Giáo trình mô đun Phòng, trị bệnh truyền nhiễm thú y - Nghề: Thú y

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG LÀO CAI  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN: PHÒNG, TRỊ BỆNH TRUYỀN NHIỄM THÚ Y  
NGHỀ: THÚ Y  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG, TRUNG CẤP  
(Ban hành kèm theo Quyết định số:  
/QĐ – CĐLC ngày  
tháng năm  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)  
Lào Cai, năm 20  
1
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được phép  
dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh doanh thiếu  
lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
2
LỜI GIỚI THIỆU  
Giáo trình Phòng, trị Bệnh truyền nhiễm thú y nhằm cung cấp những kiến thức cơ  
bản về đặc điểm của bệnh truyền nhiễm, sức đề kháng của cơ thể vật nuôi, quá trình sinh  
dịch và các biện pháp phòng chống dịch bệnh. Ngoài ra, giáo trình còn cung cấp những  
đặc điểm triệu chứng, bệnh tích và cách phòng trị một số bệnh truyền nhiễm thường gặp  
ở vật nuôi, từ đó có thể chẩn đoán bệnh và đề ra biện pháp điều trị thích hợp.  
Giáo trình Phòng, trị Bệnh truyền nhiễm thú y gồm 5 bài:  
- Bài 1: Đại cương về bệnh truyền nhiễm  
- Bài 2: Bệnh chung cho nhiều loài vật nuôi  
- Bài 3: Bệnh của trâu, bò  
- Bài 4: Bệnh của lợn  
- Bài 5: Bệnh của gia cầm  
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo các giáo trình, tài liệu của các  
tác giả trong nước và đã cố gắng cập nhật, bổ sung các kiến thức mới, để làm cho bài  
giảng luôn đảm bảo tính khoa học, hiện đại, thực tiễn, phù hợp với chăn nuôi Việt Nam.  
Nhưng do yêu cầu của đối tượng phục vụ và khuôn khổ của chương trình nên các bài chỉ  
giới thiệu những kiến thức cần thiết nhất. Trong quá trình biên soạn dù đã cố gắng để  
tổng hợp và cập nhật nhiều vấn đề, nhưng chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Chúng tôi xin  
chân thành cảm ơn các ý kiến đóng góp của các bạn đồng nghiệp, học sinh và bạn đọc  
cho lần tái bản sau được hoàn thiện.  
Lào Cai, ngày tháng năm  
Chủ biên  
Lương Thị Mai Lan  
3
MỤC LỤC  
4
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN TÍCH HỢP  
Tên môn học thực hành/mô đun tích hợp: Phòng, trị bệnh truyền nhiễm thú y  
Mã môn học thực hành/mô đun tích hợp: MĐ 20  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa &vai trò của môn học thực hành/mô đun tích hợp:  
- Vị trí: Mô đun Phòng, trị Bệnh truyền nhiễm thú y là mô đun chuyên môn, được học  
sau khi người học đã học xong các mô đun, môn học cơ sở: giải phẫu, sinh lý vật nuôi,  
dược lý thú y, luật thú y, vi sinh vật. Có thể học song song với các mô đun chuyên môn  
như: phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội, ngoại, sản khoa gia súc.  
- Tính chất: Là mô đun chuyên môn bắt buộc của chương trình đào tạo thú y  
- Ý nghĩa và vai trò của môn học/mô đun: Những kiến thức, kỹ năng, năng lực mà người  
học đạt được sau khi học mô đun Phòng trị bệnh truyền nhiễm thú y có vai trò rất quan  
trọng trong việc tạo nền tảng vững chắc để người học áp dụng nhận biết và phòng, trị  
bệnh truyền nhiễm trong thực tiễn sản xuất, chăn nuôi.  
Mục tiêu của môn học thực hành/mô đun tích hợp:  
- Về kiến thức: Trình bày được đặc điểm bệnh, nguyên nhân, triệu chứng, cách phòng và  
điều trị các bệnh truyền nhiễm thường xảy ra ở vật nuôi  
- Về kỹ năng: Chẩn đoán, phòng và điều trị được các bệnh truyền nhiễm thường xảy ra ở  
vật nuôi.  
- Về năng lực tự chủ và trách nhiệm: Đảm bảo an toàn, hiệu quả khi tiếp xúc và điều trị  
bệnh cho vật nuôi  
5
NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN  
Bài 1. ĐẠI CƯƠNG VỀ BỆNH TRUYỀN NHIỄM  
Giới thiệu:  
Bài 1: Đại cương về bệnh truyền nhiễm được giảng dạy với thời lượng 16 giờ, cung  
cấp cho người học các nội dung cơ bản về bệnh truyền nhiễm, sức đề kháng của cơ thể, quá  
trình sinh dịch và các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm.  
Mục tiêu  
- Trình bày được các đặc điểm của bệnh truyền nhiễm và sức đề kháng của cơ thể,  
quá trình sinh dịch và các biện pháp phòng, chống dịch bệnh truyền nhiễm  
- Thực hiện vệ sinh phòng dịch an toàn, hiệu quả  
- Nghiêm túc trong học tập và thực hành.  
Phần 1. KIẾN THỨC LÝ THUYẾT  
1. Đặc điểm của bệnh truyền nhiễm và sức đề kháng của cơ thể  
1.1. Đặc điểm của bệnh truyền nhiễm  
Bệnh truyền nhiễm là bệnh do các mầm bệnh sống (các vi sinh vật) gây nên. Bệnh  
lây lan từ con vật này sang con vật khác, từ địa phương này sang địa phương khác, từ  
châu lục này sang châu lục khác, gây nhiều tổn thất cho ngành chăn nuôi.  
Nhiều bệnh truyền nhiễm của vật nuôi cũng lây truyền và gây bệnh cho con người.  
Cần có sự kết hợp giữa thú y và y tế để phòng chống tốt các bệnh này.  
Ví dụ: bệnh cúm gia cầm, bệnh do liên cầu khuẩn ở lợn...  
Bệnh có hai hình thức lây truyền  
Lây lan trực tiếp: từ con vật ốm, mầm bệnh truyền sang những con vật khoẻ qua  
tiếp xúc trực tiếp.  
Lây lan gián tiếp : mầm bệnh từ con ốm bài thải ra ngoài, chúng khu trú tạm thời  
trong những nhân tố trung gian, sau đó xâm nhập vào con khoẻ và gây bệnh  
1.2. Nguyên nhân của bệnh truyền nhiễm  
Nguyên nhân gây bệnh truyền nhiễm là do những tác nhân gây nên một bệnh  
(mầm bệnh) với những biểu hiện triệu chứng và bệnh lý đặc trưng.  
* Phân loại  
Có nhiều loại mầm bệnh gây bệnh truyền nhiễm, được chia thành các nhóm  
Vi khuẩn: gây bệnh do nội hoặc ngoại độc tố của chúng hoặc do các cơ chế lý  
hoá khác. Dựa vào đặc tính bắt màu thuốc nhuộm, được chia thành hai loại vi khuẩn  
Gram (+) và vi khuẩn Gram (-), điều này rất có ý nghĩa trong chẩn đoán và điều trị.  
+ Ví dụ: Bệnh Tụ huyết trùng, Bệnh Đóng dấu lợn...  
Vi nấm: thường là các vi nấm sống hoại sinh trong môi trường tự nhiên. Chúng  
thường gây các bệnh ở thể mạn tính, miễn dịch không vững chắc.  
+ Ví dụ: bệnh nấm phổi, nấm diều ở gia cầm, ngộ độc do độc tố nấm...  
