Giáo trình mô đun Phòng, trị bệnh sản khoa thú y - Nghề: Thú y
ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH LÀO CAI
TRƯỜNG CAO ĐẲNGLÀO CAI
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: PHÒNG, TRỊ BỆNH SẢN KHOA THÚ Y
NGHỀ: THÚ Y
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số:
ngày…….tháng….năm ........
/QĐ-CĐLC
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Lào Cai)
Lào Cai, năm 2020
BÀI 1: BỆNH Ở THỜI KỲ CÓ CHỬA
1. Bại liệt trước khi đẻ
Bại liệt trước khi đẻ là một quá trình bệnh lý phức tạp xuất hiện ở cơ thể khi có thai
gây nên tình trạng bệnh nặng nên con vật chỉ nằm bẹp một chỗ. Bệnh này gặp nhiều nhất ở
bò và dê, ít gặp ở ngựa. Bệnh thường xuất hiện vào thời gian trước khi đẻ 1 tuần lễ hay trên
dưới 1 tháng.
1.1. Nguyên nhân
- Do chế độ nuôi dưỡng chăm sóc quản lý và sử dụng không đúng mục đích,
không đúng kỹ thuật.
- Khẩu phần thức ăn không đầy đủ và không phù hợp với yêu cầu phát triển theo
từng giai đoạn phát triển của thai.
- Ở thời kỳ có thai giai đoạn cuối nhu cầu của cơ thể mẹ cần nhiều đạm, vitamin,
khoáng chất. Đặc biệt nhất là cần phải đầy đủ về Ca và P để phát triển bộ xương của
bào thai. Một số trường hợp cơ thể mẹ thiếu Ca, P.
- Trong khẩu phần thức ăn cung cấp cho gia súc thiếu Ca và P.
- Gia súc mẹ ít được thả, vận động.
- Do gia súc mẹ bị bệnh về đường ruột nên ảnh hưởng đến quá trình hấp thụ khoáng.
- Có thể kế phát từ bệnh thiểu năng tuyến phó giáp trạng làm thay đổi tỷ lệ bình
thường giữa Ca và P, làm cho P tăng và Ca giảm xuống
- Bại liệt trước khi đẻ là do sự chèn ép thần kinh rõ nhất là đám rối hông khum. Thỉnh
thoảng có thể do xuất hiện quá trình bệnh lý ở não tuỷ sau đó làm liệt hai chân sau.
1.2. Triệu chứng
- Bệnh này phát triển có thể từ từ hay xảy ra đột ngột.
- Trường hợp bệnh phát triển từ từ, lúc đầu con vật đi lại khó khăn (trong một
vài ngày) đứng không vững, sau đó mới nằm bẹp một chỗ còn trường hợp bệnh xảy ra
đột ngột thì con vật chỉ nằm mà không đứng dậy được.
- Thời gian đầu của bệnh ở bò, những phản xạ với xung quanh còn bình thường.
Tình trạng chung của con vật như thân nhiệt, hô hấp, tuần hoàn, tiêu hoá… nói chung
vẫn bình thường, vật có thể tự trở mình từ bên này sang bên kia. Con vật ăn dở, thích
ăn những thứ mà bình thường không thể ăn được như đất, đá, vật gặm nền chuồng,
máng ăn…
- Sau đó bệnh tiếp tục tiến triển sẽ ảnh hưởng đến tình trạng chung của cơ thể, kế
phát một số tình trạng bệnh lý khác như: Sa âm đạo, viêm phổi, viêm dạ dày, ruột
chướng bụng đầy hơi, đẻ khó do xoang chậu bị hẹp hay bị biến dạng.
1.3. Tiên lượng
Phụ thuộc vào thời gian phát sinh bệnh. Nếu bệnh xuất hiện vào thời gian trước khi đẻ
một vài tuần và cơ thể nói chung bình thường thì bệnh sẽ chóng khỏi. Nếu bệnh xuất hiện
trước khi đẻ một vài tháng thì tiên lượng xấu, gia súc có thể bị chết vì bị bại huyết và thối
loét.
1.4. Phòng và điều trị
Kịp thời bổ xung khoáng và những yếu tố dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể mẹ,
đồng thời đề phòng những tình trạng kế phát
* Hộ lý
- Thay đổi khẩu phần thức ăn, cho ăn những thức ăn dễ tiêu, nhiều đạm, khoáng và
vitamin, tăng cường các loại bột xương, các loại mắm, cua, ốc, cá…
- Đề phòng hiện tượng bầm huyết, tụ huyết, phải luôn trở mình cho vật ngày 3- 4
lần, cho con vật nằm trên chuồng độn nhiều rơm rạ và cỏ khô. Với gia súc lớn nên dùng
dây chắc để đóng đóng, treo con vật đứng lên.
* Dùng thuốc
- Với gia súc quý cho uống dầu cá.
- Gluconat Canxi 20% 500- 1000ml cho gia súc lớn. Tiêm tĩnh mạch hoặc có thể tiêm
Chlorua Canci. Sử dụng các loại thuốc đặc hiệu để điều trị các bệnh kế phát nếu có.
2. Sẩy thai
Quá trình gia súc có thai bị gián đoạn, bị cắt quãng được gọi là hiện tượng sẩy
thai, bào thai bị đẩy ra khỏi tử cung của mẹ khi thai đã chết hay còn đang còn sống.
Thỉnh thoảng gặp hợp tử bị tiêu biến đi trong tử cung hay bào thai chết còn được giữ
lại trong tử cung.
2.1. Phân loại hiện tượng sẩy thai
Căn cứ vào thời gian xuất hiện bệnh chủ yếu có 2 loại:
* Loại sẩy thai
Loại này thường xuất hiện vào thời gian có thời kỳ I và kỳ II. Hiện tượng này
dẫn đến nhiều tình trạng bệnh lý khác nhau ở cơ quan sinh dục và ở cơ thể nói chung.
* Loại đẻ non
- Xuất hiện chủ yếu vào giai đoạn có thai kỳ III, về mặt lâm sàng, loại này có
một số triệu chứng gần giống như khi đẻ bình thường,
- Bầu vú căng to, xung huyết, sữa thay đổi về sản lượng, màu sắc và cả mùi vị.
- Âm hộ có hiện tượng xung huyết phù thũng.
- Sau khi đẻ non nếu không có hiện tượng sát nhau hay viêm nội mạc tử cung,
nếu được nuôi dưỡng và chăm sóc tốt thì con mẹ hồi phục sức khỏe nhanh, cơ thể nói
chung bình thường.
- Vật sơ sinh khi bị đẻ non phản xạ bú thường rất chậm hay không có, nhiệt độ
thường thấp, cho nên cần phải hộ lý chu đáo và cẩn thận.
Căn cứ vào triệu chứng, mức độ biểu hiện và quá trình bệnh lý được phân thành
các loại sau:
* Sẩy thai hoàn toàn
Loại này thường gặp ở các loại gia súc đơn thai. Toàn bộ bào thai không được
tiếp tục phát triển nó được tiêu biến đi hay bị tống ra khỏi tử cung mẹ.
* Sẩy thai không hoàn toàn
Thường gặp ở các loại gia súc đa thai. Một số bào thai bị chết, số thai còn lại
được phát triển bình thường hoặc biến thành những dạng đặc biệt của bào thai.
* Tiêu thai
- Tiêu thai là một dạng bệnh lý nhẹ nhất trong các loại sẩy thai.
- Bênh này thường sẩy ra trong thời kỳ đầu của quá trình có thai, khi hợp tử
chưa phát triển thành bào thai.
- Tất cả các tổ chức bào thai đều được cơ thể mẹ hấp thu không để lại sự biến
đổi gì hay vết tích gì trong tử cung. Bệnh nay thường gặp ở bò, lợn, ngựa.
- Nguyên nhân gây ra bệnh có thể là do sự phân chia tế bào trứng sau thụ tinh,
hợp tử phát triển không bình thường, sức sống của thai quá yếu.
- Có thể do tế bào trứng và tình trùng phát triển không hoàn toàn hay do giao
phối cận thân, do quá trình nuôi dưỡng, quản lý cơ thể mẹ không tốt.
- Khi gia súc bị bệnh qua một chu kỳ sau lần phối giống cuối cùng, gia súc xuất
hiện trạng thái động dục bình thường. Cơ quan sinh dục và cơ thể nói chung không có
triệu chứng điển hình.
* Thai bị chết và chưa biến đổi
- Loại sẩy thai này thường sảy ra vào giai đoạn có thai kỳ I và đầu kỳ II,
thường sẩy ra trong thực tế sản xuất.
- Khi bào thai bị chết trở thành một dạng dị vật trong tử cung, từ đó dị vật luôn
kích thích gây những phản ứng co bóp của tử cung cho nên bào thai, nhau thai và các
sản vật trung gian khác bị đẩy ra ngoài.
- Trường hợp bệnh xảy ra vào giai đoạn có thai kỳ II cơ quan sinh dục và cơ
thể nói chung có thể xuất hiện một số triệu chứng như:
+ Bầu vú hơi căng, sữa thay đổi mầu sắc và mùi vị. Gia súc có biểu hiện rặn
nhẹ, kiểm tra âm đạo thấy cổ tử cung hơi mở, niêm dịch loãng lẫn với dịch thai chảy ra
ngoài. Với gia súc có thai trên dưới 1 tháng thì triệu chứng của bệnh không rõ.
+ Thể bệnh này thì có tiên lượng tốt sau một thời gian tùy thuộc vào loài gia súc
khác nhau con mẹ có thể động dục trở lại và tiến hành quá trình thụ tinh bình thường.
+ Ngược lại nếu bị lưu thai hay thai bị thối rữa thì có thể gây tình trạng viêm tử
cung, bại huyết… ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình sinh sản của gia súc sau này.
Thỉnh thoảng gây hiện tượng vô sinh hay con mẹ bị chết.
