cho thấy, số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn  
với người nước ngoài đang ngày càng gia tăng.  
dPháp luật Việt Nam hiện hành chưa có quy định cụ thể để làm  
rõ cụm từ “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam”. Tuy nhiên,  
có thể căn cứ vào [2, Điều 3.5] và [3, Điều 3; Điều 31 – Điều 43], nếu  
như người nước ngoài đáp ứng được các điều kiện theo quy định của  
pháp luật Việt Nam để được cấp ẻ tạm trú và ẻ thường trú thì họ  
thuộc đối tượng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Cách  
hiểu như trên sẽ mở rộng phạm vi thẩm quyền của Tòa án Việt Nam  
lên các đối tượng này thay vì chỉ ảnh hưởng đến đối tượng “thường  
trú” tại Việt Nam.  
hẩm quyền chung được hiểu là Tòa án Việt Nam và Tòa án quốc  
gia liên quan đều có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố  
nước ngoài đó. Do đó, Tòa án nào nhận được đơn kiện trước thì Tòa  
án đó có thẩm quyền giải quyết.  
iẩm quyền riêng biệt được hiểu là chỉ duy nhất Tòa án Việt Nam  
có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài  
đó. Nếu Tòa án nước ngoài liên quan nhận được đơn kiện thì phải từ  
chối thụ lý, trường hợp Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết thì bản án được  
ban hành bởi Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi  
hành tại Việt Nam. Xem thêm: [4, Điều 439.4].  
eNgười nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam [2, Điều  
3.1].  
1612  
               
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND điểm này thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung  
tỉnh Đắk Lắk vào ngày 28/4/2009. Sau khi kết hôn,  
anh Wong W về lại Canada sinh sống và không quay  
lại Việt Nam nữa. Do điều kiện xa cách, hai bên không  
thể chung sống với nhau như vợ chồng, nay tình cảm  
vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt  
được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được  
ly hôn với anh Wong W mà không có tranh chấp về  
tài sản chung và con chung.  
Dựa vào tình tiết ở trên, có thể kết luận, đây là vụ việc  
ly hôn có yếu tố nước ngoài. ời điểm chị T nộp  
đơn yêu cầu ly hôn tại TAND tỉnh Đắk Lắk thì chị T  
thường trú tại Việt Nam, còn anh Wong W thường  
trú tại Canada. Vì vậy, vụ việc này tương ứng với  
Điều 469.1.d BLTTDS 2015, do đó, thuộc thẩm quyền  
chung của Tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, TAND tỉnh  
Đắk Lắk lại áp dụng Điều 469.1.d và Điều 470.1.b  
BLTTDS 2015 để xác định thẩm quyền của Tòa án.  
Cần lưu ý thêm là, Điều 470.1.b BLTTDS 2015 chỉ  
được áp dụng khi đó là vụ án ly hôn (có tranh chấp về  
tài sản hoặc quyền nuôi con hoặc cả hai) chứ không  
phải là yêu cầu về ly hôn (không có tranh chấp). Từ đó  
cho thấy, TAND tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng chưa chính  
xác quy định của pháp luật.  
Hay tại Bản án số 02/2019/HNGĐ-ST ngày  
22/01/2019 của TAND tỉnh Đồng áp, Tòa án cũng  
viện dẫn Điều 470.1.b BLTTDS 2015 để xác định  
thẩm quyền riêng biệt của Tòa án trong khi nội dung  
vụ việc cho thấy, đây cũng là yêu cầu ly hôn giữa các  
đương sự mà không có tranh chấp về tài sản chung  
cũng như quyền nuôi con. Mặt khác, thời điểm một  
trong các bên đương sự là công dân Việt Nam nộp  
đơn yêu cầu ly hôn, thì bên đương sự còn lại đang  
thường trú ở nước ngoài dù trước đó các bên đều cư  
trú tại Việt Nam6. Như vậy, vụ việc này chỉ thuộc  
thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam căn cứ vào  
Điều 469.1.d BLTTDS 2015.  
