Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
Bài tổng quan
Open Access Full Text Article
Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố
nước ngoài
Ngô Minh Phương Thảo*
TÓM TẮT
Toàn cầu hóa là cầu nối để các quốc gia xích lại gần nhau hơn, không chỉ lĩnh vực lao động và
thương mại quốc tế phát triển mà quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài ngày càng
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
trở nên phổ biến. Trong quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài thì ly hôn có yếu tố
nước ngoài là một nội dung quan trọng luôn nhận được sự quan tâm nhất định của các nhà làm
luật. Hiện nay, các quy định của Tư pháp quốc tế Việt Nam điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài tương đối đầy đủ, có thể giải quyết được phần lớn những vấn đề liên quan phát sinh
từ thực tiễn, bảo vệ được quyền lợi của công dân Việt Nam, đặc biệt là người phụ nữ. Tuy nhiên,
nhìn một cách tổng thể từ các điều khoản xác định thẩm quyền của Tòa án quốc gia đối với vụ việc
ly hôn có yếu tố nước ngoài đến cách thức xác định pháp luật áp dụng cho quan hệ pháp lý này
thì vẫn còn một số vướng mắc cần phải được làm rõ. Từ kinh nghiệm trong ngành luật Tư pháp
quốc tế của các nước, mà cụ thể là pháp luật EU và Tư pháp quốc tế Bỉ quy định về ly hôn có yếu
tố nước ngoài, bài viết sẽ chỉ ra một số bất cập cơ bản, đồng thời góp phần đề xuất các giải pháp
hoàn thiện tương ứng cho pháp luật Việt Nam cũng như phù hợp với nền tảng kinh tế, chính trị và
xã hội của nước ta.
Từ khoá: Ly hôn có yếu tố nước ngoài, thẩm quyền tòa án, pháp luật áp dụng, Tư pháp quốc tế
Tư pháp quốc tế Việt Nam nghiên cứu ly hôn có yếu
tố nước ngoài dưới 03 góc độ: (a) Xác định thẩm
quyền của Tòa án Việt Nam (giải quyết xung đột thẩm
quyền) đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài; (b)
Xác định pháp luật áp dụng (giải quyết xung đột pháp
luật) trong ly hôn có yếu tố nước ngoài và; (c) Công
nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của
ĐẶT VẤN ĐỀ
Cùng với quá trình toàn cầu hóa, sự phát triển của
khoa học - công nghệ và giao lưu quốc tế không chỉ tác
động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh tế mà còn làm biến
đổi sâu sắc xã hội của một quốc gia. Những gia đình
đa quốc tịch xuất hiện ngày càng nhiều làm tiền đề
Trường Đại học Kinh tế - Luật, ĐHQG
cho sự hình thành các vụ việc ly hôn xuyên biên giới
(có yếu tố nước ngoài) với tình tiết ngày càng phức
tạp. Việt Nam cũng không nằm ngoài quy luật đó.
eo Điều 3.14 Luật hôn nhân và gia đình 2014 thì ly
hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án,
quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Đối với
ly hôn có yếu tố nước ngoài thì các nhà làm luật Việt
Nam không đưa ra khái niệm cụ thể cho quan hệ pháp
lý này. Tuy nhiên, chúng ta có thể dựa vào Điều 3.25
Luật hôn nhân và gia đình 2014 để định nghĩa, theo
đó, ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc một trong các
trường hợp sau: (i) ít nhất một bên tham gia là người
nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; (ii)
các bên tham gia là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để
chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát
sinh tại nước ngoài hoặc (iii) tài sản liên quan đến quan
HCM, Việt Nam
Tòa án nước ngoài. Quy định của pháp luật Việt Nam
liên quan đến các nội dung trên về cơ bản đã đáp ứng
được các yêu cầu từ thực tiễn, thế nhưng, vẫn còn rất
nhiều tình huống có thể xảy ra nhưng thiếu vắng quy
định pháp luật tương ứng.
Bài viết này sẽ góp phần đề xuất một số giải pháp
nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam
điều chỉnh ly hôn có yếu tố nước ngoài ở hai phương
diện chính là xác định thẩm quyền của Tòa án Việt
Nam và xác định pháp luật áp dụng giải quyết vụ việc
ly hôn có yếu tố nước ngoài. Riêng đối với vấn đề công
nhận và cho thi hành bản án, quyết định ly hôn của
Tòa án nước ngoài sẽ được tác giả đề cập ở một bài
Liên hệ
Ngô Minh Phương Thảo, Trường Đại học
Kinh tế - Luật, ĐHQG HCM, Việt Nam
Email: [email protected]u.vn
Lịch sử
• Ngày nhận: 12/01/2021
• Ngày chấp nhận: 21/5/2021
• Ngày đăng: 30/5/2021
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.751
Bản quyền
“Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài là quan hệ mà
ít nhất một trong các bên tham gia là người nước ngoài hoặc; Các bên
tham gia đều là công dân Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi,
thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở nước ngoài hoặc; Các
bên tham gia đều là công dân Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ
đó ở nước ngoài”. Đối với chủ thể là người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, nếu còn giữ quốc tịch Việt Nam thì họ là công dân Việt Nam,
ngược lại, đối tượng này là công dân nước ngoài.