6
Virus: bệnh do virus gây nên thường lây lan mạnh, có miễn dịch cao và bền lâu ở  
những con đã khỏi bệnh hoặc đã được tiêm chủng đúng và đủ. Bệnh thường hướng vào  
những khí quan nhất định, thường gây những biểu hiện khác nhau ở gia súc khác loài.  
+ Ví dụ: Bệnh lở mồm long móng, dịch tả lợn..  
Xoắn khuẩn: thường gây ra những bệnh có đặc điểm riêng, gây bại huyết, sốt định  
kỳ và xuất hiện định kỳ xoắn khuẩn trong cơ thể. Bệnh thường cho miễn dịch không  
vững bền.  
+ Ví dụ: Bệnh Lợn nghệ.  
Mycoplasma: gây ra những bệnh lây lan mạnh, có hiện tượng mang trùng lâu dài  
và gây miễn dịch bền vững.  
+ Ví dụ: bệnh hen gà, bệnh suyễn lợn...  
1.3. Hiện tượng nhiễm trùng  
* Khái niệm  
Nhiễm trùng là một hiện tượng sinh vật phức tạp xảy ra khi mầm bệnh xâm nhập  
vào cơ thể gia súc trong những điều kiện nhất định của ngoại cảnh.  
Sau khi xâm nhập và phát triển trong cơ thể, mầm bệnh tác động nhiều mặt đến cơ  
thể. Để phản ứng lại, cơ thể đã chiến đấu với mầm bệnh trong quá trình bệnh tiến triển.  
Kết quả nhiễm trùng có thể gây thành bệnh có những biểu hiện đặc trưng cho bệnh đó.  
Ví dụ: bệnh dịch tả lợn có biểu hiện xuất huyết lấm tấm trên da, bệnh đóng dấu  
lợn có biểu hiện các nốt dấu hình vuông, hình tròn trên da.  
* Điều kiện để mầm bệnh gây nhiễm trùng  
Mầm bệnh muốn gây được bệnh phải có tính gây bệnh, có độc lực, có đủ số lượng  
nhất định và chúng phải có đường xâm nhập thích hợp  
Tính gây bệnh: mỗi loại mầm bệnh thường thích hợp ký sinh ở một số loài vật  
nuôi nhất định và ở một số khí quan nhất định của vật nuôi  
Ví dụ: Virus gây bệnh lở mồm long móng gây bệnh ở loài vật chân 2 móng: trâu,  
bò, lợn...; Vi khuẩn tỵ thư gây bệnh ở loài động vật 1 móng: ngựa, lừa, la...  
Tính gây bệnh là khả năng cần thiết và vốn có của mầm bệnh để gây nên hiện  
tượng nhiễm trùng. Khả năng này gắn liền với đặc tính ký sinh của mầm bệnh và có tính  
chất chuyên biệt: một loại mầm bệnh chỉ gây được một bệnh nhất định.  
Độc lực: là những yếu tố do mầm bệnh tiết ra trong thời gian chúng sống và phát  
triển trên cơ thể vật chủ. Các yếu tố độc lực có tác dụng phá huỷ, đầu độc các tổ chức của  
cơ thể và ngăn cản các cơ năng bảo vệ của cơ thể. Mầm bệnh phải có đủ độc lực mới gây  
được bệnh. Mầm bệnh có thể có đủ độc lực với cá thể này nhưng lại không có hoặc  
không đủ để gây bệnh ở cá thể khác.  
Độc lực của mầm bệnh có thể tăng lên, giảm đi hoặc mất hoàn toàn do các yếu tố  
vật lý, hoá học, sinh học. Người ta đã dùng các yếu tố này để làm biến đổi độc lực của  
mầm bệnh: làm giảm độc lực để chế vaccin phòng bệnh hoặc làm tăng độc lực để chế tạo  
vũ khí sinh học trong chiến tranh...  
7
Số lượng: mầm bệnh phải đủ một lượng nhất định mới có thể gây được bệnh  
Ví dụ: chỉ cần 2 - 3 vi khuẩn Brucella đã có thể gây bệnh cho chuột lang nhưng  
cần 200 - 500 triệu vi khuẩn Brucella mới có thể gây bệnh được cho cừu.  
Số lượng mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể càng nhiều thì bệnh xảy ra càng nhanh,  
càng cấp tính.  
Đường xâm nhập: mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường hô hấp, tiêu  
hoá, da, niêm mạc, sinh dục...  
Nếu đường xâm nhập phù hợp thì mầm bệnh phát triển tốt, nếu không thì mầm  
bệnh không thể phát triển hoặc gây bệnh ở thể nhẹ  
Ví dụ: virus gây viêm phổi lợn nếu lây qua đường hô hấp sẽ phát bệnh nặng, nếu  
qua da thì không phát bệnh hoặc bệnh nhẹ.  
* Phương thức tác động của mầm bệnh  
Phương thức tác động của vi khuẩn trên cơ thể động vật gồm 2 mặt: một mặt sinh  
sản cực mạnh, chiếm đoạt vật chất của cơ thể ký sinh để phát triển, mặt khác tác động  
bằng các yếu tố như độc tố, giáp mô, yếu tố lan truyền hoặc các men…  
Độc tố: có 2 loại: ngoại độc tố và nội độc tố  
+ Ngoại độc tố: do vi khuẩn gây bệnh tiết ra môi trường xung quanh, các mô bào  
cơ thể để hút vào và gây nên triệu chứng ngộ độc. Ngoại độc tố rất độc, tác động với một  
lượng hết sức ít thường có đặc tính hướng thần kinh.  
Ví dụ: độc tố uốn ván lan truyền theo dây thần kinh, đến trung ương thần kinh gây  
kích thích trung tâm vận động làm bắp thịt co giật.  
Ngoại độc tố có tính kháng nguyên, tức là khi tiêm vào cơ thể sẽ tạo nên kháng thể  
miễn dịch trong huyết thanh gia súc. Kháng thể này gọi là kháng độc tố, kháng độc tố ở  
một tỷ lệ nhất định sẽ tạo trung hoà độc tố.  
Ngoại độc tố bị phá huỷ dễ dàng dưới tác động của các yếu tố vật lý, hoá học  
(nhiệt độ, ánh sáng, formalin...), cho formalin vào ngoại độc tố, độc tố biến thành giải  
độc tố, giải độc tố không độc nhưng còn giữ lại tính kháng nguyên, tức là còn khả năng  
tạo kháng độc tố trong cơ thể gia súc.  
+ Nội độc tố: là sản phẩm của nhiều vi khuẩn (chủ yếu vi khuẩn Gram (-)). Nội  
độc tố gắn liền với tế bào vi khuẩn, khi vi khuẩn bị phá huỷ nội độc tố mới được giải  
phóng, gây các hiện tượng bệnh lý chung cho gia súc như: ủ rũ, gầy còm, rối loại hô hấp,  
giảm huyết áp, huỷ hoại mô bào cục bộ...  
Ví dụ: nội độc tố của vi khuẩn phó thương hàn gây sốt, tạo các huỷ hoại cục bộ,  
phá huỷ trao đổi chất.  
Giáp mô: là yếu tố độc lực của vi khuẩn, giúp vi khuẩn chống lại hiện tượng thực  
bào. Một số trực khuẩn và cầu khuẩn gây bệnh có khả năng sinh giáp mô trong cơ thể,  
những vi khuẩn này nếu không sinh giáp mô thì không còn độc lực. Hiện tượng này được  
ứng dụng để chế vaccin phòng bệnh.  