* Sẩy thai do thói quen
- Sẩy thai do thói quen là một hiện tượng bệnh lý sẩy ra có quy luật. Sau một
thời gian có thai, tùy thuộc vào các loài gia súc khác nhau của tất cả các lần có thai đều
xảy ra hiện tượng sẩy thai.
- Sau khi phối giống một thời gian nhất định nào đó của tất cả các lứa thai, bào
thai bị chết, bị đẩy ra khỏi tử cung mẹ hay biến thành các dạng đặc biệt khác như thai
bị canxi hóa, thối rữa…
- Bệnh sẩy thai do thói quen có thể gặp trong các trường hợp: Những chỗ cong
hay từng đám của thành tử cung bị dính liền với các tổ chức khác xung quanh. Màng
treo rộng của tử cung bị ngắn lại, tử cung phát triển không hoàn toàn hay tử cung bị dị
dạng. Niêm mạc tử cung, cổ tử cung bị thoái hóa từng phần từ đó hình thành những vết
sẹo, những khối u ở trong tử cung.
* Thai khô
- Sau khi bào thai bị chết tất cả dịch ở trong các tế bào tổ chức của thai được cơ
thể mẹ hấp thu hoàn toàn. Những phần khác trở thành khô cứng và được lưu lại trong
tử cung.
- Bệnh xảy ra ở trên tất cả các đàn gia súc, gặp nhiều ở trâu, bò, lợn. Khi bào thai
đã chết nhưng thể vàng vẫn được tồn tại trong buồng trứng.
- Progesterol vẫn được tiết ra cho nên tử cung co bóp yếu, cổ tử cung vẫn được
khép kín vi khuẩn bên ngoài không thể xâm nhập vào được.
- Thời gian đầu của bệnh dịch thai và tất cả các dịch trong các tế bào tổ chức bào
thai được cơ thể mẹ hấp thu qua niêm mạc tử cung.
- Các tổ chức khác của thai bị rắn lại thể tích co nhỏ, đầu và chân thai chụm lại với
nhau, nhau thai khô và nhăn nheo lại bao quanh chặt bào thai.
- Nhau thai và bào thai biến thành một cục màu nâu đen cứng nên người ta gọi là
thai khô hay thai bị canxi hóa.
- Thai khô hóa có thể được lưu lại trong tử cung đến hết thời kỳ có thai và được
đẩy ra ngoài cùng lúc với những thai phát triển bình thường (ở lợn) hoặc có thể bị đẩy ra
ngoài ở thời gian sớm hơn.
Bệnh thai khô thường xuất hiện một số triệu trứng:
+ Quá thời gian có thai trung bình mà cơ thể mẹ không biểu hiện quá trình sinh
đẻ. Những đặc điểm ở cơ quan sinh dục, ở cơ thể nói chung của hiện tượng có thai dần
dần được giảm xuống hay mất hẳn nhưng gia súc vẫn không động dục trở lại.
Kiểm tra qua trực trạng thấy cổ tử cung nhỏ và rắn hơn bình thường hay không thay
đổi, mức độ to, nhỏ của tử cung phụ thuộc vào tháng thai khi xảy ra bệnh nhưng
thường thể tích tử cung nhỏ hơn nhiều so với tử cung có thai cùng tháng mà thai phát
triển bình thường. Khi xoa bóp nhẹ tử cung thấy có thể phát hiện được bọc cục thai
khô ở trong tử cung, thành tử cung dầy và rắn hơn bình thường.
+ Bằng phương pháp thủ thuật kích thích mở rộng cổ tử cung, thụt dầu nhờn
vào tử cung, lấy thai khô ra ngoài. Sau đó dùng các loại thuốc sát trùng có nồng độ
thích hợp để thụt rửa tử cung, bơm trực tiếp kháng sinh vào tử cung. Ngoài ra có thể
dùng các loại thuốc có tác dụng kích thích tử cung co bóp để tăng cường quá trình hồi
phục của cơ quan sinh dục.
* Nhuyễn thai (thai nhũn nát)
- Sau khi bào thai bị chết, do cổ tử cung mở, vi khuẩn sinh mủ xâm nhập vào
gây viêm tử cung tích mủ.
- Các phần mềm của thai bị lên men và bị phân giải cũng có thể do viêm nôi
mạc tử cung mãn tính có mủ, sau khi điều trị khỏi thụ tinh có kết quả nhưng lại tái phát
viêm có mủ làm cho bào thai bị chết và bị phân giải.
- Quá trình lên men và phân giải được bắt đầu từ màng thai đến các phần mềm
của thai, tạo nên một hỗn hợp màu nâu hay đỏ nhạt và luôn được thải ra ngoài.
- Một số mảnh xương vụn nhỏ cũng có thể lẫn với dịch thải ra. Còn những
xương to và lớp sụn vẫn được giữ lại trong tử cung.
- Triệu chứng điển hình của bệnh:
+ Hỗn dịch từ tử cung thải xuất ra ngoài lúc đầu nhiều, màu đỏ nhạt, sau biến
thành mầu nâu có lẫn mủ, cuối cùng thì toàn bộ mủ bị chảy ra.
+ Mỗi khi gia súc đi đại tiểu tiện hay rặn nhất là khi động dục thì hỗn dịch và
mủ lại chảy ra nhiều hơn, có mùi hôi thối.
+ Khám qua trực tràng, xoa bóp tử cung có thể phát hiện tiếng cọ sát của xương
bào thai. Kích thước tử cung phụ thuộc vào tuổi thai lúc chết và hỗn dịch trong tử cung
nhiều hay ít nhưng thường nhỏ hơn nhiều so với tử cung có bào thai phát triển bình
thường và cùng tháng thai.
+ Trường hợp bệnh xảy ra vào thời kỳ có thai kỳ đầu, niêm mạc tử cung bị tổn
thương nhẹ, nếu điều trị kịp thời thì ít ảnh hưởng đến quá trình sinh sản của con mẹ.
+ Nếu bệnh xuất hiện khi thai đã lớn, viêm tử cung tích mủ lâu dài, con vật mất
khả năng sinh sản. Mặt khác còn có thể kế phát viêm phúc mạc, bại huyết, huyết
nhiễm mủ, con vật sẽ chết.
Phương pháp can thiệt bệnh nhuyễn thai cũng giống như trường hợp thai bị khô
hóa.
* Thai bị chương to và thối rữa
- Sau khi bào thai bị chết, các loại vi khuẩn xâm nhập, các tổ chức dưới da thai
bị phân giải, các loại khí được sản sinh và tích lại dưới da bụng, ngực và âm môn.
- Thai chết nhất là về mùa hè tổ chức dưới da bị phân hủy nhanh chóng, các khí
như: H2, NH3, H2S, CO2… được tích lại nhiều ở dưới da, vì vậy bào thai chương to lên
và thành tử cung bị dãn ra tử cung bị mất hẳn tính đàn hồi co bóp.
- Hỗn dịch máu nâu lẫn với nhiều mảnh tổ chức được thải ra khỏi mép âm môn
mùi hôi thối khó chịu.
- Trường hợp này vật biểu hiện triệu chứng toàn thân rất rõ, thân nhiệt lên cao
con vật bỏ ăn, toàn thân đau đớn bụng chướng to ảnh hưởng nhiều đến sự hoạt động
của hệ tiêu hóa, hô hấp.
- Khi khám qua âm đạo thấy cổ tử cung mở rộng thành tử cung căng bao chặt
lấy bào thai đã chương to và thủy thũng dưới da.
- Do những chất bị phân giải từ những tổ chức mềm dưới da thai, thông qua hệ
thống mạch quản gây cho gia súc bị bại huyết, bị huyết nhiễm trùng hay bị trúng độc.
- Trường hợp này phải kịp thời tiến hành phương pháp thủ thuật để lấy thai ra
khỏi tử cung con mẹ.
- Trước hết dùng dầu nhờn thụt trực tiếp vào tử cung, sau đó dùng tay và dụng
cụ đã vô trùng, tiến hành thao tác kéo thai ra ngoài theo đúng quy trình kỹ thuật. Tuyệt
đối tránh hiện tượng bị tổn thương, rách hay thủng đường sinh dục, rửa sạch cơ quan
sinh dục bằng loại thuốc sát trùng có nồng độ thích hợp. Bơm kháng sinh liều cao trực
tiếp vào tử cung. Trợ sức, trợ lực bằng dung dịch Glucose và Cafein.
Căn cứ vào điều kiện, nguyên nhân gây bệnh chủ yếu gồm các loại sau:
* Loại sẩy thai có tính chất truyền nhiễm
- Hiện tượng sẩy thai này, chủ yếu do một số loại vi khuẩn, siêu vi khuẩn hoặc
độc tố của chúng do một số loại ký sinh trùng gây nên, trong các bệnh truyền nhiễm
gây sẩy thai thường gặp nhiều nhất là: Brucellosis, Vibriosis.
- Ngoài hiện tượng sẩy thai còn có thể kế phát một số bệnh truyền nhiễm khác
như: Bệnh lở mồm long móng, xoắn khuẩn, dịch tả lợn, đóng dấu, tụ huyết trùng, phó
thương hàn ngựa… Loại sẩy thai do ký sinh trùng chủ yếu do Trichomonas, ký sinh
trùng đường máu, sán lá gan…
* Loại sẩy thai không có tính chất truyền nhiễm
Dựa vào nguyên nhân gây ra bệnh trong thực tế loại có tính chất truyền nhiễm ít
xảy ra chủ yếu là loại không truyền nhiễm. Hiện tượng sẩy thai không truyền nhiễm
thường được chia ra.
- Sẩy thai do nuôi dưỡng
Chất lượng và số lượng thức ăn, nước uống không đầy đủ, chế độ nuôi dưỡng, làm
việc và khai thác không hợp lý, không phù hợp với gia súc khi có thai làm ảnh hưởng đến
quá trình trao đổi chất, sức đề kháng của con mẹ, làm rối loạn mối quan hệ giữa nhau thai
và niêm mạc tử cung, có thể gây nên hiện tượng sẩy thai, sẩy thai do nuôi dưỡng thường
gặp khi cơ thể thiếu đạm, khoáng, một số loại vitamin cần thiết.