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
aeo quan điểm của tác giả, Điều 3.25 Luật hôn nhân và gia đình
2014 nên được sửa đổi theo hướng phù hợp với quy định tại Điều
663.2 BLDS 2015 về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài như sau:
Trích dẫn bài báo này: Thảo N M P. Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố
nước ngoài. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1611-1618.
1611
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
viết khác.
• Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với người
làm ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam.
THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN VIỆT
NAM ĐỐI VỚI VỤ VIỆC LY HÔN CÓ
YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Trong các Hiệp định tương trợ tư pháp được ký kết
xác định thẩm quyền của Tòa án Nước ký kết đối với
Tòa án Việt Nam cũng có thẩm quyền riêng biệt đối
với yêu cầu ly hôn (không có yếu tố tranh chấp) giữa
công dân Việt Nam và công dân nước ngoài hoặc
người không quốc tịch nếu các bên đều cư trú, làm ăn,
sinh sống tại Việt Nam theo quy định tại Điều 470.2.a
BLTTDS 2015.
Như vậy, pháp luật Việt Nam sử dụng yếu tố “quốc
tịch” và yếu tố “nơi cư trú” để xác định thẩm quyền
của Tòa án đối với vụ việc ly hôn có yếu tố nước ngoài.
Đây là hai yếu tố có mối liên hệ mật thiết nhất với ly
hôn, gắn liền với nhân thân của một cá nhân. Đặc
biệt, yếu tố “quốc tịch” rất được chú trọng, là một tiêu
chí cơ bản để xác định thẩm quyền của Tòa án quốc
• Nếu hai vợ chồng cùng quốc tịch thì Tòa án
Nước ký kết nơi vợ chồng là công dân có thẩm
quyền;
• Nếu hai vợ chồng không cùng quốc tịch thì Tòa
án Nước ký kết nơi vợ chồng cùng cư trú có
thẩm quyền;
• Nếu hai vợ chồng không cùng quốc tịch và
không cùng nơi cư trú thì Tòa án Nước ký kết
nhận được đơn khởi kiện hoặc đơn yêu cầu
trước có thẩm quyền.
Có thể thấy, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chungh
thường trú” của các đương sự (và một trong các bên
đương sự này là công dân Việt Nam). Nếu các đương
sự thường trú tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có
thẩm quyền riêng biệt, ngược lại, nếu các bên không
thường trú tại Việt Nam thì Tòa án Việt Nam có thẩm
quyền chung.
ực tiễn xét xử của Tòa án Việt Nam cho thấy, việc
phân biệt thẩm quyền chung hay thẩm quyền riêng
biệt của Tòa án đối với từng vụ việc ly hôn cụ thể
không phải lúc nào cũng dễ dàng. ậm chí, Tòa án
thường có xu hướng viện dẫn cả Điều 469.1.d và Điều
470.1.b của BLTTDS 2015 để xác định thẩm quyền
của Tòa án Việt Nam, trong khi nội dung của các quy
eo quy định tại Điều 469.1.d Bộ luật Tố tụng dân sự
năm 2015 (sau đây BLTTDS 2015), Tòa án Việt Nam
có thẩm quyền chung đối với vụ việc ly hôn có yếu tố
nước ngoài mà trong đó:
• Nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam.
Đây là trường hợp công dân Việt Nam ly hôn
với công dân nước ngoài mà một trong các bên
đương sự ở Việt Nam hoặc các đương sự đều ở
nước ngoài.
• Các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm
Ngoài ra, đối với các trường hợp sau thì Tòa án Việt định này là hoàn toàn khác nhau.
Nam có thẩm quyền riêng biệt (Điều 470.1.b BLTTDS
2015):
Chẳng hạn, theo Bản án số 03/2018/HNGĐ-ST ngày
Cẩm T (công dân Việt Nam) và anh William Kin-SW
(Wong W- công dân Canada) kết hôn với nhau dựa
• Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công
ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
f Người không quốc tịch là người không có quốc tịch Việt Nam
bHiện nay, Việt Nam đã ký kết 18 Hiệp định tương trợ tư pháp với
cVí dụ, Điều 25 HĐTTTP Việt Nam - Cuba; Điều 27 HĐTTTP
Việt Nam - Lào; Điều 25 HĐTTTP Việt Nam - Liên Bang Nga; Điều
26 HĐTTTP Việt Nam - Ucraina; Điều 26 HĐTTTP Việt Nam -
Mông Cổ; Điều 28 HĐTTTP Việt Nam - Belarut;…
gCác nhà làm luật Việt Nam dường như “ưu ái” nguyên tắc luật
quốc tịch so với nguyên tắc luật nơi cư trú. Vấn đề này xuất phát từ
rất nhiều nguyên nhân. Riêng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài,
theo quan điểm của tác giả, thì đây là một trong những cách thức hữu
hiệu để bảo vệ quyền lợi của công dân Việt Nam, đặc biệt là phụ nữ
Việt Nam khi mà thực tế cho thấy, số lượng phụ nữ Việt Nam kết hôn
với người nước ngoài đang ngày càng gia tăng.
dPháp luật Việt Nam hiện hành chưa có quy định cụ thể để làm
rõ cụm từ “cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam”. Tuy nhiên,
như người nước ngoài đáp ứng được các điều kiện theo quy định của
pháp luật Việt Nam để được cấp ẻ tạm trú và ẻ thường trú thì họ
thuộc đối tượng cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam. Cách
hiểu như trên sẽ mở rộng phạm vi thẩm quyền của Tòa án Việt Nam
lên các đối tượng này thay vì chỉ ảnh hưởng đến đối tượng “thường
trú” tại Việt Nam.