Mặt khác, các Tòa án Việt Nam cũng không giải thích  
rõ ràng (và quy định của pháp luật cũng không đề cập  
đến) nơi thường trú chung của các đương sự được xác  
định tại thời điểm một trong các bên nộp đơn yêu cầu  
ly hôn hay thời điểm trước đó. Bởi lẽ, cách hiểu khác  
nhau sẽ dẫn đến cách thức áp dụng quy định của pháp  
luật sẽ khác nhau. Chẳng hạn, chị X (công dân Việt  
Nam) kết hôn với anh Y (công dân nước ngoài). Hai  
vợ chồng cùng sinh sống ổn định tại Việt Nam trong  
khoảng thời gian 03 năm. Vợ chồng cũng tạo lập được  
khối tài sản chung có giá trị. Đến năm thứ 4 thì các  
bên phát sinh mâu thuẫn, anh B trở về nước. Chị A  
nộp đơn tại Tòa án Việt Nam yêu cầu được ly hôn với  
anh B đồng thời phân chia tài sản chung.  
theo Điều 469.1.d BLTTDS 2015. Ngược lại, nếu xác  
định thời điểm hai vợ chồng cùng sinh sống trước đó  
thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt theo  
Điều 470.1.a BLTTDS 2015. Tác giả cho rằng, nơi  
thường trú của các bên đương sự sẽ được xác định  
tại thời điểm đương sự nộp đơn yêu cầu ly hônj. Cách  
hiểu như vậy sẽ phù hợp và thống nhất với giai đoạn  
tiếp theo là xác định pháp luật áp dụng giải quyết vụ  
việc ly hôn có yếu tố nước ngoài khi mà “nơi thường  
trú chung của vợ chồng” được xác định tại thời điểm  
yêu cầu ly hôn [7, Điều 127.2].  
Tóm lại, tác giả kiến nghị cần có văn bản hướng dẫn  
thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự  
về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc ly  
hôn có yếu tố nước ngoài theo hướng:  
- Vụ việc ly hôn được quy định tại Điều 469.1.d  
BLTTDS 2015 là vụ việc mà một trong các đương sự  
là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước  
ngoài cư trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn.  
- Vụ án ly hôn được quy định tại Điều 470.1.b BLTTDS  
2015 là vụ án giữa công dân Việt Nam thường trú ở  
trong nước và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam  
vào thời điểm yêu cầu ly hôn.  
- Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam là trường hợp  
người nước ngoài có đủ điều kiện để được cấp ẻ  
thường trú, ẻ tạm trú hoặc được cấp giấy miễn thị  
thực có thời hạn không quá 05 năm theo quy định của  
Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người  
nước ngoài tại Việt Nam 2014.  
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI LY  
HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI  
Pháp luật áp dụng để điều chỉnh việc ly hôn có yếu tố  
nước ngoài được ghi nhận trong các Hiệp định tương  
trợ tư pháp được ký kết giữa Việt Nam và các nướck,  
về cơ bản là:  
- Pháp luật của Nước ký kết mà hai vợ chồng là công  
dân khi đưa đơn ly hôn;  
jTrường hợp sau khi Tòa án Việt Nam thụ lý mà một trong các  
bên đương sự thay đổi nơi cư trú thì không làm thay đổi tính chất  
thẩm quyền (thẩm quyền chung hoặc thẩm quyền riêng biệt) cũng  
như thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Xem thêm: [4, Điều 471].  
kĐiều 20 HĐTTTP Việt Nam – Tiệp Khắc; Điều 25 HĐTTTP  
Việt Nam – Cuba; Điều 33 HĐTTTP Việt Nam – Hungary; Điều 22  
HĐTTTP Việt Nam –Bungary; Điều 26 HĐTTTP Việt Nam –Ba Lan;  
Điều 26 HĐTTTP Việt Nam –Ucraina; Điều 26 HĐTTTP Việt Nam  
–Mông Cổ;…Tuy nhiên, quy tắc xác định pháp luật áp dụng trong ly  
hôn có yếu tố nước ngoài ở các HĐTTTP được ký kết giữa Việt Nam  
với Lào (Điều 27); Việt Nam với Liên Bang Nga (Điều 26) và Việt  
Nam với Belarut (Điều 28) có một chút khác biệt, cụ thể như sau: (1)  
Pháp luật của Nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân; (2) Pháp luật  
của Nước ký kết nơi hai vợ chồng cùng cư trú, nếu vợ chồng có quốc  
tịch khác nhau; (3) Pháp luật của Nước ký kết có Tòa án nhận được  
đơn kiện, nếu vợ chồng không cùng nơi cư trú.  