+ Thiếu Vitamin A, cơ năng giữa màng nhung của nhau thai và niêm mạc tử
cung bị rối loạn bào thai sẽ bị chết. Trường hợp này thường xảy ra vào giữa giai đoạn
có thai kỳ III.
+ Thiếu vitamin E ở giai đoạn có thai kỳ đầu thì bào thai dễ bị đẻ non.
+ Thiếu vitamin D gây trở ngại đến quá trình trao đổi và duy trì sự cân bằng
giữa Ca và P, bất lợi cho sự hình thành và phát triển bộ xương của thai.
+ Thức ăn bị nấm mốc, bị ôi thối hoặc bị ủ quá chua có thể gây cho con mẹ ngộ
độc hoặc trực tiếp ảnh hưởng đến tử cung dẫn đến tình trạng sẩy thai.
- Sẩy thai do tổn thương
+ Ở gia súc lớn có thể do gia súc bị húc, đá vào bụng, bị ngã...
+ Khám qua trực tràng hoặc qua âm đạo thao tác không đúng kỹ thuật.
+ Dùng thuốc làm cho âm đạo bị kích thích mạnh.
+ Do phối giống nhầm khi gia súc có thai (trong trường hợp động dục giả).
+ Ở lợn có thể do mật độ lợn trong chuồng quá đông, lợn nằm đè lên nhau hay
tranh nhau ổ nằm khi ăn uống.
+Do khi lợn vận động mạnh, nhẩy qua thành chuồng, hoặc khi bị đánh đập bị
dồn chuồng...
+ Từ những nguyên nhân gây chấn thương trên làm vỡ mạch máu ở thành tử
cung, màng thai có khi cả ở bào thai.
+ Mặt khác gây nên những phản xạ co bóp mạnh và đột ngột ở tử cung làm cho
bào thai bị chết và bị đẩy ra ngoài cơ thể mẹ.
- Sẩy thai do gia súc mẹ bị bệnh
+ Cơ quan sinh dục có thể mẹ xuất hiện tình trạng bệnh lý: Viêm nội mạc tử cung,
viêm tử cung tích mủ, tử cung bị dị dạng, u sừng tử cung, sẹo tử cung, u chai buồng...
+ Bệnh ở hệ tim mạch làm rối loạn hệ thống tuần hoàn ở nhau thai và niêm mạc
tử cung, bào thai bị đói dinh dưỡng.
+ Bệnh ở hệ hô hấp, ảnh hưởng đến quá trình trao đổi oxy ở nhau thai làm cho
bào thai bị đói oxy.
+ Bệnh ở gan, thận gây nên tình trạng bào thai bị nhiễm độc.
+ Bệnh ở hệ tiêu hóa như: Chướng bụng, đầy hơi cấp, viêm dạ dầy và ruột, liệt
dạ cỏ…
+ Bệnh ở hệ thần kinh như khi gia súc bị viêm màng não.
+ Do cơ thể mẹ bị ngộ độc qua thức ăn, nước uống.
+ Có khi cơ thể mẹ được sử dụng thuốc gây mê toàn thân, uống nhiều thuốc lợi
niệu, thuốc tẩy
- Sẩy thai do bệnh ở nhau thai, bào thai
+ Do bào thai phát triển không bình thường - thai dị hình
+ Phù thũng bào thai
+ Dây rốn dị dạng hay phát triển quá ngắn, quá dài
+ Màng thai bị phù hoặc bị viêm.
+ Nhau thai bị dị dạng
+ Dịch thai quá nhiều hay quá ít.
2.2. Một số biện pháp phòng bệnh chung
Đề phòng hiện tượng sẩy thai là một công tác quan trọng của ngành Chăn nuôi
Thú y.
Khi có hiện tượng sẩy thai trước hết cần phải tích cực điều trị kịp thời để giảm
sự thiệt hại kinh tế. Mặt khác cần phải điều trị cẩn thận, nghiên cứu cụ thể để nắm
được tình hình bệnh ở từng gia súc để phát hiện nguyên nhân chính gây nên tình trạng
bị sẩy thai. Từ đó đề ra biện pháp phòng chống mang lại hiệu quả cao.
- Chọn lựa và chỉ nuôi những gia súc giống không mắc một số bệnh truyền nhiễm
như: Brucellosis, Vibrrisois hoặc các bệnh ký sinh trùng đường sinh dục.
- Thực hiện đúng và nghiêm chỉnh các quy trình kỹ thuật trong thức ăn, quản lý,
chế độ sử dụng và khai thác.
- Thi hành đầy đủ các quy trình kỹ thuật khi lấy tinh dịch, môi trường pha chế
tinh dịch, khi phối giống bằng thụ tinh nhân tạo hay nhẩy trực tiếp.
- Áp dụng những biện pháp đề phòng hiện tượng bệnh lý ở cơ quan sinh dục khi
có thai, khi sinh đẻ và khi đẻ xong.
- Với tất cả các dạng sẩy thai, khi bào thai đã chết, cổ tử cung đã mở (tự nhiên
hay can thiệp) thì cần kịp thời áp dụng mọi biện pháp đưa thai ra khỏi tử cung mẹ.
- Tuyệt đối tránh hiện tượng làm tổn thương làm thủng hay rách cơ quan sinh
dục, tránh để thai bị thối rữa, bị phân giải trong tử cung ảnh hưởng rất lớn đến cơ quan
sinh dục, đến cơ thể mẹ nói chung và sinh sản về sau của gia súc.
3. Bệnh phù thũng
Khi gia súc có thai bị phù là một bệnh do sự tích tụ dịch ở trong các tế bào, tổ
chức dưới da và trong da. Bệnh này thường xuất hiện một thời gian ngắn trước khi
sinh đẻ, chủ yếu vào giai đoạn có thai kỳ 3. Thỉnh thoảng cùng một lúc nó gây ra sự
rối loạn chức năng của các tế bào bị phù và toàn bộ cơ thể nói chung.
3.1. Nguyên nhân
- Chủ yếu là do Albumin được thấm qua các vi huyết quản ra ngoài.
- Đây cũng là phản ứng của cơ thể mẹ đối với hiện tượng có thai (chứng nhiễm
độc khi có thai).
- Do sự đình trệ của tĩnh mạch khi con mẹ bị bệnh ở cơ tim làm tăng sự tích
tụ Clo và nước trong các tế bào
- Bệnh viêm thận (Nepritis) và chứng hư thận (Neprosis) xuất hiện trong
thời gian có thai.
- Do khẩu phần thức ăn không đầy đủ, kém phẩm chất và không phù hợp và đảm
bảo yêu cầu phát triển của bào thai trong tử cung qua các gian đoạn có thai.
3.2. Triệu chứng
Bệnh xuất hiện chủ yếu triệu chứng là trạng thái phù ở các bộ phận:
-Vùng bầu vú, cơ quan sinh dục bên ngoài (rõ nhất là mép âm môn), bên
dưới thành bụng và hai chân sau.
- Bệnh này thường gây cho con vật mất cảm giác, tê, không đau, bề mặt da
lạnh. Sờ nắn lên mặt da thấy để lại vết lõm sâu.
- Những triệu chứng chung như: con vật mệt mỏi, yếu sức, các niêm mạc
mầu trắng nhạt, vật thở hổn hển nhất là đi lại, tim hoạt động yếu,
- Viêm niêm mạc dạ dày và ruột vật đi tiểu ít (trong thời kỳ phù nặng), trong
nước tiểu xuất hiện albumin.
- Bệnh phù xuất hiện trước thời gian sinh đẻ không lâu nó sẽ mất đi khi sinh đẻ
song. Nếu bệnh xuất hiện trước khi đẻ thời gian dài thì có thể gây ra hiện tượng tổn
thương hệ thống mạch máu và lâm ba quản giảm khả năng đề kháng của các tổ chức
và tế bào.
3.3. Phòng và điều trị
- Với mục đích ức chế hiện tượng phù phát triển, cho gia súc ăn thức ăn có chất
lượng tốt hạn chế việc uống nước, giảm thức ăn tươi sống và muối, tăng cường vận động.
- Mặt khác còn có thể tiêm Cafein, Vitamin B1, tiếp dung dịch Glucose 20% và
các thuốc lợi tiểu
4. Rặn đẻ quá sớm
Rặn đẻ quá sớm là một bệnh thường xuất hiện những cơn co bóp ở tử cung,
những cơn rặn đẻ của con mẹ trước thời gian sinh đẻ một vài tuần, có thể một vài
tháng. Bệnh thường gặp ở bò, ngựa, dê, cừu.
4.1. Nguyên nhân
- Bệnh xuất hiện chủ yếu do khi khám âm đạo, trực tràng không cẩn thận,
không đúng kỹ thuật.
- Chăm sóc nuôi dưỡng kém, gia súc làm việc quá sức, sử dụng hoặc khai thác
quá độ,
- Thức ăn mất phẩm chất, mùa đông thức ăn và nước uống quá lạnh. Từ đó làm
cho tử cung co bóp và bào thai máy động mạnh.
- Mặt khác, bện còn có thể do rối loạn mối quan hệ thích hợp khi cơ thể có
thái của các kích tố nhau thái, buồng trứng, tuyến yên gây nên hoặc kế phát từ bệnh
sa âm đạo.
4.2. Triệu chứng
- Gia súc xuất hiện những cơn co bóp, những cơn rặn khi chưa đến thời kỳ sinh
đẻ bình thường.
- Ở bò vào thời gian trước khi đẻ 3 - 4 tuần.
- Ở ngựa thường vào giai đoạn có thai kỳ II, vật dứng nằm không yên, chân cào
đất hay đá vào bụng.
- Ở ngựa có hiện tượng ra mồ hôi, biểu hiện trạng thái như đau bụng, trâu bò thì
kêu rống, cong đuoi lên để rặn. Nhịp thở sâu, mạnh và mạch nhanh.