hẩm quyền chung được hiểu là Tòa án Việt Nam và Tòa án quốc
gia liên quan đều có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố
nước ngoài đó. Do đó, Tòa án nào nhận được đơn kiện trước thì Tòa
án đó có thẩm quyền giải quyết.
iẩm quyền riêng biệt được hiểu là chỉ duy nhất Tòa án Việt Nam
có thẩm quyền thụ lý và giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
đó. Nếu Tòa án nước ngoài liên quan nhận được đơn kiện thì phải từ
chối thụ lý, trường hợp Tòa án vẫn tiếp tục giải quyết thì bản án được
ban hành bởi Tòa án nước ngoài sẽ không được công nhận và cho thi
3.1].
1612
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND điểm này thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền chung
tỉnh Đắk Lắk vào ngày 28/4/2009. Sau khi kết hôn,
anh Wong W về lại Canada sinh sống và không quay
lại Việt Nam nữa. Do điều kiện xa cách, hai bên không
thể chung sống với nhau như vợ chồng, nay tình cảm
vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt
được nên chị T đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được
ly hôn với anh Wong W mà không có tranh chấp về
tài sản chung và con chung.
Dựa vào tình tiết ở trên, có thể kết luận, đây là vụ việc
ly hôn có yếu tố nước ngoài. ời điểm chị T nộp
đơn yêu cầu ly hôn tại TAND tỉnh Đắk Lắk thì chị T
thường trú tại Việt Nam, còn anh Wong W thường
trú tại Canada. Vì vậy, vụ việc này tương ứng với
Điều 469.1.d BLTTDS 2015, do đó, thuộc thẩm quyền
chung của Tòa án Việt Nam. Tuy nhiên, TAND tỉnh
Đắk Lắk lại áp dụng Điều 469.1.d và Điều 470.1.b
BLTTDS 2015 để xác định thẩm quyền của Tòa án.
Cần lưu ý thêm là, Điều 470.1.b BLTTDS 2015 chỉ
được áp dụng khi đó là vụ án ly hôn (có tranh chấp về
tài sản hoặc quyền nuôi con hoặc cả hai) chứ không
phải là yêu cầu về ly hôn (không có tranh chấp). Từ đó
cho thấy, TAND tỉnh Đắk Lắk đã áp dụng chưa chính
xác quy định của pháp luật.
Hay tại Bản án số 02/2019/HNGĐ-ST ngày
22/01/2019 của TAND tỉnh Đồng áp, Tòa án cũng
viện dẫn Điều 470.1.b BLTTDS 2015 để xác định
thẩm quyền riêng biệt của Tòa án trong khi nội dung
vụ việc cho thấy, đây cũng là yêu cầu ly hôn giữa các
đương sự mà không có tranh chấp về tài sản chung
cũng như quyền nuôi con. Mặt khác, thời điểm một
trong các bên đương sự là công dân Việt Nam nộp
đơn yêu cầu ly hôn, thì bên đương sự còn lại đang
thường trú ở nước ngoài dù trước đó các bên đều cư
thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam căn cứ vào
Điều 469.1.d BLTTDS 2015.
Mặt khác, các Tòa án Việt Nam cũng không giải thích
rõ ràng (và quy định của pháp luật cũng không đề cập
đến) nơi thường trú chung của các đương sự được xác
định tại thời điểm một trong các bên nộp đơn yêu cầu
ly hôn hay thời điểm trước đó. Bởi lẽ, cách hiểu khác
nhau sẽ dẫn đến cách thức áp dụng quy định của pháp
luật sẽ khác nhau. Chẳng hạn, chị X (công dân Việt
Nam) kết hôn với anh Y (công dân nước ngoài). Hai
vợ chồng cùng sinh sống ổn định tại Việt Nam trong
khoảng thời gian 03 năm. Vợ chồng cũng tạo lập được
khối tài sản chung có giá trị. Đến năm thứ 4 thì các
bên phát sinh mâu thuẫn, anh B trở về nước. Chị A
nộp đơn tại Tòa án Việt Nam yêu cầu được ly hôn với
anh B đồng thời phân chia tài sản chung.
theo Điều 469.1.d BLTTDS 2015. Ngược lại, nếu xác
định thời điểm hai vợ chồng cùng sinh sống trước đó
thì Tòa án Việt Nam có thẩm quyền riêng biệt theo
Điều 470.1.a BLTTDS 2015. Tác giả cho rằng, nơi
thường trú của các bên đương sự sẽ được xác định
hiểu như vậy sẽ phù hợp và thống nhất với giai đoạn
tiếp theo là xác định pháp luật áp dụng giải quyết vụ
việc ly hôn có yếu tố nước ngoài khi mà “nơi thường
trú chung của vợ chồng” được xác định tại thời điểm
Tóm lại, tác giả kiến nghị cần có văn bản hướng dẫn
thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
về thẩm quyền của Tòa án Việt Nam đối với vụ việc ly
hôn có yếu tố nước ngoài theo hướng:
- Vụ việc ly hôn được quy định tại Điều 469.1.d
BLTTDS 2015 là vụ việc mà một trong các đương sự
là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước
ngoài cư trú tại Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn.