Ví dụ: vaccin nhiệt thán được chế tạo từ giống vi khuẩn có giáp mô bằng cách làm  
cho mất giáp mô  
8
Công kích tố: nhiều loại vi khuẩn gây bệnh có khả năng ức chế sức đề kháng của  
cơ thể, đặc biệt là ức chế thực bào, nhờ một chất được tạo ra trong quá trình sinh sống  
của chúng, được gọi là công kích tố. Trong khi ức chế sự tự vệ của cơ thể, công kích tố  
tạo nên bức màn che cho vi khuẩn sinh sản và lan tràn khắp cơ thể.  
Yếu tố lan truyền: là chất có khả năng làm tăng sức thẩm thấu của mô bào, làm  
tăng sức gây bệnh của nhiều loại vi khuẩn. Bản chất tác động của yếu tố lan truyền là do  
vi khuẩn gây bệnh có thể sản sinh men hyaluronidaza phân huỷ axit hyaluronic trong mô  
liên kết nên làm tăng sức thẩm thấu của vi khuẩn và độc tố vào mô bào.  
Nhiều loại vi khuẩn có yếu tố lan truyền như: vi khuẩn uốn ván, phế cầu khuẩn  
(gây viêm phổi), vi khuẩn gây hoại thư sinh hơi...  
Ngoài ra vi khuẩn còn tác động bằng hệ thống các men, tác động bằng một liều rất  
nhỏ như một chất xúc tác hoá học...  
Do có nhiều phương thức tác động khác nhau nên mầm bệnh có thể gây ra hiện  
tượng rối loạn toàn thân và cục bộ. Tổn thương cục bộ lúc nào cũng ảnh hưởng đến trạng  
thái toàn thân. Khi chẩn đoán bệnh truyền nhiễm cần phải căn cứ vào cả triệu chứng cục  
bộ và toàn thân không chỉ dựa riêng vào triệu chứng nào.  
* Các loại nhiễm trùng  
- Nhiễm trùng đơn thuần: do một loại mầm bệnh gây nên  
- Nhiễm trùng kết hợp (bệnh ghép): do nhiều loại mầm bệnh gây nên  
- Nhiễm trùng kế phát: mầm bệnh thứ nhất gây bệnh tạo điều kiện cho mầm bệnh  
thứ hai xâm nhập làm cho bệnh phức tạp hơn, nặng hơn.  
- Hiện tượng bội nhiễm: là khi một loại mầm bệnh xâm nhập đang gây bệnh cho  
vật nuôi và cũng loại mầm bệnh đó tiếp tục xâm nhập bổ sung để gây bệnh nặng hơn  
hoặc kéo dài thêm.  
- Hiện tượng tái nhiễm: cơ thể vật nuôi đã khỏi bệnh, loại bỏ hết mầm bệnh mà  
mắc lại bệnh đó ta gọi là tái nhiễm (nhiễm trùng lần 2)  
- Hiện tượng tái phát: khi cơ thể vật nuôi chưa khỏi hoàn toàn, mầm bệnh chưa  
loại bỏ hết vẫn còn trong cơ thể, do yếu tố bất lợi nào đó làm mầm bệnh lại trỗi dậy gây  
bệnh gọi là tái phát.  
1.4. Sức đề kháng của cơ thể  
1.4.1. Khái niệm  
Sức đề kháng của cơ thể (miễn dịch) là khả năng cơ thể không cảm thụ hoặc đối  
kháng lại với một tác nhân có hại nào đó cho cơ thể.  
Miễn dịch đối với bệnh truyền nhiễm do nhiều yếu tố bảo vệ của cơ thể dưới sự  
điều tiết của thần kinh trung ương tạo nên: da, niêm mạc, kháng thể đặc hiệu...  
1.4.2. Phân loại hiện tượng miễn dịch  
Miễn dịch tự nhiên: là đặc tính của một số loài vật nào đó không mắc một số bệnh  
truyên nhiễm nào đó.  
Ví dụ: gà không bị mắc bệnh nhiệt thán; ngựa không bị lở mồm long móng...  
9
+ Miễn dịch tự nhiên tuyệt đối: ngựa không bao giờ mắc bệnh dịch tả trâu bò  
+ Miễn dịch tự nhiên tương đối: gà bình thường không mắc bệnh nhiệt thán nhưng  
khi ngâm chân vào nước lạnh và gây bệnh gà vẫn có thể mắc bệnh.  
Miễn dịch tiếp thu: là miễn dịch con vật tiếp thu được trong cuộc sống  
+ Miễn dịch tiếp thu chủ động: miễn dịch do cơ thể con vật tạo ra sau khi mắc  
bệnh và tự khỏi, hoặc miễn dịch được tạo ra sau khi tiêm vaccin  
Trong chăn nuôi phải tiêm vaccin đúng quy định cho vật nuôi để tạo ra miễn dịch  
tiếp thu chủ động, bảo vệ vật nuôi chống bệnh truyền nhiễm có hiệu quả.  
+ Miễn dịch tiếp thu bị động: do gia súc non bú sữa đầu từ con mẹ hoặc được tiêm  
huyết thanh.  
1.4.3. Sức đề kháng tự nhiên chống hiện tượng nhiễm trùng  
- Da: có tác dụng ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn bằng cách không cho  
chúng xuyên qua da hoặc diệt chúng trên bề mặt của da  
Đại đa số vi khuẩn đều rất khó xuyên qua da lành lặn để xâm nhập vào cơ thể, trừ  
một số loại như: xoắn khuẩn, vi khuẩn Brucella, nấm da... Do cấu tạo của da có một lớp  
thượng bì luôn bị chết và rụng đi cuốn theo nhiều vi khuẩn. Lớp sừng của da có phản  
ứng toan làm trở ngại cho sự sinh sản của vi khuẩn, dịch tuyến mồ hôi là một chất diệt  
khuẩn, mồ hôi còn chứa lizozim làm tan vỡ nhiều vi khuẩn như Staphylococcus;  
Salmonella.  
Dưới lớp thượng bì là mô liên kết nhiều mạch máu, nhiều đầu mút dây thần kinh  
và các tuyến mỡ, tuyến mồ hôi. Nếu vi khuẩn xuyên qua lớp thượng bì sẽ bị tế bào mô  
liên kết và bạch cầu cướp nuốt đi.  
Da lành lặn có chức năng bảo vệ cao hơn da bị tổn thương, trạng thái của da phụ  
thuộc vào tình trạng sức khoẻ của người và động vật. Da có ảnh hưởng rõ rệt đến trạng  
thái toàn bộ cơ thể, ngoài ra da còn có khả năng sinh kháng thể đặc hiệu, do đó vai trò  
miễn dịch đặc hiệu của da rất quan trọng.  
- Niêm mạc: tuy không có khả năng tự bảo vệ tốt như da nhưng niêm mạc cũng  
ngăn chặn được nhiều mầm bệnh do tác dụng cơ giới hoặc chất diệt khuẩn có trên đó.  
- Dịch tiết các tuyến: như nước bọt có chứa men lizozim có tính kiềm không thuận  
lợi cho nhiều loài vi sinh vật; dịch vị của dạ dày có tính acid cao, tiêu diệt và kìm hãm sự  
sinh sản của hầu hết các loại vi sinh vật; nước mật; dịch tá tràng cũng có tác dụng diệt  
khuẩn; chất lactium trong sữa, chất tiết của đường sinh dục cũng có khả năng diệt khuẩn.  
- Gan, lách thận là những cơ quan có vai trò to lớn trong việc giải trừ độc tố của  
mầm bệnh (gan, thận), thực bào (tế bào kuffer ở gan, hệ thống nội bì màng lưới của lách,  
bạch cầu đa nhân tích tụ ở lách..)  
- Hệ lâm ba: hạch lâm ba vừa là hàng rào bảo vệ chống nhiễm trùng (thực bào)  
vừa tham gia sản xuất kháng thể – một yếu tố miễn dịch đặc hiệu.  