- Có trường hợp trực tràng và âm đạo bị lộn ra ngoài.
- Rặn đẻ sớm thường gia súc chưa xuất hiện các biểu hiện của quá trình sinh đẻ
bình thường.
- Ở ngựa thường kéo dài trong khoảng thời gian từ 2 - 12 giờ, thỉnh thoảng gây
hiện tượng sảy thai.
- Ở bò có thể kéo dài từ vài ba giờ đến vài ba ngày, thường gây nên hiện tượng
chết thai, thai khô hóa, đẻ non.
- Nếu những cơn rặn đẻ ngắn, không mạnh, chóng chấm dứt thì thai không chết
và đến cuối thời gian có thai con mẹ được sinh đẻ bình thường.
4.3. Chẩn đoán
Căn cứ vào hiện tượng của quá trình sinh đẻ bình thường để so sánh trong
trường hợp này thì: nút niêm dịch cổ tử cung còn đặc, mép âm môn chưa xuất hiện
xung huyết, phù, bầu vú chưa căng, chưa có sữa đầu và chưa có hiện tượng sút hôn.
Kiểm tra qua âm đạo thì cổ tử cung còn đóng rất kín.
4.4. Phòng và điều trị
- Khi gia súc xuất hiện các biểu hiện rặn đẻ thì cần phải xác định: Vật tặn đẻ
quá sớm hay rặn đẻ bình thường hay rặn đẻ quá yếu.
- Mặt khác phải chẩn đoán bào thai còn sống hay đã chết (khám bằng phương
pháp quan sát bên ngoài trực tràng, không được khám qua âm đạo). Từ đó quyết định
phương pháp điều trị
- Trường hợp bào thai đã chết, phải kịp thời và bằng mọi phương pháp để đưa
thai ra khỏi tử cung mẹ.
- Trường hợp bào thai còn sống thì tiến hành điều trị như sau:
Giữ cho con vật ở tình trạng yên tĩnh, tuyệt đối không cho vận động.
Ức chế sự vận động và co bóp tử cung bằng các phương pháp: Tiêm Atropin
0,2gr cho gia súc lớn tiêm dưới da.
- Với ngựa có thể tiêm Morphin 0,4gr.
- Cho uống Chloral hydrat 15 - 30gr.
- Với trâu bò cho uống cồn hay rượu trắng 500ml.
- Gây tê lõm khum đuôi bằng Novocain 3%, trâu bò 10 - 12ml.
Ngoài ra, chúng ta còn có thể kết hợp điều trị bằng phương pháp châm cứu với
đơn huyệt:
An thận: 3 huyệt
Bách hội: 1 huyệt
Vĩ căn: 1 huyệt
Vĩ tiên: 1 huyệt
Thủ thuật châm cứu theo phương pháp tả châm, 5 phút vê kim một lần. Thời
gian lưu kim là từ 30 - 40 phút, ngày châm 2 lần. Liệu trình điều trị đến khi bệnh gia
súc hết cơn rặn, thường từ 3 - 5 ngày.
*Phòng bệnh
Thực hiện đúng quy định nuôi dưỡng, quản lý, chăm sóc sử dụng gia súc có thai
theo từng giai đoạn có thai, không đánh đạp và tránh những nguyên nhân gây cho gia
súc sợ hãi , kích động thần kinh nhất là đối với ngựa.
BÀI 2: BỆNH Ở THỜI KỲ ĐẺ
2.1 Đẻ khó
Trong quá trình sinh đẻ của gia súc, thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn
không được đẩy ra ngoài, gọi là hiện tượng đẻ khó.
2.1.1. Kiểm tra trước khi thủ thuật
a) Kiểm tra toàn thân
Cần phải xác định thân nhiệt, sự hoạt động của hệ tuần hoàn, hô hấp tiêu hóa và
tiết niệu, vận động… kiểm tra bầu vú, bộ phận sinh dục bên ngoài và những đặc điểm
khác để biết gia súc đã đến hay chưa đến ngày sinh đẻ.
b) Kiểm tra cơ quan sinh dục
Trước hết phải xác định mức độ của cổ tử cung, mở hoàn toàn, chưa hoàn toàn
hay còn khép kín. Màng thai đã hay chưa bộc lộ ra khỏi cửa tử cung và đã có hiện
tượng vỡ ối hay chưa. Sau đó kiểm tra những đặc điểm khác nhau của toàn bộ cơ quan
sinh dục. Trường hợp đẻ khó kéo dài, gia súc nằm lâu, niêm mạc đường sinh dục
thường bị thủy thũng, gây khó khăn khi sửa và kéo thai, có khi không thể đưa tay vào
tử cung được. Nếu cơ quan sinh dục bị xây sát, bị tổn thương, thì máu tươi lẫn với dịch
thai được thải ra ngoài. Mặt khác căn cứ vào màu sắc, mùi của dịch trong đường sinh
dục. Chúng ta có thể biết được thời gian xuất hiện đẻ khó, thai đã hay chưa bị phân
giải hoặc thối rữa.
Kiểm tra đường sinh dục trong khi đẻ ở gia súc lớn thuận lợi và dễ hơn gia súc nhỏ.
c) Kiểm tra thai
Đồng thời với việc kiểm tra cơ quan sinh dục, cần phải kiểm tra thai để xác
định: Vị trí, chiều, hướng và tư thế của thai, thai sống hay chết.
Trường hợp các màng thai chưa rách, có thể kiểm tra phần trước của thai qua
màng rau. Không nên làm vỡ ối sớm quá, ảnh hưởng đến độ mở của cổ tử cung và gây
bệnh đẻ khó. Nếu nhau thai đã bị rách thì đưa tay trực tiếp vào thai để chuẩn đoán. Căn
cứ vào các bộ phận của bào thai có thể sờ thấy được như: Đầu, cổ, chân… để xác định
chiều, hướng và tư thế của thai bình thường hay không, mức độ và nguyên nhân gây
đẻ khó. Với gia súc đơn thai, cần phải xác định có một hay hai thai. Mặt khác, cũng
cần phải kết luận chính xác thai sống hay chết để quyết định phương pháp và dụng cụ
can thiệp. Nếu thai đã chết thì phải can thiệp nhanh chóng để mục đích chính là cứu
mẹ, với mọi hình thức kể cả phương pháp cưa hay cắt thai.
Trường hợp thai còn sống cần phải cố gắng, cân nhắc tìm mọi biện pháp và lựa
chọn dụng cụ thích hợp để đảm bảo sự sống cho cả mẹ lẫn con. Nếu trường hợp không
thể cứu được cả mẹ và con. Thường nên ưu tiên cứu sống mẹ với mọi phương pháp kể
cả hình thức ngoại khoa.
* Phân biệt thai sống, thai chết
- Trường hợp đầu thai ra trước
Đưa bàn tay vào miệng của thai, kéo nhẹ lưỡi và xác định lưỡi còn cử động hay
không. Hoặc có thể đưa ngón tay vào xem thai có hay không phản xạ bú sữa.
Trường hợp chỉ sờ được mặt thai, dùng ngón tay cái và ngón giữa để ấn vào
nhãn cầu, xem đầu thai còn cử động hay không.
Trường hợp không sờ được đầu thai, dùng bàn tay ấn vào ngực thai để phát hiện
tim thai có hay không hoạt động.
- Trường hợp phần sau của thai ra trước.
Đưa ngón tay vào trực tràng bào thai, xem trực tràng có hay không co bóp. Nếu
phát hiện có phân ở ngoài trực tràng bào thai, chứng tỏ thai đã rất yếu hay đã chết. Trường
hợp nếu tìm được dây rốn, cần xác định động mạch rốn có hay không hoạt động.
2.1.2. Chuẩn bị trước khi thủ thuật
a) Dụng cụ, thuốc men
Trước khi tiến hành can thiệp đẻ khó, cần phải chuẩn bị đầy đủ và chu đáo các
mặt chủ yếu như sau:
- Rơm rạ hay cỏ khô để làm đệm cho gia súc
- Bộ đồ đỡ đẻ khó với đầy đủ các loại dụng cụ: Đẩy, kéo, cưa, cắt thai
- Những dụng cụ phẫu thuật ngoại khoa và các loại thông thường chuyên dùng
trong thú y.
- Các loại thuốc sát trùng, cấp cứu, trợ tim, trợ sức, trợ lực…
- Người đỡ đẻ chính cần phải cắt nhẵn móng tay, sát trùng tay… người giúp
việc cũng nên có kiến thức sản khoa và thành thạo các thao tác thủ thuật đỡ đẻ khó, để
thay thế người khi người phụ trách chính đã mệt.
Công việc chuẩn bị càng đầy đủ, chu đáo càng bảo đảm cho công việc tiến hành
được thuận lợi, nhanh chóng và kết quả tốt.
b). Cố định gia súc
Để gia súc đứng ở đầu thấp. Đuôi cao, thai lùi vào xoang bụng. Thuận lợi cho
việc sửa thai. Nếu gia súc nằm thì nằm nghiêng bên trái hay bên phải tùy thuộc vào vị
trí và thuận tay của người thủ thuật. Không nên cho gia súc nằm sấp, áp lực xoang
bụng và xoang chậu cao trở ngại đến thao tác. Khi cho gia súc nằm, cần chú ý tránh
làm cho tử cung bị xoắn.
c) Gây tê cục bộ ngoài màng cứng tủy sống
Phương pháp này với mục đích ức chế gia súc rặn, để tiến hành các thao tác thủ
thuật cần thiết như:
- Đẩy thai vào xoang bụng để sửa, xoay thai hay cưa, cắt thai.
- Khi đẻ khó kéo dài, vỡ ối quá sớm, đường sinh dục bị khô, tử cung bóp chặt
lấy thai, nên phải thụt dịch nhờn vào tử cung.
- Áp dụng khi tiến hành phẫu thuật: mổ bụng mẹ lấy thai, hay khi mổ cắt tuyết vú.
d) Những điều cần chú ý khi can thiệp các trường hợp đẻ khó
- Chẩn đoán chính xác, can thiệp sớm và kịp thời.