- Vụ án ly hôn được quy định tại Điều 470.1.b BLTTDS
2015 là vụ án giữa công dân Việt Nam thường trú ở
trong nước và người nước ngoài cư trú tại Việt Nam
vào thời điểm yêu cầu ly hôn.
- Người nước ngoài cư trú tại Việt Nam là trường hợp
người nước ngoài có đủ điều kiện để được cấp ẻ
thường trú, ẻ tạm trú hoặc được cấp giấy miễn thị
thực có thời hạn không quá 05 năm theo quy định của
Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người
nước ngoài tại Việt Nam 2014.
PHÁP LUẬT ÁP DỤNG ĐỐI VỚI LY
HÔN CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI
Pháp luật áp dụng để điều chỉnh việc ly hôn có yếu tố
nước ngoài được ghi nhận trong các Hiệp định tương
về cơ bản là:
- Pháp luật của Nước ký kết mà hai vợ chồng là công
dân khi đưa đơn ly hôn;
jTrường hợp sau khi Tòa án Việt Nam thụ lý mà một trong các
bên đương sự thay đổi nơi cư trú thì không làm thay đổi tính chất
thẩm quyền (thẩm quyền chung hoặc thẩm quyền riêng biệt) cũng
kĐiều 20 HĐTTTP Việt Nam – Tiệp Khắc; Điều 25 HĐTTTP
Việt Nam – Cuba; Điều 33 HĐTTTP Việt Nam – Hungary; Điều 22
HĐTTTP Việt Nam –Bungary; Điều 26 HĐTTTP Việt Nam –Ba Lan;
Điều 26 HĐTTTP Việt Nam –Ucraina; Điều 26 HĐTTTP Việt Nam
–Mông Cổ;…Tuy nhiên, quy tắc xác định pháp luật áp dụng trong ly
hôn có yếu tố nước ngoài ở các HĐTTTP được ký kết giữa Việt Nam
với Lào (Điều 27); Việt Nam với Liên Bang Nga (Điều 26) và Việt
Nam với Belarut (Điều 28) có một chút khác biệt, cụ thể như sau: (1)
Pháp luật của Nước ký kết mà hai vợ chồng là công dân; (2) Pháp luật
của Nước ký kết nơi hai vợ chồng cùng cư trú, nếu vợ chồng có quốc
tịch khác nhau; (3) Pháp luật của Nước ký kết có Tòa án nhận được
đơn kiện, nếu vợ chồng không cùng nơi cư trú.
Như vậy, tại thời điểm chị A nộp đơn ly hôn, hai vợ
chồng không có cùng nơi thường trú, và nếu tính thời
1613
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
- Nếu hai vợ chồng không có cùng quốc tịch, pháp luật (3) Việc giải quyết tài sản là bất động sản ở nước ngoài
áp dụng là pháp luật của Nước ký kết có Tòa án nhận khi ly hôn tuân theo pháp luật của nước nơi có bất động
sản đó.
được đơn kiện.
Pháp luật xác định tại (1) và (2) được áp dụng để điều
chỉnh các vấn đề về điều kiện ly hôn, phân chia tài
sản là động sản giữa vợ và chồng, phân định quyền
nuôi con… Riêng đối với tài sản là bất động sản thì hệ
thuộc luật nơi có tài sản (lex rei sitae) được áp dụng
triệt để. Quy định này được đánh giá là phù hợp và
thống nhất giữa các quốc gia, nhằm tạo điều kiện dễ
dàng hơn trong quá trình giải quyết vụ việc cũng như
vấn đề công nhận và cho thi hành bản án ly hôn liên
quan đến bất động sản.
Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định về
pháp luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài,
theo đó:
(1) Việc ly hôn giữa công dân Việt Nam với người nước
ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở
Việt Nam được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền
của Việt Nam theo quy định của Luật này.
Quy định tại Điều 127.1 ở trên được diễn giải thành
02 nội dung chính:
- Công dân Việt Nam ly hôn với công dân nước ngoài
tại Tòa án Việt Nam thì pháp luật Việt Nam được áp
dụng để điều chỉnh quan hệ này. Quy định này được
áp dụng đối với: (i) Các bên đều thường trú tại Việt
Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn và; (ii) Bên là công
dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, (bên còn lại là
công dân nước ngoài không thường trú tại Việt Nam)
vào thời điểm yêu cầu ly hôn. Điều này có nghĩa là,
nếu bên là công dân Việt Nam không thường trú tại
Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn thì sẽ tuân theo
quy định tại Điều 127.2 Luật hôn nhân và gia đình
2014.
- Tương tự, công dân nước ngoài ly hôn với nhau mà
cả hai đều thường trú tại Việt Nam thì pháp luật Việt
Nam cũng được áp dụng nếu các bên nộp đơn lên Tòa
án Việt Nam yêu cầu ly hôn.
Ở cả hai trường hợp trên, các nhà làm luật Việt Nam
đã áp dụng nguyên tắc luật nơi thường trú của vợ
ly hôn có yếu tố nước ngoài.
(2) Trong trường hợp bên là công dân Việt Nam không
thường trú ở Việt Nam vào thời điểm yêu cầu ly hôn
thì việc ly hôn được giải quyết theo pháp luật của nước
nơi thường trú chung của vợ chồng; nếu họ không có
nơi thường trú chung thì giải quyết theo pháp luật Việt
Nam.