Khi nhiễm trùng các hạch lâm ba sưng to. Hạch lâm ba ít có tác dụng với mầm  
bệnh là virus.  
10  
- Thực bào: khi có vật lạ (trong đó có các vi sinh vật) xâm nhập vào cơ thể, lập tức  
bị các loại bạch cầu “nuốt” tiêu diệt là tiêu tan ta gọi đó là thực bào. Có 2 loại thực bào:  
+ Tiểu thực bào: do các bạch cầu đa nhân, đặc biệt là bạch cầu đa nhân trung tính  
đảm nhiệm. Khi nhiễm trùng, nếu đã được tiêm phòng vaccin, tiểu thực bào sẽ có tác  
dụng mạnh hơn. Trường hợp ngược lại, nếu chưa được tiêm phòng vaccin, tiểu thực bào  
hoạt động sẽ kém.  
+ Đại thực bào: chủ yếu do các tế bào của hệ thống lưới nội mô nằm rải rác khắp  
cơ thể đảm nhận (lách, gan, phổi, hạch lâm ba, tuỷ xương, nội mô các mạch quản, tổ chức  
liên kết…).  
Có đại thực bào cố định như: tế bào kuffer ở gan, tổ chức bào (histocid), tế bào sợi  
(fibrocid)  
Có đại thực bào di động như: bạch cầu đơn nhân lớn của máu và các tế bào cố định  
rời nơi cố định để vào máu, như tương bào (plasmocid), tổ chức bào (histocid).  
Hiện tượng đại thực bào cũng được tăng cường khi tiêm vaccin và cũng ít có tác  
dụng với virus.  
Thực bào là yếu tố không đặc hiệu của cơ thể nhưng nó là giai đoạn đầu, là tiên đề  
để truyền thông tin đến các tế bào chuyên biệt, kích thích chúng sản sinh kháng thể. Có 2  
loại kháng thể  
- Kháng thể tự nhiên không đặc hiệu: có tác dụng với mọi mầm bệnh, bao gồm:  
+ Chất bổ thể (.lizin) có trong huyết thanh tươi của nhiều loại vật nuôi, có tác  
dụng diệt khuẩn, kích thích thực bào.  
+ Propecdin: có trong huyết thanh, chỉ có tác dụng khi kết hợp với bổ thể và ion Mg++.  
+ .lizin (trong huyết thanh); leucocidin (trong bạch cầu); erythrin (trong hồng  
cầu); leukin (trong tiểu cầu); lizozim (trong nước mắt, nước mũi…)  
- Kháng thể đặc hiệu: là những globulin của huyết tương, được cơ thể sản sinh ra  
khi có kháng nguyên kích thích. Nó có phản ứng đặc hiệu với chính kháng nguyên ấy.  
1.4.4 Sự đề kháng đặc hiệu về đáp ứng miễn dịch  
* Kháng nguyên  
Kháng nguyên là tất cả các chất, đôi khi sẽ cả thành phần cấu tạo của cơ thể khi xâm  
nhập vào cơ thể sinh vật sẽ gây nên một đáp ứng miễn dịch (một quá trình sinh học phức  
tạp) dẫn đến sự tổng hợp những phân tử nhận diện là kháng thể dịch thể hay kháng thể tế  
bào và chúng có đặc tính liên kết đặc hiệu với kháng nguyên ấy  
Kháng nguyên có 2 đặc tính:  
- Có khả năng kích thích cơ thể sinh ra đáp ứng miễn dịch.  
- Có khả năng kết hợp với kháng thể đặc hiệu tương ứng (tính đặc hiệu của  
kháng nguyên)  
Những chất càng lạ với cơ thể càng có tính kháng nguyên mạnh và những chất có  
phân tử lượng càng lớn, cấu trúc càng phức tạp thì tính kháng nguyên càng cao.  
11  
* Kháng thể  
Kháng thể dịch thể đặc hiệu là các chất dịch thể sinh học có trong huyết thanh và  
trong chất dịch của cơ thể, được cơ thể sản sinh ra khi bị kháng nguyên kích thích và có  
khả năng kết hợp đặc hiệu với kháng nguyên đã kích thích sản sinh ra chúng.  
- Đặc tính của kháng thể  
KT có bản chất là protit, là thành phần y - globulin có trong huyết thanh và dịch  
thể động vật, vì vậy có tên gọi là globulin miễn dịch hay immunoglobulin và kí hiệu là  
Ig. Kháng thể có bản chất là protein, những yếu tố nào gây hại cho protein cũng gây tổn  
hại cho kháng thể.  
Có tính đặc hiệu với kháng nguyên rất cao, mỗi loại kháng thể chỉ kết hợp đặc  
hiệu và duy nhất với một loại kháng nguyên đã kích thích sản sinh ra chúng.  
Kháng thể tồn tại trong huyết thanh và dịch thể của cơ thể với thời gian dài hay  
ngắn phụ thuộc vào kháng nguyên, cơ thể động vật và rất nhiều yếu tố khác.  
Kháng thể là protein nên khi xâm nhập vào cơ thể khác loài nó cũng có khả năng  
kích thích cơ thể sinh ra kháng thể chống lại nó, đó là tính kháng nguyên của kháng thể.  
Kháng thể chống lại kháng thể đã kích thích cơ thể sinh ra nó được gọi là kháng kháng thể.  
Kháng thể không sản sinh ra ngay sau khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể mà  
xuất hiện sau 6 - 7 ngày rồi tăng dần và đạt mức tối đa sau 2 - 3 tuần, sau đó từ từ giảm  
và biến mất sau vài tuần, vài tháng hoặc 1 năm.  
Nếu đưa kháng nguyên thêm một lần nữa vào cơ thể, đúng đường và đúng thời gian,  
có tính chất nhắc nhở thì thời gian xuất hiện kháng thể sẽ sớm hơn và kháng thể sinh ra cũng  
nhiều hơn, bởi vì khi bị kháng nguyên lần đầu kích thích, một số loại tế bào có thẩm quyền  
miễn dịch đã biệt hoá trở thành tế bào sản xuất kháng thể và tiếp nhận thông tin kháng  
nguyên cất giữ lại. Khi kháng nguyên vào lần sau và tiếp xúc với tế bào này, chúng chỉ việc  
“nhớ” lại để sản xuất kháng thể. Đây là cơ sở của hiện tượng “trí nhớ miễn dịch” và được  
ứng dụng trong tiêm phòng vaccin.  
Kháng thể dịch thể đặc hiệu thường chỉ tồn tại trong cơ thể một thời gian rồi bị  
đào thải, vì vậy trong phòng bệnh cho người và gia súc, gia cầm khi sử dụng vaccin cần  
tiêm nhắc lại để tạo miễn dịch cao cho cơ thể.  
Hình 1.1. Kết hợp đặc hiệu kháng nguyên kháng thể  
12  
* Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kháng thể đặc hiệu  
Sự hình thành kháng thể đặc hiệu của cơ thể bị ảnh hưởng của nhiều yếu tố như:  
kháng nguyên, thể trạng cơ thể, điều kiện ngoại cảnh...  
- Ảnh hưởng của kháng nguyên  
+ Ảnh hưởng của bản chất kháng nguyên: kháng nguyên có bản chất là protein kích  
thích cơ thể sản sinh nhiều kháng thể hơn so với các kháng nguyên khác: gluxit, lipit.  
+ Ảnh hưởng của đường xâm nhập kháng nguyên vào cơ thể: kháng nguyên vào  
cơ thể bằng nhiều đường, nếu đưa kháng nguyên vào cơ thể bằng đường đưa thích hợp  
nhất, lượng kháng thể sẽ sinh ra nhiều nhất.  