Như vậy, tại thời điểm chị A nộp đơn ly hôn, hai vợ  
chồng không có cùng nơi thường trú, và nếu tính thời  
1613  
   
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
- Nếu hai vợ chồng không có cùng quốc tịch, pháp luật (3) Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài  
áp dụng là pháp luật của Nước ký kết có Tòa án nhận khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động  
sản đó.  
được đơn kiện.  
Pháp luật xác định tại (1) và (2) được áp dụng để điều  
chỉnh các vấn đề về điều kiện ly hôn, phân chia tài  
sản là động sản giữa vợ và chồng, phân định quyền  
nuôi con… Riêng đối với tài sản là bất động sản thì hệ  
thuộc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) được áp dụng  
triệt để. Quy định này được đánh giá là phù hợp và  
thống nhất giữa các quốc gia, nhằm tạo điều kiện dễ  
dàng hơn trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như  
vấn đề công nhận và cho thi hành bản án ly hôn liên  
quan đến bất động sản.  
Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về  
pháp luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài,  
theo đó:  
(1) Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước  
ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở  
Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền  
của Việt Nam theo quy định của Luật này.  
Quy định tại Điều 127.1 ở trên được diễn giải thành  
02 nội dung chính:  
- Công dân Việt Nam ly hôn với công dân nước ngoài  
tại Tòa án Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp  
dụng để điều chỉnh quan hệ này. Quy định này được  
áp dụng đối với: (i) Các bên đều thường trú tại Việt  
Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn và; (ii) Bên là công  
dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, (bên còn lại là  
công dân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam)  
vào thời điểm yêu cầu ly hôn. Điều này có nghĩa là,  
nếu bên là công dân Việt Nam không thường trú tại  
Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì sẽ tuân theo  
quy định tại Điều 127.2 Luật hôn nhân và gia đình  
2014.  
- Tương tự, công dân nước ngoài ly hôn với nhau mà  
cả hai đều thường trú tại Việt Nam thì pháp luật Việt  
Nam cũng được áp dụng nếu các bên nộp đơn lên Tòa  
án Việt Nam yêu cầu ly hôn.  
Ở cả hai trường hợp trên, các nhà làm luật Việt Nam  
đã áp dụng nguyên tắc luật nơi thường trú của vợ  
chồngl để giải quyết vấn đề xung đột pháp luật trong  
ly hôn có yếu tố nước ngoài.  
(2) Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không  
thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn  
thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước  
nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có  
nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt  
Nam.  
Đây là quy định nối tiếp Điều 127.1, nếu bên là công  
dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam thì ưu  
tiên áp dụng pháp luật nơi thường trú chung của vợ  
chồngm, nếu các bên có nơi thường trú khác nhau thì  
pháp luật của nước có Tòa án giải quyết đơn kiện sẽ  
được áp dụng theo nguyên tắc Lex fori.  
Từ các nội dung được quy định tại Điều 127 ở trên,  
có thể rút ra một vài nhận xét như sau:  
ứ nhất, nguyên tắc luật nơi thường trú của vợ chồng  
được áp dụng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố  
nước ngoài. Đó là pháp luật của nước nơi vợ chồng  
cùng thường trú hoặc có thể là pháp luật của nước  
nơi thường trú của một bên vợ, chồng (là công dân  
Việt Nam).  