- Ở gia súc lớn, nếu can thiệp chậm, khi thai đã lọt lòng vào xoang chậu thành
tử cung bọc chặt lấy thai, dịch thai chảy hết ra ngoài, dường sinh dục bị thủy thũng…
sẽ trở ngại rất nhiều đến các thao tác như đẩy thai, sửa hay xoay thai và khó kéo thai ra
ngoài .
Với lợn, nếu được can thiệp kịp thời sau khi kéo thai bị đẻ khó ra ngoài, các
thai khác có thể được đẻ bình thường. Để chậm, không những thai bị đẻ khó sẽ chết
mà các thai khác cũng có thể bị chết.
- Căn cứ vào kết quả việc chuẩn đoán tổng hợp, xác định phương pháp tiến
hành và chọn dụng cụ thích hợp cho từng loại đẻ khó khác nhau.
- Thao tác thủ thuật phải thành thạo, khéo léo, cẩn thận, bình tĩnh và kiên nhẫn
để tránh những trường hợp làm tổn thương cơ quan sinh dục.
- Trước khi tiến hành các thủ thuật,nếu dịch thai được thải ra ngoài quá sớm,
đường sinh dục bị khô, thì phải thụt vào tử cung, âm đạo các loại dịch nhờn như dầu
paraphin, dầu thực vật …
2.1.3. Một số công dụng thường dùng trong thủ thuật can thiệp đẻ khó
a) Dụng cụ kéo thai
- Dây sản khoa: Thường dùng dây vải mềm và rất chắc, dài khoảng 1- 2m. Dây sản
khoa dùng để sửa thai khi tư thế của thai không bình thường và để kéo thai ra ngoài.
- Móc sản khoa: Dùng để kéo thai ra ngoài, nó có hai loại.
+ Móc nhọn: Loại này sử dụng trong các trường hợp thai đã chết. Dùng móc
nhọn, có thể móc vào mắt, lỗ tai, xương hàm dưới, lỗ mũi, xương chậu và qua da
những chỗ lõm của bào thai. Trong những trường hợp thật cần thiết có thể sử dụng đối
với thai còn sống, nhưng phải móc vào vị trí ít bị rách các tổ chức và dễ điều trị như ở
xương hàm dưới.
+ Móc tù: Sử dụng trong các trường hợp thai còn sống. Móc tù và móc nhọn để
kéo thai, đều có hai loại: Loại cân dài và cân ngắn.
+ Kẹp thai: Loại này để kẹp vào đầu, cổ hay mống (nếu gia súc nhỏ) của bào thai.
b) Dụng cụ đẩy thai
Với mục đích đưa thai lùi về cuối xoang chậu hay vào xoang bụng để tiến hành
sửa hay xoay thai được thuận lợi, có thể dùng dụng cụ đẩy thai, nạng sản khoa.
c) Dụng cụ cắt thai
Trong những trường hợp đặc biệt, nhất là khi không còn biện pháp nào để đưa thai
ra ngoài, cần phải cắt thai ra từng bộ phận nhỏ, có thể dùng các dụng cụ chủ yếu sau
- Dao dấu lưỡi
Khi đưa vào hãy lấy ra khỏi đường sinh dục, cần phải cho lưỡi dao nằm trong
cán dao. Căn cứ vào vị trí sử dụng có thể dùng các loại dao: Loại thẳng loại cong hay
loại móc câu. Ngoài ra, có thể dùng loại dao đeo vào ngón tay.
- Đục sản khoa
Sử dụng để đục xương, khớp xương, dây chằng.
- Dầm bóc da
Dùng để bóc da thai ở bốn chân.
- Dây cưa sản khoa
Dùng để cưa ở khớp xương, dây chằng
2.1.4. Một số loại đẻ khó và phương pháp can thiệp
Hiện tượng đẻ khó xuất hiện dưới nhiều
hình thức và do nhiều nguyên nhân gây ra.
- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ
+ Do tử cung co bóp và sức rặn đẻ của mẹ
yếu
+ Các phần mềm như cổ tử cung, âm đạo,
âm hộ giãn nở không bình thường.
+ Hệ thống khung xoang chậu hẹp hay
biến dạng, khớp bán động háng phát triển không
bình thường hay bị cốt hóa.
Tử cung bị xoắn, hay bị vặn ở thời gian có
thai kỳ cuối.
- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai
+ Thai quá to không phù hợp với xoang
chậu
+ Chiều, hướng, tư thế của bào thai không
bình thường.
+ Thai dị hình hay quái thai.
Hiện tượng đẻ khó do nguyên nhân bào
thai, thường chiếm 3/4 các trường hợp ở gia súc lớn. Những nguyên nhân và loại hình
đẻ khó có thể xảy ra đơn độc mà cũng có thể kết hợp lại với nhau. Ví dụ trường hợp
không những thai quá to mà đầu và cổ lại quay sang một bên hay úp xuống ngực.
Cũng có trường hợp không những đầu thai đã quay sang một bên mà chân trước thì
một chân thẳng một chân bị gấp khúc .
Mặt khác, trong quá trình thủ thuật do không nắm vững thao tác kĩ thuật nên
làm gia súc đẻ càng khó khăn thêm. Ví dụ như tư thế đầu và cổ của bào thai không
bình thường, mà vẫn kéo thai ra ngoài thì càng làm cho thai càng bị kẹp chặt .
a) Kích thước thai không phù hợp với xoang chậu
+) Thai quá to
Trường hợp xoang chậu và đường sinh sản của gia súc mẹ thường không bình
thường kích thước của thai quá lớn nên quá trình sinh đẻ gặp khó khăn, gọi la thai quá
to tuyệt đối. Trường hợp thể tích của thai bình thường mà đường sinh dục lại quá hẹp
gia súc không đẻ được, gọi là thai to tương đối. Bệnh này chủ yếu xuất hiện ở trâu, bò,
dê, cừu. Riêng với ngựa ít gặp hơn vì thai ngựa thường nhỏ và xoang chậu tương đối
lớn. Thai quá to có thể do kích tố sinh trưởng được sản sinh và hoạt động mạnh, thời
gian co thai kéo dài, ít thai ở gia súc đa thai. Hiện nay, do yêu cầu cải tạo giống, gia
súc đực thường có tầm vóc lớn nên thể tích của thai và đường sinh dục không tương
xứng với nhau.
Trong trường hợp này, khi kiểm tra thai qua trực tràng có thể phát hiện được
chiều, hướng, tư thế của thai bình thường, nhưng kích thước của thai rất lớn và tử cung
kẹp chặt thai.
* Biện pháp can thiệp:
Trước hết, dùng dầu glyxerin hay dầu thực vật, nước xà phòng ấm thụt trực tiếp vào
đường sinh dục gia súc. Dùng dây sản khoa buộc chặt vào hai chân trước. Người đỡ đẻ
chính cho ngón tay cái vào miệng, kết hợp với bốn ngón tay còn lại giữ chặt lấy hàm dưới
của thai. Kết hợp nhịp nhàng giữa dây sản khoa và tay, giữa người chính và người phụ, kéo
thai ra ngoài.
Trường hợp thai chết, có thể dùng các móc nhọn để móc vào hố mắt, mũi, miệng
của thai.
* Những điều chú ý khi kéo thai ra ngoài
- Tư thế, chiều hướng của thai phải hoàn toàn bình thường
- Khi kéo thai phải phù hợp với từng cơn rặn của gia súc mẹ
- Kéo thai phải dùng theo hướng của trục xoang chậu
- Không nên kéo đầu và hai chân trước, cùng một lúc. Trước hết kéo một chân,
sau đó kéo tiếp đến chân kia, lần lượt kéo so le hai chân. Tiến hành như vậy, hai đầu
xương bả vai chéo nhau và chiều rộng của nó sẽ hẹp lại, thai lọt qua xương chậu dễ
dàng hơn. Khi đầu thai đã khỏi âm môn, người giúp việc cần phải dùng hai tay đỡ lấy
đầu, cổ của thai để đường sinh dục ngoài không bị rách.
Với phương pháp trên, nếu không kết quả, nhất là trường hợp thai đã chết và
trương to lên, có thể áp dụng biện pháp, cắt cưa thai ra từng bộ phận nhỏ để đưa ra
ngoài hoặc phương pháp mổ bụng mẹ để lấy thai.
Đối với lợn có thể dùng tay hay dây sản khoa buộc vào chân hay đầu để kéo
thai ra ngoài. Khi phía đầu ra trước, dùng hai ngón tay giữ vào hai hốc mắt hoặc bốn
ngón tay giữ vào phía dưới của hàm dưới, ngón tay cái ấn vào mặt, giữ chặt lấy đầu, từ
từ kéo thai ra ngoài. Nếu đuôi ra trước thì dùng ngón tay giữ chặt lấy chân sau để kéo
thai ra ngoài.
+) Đẻ sinh đôi
Đẻ sinh đôi ở những gia súc đơn thai, có thể gặp hai trường hợp đẻ khó khác nhau.
- Một thai có tư thế, chiều và hướng bình thường, còn một thai ở trạng thái
không bình thường. Trường hợp này có thể dùng biện pháp can thiệp thể tích.
- Hai thai cùng lọt vào xoang chậu một lúc, nên thai bị kẹp chặt trong tử cung
gây ra đẻ khó. Thông thường, đẻ sinh đôi thì một thai phía đầu ra trước và một thai
phía sau ra trước. Vì vậy khi kiểm tra có thể phát hiện được một đầu và 4 chân trong
đó có hai chân nằm sắp là chân trước và hai chân nằm ngửa là chân sau.
Trường hợp cả hai thai phía đầu ra trước thì phát hiện 4 chân nằm sấp. Có khi
hai thai ở độ sâu chênh lệch khác nhau nên không thể tìm hết được đầu và chân thai.
Cũng có thể đầu và chân của một hai hay cả hai thai có tư thế không bình thường hay
thai bị dị hình biến dạng. Để có kết luận chính xác cần phải kiểm tra kỹ và cẩn thận để
xác định trạng thái, vị trí, chiều và hướng của cả hai thai.