Ví dụ:  
+ Virus thích ứng trên tế bào thượng bì đưa vaccin bằng cách chủng trên da  
+ Virus Newcastle thuộc nhóm Lentogen: Lasota, F, B1, V4 nhân lên tốt trên tế  
bào của niêm mạc đường hô hấp, tiêu hoá nên đưa vaccin loại này qua niêm mạc  
đường hô hấp, tiêu hoá....  
Trong sử dụng vaccin, thường hay đưa vaccin vào cơ thể bằng cách tiêm dưới da  
vì: kháng nguyên qua da vào mạch bạch huyết tổ chức hạch lympho (nơi tiếp nhận  
kháng nguyên sản xuất kháng thể)  
Đưa kháng nguyên vào cơ thể qua đường tiêu hoá ít sử dụng vì: độ pH của dạ dày  
thấp, các enzym của đường tiêu hoá tác động kháng nguyên bị phân giải hay thay đổi  
đơn vị cấu trúc kháng nguyên lượng kháng thể sinh ra ít.  
Theo một số tác giả nếu đưa kháng nguyên vào cơ thể bằng đường tiêu hoá, hô hấp  
liều lượng kháng nguyên gấp 10 - 100 lần liều kháng nguyên đưa vào dưới da  
+ Liều lượng kháng nguyên: lượng kháng nguyên đưa vào cơ thể nhiều, lượng  
kháng thể sinh ra nhiều. Nhưng nếu lượng kháng nguyên nhiều quá sẽ gây độc cho cơ  
thể, gây tê liệt miễn dịch, hoặc có thể dung nạp miễn dịch, kháng thể không được sản  
xuất ra.  
+ Ảnh hưởng của các lần đưa kháng nguyên: sau một thời gian đưa kháng nguyên  
nhắc lại 1 hoặc vài lần kháng thể lần sau xuất hiện sớm hơn và nhiều hơn so với lần  
trước. Có hiện tượng này là do vài trò của các tế bào nhớ miễn dịch, được ứng dụng trong  
việc tiêm nhắc lại vaccin, tạo miễn dịch cao cho cơ thể.  
+ Ảnh hưởng của việc dùng nhiều loại kháng nguyên: cùng một lúc đưa nhiều loại  
kháng nguyên vào cơ thể với liều thích hợp, các loại kháng thể được tạo ra ngang bằng  
hay nhiều hơn khi đưa kháng nguyên vào riêng từng loại. Ramon gọi hiện tượng này là  
sự công lực kháng nguyên, được ứng dụng vào việc chế tạo vaccin đa giá phòng bệnh cho  
người và gia súc.  
Ví dụ: vaccin tụ dấu phòng bệnh tụ huyết trùng và đóng dấu lợn  
vaccin Cevac® Repromune 4 phòng các bệnh: Newcastle (ND); bệnh viêm  
phế quản truyền nhiễm, bệnh viêm túi Bursa (IDB) và bệnh Reovirus  
+ Ảnh hưởng của chất bổ trợ: chất bổ trợ là chất cho thêm vào trong vaccin, làm  
hiệu lực của vaccin cao hơn.  
+ Chất bổ trợ gây 1 phản ứng viêm nhẹ có tác dụng kích thích miễn dịch.  
13  
+ Bổ trợ vô cơ, bổ trợ dầu có tác dụng hấp phụ kháng nguyên, làm kháng nguyên  
khó đồng hoá, trong cơ thể kháng nguyên tồn tại lâu, thời gian kích thích cơ thể dài hơn  
lượng kháng thể sinh ra nhiều hơn.  
+ Bổ trợ sinh vật có tác dụng kích thích các tế bào miễn dịch.  
- Ảnh hưởng của cơ thể và điều kiện ngoại cảnh  
Cơ thể trưởng thành hệ thống cơ quan, tế bào miễn dịch hoàn thiện, cho đáp ứng  
miễn dịch mạnh, lượng kháng thể sinh ra nhiều hơn. Khi về già cơ quan miễn dịch suy giảm,  
đáp ứng miễn dịch giảm, đặc biệt là giảm miễn dịch tế bào, lượng kháng thể giảm.  
Cơ thể khoẻ mạnh sản sinh kháng thể nhiều hợn có thể ốm, bệnh tật.  
Chế độ dinh dưỡng tốt cho lượng kháng thể nhiều hơn so với cơ thể sự suy dinh  
dưỡng. Ở những cơ thể suy dinh dưỡng, hoạt động của cơ quan lympho giảm, rối loạn  
đáp ứng miễn dịch: miễn dịch tế bào giảm, thực bào giảm, miễn dịch dịch thể giảm,...  
Ví dụ: Thiếu protein lượng kháng thể giảm.  
Nhiều kẽm (Zn) giảm yếu tố dịch thể của tuyến ức giảm miễn dịch tế bào,...  
1.4.5. Bệnh lý miễn dịch  
Khi kháng nguyên xâm nhập vào cơ thể sẽ gây đáp ứng miễn dịch. Quá trình này  
tuân thủ theo một cơ chế nghiêm ngặt ở cơ thể khoẻ mạnh không có khuyết tật thì hoạt  
động miễn dịch là hoàn thiện.  
Trong trường hợp sự đáp ứng miễn dịch không còn theo nguyên tắc chung và  
thống nhất nữa, người ta gọi hiện tượng đó là sai lạc miễn dịch. Sự sai lạc này có thể là  
quá mẫn cảm về miễn dịch, có thể là suy giảm miễn dịch, có thể là không đáp ứng miễn  
dịch và có thể là tự sinh miễn dịch chống lại bản thân mình.  
Các tổn thương do sai lạc miễn dịch gây nên:  
* Dung nạp miễn dịch  
Như đã biết bộ máy kiểm soát miễn dịch của cơ thể có khả năng nhận biết những  
gì của mình và không phải của mình (lạ). Theo quy luật sinh học một cơ thể không sản  
sinh kháng thể hay lympho mẫn cảm chống lại thành phần của nó, ngoài ra bất kỳ thành  
phần kháng nguyên lạ nào lọt vào cơ thể cơ thể đều có phản ứng chống lại.  
Dung nạp miễn dịch là hiện tượng cơ thể không có đáp ứng miễn dịch với một loại  
kháng nguyên lạ nào đó trong khi những cá thể khác cùng loài vẫn có đáp ứng miễn dịch.  
Các loại dung nạp miễn dịch:  
+ Dung nạp đặc hiệu: là tình trạng cơ thể không đáp ứng miễn dịch với một loại  
kháng nguyên mà bình thường vẫn có đáp ứng.  
+ Không đặc hiệu: cơ thể mất đáp ứng miễn dịch với mọi loại kháng nguyên.  
+ Tuyệt đối: là hình thái dung nạp bền vững, lâu dài và có khi suốt đời.  
+ Tương đối: là hình thái dung nạp miễn dịch chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn.  
Thực chất của dung nạp miễn dịch là sự huỷ hoại hoặc ức chế các tế bào có thẩm  
quyền miễn dịch chuyên biệt. Dung nạp miễn dịch làm cho cơ thể hoàn toàn mất khả  
năng chống lại một kháng nguyên nào đó. Đối với vi sinh vật lúc đó cơ thể trở thành một  
mảnh đất màu mỡ để ngỏ không phòng thủ.  
14  
* Tự miễn dịch  
Bệnh tự miễn dịch là bệnh lý trong cấu trúc và chức phận miễn dịch cơ thể không  
nhận ra các thành phần của bản thân mình do ảnh hưởng của các tế bào có thẩm quyền  
miễn dịch và tự kháng thể, cơ thể chống lại các thành phần bình thường của mình gây  
nên những tổn thương thực thể và rối loạn thức ăn.  