ứ hai, Khoản 2 Điều 127 quy định chưa rõ ràng  
“trường hợp một bên là công dân Việt Nam….”, vậy bên  
còn lại có bao gồm chủ thể là người Việt Nam định cư  
ở nước ngoài khôngn? Chính vì sự thiếu rõ ràng này  
dẫn đến các Tòa án Việt Nam, khi giải quyết các vụ  
việc ly hôn giữa công dân Việt Nam mà có ít nhất một  
bên người Việt Nam định cư ở nước ngoài, có cách  
thức xác định pháp luật áp dụng hoàn toàn khác nhau.  
Ví dụ, chị Vũ ị Kiều N (công dân Việt Nam, thường  
trú tại tỉnh Đồng Nai) nộp đơn tại TAND tỉnh Đồng  
Nai yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Trọng Đ (công  
dân Việt Nam, định cư tại Hoa Kỳ). eo Bản án số  
37/2017/ HNGĐ-ST ngày 11/08/2017 thì TAND tỉnh  
Đồng Nai đã áp dụng các quy định tại Điều 8, Điều 9,  
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82,  
Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014  
chứ không phải là các quy định tại Chương VIII Luật  
hôn nhân và gia đình 2014 về quan hệ hôn nhân và  
nỞ đây, tác giả không xét đến trường hợp bên còn lại là công dân  
nước ngoài vì là chủ thể “đương nhiên” được đề cập đến tại quy định  
này. Tác giả cũng không phân tích trường hợp công dân Việt Nam  
ra nước ngoài học tập, lao động (có thời hạn)… và địa chỉ thường  
trú vẫn ở Việt Nam thì không được xem là người Việt Nam định cư  
ở nước ngoài (vì không đáp ứng được tiêu chí cư trú, làm ăn, sinh  
sống lâu dài ở nước ngoài) nhưng thực tiễn xét xử ở một số Tòa án  
thì cho rằng những trường hợp này được xem là “người Việt Nam  
định cư ở nước ngoài” và do đó, xác định đây là quan hệ ly hôn có  
yếu tố nước ngoài. Xem thêm: Bản án số 01/2018/HNGĐ-ST ngày  
28/08/2018 của TAND tỉnh Tuyên Quang, https://thuvienphapluat.  
vn/banan/ban-an/ban-an-012018hngdst-ngay-28082018-ve-ly-hon  
-co-yeu-to-nuoc-ngoai-47227; Bản án số 20/2019/HNGĐ-ST ngày  
/upload/files/TONG%20HOP%20BAN%20AN%20-%20TRANH%  
20CHAP%20LY%20HON%20CO%20YEU%20TO%20NUOC%20  
NGOAI.pdf, truy cập ngày 29/12/2020.  
lCó thể là nơi thường trú chung của vợ chồng (xem thêm chú  
thích 13) hoặc nơi thường trú của một bên vợ, chồng (là công dân  
Việt Nam).  
m“Nơi thường trú chung của vợ chồng” được quy định trong Tư  
pháp quốc tế Việt Nam phải được hiểu là Quốc gia mà vợ chồng cùng  
thường trú. Hay nói cách khác, vợ chồng không nhất thiết phải cùng  
chung sống dưới một mái nhà, một phường, một quận, một thành  
phố, một bang…mới được xem là có “nơi thường trú chung”. Xem  
thêm: [8, tr.297].  
1614  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
gia đình có yếu tố nước ngoài để giải quyết vụ việc [9, để xác định pháp luật áp dụng đối với các vấn đề liên  
tr.64]. quan đến ly hôn. Các đề xuất này được tổng hợp trong  
Hay tại Bản án số 59/2016/HNGĐ-ST ngày một văn bản gọi là Green Paper10. eo đó, luật áp  
30/09/2016 của TAND tỉnh Nghệ An xét xử vụ án ly dụng cho ly hôn có yếu tố nước ngoài là pháp luật của  
hôn giữa Nguyên đơn là chị Đậu ị H (công dân nước nơi có mối liên hệ mật thiết nhất. Đó có thể  
Việt Nam, thường trú tại tỉnh Nghệ An) và Bị đơn là pháp luật của nước nơi vợ chồng cùng cư trú ngay  
là anh Trần Khắc T (công dân Việt Nam, định cư ở trước thời điểm yêu cầu ly hôn; pháp luật của nước  
Đức). Tòa án cũng áp dụng Điều 53, Điều 56, Điều mà vợ chồng cùng thỏa thuận lựa chọn; pháp luật của  
81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình nước nơi vợ chồng có cùng quốc tịch…  
2014 [9, tr.94].  