Đây là quy định nối tiếp Điều 127.1, nếu bên là công
dân Việt Nam không thường trú tại Việt Nam thì ưu
tiên áp dụng pháp luật nơi thường trú chung của vợ
pháp luật của nước có Tòa án giải quyết đơn kiện sẽ
được áp dụng theo nguyên tắc Lex fori.
Từ các nội dung được quy định tại Điều 127 ở trên,
có thể rút ra một vài nhận xét như sau:
ứ nhất, nguyên tắc luật nơi thường trú của vợ chồng
được áp dụng để điều chỉnh quan hệ ly hôn có yếu tố
nước ngoài. Đó là pháp luật của nước nơi vợ chồng
cùng thường trú hoặc có thể là pháp luật của nước
nơi thường trú của một bên vợ, chồng (là công dân
Việt Nam).
ứ hai, Khoản 2 Điều 127 quy định chưa rõ ràng
“trường hợp một bên là công dân Việt Nam….”, vậy bên
còn lại có bao gồm chủ thể là người Việt Nam định cư
dẫn đến các Tòa án Việt Nam, khi giải quyết các vụ
việc ly hôn giữa công dân Việt Nam mà có ít nhất một
bên người Việt Nam định cư ở nước ngoài, có cách
thức xác định pháp luật áp dụng hoàn toàn khác nhau.
Ví dụ, chị Vũ ị Kiều N (công dân Việt Nam, thường
trú tại tỉnh Đồng Nai) nộp đơn tại TAND tỉnh Đồng
Nai yêu cầu được ly hôn với anh Phạm Trọng Đ (công
dân Việt Nam, định cư tại Hoa Kỳ). eo Bản án số
37/2017/ HNGĐ-ST ngày 11/08/2017 thì TAND tỉnh
Đồng Nai đã áp dụng các quy định tại Điều 8, Điều 9,
Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82,
Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình 2014
chứ không phải là các quy định tại Chương VIII Luật
hôn nhân và gia đình 2014 về quan hệ hôn nhân và
nỞ đây, tác giả không xét đến trường hợp bên còn lại là công dân
nước ngoài vì là chủ thể “đương nhiên” được đề cập đến tại quy định
này. Tác giả cũng không phân tích trường hợp công dân Việt Nam
ra nước ngoài học tập, lao động (có thời hạn)… và địa chỉ thường
trú vẫn ở Việt Nam thì không được xem là người Việt Nam định cư
ở nước ngoài (vì không đáp ứng được tiêu chí cư trú, làm ăn, sinh
sống lâu dài ở nước ngoài) nhưng thực tiễn xét xử ở một số Tòa án
thì cho rằng những trường hợp này được xem là “người Việt Nam
định cư ở nước ngoài” và do đó, xác định đây là quan hệ ly hôn có
yếu tố nước ngoài. Xem thêm: Bản án số 01/2018/HNGĐ-ST ngày
vn/banan/ban-an/ban-an-012018hngdst-ngay-28082018-ve-ly-hon
-co-yeu-to-nuoc-ngoai-47227; Bản án số 20/2019/HNGĐ-ST ngày
/upload/files/TONG%20HOP%20BAN%20AN%20-%20TRANH%
20CHAP%20LY%20HON%20CO%20YEU%20TO%20NUOC%20
NGOAI.pdf, truy cập ngày 29/12/2020.
lCó thể là nơi thường trú chung của vợ chồng (xem thêm chú
thích 13) hoặc nơi thường trú của một bên vợ, chồng (là công dân
Việt Nam).
m“Nơi thường trú chung của vợ chồng” được quy định trong Tư
pháp quốc tế Việt Nam phải được hiểu là Quốc gia mà vợ chồng cùng
thường trú. Hay nói cách khác, vợ chồng không nhất thiết phải cùng
chung sống dưới một mái nhà, một phường, một quận, một thành
phố, một bang…mới được xem là có “nơi thường trú chung”. Xem
1614
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
gia đình có yếu tố nước ngoài để giải quyết vụ việc [9, để xác định pháp luật áp dụng đối với các vấn đề liên
tr.64]. quan đến ly hôn. Các đề xuất này được tổng hợp trong
30/09/2016 của TAND tỉnh Nghệ An xét xử vụ án ly dụng cho ly hôn có yếu tố nước ngoài là pháp luật của
hôn giữa Nguyên đơn là chị Đậu ị H (công dân nước nơi có mối liên hệ mật thiết nhất. Đó có thể
Việt Nam, thường trú tại tỉnh Nghệ An) và Bị đơn là pháp luật của nước nơi vợ chồng cùng cư trú ngay
là anh Trần Khắc T (công dân Việt Nam, định cư ở trước thời điểm yêu cầu ly hôn; pháp luật của nước
Đức). Tòa án cũng áp dụng Điều 53, Điều 56, Điều mà vợ chồng cùng thỏa thuận lựa chọn; pháp luật của
81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình nước nơi vợ chồng có cùng quốc tịch…
Ngày 20/12/2010, EU đã ban hành chính thức Nghị
Tuy nhiên, tại Bản án số 79/2019/HNGĐ-ST ngày định số 1259/2010 về triển khai tăng cường hợp tác
20/11/2019 của TAND thành phố Đà Nẵng liên quan trong lĩnh vực luật áp dụng cho ly hôn và ly thân hợp
đến vụ việc ly hôn giữa ông Trương Quang Hoàng V pháp (gọi tắt là Rome III)11 và thống nhất như sau:
(công dân Việt Nam, thường trú tại Đà Nẵng) và bà Các bên có quyền thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp
Huỳnh M (công dân Việt Nam, định cư tại Hoa Kỳ), dụng đối với ly hôn và ly thân (Điều 5.1 Nghị địnhp).