Thực chất của vấn đế là ở chỗ: tế bào và tổ chức ở trong cơ thể trong một số hoàn  
cảnh và điều kiện cụ thể lại trở thành kháng nguyên. Kháng nguyên này hình thành trong  
cơ thể nên có tên là tự kháng nguyên hay kháng nguyên nội sinh, nó tạo nên tự kháng thể  
và các lympho bào mẫn cảm chống lại các tổ chức của chính bản thân mình và do đó gây  
nên tổn thương cho các tổ chức. Nếu tổn thương lớn phản ứng tự miễn dịch sẽ chuyển  
thành bệnh tự miễn dịch. Bệnh tự miễn dịch xảy ra do các nguyên nhân sau:  
+ Do cấu tạo của cơ thể có những tổ chức ở vị trí biệt lập, không tiếp xúc với hệ  
thống miễn dịch. Nếu vì nguyên nhân dẫn đến sự tiếp xúc của chúng được coi là một  
kháng nguyên lạ và lập tức cơ thể có đáp ứng miễn dịch chống lại; trường hợp này hay  
xảy ra với các tổ chức tuyến giáp, tinh trùng, viêm mắt giao cảm.  
Ví dụ: Bệnh viêm mắt giao cảm, khi bị chấn thuơng một mảnh của thuỷ tinh thể  
rơi vào máu kích thích hình thành kháng thể và kháng thể chống lại thủy tinh thể, mống  
mắt còn lại gây mù.  
+ Cơ thể có khả năng chống lại các tổ chức của chính mình là tổ chức bệnh lý. Do  
tác động của quá trình nhiễm trùng, nhiễm độc, chấn thương một số tế bào tổ chức có thể  
bị tổn thương và thay đổi cấu trúc, trở thành lạ với cơ thể.  
Ví dụ: Bệnh viêm gan do virus làm biến đổi cấu trúc tế bào gan trở thành vật lạ ->  
cơ thể sản sinh kháng thể chống lại -> viêm gan mãn tính.  
+ Cơ thể có khả năng chống lại các tổ chức của mình khi vi khuẩn, virus lọt vào có  
cấu trúc kháng nguyên chung với thành phần quen thuộc của cơ thể.  
Ví dụ: chất hexozamin có trong polyoxit của liên cầu khuẩn õ cũng có trong thành  
phần gluco protein của van tim nên khi vi khuẩn này xâm nhập cơ thể sản sinh kháng thể  
kháng liên cầu khuẩn cũng kháng van tim gây tổn thương van tim.  
+ Do có thiếu sót trong bộ máy kiểm soát miễn dịch: khi còn ở trong giai đoạn bào  
thai các dòng tế bào chống lại kháng nguyên của bản thân đều bị thủ tiêu hoặc ức chế  
chọn lọc tạo thành các dòng bị cấm. Do một nguyên nhân nào đó hệ thống kìm hãm dòng  
bị cấm suy yếu. Các dòng tế bào bị cấm được giải toả hoạt động mạnh mẽ và sinh ra  
kháng thể chống lại các tổ chức của chính mình.  
* Suy giảm miễn dịch (immuno deficisucy)  
Suy giảm niễn dịch là tình trạng của cơ thể sống trong đó hệ thống miễn dịch hoạt  
động yếu, không đáp ứng đợc với yêu cầu của cuộc sống bình thường, dẫn đến không  
chống lại được với các vi sinh vật gây bệnh, hậu quả là cơ thể dễ bị nhiễm trùng nặng đi  
đến tử vong.  
Suy giảm miễn dịch được chia làm hai loại:  
+ Suy giảm miễn dịch bẩm sinh: do những bất thường mang tính di truyền tạo ra  
những khuyết tật trong hệ thống miễn dịch  
15  
+ Suy giảm miễn dịch mắc phải: là một hiện tượng thứ phát sau nhiều bệnh, nhất  
là các bệnh gây suy dinh dưỡng, nhiễm độc, ảnh hưởng của một số thuốc gây ức chế  
miễn dịch… và do nhiễm virus (HIV ở người, Gumboro ở gà)  
Trong tất cả các trường hợp nhiễm khuẩn (virus, vi khuẩn, nấm hay kí sinh trùng)  
nếu kéo dài ngày gây suy dinh dưỡng dẫn đến suy giảm miễn dịch.  
Nhiễm virus dẫn đến rối loạn đáp ứng miễn dịch và làm suy giảm miễn dịch dẫn  
đến các bội nhiễm khác.  
Các bệnh ác tính như ung thư, bệnh máu ác tính và các bệnh về thận như suy thận,  
thận nhiễm mỡ… đều dẫn đến suy giảm miễn dịch. Ngoài ra ở các cơ thể gia súc già do có  
những thay đổi trong hoạt động miễn dịch người ta thấy có những suy giảm miễn dịch rõ rệt.  
* Hiện tượng quá mẫn  
Quá mẫn là sự phản ứng quá mức của một cơ thể đã miễn dịch đối với kháng  
nguyên khi chúng xâm nhập vào lần sau. Sự tương tác giữa kháng nguyên với kháng thể,  
giữa kháng nguyên với lympho T mẫn cảm dẫn đến tổn thương và rối loạn hoạt động cho  
cơ thể từ mức độ nhẹ đến nặng và có thể tử vong.  
Các trường hợp phản ứng quá mẫn:  
Phản vệ (Anaphylaxia): là một phản ứng miễn dịch bệnh lý hoàn toàn trái ngược  
với miễn dịch bảo vệ, nó có thể xuất hiện ở tất cả các loài động vật có vú, phản vệ gây  
tổn thương nặng nề cho cơ thể. Phản vệ có thể chia ra làm 2 loại:  
+ Phản vệ toàn thân: xuất hiện khi kháng nguyên vào cơ thể bằng đường tĩnh  
mạch với tốc độ nhanh, cơ thể thường bị trụy mạch, tăng hô hấp, khó thở, tăng tính thấm  
thành mạch, co cơ trơn, rối loạn tuần hoàn, tiêu hoá, bài tiết, có thể co giật rồi chết.  
Những biểu hiện trên là do các chất amin như Histamin, Serotamin thoát ra ồ ạt từ các tế  
bào kích thích cơ thể gây nên.  
+ Phản vệ khu trú hay xảy ra tại da, xuất hiện khi đưa kháng nguyên vào cơ thể  
qua da và niêm mạc, do kháng nguyên và kháng thể kết hợp ngay trên bề mặt tế bào tổ  
chức, hình thành phản ứng viêm cục bộ do các chất amin được tiết ra ồ ạt tại cục bộ.  
Dị ứng: là một trạng thái phản ứng khác thường của cơ thể với kháng nguyên lạ,  
đó là một phản ứng miễn dịch bệnh lý xảy ra do hiện tượng phản vệ toàn thân hay cục bộ  
gây nên.  
+ Dị ứng toàn thân: biểu hiện giống như phản vệ toàn thân thường xảy ra ở người,  
rất nguy hiểm, điển hình là dị ứng penicillin, đặc biệt là benzympenicilline, hoặc tai biến  
khi dùng huyết thanh điều trị nhiều lần.  
+ Dị ứng cục bộ: hen mề đay, eczema, viêm mũi dị ứng…  
Quá mẫn muộn: thường khu trú cục bộ dưới dạng một phản ứng viêm đặc trưng  
với sự thâm nhiễm của đại thực bào và lympho bào.  
+ Quá mẫn muộn với vi sinh vật hay dị ứng nhiễm trùng, điển hình là quá mẫn  
muộn với vi khuẩn lao.  