* Biện pháp can thiệp:
Trước hết dùng dụng cụ đẩy thai để đẩy lùi một thai ra khỏi cửa vào xoang chậu.
Sau đó áp dụng phương pháp sử dụng tay và dụng cụ để kéo từng thai một ra ngoài. Khi
đẩy và kéo thai cần phân biệt từng thai, tránh trường hợp kéo một chân của thai này và
một chân của thai kia, hay đầu thai này và chân của thai nọ. Trường hợp nếu hai thai ở độ
sâu chênh lệch tương đối lớn thì có thể vừa kéo thai này ra và đẩy lùi thai kia vào. Sau khi
một thai đã ra ngoài, kéo tiếp thai còn lại. Khi gia súc mẹ đứng thì có thể đẩy và kéo thai
nào ra trước cũng được. Nhưng nếu gia súc mẹ nằm thì phải kéo thai ở phía trên ra trước,
thai phía dưới ra sau.
2.2.Lộn tử cung
2.2.1. Nguyên nhân
Khi gia súc có thai ít được chăn thả, ít vận động, luôn nhốt trong chuồng, con
vật thường xuyên đứng nằm trên nền chuồng quá dốc về phía đuôi. Do thức ăn kém
phẩm chất, vật suy dinh dưỡng. Khi bào thai quá to nhiều thai, dịch thai quá nhiều, phù
thũng nhau thai… làm cho thành tử cung quá dãn, cổ và cả tử cung bị nhão. Có thể do
đường sinh dục bị khô mà tử cung co bóp và rặn đẻ quá mạnh. Đặc biệt nhất khi tử
cung căng dãn, mà kéo thai quá nhanh thì dễ dàng gây tử cung lộn bít tất. Mặt khác
bệnh có thể kế phát từ bệnh bại liệt sau khi đẻ.
2.2.2. Triệu chứng
Trường hợp một phần ở đầu mút sừng tử cung bên ép
thai bị lộn vào trong xoang tử cung lồng vào nhau thì con vật
hầu như ít có triệu chứng lâm sàng. Trong quá trình hồi phục,
tử cung trở lại trạng thái bình thường. Trường hợp hai sừng
và cả thân tử cung bị lộn vào trái và lồng qua cổ tử cung vào
âm đạo thì con vật xuất hiện rõ các triệu chứng cục bộ và
toàn thân. Tử cung lộn bít tất thường gây cho thành bụng co
bóp, con mẹ rặn, lưng và đuôi cong lên.
Trong những cơn rặn con mẹ thải một ít phân và nước
tiểu ra ngoài. Vật tỏ vẻ khó chịu, đau đớn, không
yên tĩnh. Trâu bò giảm ăn uống và nhai lại, ngựa
xuất hiện những cơn đau bụng nhẹ. Kiểm tra qua
đường sinh dục có thể phát hiện được phần đầu
mút sừng tử cung lồng vào thân tử cung hay toàn
bộ tử cung lồng vào âm đạo. Trường hợp lộn tử
cung thì tử cung bộc lộ ra có màu hồng, hình
như quả lê. Thỉnh thoảng tử cung và cả một
phần của âm đạo cũng bị lộn ra ngoài. Lúc đầu
thường chỉ sừng tử cung bên có thai lộn ra
ngoài. Về sau cả hai sừng và thân tử cung mới
cũng bị lộ ra ngoài. ở gia súc nhai lại, trên niêm
mạc tử cung còn dính lại một số núm nhau con,
và nhiều núm nhau mẹ. ở ngựa xuất hiện nhiều
mao quản và ở phần tử cung bị lộn ra ngoài giống như đoạn ruột dài. Khi bị bệnh, gia
súc đau đớn đứng lên nằm xuống liên tục, tử cung bị xây xát, tổn thương, xuất huyết
và nhiễm khuẩn. Niêm mạc tử cung có màu đỏ sẫm, nâu xám. Dịch viêm lẫn máu, mủ,
niêm dịch, các tế bào, núm nhau bị hoại tử và các chất bẩn khác… tập trung lại thành
từng cục trên niêm mạc tử cung. Ngoài ra bệnh này còn gây tình trạng nước tiểu tích
lại trong bàng quang. Nếu tử cung lộn bít tất thời gian lâu, mức độ nhiễm trùng, tổn
thương nặng, tổ chức niêm mạc tử cung bị hoại tử, gia súc bị nhiễm huyết trùng, hay
huyết nhiễm mủ kế phát và chết. Trâu bò có thể chết sau 5- 6 ngày, gia súc khác có thể
chết sau 1- 2 ngày, nhanh nhất là ngựa.
2.2.3. Tiên lượng
Ở ngựa điều trị kéo dài và vô trùng kém thì dễ dàng kế phát viêm phục mạc bại
huyết và huyết nhiễm trùng.
Ở trâu bò nếu điều trị kịp thời tử cung lại trở về trạng thái bình thường, mức độ tổn
thương niêm mạc tử cung ít thì tiên lượng tốt. Trường hợp bệnh bị tái phát nhiều lần tử
cung bị viêm nặng tổn thương rộng thì sẽ ảnh hưởng nhiều đến quá trình thụ thai và sinh
đẻ lần sau.
Dê cừu và lợn tiên lượng nói chung không tốt.
2.2.4. Phòng và điều trị
Tiến hành phương pháp thủ thuật đưa tử cung trở về vị trí cũ, đồng thời tránh
hiện tượng gây tổn thương niêm mạc tử cung, nhiếm trùng cho cơ thể và tái phát.
* Trường hợp lồng đầu mút sừng tử cung
Sát trùng, làm trơn tay bằng dầu nhờn, đưa tử cung và cẩn thận đẩy sừng tử
cung bị lồng về vị trí cũ. Sau đó rửa tử cung bằng các loại thuốc sát trùng thụt hay đặt
kháng sinh vào sừng tử cung.
* Trường hợp lộn tử cung
Kịp thời tiến hành thủ thuật đưa tử cung về vị trí cũ.
Nếu để lâu tử cung càng bị xây xát tổn thương, nhiễm trùng
quá trình viêm tăng lên, niêm mạc thủy thũng dầy lên thể
tích tử cung to thủ thuật càng khó khăn, điều trị càng khó có
kết quả.
- Chuẩn bị: Để gia súc nơi yên tĩnh, cố định vật ở vị trí
đầu thấp đuôi cao.
Ức chế hiện tượng rặn bằng phong bế lõm khum đuôi
hoặc các loại thuốc giảm đau.
- Tiến hành thủ thuật: Sát trùng tay, rửa sạch phần
sau của gia súc. Rửa tử cung bộc lộ ra ngoài bằng thuốc tím
1/1000. Phèn chua 1/100- 1/100. Nếu nhau thai còn dính với
niêm mạc tử cung thì trước hết phải bóc rau. Rửa sạch bùn
đất và các chất bẩn khác dính vào niêm mạc tử cung. Khâu những chỗ niêm mạc bị
rách, mạch quản bị đứt. Đổ lên niêm mạc tử cung dầu nhờn như Paraphin, dầu thực vật
sau đó đẩy, tiến hành đẩy một người dùng miếng vải sạch, mềm đã khử trùng rồi bọc
lấy phần tử cung bị lồi ra nâng cao ngang tầm âm môn. Người khác kiểm tra xem tử
cung có bị xoắn hay không (thường bị xoắn phần phía trong âm hộ), nếu bị xoắn thì
phải xoay lại. Có thể đẩy tử cung vào bắt đầu từ dây sừng tử cung hay từ gốc sừng tử
cung, từ gốc thân tử cung. Đưa sừng tử cung to vào trước hay sừng nhỏ vào trước đều
được. Người thủ thuật chính dùng bàn tay đẩy dần dần tử cung vào từng ít một lưu ý
đẩy khi con mẹ ngừng rặn. Người phụ giúp sức giữ chặt những phần tử cung đã vào
trong âm đạo. Tiến hành từ từ như vậy sẽ đưa được toàn bộ tử cung vào trong xoang
chậu. Sau khi đã đưa được toàn bộ tử cung vào trong xoang chậu, dùng tay đưa thẳng
vào tử cung để sửa tử cung trở về trạng thái bình thường. Đưa tử cung trở về vị trí cũ
là một việc làm khó khăn và mất nhiều thời gian. Tuy vậy, vẫn phải kiên nhẫn, thao tác
phải nhẹ nhàng thận trọng, tuyệt đối không được làm tổn thương niêm mạc tử cung
hay làm đứt núm nhau mẹ.
Chống hiện tượng nhiễm trùng tử cung và cơ thể. Thụt rửa tử cung bằng các loại
thuốc sát trùng nhẹ.Bơm trực tiếp vào tử cung:
- Penicilin: 1triệu UI
- Streptomycin: 1 g
- Nước cất: 20ml
Hoặc dùng thuốc kháng sinh dạng mỡ xoa khắp lên niêm mạc tử cung. Mặt
khác cần phải trợ sức, trợ lực cho con vật bằng dung dịch glucose, vitamin, cafein…
- Cố định đề phòng hiện tượng tái phát
Để gia súc luôn ở trong giá cố định có nền thấp về phía đầu, không cho vật vận
động. Ức chế hiện tượng rặn bằng phương pháp phong bế lõm khum đuôi. Mặt khác
có thể cho vào âm đạo quả bóng cao su và sau đó bơm căng lên hoặc cho chày gỗ tròn
(chày sản khoa) vào âm đạo và cố định ở ngoài mép âm môn, để tránh gia súc bị đại
tiểu tiện. Sau 3- 4 giờ lấy bóng cao su hoặc chày gỗ ra ngoài. Sau đó lại đưa vào âm
đạo. Hoặc có thể khâu 2/3 phía trên hai mép âm môn bằng chỉ chắc và mềm.