TAND thành phố Đà Nẵng đã áp dụng Điều 122 và Đó là pháp luật của một trong các nước sau: (i) pháp
Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 để làm căn luật của nước nơi vợ chồng cư trú thường xuyên vào
cứ giải quyết việc ly hôn cho các đương sự [9, tr.26]. thời điểm xác lập thỏa thuận; (ii) Pháp luật của nước
Bản án số 16/2017/HNGĐ-ST ngày 12/04/2018 của nơi cư trú cuối cùng của vợ chồng và một trong các bên
TAND thành phố Đà Nẵng được ban hành trước đó vẫn cư trú thường xuyên tại đó vào thời điểm xác lập
thỏa thuận; (iii) pháp luật của nước mà một trong các
bên là công dân vào thời điểm xác lập thỏa thuận hoặc;
(iv) pháp luật của nước có Tòa án giải quyết vụ việc.
Trường hợp các bên không thỏa thuận chọn luật áp
dụng thì pháp luật của một trong các nước sau sẽ được
áp dụng (theo thứ tự) để điều chỉnh việc ly hôn (Điều
eo quan điểm của tác giả, trong việc ly hôn giữa
một bên là công dân Việt Nam và một bên là công
dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thì luật áp dụng
cho quan hệ này là pháp luật của nước nơi vợ chồng
có cùng quốc tịch, tức là pháp luật Việt Nam (cụ thể
là Luật Luật hôn nhân và gia đình 2014). Trường hợp
một bên là người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã
từ bỏ quốc tịch Việt Nam thì đây là ly hôn có yếu tố
- Pháp luật của nước nơi vợ chồng cư trú thường xuyên
vào thời điểm Tòa án thụ lý vụ việc;
nước ngoài và do đó, quy định của Tư pháp quốc tế - Pháp luật của nước nơi cư trú cuối cùng của vợ chồng
Việt Nam (Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình 2014 với điều kiện là thời hạn cư trú không kết thúc trước 01
năm kể từ ngày Tòa án thụ lý và một trong các bên vẫn
cư trú tại đó.
- Pháp luật của nước mà vợ chồng có cùng quốc tịch;
) sẽ được áp dụng.
ứ ba, quy định tại Điều 127 Luật hôn nhân và gia
đình 2014 chưa bao hàm hết các tình huống phát sinh
trong thực tế, chẳng hạn như công dân nước X thường - Pháp luật của nước có Tòa án giải quyết vụ việc.
trú tại Việt Nam nộp đơn tại Tòa án Việt Nam yêu cầu Các quy định tương tự cũng được tìm thấy tại Điều
được ly hôn với công dân nước Y thường trú tại nước 55 Luật Tư pháp quốc tế của Bỉ12 về luật áp dụng đối
trên là pháp luật nước X, nước Y hay pháp luật Việt
pNguyên văn: “e spouses may agree to designate the law ap-
plicable to divorce and legal separation provided that it is one of the
following laws: (a) the law of the State where the spouses are habitu-
ally resident at the time the agreement is concluded; or (b) the law of
the State where the spouses were last habitually resident, in so far as
one of them still resides there at the time the agreement is concluded;
or (c) the law of the State of nationality of either spouse at the time
the agreement is concluded; or (d)the law of the forum”.
Trước năm 2010, pháp luật EU chưa có một văn bản
nào quy định về cách thức giải quyết xung đột pháp
luật trong ly hôn có yếu tố nước ngoài. Nhằm tạo một
sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật giữa các
Quốc gia thành viên và tránh vụ việc trở nên phức
tạp, Ủy ban Châu Âu (EC) đã đề xuất một số giải pháp
qNguyên văn: “In the absence of a choice pursuant to Article 5,
divorce and legal separation shall be subject to the law of the State:
(a) where the spouses are habitually resident at the time the court
is seized; or, failing that (b) where the spouses were last habitually
resident, provided that the period of residence did not end more than
1 year before the court was seized, in so far as one of the spouses still
resides in that State at the time the court is seized; or, failing that (c)
of which both spouses are nationals at the time the court is seized; or,
failing that (d) where the court is seized” .
oTrong trường hợp này, Tòa án cần áp dụng Điều 122 Luật hôn
nhân và gia đình 2014 quy định về áp dụng pháp luật đối với quan
hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài. Nếu Điều 122 không
chứa đựng nội dung liên quan thì Tòa án cần viện dẫn các quy định
về xác định pháp luật áp dụng đối với quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài của BLDS 2015 (Điều 664). Tuy nhiên, đây chỉ là cách thức
gián tiếp, chúng ta cần một quy phạm pháp luật trực tiếp quy định
luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài.
rNguyên văn: “§1. Divorce and legal separation are governed: 1◦
by the law of the State where both spouses have their habitual residence
1615
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
(1) Ly hôn và ly thân được điều chỉnh bởi:
- Pháp luật Việt Nam.