Ngày 20/12/2010, EU đã ban hành chính thức Nghị  
Tuy nhiên, tại Bản án số 79/2019/HNGĐ-ST ngày định số 1259/2010 về triển khai tăng cường hợp tác  
20/11/2019 của TAND thành phố Đà Nẵng liên quan trong lĩnh vực luật áp dụng cho ly hôn và ly thân hợp  
đến vụ việc ly hôn giữa ông Trương Quang Hoàng V pháp (gọi tắt là Rome III)11 và thống nhất như sau:  
(công dân Việt Nam, thường trú tại Đà Nẵng) và bà Các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp  
Huỳnh M (công dân Việt Nam, định cư tại Hoa Kỳ), dụng đối với ly hôn và ly thân (Điều 5.1 Nghị địnhp).  
TAND thành phố Đà Nẵng đã áp dụng Điều 122 và Đó là pháp luật của một trong các nước sau: (i) pháp  
Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 để làm căn luật của nước nơi vợ chồng cư trú thường xuyên vào  
cứ giải quyết việc ly hôn cho các đương sự [9, tr.26]. thời điểm xác lập thỏa thuận; (ii) Pháp luật của nước  
Bản án số 16/2017/HNGĐ-ST ngày 12/04/2018 của nơi cư trú cuối cùng của vợ chồng và một trong các bên  
TAND thành phố Đà Nẵng được ban hành trước đó vẫn cư trú thường xuyên tại đó vào thời điểm xác lập  
cũng theo hướng tương tự [9, tr.43].  
thỏa thuận; (iii) pháp luật của nước mà một trong các  
bên là công dân vào thời điểm xác lập thỏa thuận hoặc;  
(iv) pháp luật của nước có Tòa án giải quyết vụ việc.  
Trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp  
dụng thì pháp luật của một trong các nước sau sẽ được  
áp dụng (theo thứ tự) để điều chỉnh việc ly hôn (Điều  
8 Nghị địnhq):  
eo quan điểm của tác giả, trong việc ly hôn giữa  
một bên là công dân Việt Nam và một bên là công  
dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thì luật áp dụng  
cho quan hệ này là pháp luật của nước nơi vợ chồng  
có cùng quốc tịch, tức là pháp luật Việt Nam (cụ thể  
là Luật Luật hôn nhân và gia đình 2014). Trường hợp  
một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã  
từ bỏ quốc tịch Việt Nam thì đây là ly hôn có yếu tố  
- Pháp luật của nước nơi vợ chồng cư trú thường xuyên  
vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc;  
nước ngoài và do đó, quy định của Tư pháp quốc tế - Pháp luật của nước nơi cư trú cuối cùng của vợ chồng  
Việt Nam (Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 với điều kiện là thời hạn cư trú không kết thúc trước 01  
năm kể từ ngày Tòa án thụ lý và một trong các bên vẫn  
cư trú tại đó.  
- Pháp luật của nước mà vợ chồng có cùng quốc tịch;  
) sẽ được áp dụng.  
ứ ba, quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia  
đình 2014 chưa bao hàm hết các tình huống phát sinh  
trong thực tế, chẳng hạn như công dân nước X thường - Pháp luật của nước có Tòa án giải quyết vụ việc.  
trú tại Việt Nam nộp đơn tại Tòa án Việt Nam yêu cầu Các quy định tương tự cũng được tìm thấy tại Điều  
được ly hôn với công dân nước Y thường trú tại nước 55 Luật Tư pháp quốc tế của Bỉ12 về luật áp dụng đối  
Y, vậy pháp luật áp dụng để giải quyết vụ việc ly hôn với ly hôn và ly thânr:  
trên là pháp luật nước X, nước Y hay pháp luật Việt  
pNguyên văn: “e spouses may agree to designate the law ap-  
plicable to divorce and legal separation provided that it is one of the  
following laws: (a) the law of the State where the spouses are habitu-  
ally resident at the time the agreement is concluded; or (b) the law of  
the State where the spouses were last habitually resident, in so far as  
one of them still resides there at the time the agreement is concluded;  
or (c) the law of the State of nationality of either spouse at the time  
the agreement is concluded; or (d)the law of the forum”.  