2.3 Tư thế của bào thai không bình thường
Trường hợp đẻ khó do tư thế thai khác thường,
có thể xuất hiện khi phía đầu ra trước và khi phía sau ra
ngoài trước. Đầu, cổ, chân trước, chân sau và phần
mông của thai thường gặp các tư thế không bình
thường chủ yếu như sau:
+) Đầu và cổ quay sang một bên
Khi sinh đẻ, bào thai ở tư thế hai chân trước đã
vào xoang chậu hay đã lọt vào cổ tử cung, nhưng đầu
thai lại quay sang một bên thân (bên trái hoặc bên phải)
nên gia súc mẹ không thể đẩy thai ra ngoài được.
Trường hợp này chủ yếu xuất hiện ở gia súc lớn, còn
loại gia súc nhỏ ít gặp.
* Chẩn đoán
Phần đầu hai chân trước của thai bộc lộ ra cổng
âm môn nhưng không thấy đầu và quá trình sổ thai bị
đình trệ. Chân nào của thai bộc lộ ra ngoài ngắn hơn thì
chứng tỏ đầu và cổ thai quay sang bên đó.
Khám qua âm đạo xác định được
hai chân trước nhưng không tìm thấy được
đầu của thai, có thể sờ được vòng cung của
cổ thai bị cong lại. Tư thế này xuất hiện ở
những mức độ khác nhau. Có thể chỉ có
phần đầu nghiêng về một phía ở cửa vào
xoang chậu, nhưng cũng có thể cả đầu và
cổ bị quặt lại phía sau. ở trâu, bò do cấu
tạo cổ hơi ngắn, nên đầu quặt lại phía sau
chỉ đến ngực thai mà thôi, nên khi khám dễ
tìm được phần đầu. ở ngựa, cổ tương đối
dài, nên đầu thai có thể quặt lại tới bụng
nên khó chẩn đoán. Căn cứ vào vị trí của
cổ có thể xác định được đầu quay sang trái
hay phải.
Mặt khác, cần phải phân biệt
mỏm thai quay về phía trước, phía sau hay
chúc xuống dưới. Nếu mỏm của thai quay
về phía trước thì đầu, cổ thân tạo thành hình
cong chữ S và do đầu, cổ bị vặn nên hàm
dưới của thai quay lên trên, trán quay xuống
dưới.
* Biện pháp can thiệp
Căn cứ vào trạng thái co bóp của tử cung, sức rặn đẻ của gia súc mẹ, vị trí của
thai và mức độ của đầu, cổ quay sang một bên… để có những biện pháp can thiệp khác
nhau. Trường hợp nếu đầu thai hơi lệch sang một bên một ít thì có thể dùng tay giữ
chặt mỏm thai và có thể kéo hay xoay đầu thai trở lại tư thế bình thường.
+)Trường hợp mỏm thai quay về phía sau
Trước hết dùng các dụng cụ đẩy thai để đẩy lùi thai về phía trong, thuận lợi cho
việc sửa và xoay thai. Nạng sản khoa được tỳ vào trước ngực hay giữa ngực và chân
trước của thai phía đối diện với đầu. Ví dụ: Đầu, cổ quay sang bên trái thì đặt nạng sản
khoa vào bên phải hay ngược lại. Người chính dùng tay cố định đầu nạng vào thai để
nạng không trượt ra ngoài gây tổn thương thành tử cung, người phụ đẩy thai lùi vào
phía trong khi con mẹ ngừng rặn. Sau đó dùng tay và dụng cụ để sửa đầu thai về tư thế
bình thường.
Tay phải hay tay trái, nếu đầu quay về bên phải thì dùng tay trái hay ngược lại,
giữ chặt hàm dưới của thai, tay ở ngoài tỳ chặt vào mông con mẹ. Dùng sức đẩy mạnh đầu
thai về phía đối diện và sau đó kéo đầu vào xoang chậu.
Trường hợp dùng tay không có kết quả, có thể sử dụng dây sản khoa buộc chặt
hàm dưới của thai. Kết quả nhịp nhàng người chính dùng tay bít chặt mỏm thai để đẩy
thai về phía đối diện và người phụ kéo dây để điều chỉnh đầu thẳng ra và vào xoang
chậu.
Trường hợp thai đã chết, nhất là khi tay người đỡ đẻ không sờ tới mõm thai có
thể dùng móc nhọn cán dài, mọc vào hốc mắt hay vào xương hàm dưới để kéo đầu thai
vào xoang chậu. Khi dùng các móc nhọn cần lưu ý. Tránh làm trượt móc ra ngoài gây
rách hay thủng thành tử cung.
+) Trường hợp mỏm thai hướng về phía trước và chúc xuống dưới
Bàn tay người đỡ đẻ giữ chặt lấy hàm dưới của thai, hay dùng ngón tay trái và
ngon tay trỏ giữ vào hai hốc mắt, hoặc có thể dùng dây sản khoa buộc chặt vào hàm
dưới. Sau đó kéo dần và cổ được thẳng ra và vào xoang chậu.
Căn cứ vào trạng thái co bóp của tử cung, sức rặn đẻ của gia súc mẹ, vị trí của
thai và mức độ của đầu, cổ quay sang một bên… để có những biện pháp can thiệp khác
nhau. Trường hợp nếu đầu thai hơi lệch sang một bên một ít thì có thể dùng tay giữ
chặt mỏm thai và có thể kéo hay xoay đầu thai trở lại tư thế bình thường.
+) Đầu gập xuống dưới
Tư thế này là trường hợp mà đầu thai
gập xuống và nằm giữa hai chân trước hay ở
phía bên chân trái hay chân phải của thai.
Trạng thái này ở ngựa xuất hiện nhiều hơn ở
trâu, bò vì cổ của thai ngựa thường dài và nhỏ,
còn ở lợn rất ít xảy ra.
Đầu thai bị gập xuống dưới cũng xảy
ra với những mức độ khác nhau. Có trường
hợp chỉ có mỏm thai hơi chúc xuống dưới và
trán thai đưa về phía trước. Có khi mõm thai
chạm vào đến cổ giữa hai chân trước và đầu hướng về phía ngoài. ở mức độ nặng
hơn thì cả đầu và cổ chui qua giữa hai chân trước hay ngay cạnh một bên chân. Nếu
cổ hướng ra trước thì sờ được vòng cung cổ, nút kín cửa vào xoang chậu, hai chân
trước cách xa nhau tương đối xa.
* Biện pháp can thiệp
- Trường hợp trán thai ra ngoài trước
Dùng tay nắm chặt xương hàm dưới vừa đẩy lên trên vừa kéo ra, có thể làm cho
mõm thai được lọt vào cửa xoang chậu. Cũng có thể tay người chính ấn mạnh vào mặt
thai để đẩy thai về phía trước, đồng thời tay người phụ giữ chặt hàm dưới của thai vừa
nâng lên vừa kéo ra ngoài.
- Trường hợp đỉnh đầu ra ngoài trước
Trước hết dùng dụng cụ đẩy thai để đẩy thai lùi trở lại về phía trong. Sau đó
dùng dây sản khoa buộc chặt vào hàm dưới của thai. Người đỡ đẻ chính dùng ngón tay
cho vào hốc mắt vừa nâng đầu thai lên phía trên, vừa đẩy vào phía trong, đồng thời kết
hợp người phụ kéo dây sản khoa để đầu thai lọt vào xoang chậu.
- Trường hợp cổ thai ra trước
Với tư thế này, bắt buộc phải bằng mọi phương pháp để lùi thai sâu về phía
trong, nơi có thể tích lớn hơn, thuận lợi cho việc sửa thai. Dùng nạng sản khoa để đẩy
đầu vừa lên trên vừa sang một bên, mục đích làm cho đầu thai có tư thế nằm ngang.
Sau đó dùng dây sản khoa buộc chặt vào hàm dưới của thai, kết hợp với tay ấn mạnh
lên đỉnh đầu, kéo mỏm thai thẳng vào xoang chậu. Sau một thời gian cố gắng nhưng
không thể sửa đầu và cổ thai trở lại tư thế bình thường được thì có thể áp dụng phương
pháp. Cắt, cưa đứt rời cổ và một chân trước, sau đó lấy từng bộ phận ra ngoài hoặc mổ
bụng mẹ để lấy thai.
Ngoài ra, trong thực tế chúng ta còn có thể gặp tư thế: Đầu và cổ của thai bị vặn
hoặc đầu thai ngửa lên trên và quặt về phía sau. Trong trường hợp này khi khám phát
hiện được khí quản và hàm dưới của thai ở trên lưng thai. Biện pháp can thiệp tư thế
này giống như trạng thái đầu và cổ thai quay sang một bên.
+) Đầu gối của chân thai ra ngoài trước
Tư thế này xuất hiện khi một hay cả hai
chân trước không được duỗi thẳng về phía
trước, chân bị gập lại làm cho đầu gối lọt
trước vào xoang chậu. Do đầu gối bị gập lại,
khớp vai và khớp khuỷu cũng bị cong, nên
thai không thể qua được xoang chậu. Trạng
thái này chủ yếu xuất hiện ở gia súc lớn, còn ở
lợn ít gặp. Trường hợp chỉ một chân trước bị
gập, đầu chân trước còn lại được bộc lộ ra
khỏi mép âm môn. Nếu cả hai chân bị gập lại,
móng chân và miệng thai còn nằm trong
xoang chậu, có thể phát hiện được khi khám
trực tiếp qua đường sinh dục.
* Biện pháp can thiệp:
Dùng nạng sản khoa, cố định vào vai của thai phía chân trước bị gập, đẩy thai
lùi về phía trước. Người đỡ đẻ chính giữ chắc vào đầu móng chân thai. Kết hợp khi
người phụ đẩy thai về phía trước thì người chính đồng thời nâng cao móng chân và
kéo mạnh để chân được thẳng ra ngoài. Cũng có thể dùng tay nắm chắc phần dưới
khớp cườm, nâng lên và đẩy về phía trước sau đó cho tay nắm lấy phần đầu móng và
kéo chân thẳng ra.