- Pháp luật của nước nơi vợ chồng cư trú thường xuyên
tại thời điểm yêu cầu;
- Pháp luật của nước nơi cư trú cuối cùng của vợ chồng
và một trong các bên vẫn cư trú ở đây tại thời điểm yêu
cầu;
- Pháp luật của nước mà vợ chồng có cùng quốc tịch;
- Nếu không thuộc các trường hợp ở trên, pháp luật Bỉ
được áp dụng.
(2) Các bên có thể thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp
dụng cho vấn đề ly hôn và ly thân. Tuy nhiên, các bên
chỉ có thể lựa chọn pháp luật của một trong các nước
sau:
ực tiễn Việt Nam cho thấy, chúng ta chưa nên cho
phép các bên được thỏa thuận chọn luật áp dụng đối
với vấn đề ly hôn, bởi lẽ, quan hệ này không đơn thuần
chỉ là phân chia tài sản giữa vợ và chồng mà còn ảnh
hưởng rất lớn đến quyền nhân thân, quyền của con
chung. Do đó, với trình độ dân trí chưa cao, lại không
đồng đều giữa các vùng miền, rất dễ dẫn đến trường
hợp một bên áp đặt ý chí của mình vào bên còn lại.
Mặt khác, quan hệ hôn nhân và gia đình còn gắn liền
với văn hóa, tín ngưỡng và phong tục của mỗi quốc
gia. Chính vì vậy, các bên không được phép chọn luật
áp dụng cũng là một trong những cách thức bảo vệ
trật tự công cộng và tránh tình trạng lẩn tránh pháp
chưa đủ mạnh để có thể đương đầu.
- Pháp luật của nước mà vợ chồng đều là công dân tại
thời điểm yêu cầu;
- Pháp luật Bỉ.
Như vậy, nguyên tắc nơi thường trú chung của vợ
chồng được ưu tiên áp dụng, nếu vợ chồng không có
nơi thường trú chung thì sẽ áp dụng nguyên tắc luật
quốc tịch. Trường hợp không thể áp dụng hai nguyên
tắc trên thì luật áp dụng là pháp luật của nước nơi có
Tòa án nhận được đơn kiện.
Một vấn đề cũng cần phải nhấn mạnh là, Tư pháp
quốc tế Bỉ cho phép các bên có quyền thỏa thuận chọn
luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài, thế
nhưng, việc lựa chọn này có giới hạn nhất định, theo
đó, các bên chỉ được lựa chọn pháp luật của nước mà
vợ chồng là công dân hoặc pháp luật Bỉ. Ngược lại,
Nghị định Rome III mở rộng phạm vi chọn luật của
các bên và đó đều là pháp luật của các nước có mối
liên hệ mật thiết với vấn đề pháp lý này.
Từ góc độ so sánh, đánh giá tính hợp lý và dựa trên
mối liên hệ mật thiết, tác giả thấy rằng, Điều 127 Luật
hôn nhân và gia đình 2014 nên được sửa đổi theo
hướng quy định bao quát hơn để có thể giải quyết tối
đa các tình huống phát sinh từ thực tiễn, cụ thể, pháp
luật áp dụng đối với ly hôn có yếu tố nước ngoài là:
- Pháp luật của nước nơi thường trú chung của vợ chồng
tại thời điểm yêu cầu ly hôn. Nếu các bên không có nơi
thường trú chung, pháp luật của nước nơi thường trú
của một trong các bên được áp dụng;
KẾT LUẬN
Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
nói chung và ly hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng
là một trong những quan hệ dân sự có yếu tố nước
ngoài phổ biến nhất tại Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên,
khung pháp lý điều chỉnh vấn đề ly hôn vẫn tồn tại
một số bất cập cả về mặt lý luận và thực tiễn dẫn đến
việc áp dụng pháp luật còn gây nhiều khó khăn cho
các chủ thể liên quan.
Nguyên tắc luật nơi cư trú và nguyên tắc luật quốc
tịch được ưu tiên áp dụng để xác định thẩm quyền
của Tòa án quốc gia và giải quyết xung đột pháp luật
trong ly hôn có yếu tố nước ngoài. Bên cạnh đó, nếu
hai nguyên tắc trên không thể được áp dụng vì thiếu
điều kiện cần thiết thì giải pháp cuối cùng là sử dụng
nguyên tắc luật tòa án (Lex fori). Đây là các nguyên
tắc được thừa nhận rộng rãi trong Tư pháp quốc tế các
nước và Việt Nam cần sửa đổi không chỉ để phù hợp
với thông lệ quốc tế mà còn giúp các bên giải quyết
vụ việc một cách dễ dàng hơn; Từ đó, bảo đảm tối đa
quyền và lợi ích của các bên trong quan hệ quốc tế.
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTDS 2015: Bộ luật Tố tụng Dân sự số
92/2015/QH13.