Namo?  
Trước năm 2010, pháp luật EU chưa có một văn bản  
nào quy định về cách thức giải quyết xung đột pháp  
luật trong ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nhằm tạo một  
sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật giữa các  
Quốc gia thành viên và tránh vụ việc trở nên phức  
tạp, Ủy ban Châu Âu (EC) đã đề xuất một số giải pháp  
qNguyên văn: “In the absence of a choice pursuant to Article 5,  
divorce and legal separation shall be subject to the law of the State:  
(a) where the spouses are habitually resident at the time the court  
is seized; or, failing that (b) where the spouses were last habitually  
resident, provided that the period of residence did not end more than  
1 year before the court was seized, in so far as one of the spouses still  
resides in that State at the time the court is seized; or, failing that (c)  
of which both spouses are nationals at the time the court is seized; or,  
failing that (d) where the court is seized” .  
oTrong trường hợp này, Tòa án cần áp dụng Điều 122 Luật hôn  
nhân và gia đình 2014 quy định về áp dụng pháp luật đối với quan  
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Nếu Điều 122 không  
chứa đựng nội dung liên quan thì Tòa án cần viện dẫn các quy định  
về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài của BLDS 2015 (Điều 664). Tuy nhiên, đây chỉ là cách thức  
gián tiếp, chúng ta cần một quy phạm pháp luật trực tiếp quy định  
luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài.  
rNguyên văn: “§1. Divorce and legal separation are governed: 1◦  
by the law of the State where both spouses have their habitual residence  
1615  
       
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
(1) Ly hôn và ly thân được điều chỉnh bởi:  
- Pháp luật Việt Nam.  
- Pháp luật của nước nơi vợ chồng cư trú thường xuyên  
tại thời điểm yêu cầu;  
- Pháp luật của nước nơi cư trú cuối cùng của vợ chồng  
và một trong các bên vẫn cư trú ở đây tại thời điểm yêu  
cầu;  
- Pháp luật của nước mà vợ chồng có cùng quốc tịch;  
- Nếu không thuộc các trường hợp ở trên, pháp luật Bỉ  
được áp dụng.  
(2) Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp  
dụng cho vấn đề ly hôn và ly thân. Tuy nhiên, các bên  
chỉ có thể lựa chọn pháp luật của một trong các nước  
sau:  
ực tiễn Việt Nam cho thấy, chúng ta chưa nên cho  
phép các bên được thỏa thuận chọn luật áp dụng đối  
với vấn đề ly hôn, bởi lẽ, quan hệ này không đơn thuần  
chỉ là phân chia tài sản giữa vợ và chồng mà còn ảnh  
hưởng rất lớn đến quyền nhân thân, quyền của con  
chung. Do đó, với trình độ dân trí chưa cao, lại không  
đồng đều giữa các vùng miền, rất dễ dẫn đến trường  
hợp một bên áp đặt ý chí của mình vào bên còn lại.  
Mặt khác, quan hệ hôn nhân và gia đình còn gắn liền  
với văn hóa, tín ngưỡng và phong tục của mỗi quốc  
gia. Chính vì vậy, các bên không được phép chọn luật  
áp dụng cũng là một trong những cách thức bảo vệ  
trật tự công cộng và tránh tình trạng lẩn tránh pháp  
luậts, những vấn đề mà vốn dĩ nền Tư pháp nước nhà  
chưa đủ mạnh để có thể đương đầu.  
- Pháp luật của nước mà vợ chồng đều là công dân tại  
thời điểm yêu cầu;  
- Pháp luật Bỉ.  