+ Quá mẫn do tiếp xúc: một số hoá chất, một số kim loại nặng khi tiếp xúc, xâm  
nhập qua da vào cơ thể chúng kết hợp với protein của cơ thể tạo ra dị nguyên, kích thích  
cơ thể sinh ra miễn dịch tế bào. Nếu tiếp xúc lần sau sẽ gây tổn thương cục bộ: nổi mụn,  
sưng cứng…  
16  
1.4.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến sức đề kháng  
* Yếu tố bên trong  
- Thể chất và loại hình thần kinh: con vật có thể chất tốt, loại hình thần kinh mạnh  
và thăng bằng có sức đề kháng cao hơn do khả năng sản sinh kháng thể và khả năng thực  
bào cao hơn con vật có thể chất và loại hình thần kinh yếu.  
- Tuổi: sức đề kháng của con vật còn biến đổi theo tuổi  
+ Gia súc non cơ thể chưa phát triển đầy đủ, hệ thần kinh chưa được hoàn thiện,  
các cơ năng bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng chưa được kiện toàn, các phản ứng ngăn  
chặn nhiễm trùng yếu nên mầm bệnh dễ xâm nhập hơn so với gia súc trưởng thành.  
Do những đặc điểm trên nên gia súc non dễ mắc một số bệnh mà gia súc trưởng  
thành không mắc: bệnh phó thương hàn, bệnh phân trắng.  
+ Gia súc trưởng thành hệ thần kinh và các cơ năng tự vệ phát triển kiện toàn nên  
tính phản ứng được tăng cường sức đề kháng mạnh.  
+ Gia súc già mọi cơ năng đều hoạt động kém, tính phản ứng và sức đề kháng  
giảm sút. Bệnh xảy ra không điển hình nhưng trầm trọng.  
- Giống: tính cảm thụ đối với bệnh của giống cái kém hơn so với giống đực. Tuy  
nhiên, đặc điểm cấu tạo của cơ thể giống cái và cách sử dụng gia súc cái không hợp lý là  
nguyên nhân làm chúng dễ mắc một số bệnh truyền nhiễm.  
* Các yếu tố bên ngoài  
- Dinh dưỡng: sức đề kháng của cơ thể phụ thuộc trước hết vào chế độ dinh dưỡng.  
Dinh dưỡng không những về chất mà cả về lượng cũng đều rất quan trọng, nhất là đối với  
gia súc non. Việc sử dụng thức ăn phù hợp theo nhu cầu lứa tuổi cũng ảnh hưởng đến quá  
trình sinh trưởng và phát triển bình thường của chúng.  
Cho ăn không đủ làm giảm sức đề kháng của cơ thể. Nếu gia súc bị đói thì khả  
năng kháng thể hình thành kém, hiện tượng thực bào và sức chống đỡ của tế bào sẽ giảm.  
Ví dụ: bồ câu bị đói có thể mắc bệnh nhiệt thán.  
- Vệ sinh gia súc: điều kiện vệ sinh gia súc ảnh hưởng trực tiếp đến mức chống đỡ  
của cơ thể đối với bệnh. Nhiều bệnh truyền nhiễm có thể xảy ra hoặc tái phát do nuôi  
dưỡng, chăm sóc và vệ sinh kém.  
- Chuồng trại: gia súc chịu ảnh hưởng lớn của nhiều yếu tố chuồng trại, nhất là  
gia súc non và gia súc có chửa.  
+ Nhiệt độ trong chuồng nếu quá cao sẽ tích lại trong cơ thể gây rối loạn thần kinh  
trung ương, hoạt động của các cơ năng bảo vệ bị phá hoại, làm cơ thể dễ nhiễm trùng.  
+ Nhiệt độ chuồng nuôi quá thấp, điều kiện dinh dưỡng và vệ sinh kém làm gia  
súc dễ bị cảm lạnh.  
+ Nhiệt độ thấp, ẩm độ cao gia súc dễ nhiễm lạnh và hay bị các bệnh đường hô hấp.  
+ Về mùa nóng, độ ẩm không khí cao ngăn trở sự toả nhiệt của cơ thể gia súc dễ bị  
cảm nóng.  
17  
+ Chuồng nuôi không thoáng khí, vệ sinh kém các chất thải, khí thải gây độc cho  
gia súc và làm giảm sức đề kháng của chúng.  
+ Độ chiếu sáng của chuồng vừa phải sẽ tăng cường hoạt động bảo vệ của da,  
chống được một số bệnh còi xương, mềm xương, làm các vết thương của da mau lành,  
tác dụng miễn dịch của da, tuyến mồ hôi, tuyến mỡ được tăng cường.  
- Thức ăn, nước uống: không vệ sinh có thể mang mầm bệnh vào cơ thể  
+ Thức ăn bị lên men thối rữa gây viêm ruột ỉa chảy  
+ Thức ăn lẫn các mảnh thuỷ tinh, đinh,... làm xây xát niêm mạc đường tiêu hoá,  
tạo điều kiện cho vi khuẩn có hại trong đường tiêu hoá xâm nhập gây bệnh.  
+ Thức ăn lẫn thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ,... gây độc cho cơ thể gia súc.  
- Vệ sinh thân thể, sử dụng hợp lý sẽ làm tăng sức đề kháng của cơ thể với bệnh tật.  
- Vận chuyển: khi vận chuyển nếu gia súc bị nhốt chật chội, bị đánh đuổi, dồn ép  
nhiều, điều kiện chăm sóc kém làm cơ thể suy yếu, thể trọng giảm sút tạo điều kiện cho  
vi khuẩn xâm nhập gây bệnh.  
2. Quá trình sinh dịch  
2.1. Khái niệm  
Qúa trình sinh dịch là quá trình bệnh truyền nhiễm lây liên tục từ con vật ốm sang  
con vật khoẻ. Con vật ốm luôn luôn bài xuất mầm bệnh ra ngoài suốt thời gian mắc bệnh,  
mầm bệnh được truyền trực tiếp sang con khoẻ hoặc được bài ra ngoại cảnh rồi xâm nhập  
vào con khoẻ qua các yếu tố trung gian  
Vật chủ  
Môi trường  
Tác nhân gây bệnh  
(Nguồn bệnh)  
Sơ đồ 1.1. Quá trình sinh dịch  
2.2. Các khâu của quá trình sinh dịch  
Một vụ dịch truyền nhiễm phát sinh cần phải có đủ 3 yếu tố: nguồn bệnh, các nhân  
tố trung gian truyền bệnh và súc vật cảm thụ. Ba yếu tố trên là ba khâu của quá trình sinh  
dịch, chỉ cần thiếu một trong ba khâu đó là dịch không thể phát sinh. Trên cơ sở đó,  
muốn tiêu diệt bệnh truyền nhiễm phải nắm được các khâu của quá trình sinh dịch để  
ngăn chặn dịch.  
* Nguồn bệnh  
Nguồn bệnh là khâu đầu tiên và khâu chủ yếu của quá trình sinh dịch, là nơi mầm  
bệnh khu trú và sinh sản thuận lợi và từ đó trong những điều kiện nhất định sẽ xâm nhập  
vào cơ thể bằng cách này hay cách khác để gây bệnh.  
18  
Nguồn bệnh có thể chia thành 2 loại:  
* Con vật đang mắc bệnh: gồm gia súc, gia cầm, dã thú mắc bệnh ở các cơ thể  
khác nhau. Người mắc bệnh trong nhiều bệnh cũng là nguồn bệnh.  