- Pháp luật của nước mà vợ chồng có cùng quốc tịch;
when the action is introduced; 2◦ in the absence of a habitual residence
on the territory of one State, by the law of the State on the territory of
which the last joint habitual residence of the spouses was located if one
of them has his habitual residence on the territory of that State when the
action is introduced; 3◦ in the absence of the habitual residence of one
of the spouses on the territory of the State where the last joint habitual
residence was located, by the law of the State of which both 9 spouses
have the nationality when the action is introduced; 4◦ in other cases, by
Belgian law.; §2. e spouses may however choose the law, which will
apply to the divorce or the legal separation. ey can only designate one
of the following laws: 1◦ the law of the State of both spouses’ nationality
when the action is introduced; 2◦ Belgian law. e choice has to be
expressed at the time of the first appearance in court”.
BLDS 2015: Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
HĐTTTP: Hiệp định tương trợ tư pháp
TAND: Tòa án Nhân dân
EU: Liên minh Châu Âu
sLẩn tránh pháp luật là hiện tượng đương sự dùng những biện
pháp cũng như thủ đoạn để tránh việc áp dụng hệ thống pháp luật
đáng lẽ phải được áp dụng điều chỉnh các quan hệ của họ và nhắm
tới hệ thống pháp luật khác có lợi hơn. Đương sự thường tìm cách
lẩn tránh pháp luật bằng các thủ đoạn như thay đổi nơi cư trú, thay
đổi quốc tịch, thay đổi tính chất của tài sản… hoặc thỏa thuận lựa
chọn pháp luật của nước mà có lợi hơn cho mình.
1616
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Kinh tế-Luật và Quản lí, 5(3):1611-1618
5. Tòa án Nhân dân Tối cao. Bản án về tranh chấp hôn nhân và
gia đình. 2018;Available from: http://congbobanan.toaan.gov.
6. Tòa án Nhân dân Tối cao. Bản án về ly hôn. 2019;Avail-
7. Luật Hôn nhân và gia đình số 52/2014/QH13 được Quốc hội
khóa XIII thông qua ngày 19/06/2014, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/01/2015;.
TUYÊN BỐ XUNG ĐỘT
Tác giả xin cam đoan rằng không có bất kỳ xung đột
lợi ích nào trong công bố bài báo.
TUYÊN BỐ ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
Toàn bộ nội dung bài viết chỉ do tác giả thực hiện.
8. Thu BT. Giáo trình tư pháp quốc tế. Hà Nội. Nxb. Giáo dục Việt
Nam; 2012;.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Ngoại giao Việt Nam. Danh mục các Hiệp định về tương trợ
tư pháp và pháp lý giữa Việt Nam và các nước. 2017;Available
9. Công ty Luật FDVN. Tổng hợp 20 bản án về ly hôn có
yếu tố nước ngoài có yêu cầu về chia tài sản hoặc có yêu
cầu về quyền trực tiếp nuôi con. 2020;Available from:
10. European Commission. Applicable law and jurisdiction
in divorce matters (Green Paper). 2006;Available from:
11. Regulation No. 1259/2010 dated 20/12/2010 of EC imple-
menting enhanced cooperation in the area of the law appli-
cable to divorce and legal separation;.
12. Law of 16 July 2004 holding the Code of Private International
Law of Belgium;.
from:
2. Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12 được Quốc hội
khóa XII thông qua ngày 13/11/2008, có hiệu lực thi hành từ
ngày 01/07/2009;.
3. Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước
ngoài tại Việt Nam số 47/2014/QH13 được Quốc hội khóa XIII
thông qua ngày 16/06/2014, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2015;.
4. Bộ luật Tố tụng Dân sự số 92/2015/QH13 được Quốc hội khóa
XIII thông qua ngày 25/11/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2016;.
1617
Science & Technology Development Journal – Economics - Law and Management, 5(3):1611-1618
Review
Open Access Full Text Article
Completion the provisions of Vietnamese law on divorce involving
foreign elements
Ngo Minh Phuong Thao*
ABSTRACT
Globalization is a connection to bring countries closer together, not only in the development of
labor and international trade but also in marriage and family relations involving foreign elements.
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
In these legal relations, a divorce involving foreign elements is an important matter which the law-
makers always pay close attention to. Currently, the provisions of Vietnamese Private International
Lawgoverning divorceinvolving foreignelements are relativelysufficient, which candeal with most
of the legal issues arising from practice, protecting Vietnamese citizens' interest, especially women.
However, the terms of the National Court's jurisdiction over a divorce case involving foreign ele-
ments and the determination of the applicable law have been confusing that need to be resolved
and clarified. From the experience in Private International Law of the other countries, in partic-
ular EU Regulations and Belgian Private International Law on divorce with foreign elements, this
article will point out some basic shortcomings, simultaneously proposing corresponding solutions
appropriate for Vietnamese law, the economic, political, and social background of our country.
Key words: Divorce involving foreign elements, jurisdiction, applicable law, Private international
law
University of Economic and Law, VNU -
HCM, Vietnam
Correspondence
Ngo Minh Phuong Thao, University of
Economic and Law, VNU - HCM,
Vietnam
Email: [email protected].vn
History
• Received: 12/01/2021
• Accepted: 21/5/2021
• Published: 30/5/2021
DOI : 10.32508/stdjelm.v5i3.751
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : Thao N M P. Completion the provisions of Vietnamese law on divorce involving
foreign elements. Sci. Tech. Dev. J. - Eco. Law Manag.; 5(3):1611-1618.
1618
Bạn đang xem tài liệu "Hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về ly hôn có yếu tố nước ngoài", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
hoan_thien_quy_dinh_cua_phap_luat_viet_nam_ve_ly_hon_co_yeu.pdf