Như vậy, nguyên tắc nơi thường trú chung của vợ  
chồng được ưu tiên áp dụng, nếu vợ chồng không có  
nơi thường trú chung thì sẽ áp dụng nguyên tắc luật  
quốc tịch. Trường hợp không thể áp dụng hai nguyên  
tắc trên thì luật áp dụng là pháp luật của nước nơi có  
Tòa án nhận được đơn kiện.  
Một vấn đề cũng cần phải nhấn mạnh là, Tư pháp  
quốc tế Bỉ cho phép các bên có quyền thỏa thuận chọn  
luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài, thế  
nhưng, việc lựa chọn này có giới hạn nhất định, theo  
đó, các bên chỉ được lựa chọn pháp luật của nước mà  
vợ chồng là công dân hoặc pháp luật Bỉ. Ngược lại,  
Nghị định Rome III mở rộng phạm vi chọn luật của  
các bên và đó đều là pháp luật của các nước có mối  
liên hệ mật thiết với vấn đề pháp lý này.  
Từ góc độ so sánh, đánh giá tính hợp lý và dựa trên  
mối liên hệ mật thiết, tác giả thấy rằng, Điều 127 Luật  
hôn nhân và gia đình 2014 nên được sửa đổi theo  
hướng quy định bao quát hơn để có thể giải quyết tối  
đa các tình huống phát sinh từ thực tiễn, cụ thể, pháp  
luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài là:  
- Pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng  
tại thời điểm yêu cầu ly hôn. Nếu các bên không có nơi  
thường trú chung, pháp luật của nước nơi thường trú  
của một trong các bên được áp dụng;  
KẾT LUẬN  
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài  
nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng  
là một trong những quan hệ dân sự có yếu tố nước  
ngoài phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên,  
khung pháp lý điều chỉnh vấn đề ly hôn vẫn tồn tại  
một số bất cập cả về mặt lý luận và thực tiễn dẫn đến  
việc áp dụng pháp luật còn gây nhiều khó khăn cho  
các chủ thể liên quan.  
Nguyên tắc luật nơi cư trú và nguyên tắc luật quốc  
tịch được ưu tiên áp dụng để xác định thẩm quyền  
của Tòa án quốc gia và giải quyết xung đột pháp luật  
trong ly hôn có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, nếu  
hai nguyên tắc trên không thể được áp dụng vì thiếu  
điều kiện cần thiết thì giải pháp cuối cùng là sử dụng  
nguyên tắc luật tòa án (Lex fori). Đây là các nguyên  
tắc được thừa nhận rộng rãi trong Tư pháp quốc tế các  
nước và Việt Nam cần sửa đổi không chỉ để phù hợp  
với thông lệ quốc tế mà còn giúp các bên giải quyết  
vụ việc một cách dễ dàng hơn; Từ đó, bảo đảm tối đa  
quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ quốc tế.  
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT  
BLTTDS 2015: Bộ luật Tố tụng Dân sự số  
92/2015/QH13.  
- Pháp luật của nước mà vợ chồng có cùng quốc tịch;  
when the action is introduced; 2◦ in the absence of a habitual residence  
on the territory of one State, by the law of the State on the territory of  
which the last joint habitual residence of the spouses was located if one  
of them has his habitual residence on the territory of that State when the  
action is introduced; 3◦ in the absence of the habitual residence of one  
of the spouses on the territory of the State where the last joint habitual  
residence was located, by the law of the State of which both 9 spouses  
have the nationality when the action is introduced; 4◦ in other cases, by  
Belgian law.; §2. e spouses may however choose the law, which will  
apply to the divorce or the legal separation. ey can only designate one  
of the following laws: 1◦ the law of the State of both spouses’ nationality  
when the action is introduced; 2◦ Belgian law. e choice has to be  
expressed at the time of the first appearance in court”.  
BLDS 2015: Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.  
HĐTTTP: Hiệp định tương trợ tư pháp  
TAND: Tòa án Nhân dân  
EU: Liên minh Châu Âu  
sLẩn tránh pháp luật là hiện tượng đương sự dùng những biện  
pháp cũng như thủ đoạn để tránh việc áp dụng hệ thống pháp luật  
đáng lẽ phải được áp dụng điều chỉnh các quan hệ của họ và nhắm  
tới hệ thống pháp luật khác có lợi hơn. Đương sự thường tìm cách  
lẩn tránh pháp luật bằng các thủ đoạn như thay đổi nơi cư trú, thay  
đổi quốc tịch, thay đổi tính chất của tài sản… hoặc thỏa thuận lựa  
chọn pháp luật của nước mà có lợi hơn cho mình.  