Trong nhiều bệnh, con ốm ở thời kỳ nung bệnh là nguy hiểm nhất vì con ốm đã  
mang và bài xuất mầm bệnh ra ngoài một thời gian trước khi xuất hiện triệu chứng lâm  
sàng đầu tiên.  
Dã thú, loài gặm nhấm là nguồn bệnh rất nguy hiểm đối với gia súc vì chúng là  
những ổ vi khuẩn trong thiên nhiên của rất nhiều bệnh truyền nhiễm.  
Về mặt dịch tễ học, những con mắc bệnh nhẹ nguy hiểm hơn những con mắc bệnh  
nặng vì chúng thường khó được phát hiện, dễ bị bỏ qua hoặc coi thường, lại có khả năng  
đi lại tiếp xúc với con khoẻ nên làm bệnh dễ lây lan.  
* Con vật mang trùng: gồm gia súc, gia cầm sau khi mắc bệnh khỏi nhưng còn  
mang vi khuẩn trong cơ thể (bệnh lao), trường hợp này gọi là lành bệnh mang trùng.  
Cũng có thể là con vật mới lành bệnh nhưng còn mang và bài xuất mầm bệnh trong một  
thời gian (bệnh dịch tả lợn), hoặc con vật chưa hề mắc bệnh nhưng mang mầm bệnh  
trong cơ thể gọi là con khoẻ mang trùng (bệnh tụ huyết trùng), trường hợp này nếu điều  
kiện ngoại cảnh bất lợi vi khuẩn sẽ trỗi dậy gây bệnh.  
Hiện tượng mang trùng rất nguy hiểm về mặt dịch tễ học, súc vật mang trùng  
thường làm lây lan bệnh lớn hơn cả bản thân súc vật ốm. Trong một số bệnh truyền  
nhiễm, súc vật mang trùng có tác dụng quyết định dịch phát sinh.  
* Các nhân tố trung gian truyền bệnh  
Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ hai của quá trình sinh dịch có vai trò  
chuyển mầm bệnh từ nguồn bệnh tới súc vật thụ cảm.  
Có rất nhiều loại nhân tố trung gian truyền bệnh.  
- Thức ăn, nước uống: là nhân tố trung gian truyền bệnh phổ biến nhất ở một số  
bệnh truyền nhiễm lây bằng đường tiêu hoá.  
Thức ăn nước uống bị nhiễm bệnh là do các chất bài tiết của con vật nhiễm bệnh,  
do đất bị ô nhiễm, do dụng cụ chứa hoặc chế biến thức ăn, do các loại gia súc, gia cầm  
khác hoặc do côn trùng…  
- Đất: đóng vai trò quan trọng trong việc làm lây lan bệnh. Có vùng đất đặc biệt  
thường xuyên chứa mầm bệnh.  
Đất bị ô nhiễm là do các chất bài tiết của con bệnh, do chất thải của cống rãnh, các  
nhà máy chế biến sản phẩm động vật, lò sát sinh hoặc do chôn xác của gia súc ốm chết, nha  
bào của nhiều loại vi khuẩn tồn tại khá lâu trong đất (nha bào nhiệt thán, uốn ván)... Từ đất  
mầm bệnh qua vết thương hoặc qua thức ăn, nước uống dính đất xâm nhập vào cơ thể.  
- Không khí: có chứa mầm bệnh là do mầm bệnh dính vào bụi (khi quét dọn  
chuồng, chải cọ gia súc) hoặc dính vào nước bọt nhỏ khi gia súc kêu, ho bắn ra.  
Mầm bệnh truyền qua không khí thường được đưa đi rất xa và xâm nhập qua  
đường hô hấp để gây bệnh.  
19  
- Côn trùng: có vai trò hết sức nguy hiểm trong việc truyền bệnh, côn trùng truyền  
bệnh theo 2 phương thức : cơ học và sinh học.  
Trong phương thức cơ học, giữa mầm bệnh và sinh vật mang mầm bệnh không có  
mối quan hệ sinh vật nào cả, côn trùng chỉ mang mầm bệnh một cách máy móc từ chỗ này  
sang chỗ khác. Thời gian mầm bệnh sống ở trên cơ thể chúng rất ngắn.  
Trong phương thức truyền bệnh sinh học, mầm bệnh tồn tại sinh sản trong côn  
trùng mang mầm bệnh . Khi đã mang mầm bệnh, sinh vật đó có thể truyền bệnh suốt cả  
đời sống của nó (ví dụ : chấy, rận chứa mầm bệnh sốt phát ban) hoặc có thể mầm bệnh  
phải trải qua nhiều giai đoạn trong quá trình sinh trưởng trong cơ thể côn trùng mang  
mầm bệnh rồi mới truyền bệnh (ấu trùng gây bệnh sốt rét phát triển trong muỗi anophen).  
- Người: có thể mang nhiều loại mầm bệnh, nhất là những người trực tiếp tiếp xúc  
với gia súc như công nhân chăn nuôi, vắt sữa, người chăm sóc gia súc...  
- Sản phẩm động vật: thịt gia súc ốm có thể là nguyên nhân làm lây lan bệnh. Sữa  
gia súc ốm hoặc sữa gia súc mang trùng chứa nhiều vi khuẩn gây bệnh (các bệnh lao, sảy  
thai truyền nhiễm, lở mồm long móng đều có thể truyền qua sữa). Các sản phẩm khác như  
da, lông, sừng, móng, xương đều có thể mang và truyền bệnh.  
Các loại động vật khác hoặc dụng cụ đồ vật chăn nuôi, thú y, vận chuyển gia súc  
đều là các nhân tố cơ học trung gian truyền bệnh  
Như vậy, một biện pháp vô cùng trọng yếu trong công tác phòng chống dịch bệnh  
là phải tìm cách phá huỷ các nhân tố trung gian truyền bệnh như giữ vệ sinh thức ăn,  
nước uống, tiêu diệt côn trùng, vệ sinh chuồng trại...  
* Súc vật cảm thụ  
Súc vật cảm thụ bệnh là khâu thứ ba không thể thiếu của quá trình sinh dịch. Có  
nguồn bệnh và nhân tố trung gian truyền bệnh nhưng nếu cơ thể gia súc không cảm thụ  
với bệnh (do có miễn dịch) thì dịch không thể phát sinh.  
Vậy sức cảm thụ của súc vật đối với bệnh là điều kiện bắt buộc để dịch phát sinh  
và phát triển.  
Sức cảm thụ của súc vật phụ thuộc vào sức đề kháng không đặc hiệu (chăm sóc,  
nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh...) và sức đề kháng đặc hiệu (tiêm phòng vaccin) là  
những biện pháp chủ động và tích cực nhằm xoá bỏ khâu thứ 3 của quá trình sinh dịch,  
làm dịch không thể phát sinh.  
2.3. Cơ chế và phương thức truyền bệnh  
* Cơ chế lây bệnh  
Mầm bệnh lây từ con vật bệnh sang con vật khỏe theo một quy luật nhất định, gọi  
là cơ chế truyền bệnh, bao gồm:  
- Nơi khu trú đầu tiên của mầm bệnh: đó là nơi mầm bệnh gặp những điều kiện  
thuận lợi đầu tiên để sinh sản và cũng là nơi đảm bảo cho mầm bệnh được bài ra ngoài cơ  
thể. Nơi khu trú đầu tiên có tính chất chuyên biệt đối với từng loại mầm bệnh.  
Ví dụ: Nơi khu trú đầu tiên của bệnh lao là phổi, của bệnh dại là tuyến nước bọt  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 99 trang yennguyen 22201 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Phòng, trị bệnh truyền nhiễm thú y - Nghề: Thú y", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_mo_dun_phong_tri_benh_truyen_nhiem_thu_y_nghe_thu.pdf