1616  
 
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618  
5. Tòa án Nhân dân Tối cao. Bản án về tranh chấp hôn nhân và  
gia đình. 2018;Available from: http://congbobanan.toaan.gov.  
6. Tòa án Nhân dân Tối cao. Bản án về ly hôn. 2019;Avail-  
7. Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 được Quốc hội  
khóa XIII thông qua ngày 19/06/2014, có hiệu lực thi hành từ  
ngày 01/01/2015;.  
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT  
Tác giả xin cam đoan rằng không có bất kỳ xung đột  
lợi ích nào trong công bố bài báo.  
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Toàn bộ nội dung bài viết chỉ do tác giả thực hiện.  
8. Thu BT. Giáo trình tư pháp quốc tế. Hà Nội. Nxb. Giáo dục Việt  
Nam; 2012;.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Bộ Ngoại giao Việt Nam. Danh mục các Hiệp định về tương trợ  
tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam và các nước. 2017;Available  
9. Công ty Luật FDVN. Tổng hợp 20 bản án về ly hôn có  
yếu tố nước ngoài có yêu cầu về chia tài sản hoặc có yêu  
cầu về quyền trực tiếp nuôi con. 2020;Available from:  
10. European Commission. Applicable law and jurisdiction  
in divorce matters (Green Paper). 2006;Available from:  
11. Regulation No. 1259/2010 dated 20/12/2010 of EC imple-  
menting enhanced cooperation in the area of the law appli-  
cable to divorce and legal separation;.  
12. Law of 16 July 2004 holding the Code of Private International  
Law of Belgium;.  
from:  
2. Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 được Quốc hội  
khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ  
ngày 01/07/2009;.  
3. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước  
ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII  
thông qua ngày 16/06/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày  
01/01/2015;.  
4. Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 được Quốc hội khóa  
XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày  
01/07/2016;.  
1617  
                       
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 5(3):1611-1618  
Review  
Open Access Full Text Article  
Completion the provisions of Vietnamese law on divorce involving  
foreign elements  
Ngo Minh Phuong Thao*  
ABSTRACT  
Globalization is a connection to bring countries closer together, not only in the development of  
labor and international trade but also in marriage and family relations involving foreign elements.  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
In these legal relations, a divorce involving foreign elements is an important matter which the law-  
makers always pay close attention to. Currently, the provisions of Vietnamese Private International  
Lawgoverning divorceinvolving foreignelements are relativelysufficient, which candeal with most  
of the legal issues arising from practice, protecting Vietnamese citizens' interest, especially women.  
However, the terms of the National Court's jurisdiction over a divorce case involving foreign ele-  
ments and the determination of the applicable law have been confusing that need to be resolved  
and clarified. From the experience in Private International Law of the other countries, in partic-  
ular EU Regulations and Belgian Private International Law on divorce with foreign elements, this  
article will point out some basic shortcomings, simultaneously proposing corresponding solutions  
appropriate for Vietnamese law, the economic, political, and social background of our country.  
Key words: Divorce involving foreign elements, jurisdiction, applicable law, Private international  
law  
University of Economic and Law, VNU -  
HCM, Vietnam  
Correspondence  
Ngo Minh Phuong Thao, University of  
Economic and Law, VNU - HCM,  
Vietnam  
Email: [email protected].vn  
History  
• Received: 12/01/2021  
• Accepted: 21/5/2021  
• Published: 30/5/2021  
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.751  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Thao N M P. Completion the provisions of Vietnamese law on divorce involving  
foreign elements. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1611-1618.  
1618  
pdf 8 trang yennguyen 16240 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhoan_thien_quy_dinh_cua_phap_luat_viet_nam_ve_ly_hon_co_yeu.pdf