Mặt khác có thể dùng dây sản khoa buộc chặt vào khớp bàn. Sau đó người chính
dùng tay đẩy mạnh khớp gối lên trên và về phía dưới. Đồng thời người phụ kéo dây để
chân thai thẳng ra. Khi sửa thai, cần tránh hiện tượng móng chân của thai làm tổn thương
niêm mạc tử cung.
+) Vai của thai ra ngoài trước
Tư thế này xuất hiện khi đầu thai ở
trong xoang chậu, một hay cả hai chân
trước bị gập lại và nằm ở dưới bụng vì vậy
1 hay 2 khớp vai được lọt vào xoang chậu
trước. Thể tích vòng ngực tăng lên, nhất là
khi đầu thai được ép chặt vào cửa xoang
chậu, vai thai dịch về phía sau nên vùng
ngực càng phình to lên, quá trình sổ thai
khó khăn thêm.
Sau một thời gian gia súc mẹ rặn đẻ, thì đầu và hai chân trước không được bộc
lộ ra ngoài mép âm môn dẫn tới quá trình đẻ kéo dài. Khi khám trực tiếp vào đường
sinh dục có thể phát hiện được đầu và một chân trước duỗi thẳng nằm trong xoang
chậu. Hoặc chỉ sợ được đầu thai mà thôi và khi cho sâu tay vào phía trong có thể tìm
thấy hai đầu vai của thai.
* Biện pháp can thiệp
Tùy theo thai to hay nhỏ, vị trí của hai chân trước mà ta quyết định biện pháp
thích hợp. Trường hợp khi thai không lớn lắm, đầu và một chân trước bình thường chỉ
một chân trước bị gập và vai ra trước. Có thể kéo thai ra ngoài mà kết quả không cần
phải điều chỉnh hay sửa thai.
- Trường hợp 1 chân ở tư thế không bình thường
Người phụ dùng nạng sản khoa cố định vào vị trí giữa ngực và mỏm khớp vai
đẩy mạnh thai lên trên và về phía trước đồng
thời người chính nắm chắc đầu gối của thai
kéo mạnh về phía xoang chậu để tạo thành tư
thế đầu gối ra trước. Sau đó can thiệp như tư
thế ở trên.
Nếu đầu thai đã ra khỏi âm môn. Có
thể gây tê ngoài màng cứng tủy sống và kéo
thai theo phương pháp: Đầu tiên kéo chân
thai bình thường sau đó đồng thời kéo cả đầu
và chân ra ngoài. Như vậy cả hai mỏm vai
thai sẽ lệch nhau cho nên toàn bộ thai có thể
được lọt qua xoang chậu để ra ngoài.
- Trường hợp cả hai chân trước không bình thường
Nếu hai vai thai có xu hướng ra ngoài trước ta sẽ lần lượt chân thai biện pháp
như trên. Nhưng khi đầu thai đã lọt vào xoang chậu thì căn cứ vào trạng thái thai to
hay nhỏ, thai sống hay chết để buộc vào vai thai kết hợp đồng thời kéo đầu và vai thai
ra ngoài. Trường hợp thai to không thể buộc dây sản khoa vào vai thai được đành phải
trực tiếp lôi đầu thai theo chiều sang trái rồi sang phải và kéo ra. Nếu thai đã chết và
đầu thai đã nằm trong âm đạo thì trước hết kéo đầu thai ra ngoài, sau đó cắt rốn đầu
thai, đẩy lùi thai vào phía trong, điều chỉnh và sửa chân trước ở tư thế bình thường và
kéo toàn bộ thai ra ngoài.
+) Chân trước của thai để lên đỉnh đầu
Đẩy lùi tư thế mà một hay cả hai chân trước của thai nằm đè lên đỉnh đầu. Hai
chân trước có thể ở những vị trí khác nhau.
- Một chân trước nằm ở phía dưới hàm dưới của thai và một chân kia nằm trên đầu
thai.
- Hai chân trước gần song với nhau và ở trên đầu thai
- Hai chân trước chéo nhau và nằm trên đầu thai
Tư thế này chủ yếu xuất hiện ở trên ngựa vì chân thai của ngựa dài và nhỏ hơn
trâu bò, ở gia súc nhỏ ít xảy ra.
* Biện pháp can thiệp
Trước hết dùng các dụng cụ đẩy thai để đẩy thai lùi vào phía trong.
Dùng dây sản khoa buộc chặt vào ống chân thai. Người phụ dùng nạng sản
khoa cố định vào trước ngực của thai, đẩy thai về phía trước và lên trên. Người chính
kết hợp tay và dây sản khoa để lần lượt kéo từng chân sang bên cạnh và đẩy hàm dưới
của thai lên trên.
Sau đó dùng tay và dụng cụ để đồng thời kéo đầu và hai chân trước của thai
ra ngoài.
+) Khoeo của chân sau ra ngoài trước
Trong quá trình sinh đẻ nếu đuôi và
chân sau ra ngoài trước, mặc dầu chân sau này
có hay không bình thường, cũng phải kịp thời
can thiệp để đề phòng hiện tượng thai chết
ngạt.
Khoeo của chân sau ra ngoài trước là tư
thế mà một hay cả hai chân sau không được
duỗi thẳng nó bị gập lại phía trước làm cho thể
tích phần đùi và mông của thai tăng lên, quá
trình sổ thai bị trở ngại. Tư thế này chủ yếu
xuất hiện ở trâu bò.
Trường hợp một chân sau thẳng ra
ngoài, một chân sau bị gập khúc và khoeo ra trước thì phía ngoài âm môn đã được bộc
lộ ra một móng chân nằm ngửa. Kiểm tra qua âm đạo có thể phát hiện được đuôi,
mông, trực tràng của bào thai và chỗ bị gập lại của chân sa. Vị trí của khoeo có thể ở
phía dưới, phía trước xương ngồi hay đã nằm trong xoang chậu.
* Biện pháp can thiệp
Người phụ cố định đầu nạng sản khoa vào chỗ lõm giữa xương ngồi của hai gốc
đuôi. Người chính dùng tay nắm chặt đầu móng hay ống chân của thai. Kết hợp nhịp
nhàng, đồng thời người phụ đẩy mạnh thai lùi về phía trước, người nâng mạnh đầu móng
chân làm cho chân sau được uốn gập lại và móng chân vượt qua phía trước về phía xương
ngồi, sau đó kéo thẳng chân sau ra ngoài. Khi sửa chân thai phải đề phòng móng chân thai
làm tổn thương niêm mạc đường sinh dục. Sau khi hai chân sau đã trở lại tư thế bình
thường, dùng dụng cụ kết hợp với tay để kéo thai ra khỏi cơ thể mẹ.
+) Mông của thai ra trước
Tư thế này có thể xuất hiện hai trạng thái khác nhau
- Một chân sau của thai duỗi thẳng ra ngoài chân còn lại bị gập cong lại nằm ở
dưới bụng thai.
- Cả hai đều bị gập cong và nằm ở dưới bụng thai. Tư thế này chủ yếu thường
gặp ở gia súc lớn nhất là đối với ngựa. Còn ở gia súc nhỏ ít xảy ra. Do chân thai gập
lại nên mông và đùi thai tạo thành một khối to nên quá trình sổ thai gặp khó khăn.
Trường hợp chỉ có một chân sau bị gập lại thì ở ngoài âm môn có thể được bộc
lộ ra một móng chân sau nằm ngửa. Nếu cả hai chân sau bị gập lại thì không trông
thấy gì ở ngoài âm hộ.
Kiểm tra qua âm đạo phát hiện được đuôi của thai ở cửa vào xoang chậu (ngựa).
Có trường hợp. Cả hai móng chân trước nằm ngửa, hướng về phía trước và
cùng lọt vào xoang chậu.
* Biện pháp can thiệp:
Tuỳ thuộc vào thai to hay nhỏ, mức độ thai lọt vào xoang chậu nhiều hay ít tư thế 1
hay 2 chân không bình thường mà ta can thiệp. Trước hết ta phải sửa chân sau về tư thế
bình thường gần giống như tư thế vai ra trước. Lúc đầu cố gắng giữ được phần dưới cổ
khi người phụ đẩy thai về phía trước, người chính điều chỉnh chân sau về tư thế khớp
kheo ra trước. Sau đó xử lý theo phương pháp tư thế khoeo ra trước và tiếp tục kéo chân
sau thẳng ra ngoài.
Trường hợp nếu thai nhỏ mà xoang chậu bình thường nhất là chỉ khi một chân sau
không bình thường thì ta dùng dây sản khoa buộc chặt vào chân để kéo thai ra ngoài.
c) Hướng của thai không bình thường
+) Thai nghiêng và thai ngửa trong trường hợp đầu ra trước
Thai nằm nghiêng thường gặp ở
trâu bò, còn thai nằm ngửa thường gặp ở
ngựa.
Trường hợp thai nằm nghiêng thì đầu
nằm cạnh hai chân. Thai ngửa thì đầu và cổ
nằm dưới hai chân, cạnh hai chân hay ở
giữa hai chân. Khi kiểm tra qua đường sinh
dục, có thể phát hiện được móng chân trước
nằm ngửa (nếu thai ngửa) hoặc nằm nghiêng và
hai chân sau chồng lên nhau (nếu thai nghiêng).
* Biện pháp can thiệp:
Trước hết dùng các loại dịch nhờn
thụt trực tiếp vào tử cung. Sau đó áp dụng
các phương pháp sửa, xoay thai và kéo hơi
nghiêng rồi mới lôi thai ra ngoài. ở ngựa, dê cừu do thai thường không to lắm nên có
thể không cần phải xoay thai cũng có thể kéo thai ra được. Nếu khó khăn trước khi kéo
thai cũng cần xoay thai như trâu, bò. Đối với lợn dùng tay nắm chặt lấy đầu thai và đẩy
lùi vào phía trong và sửa thai. Sau đó dùng kẹp, móc sản khoa hay dùng tay để kéo
thai ra ngoài.
Trong khi thủ thuật sửa hay xoay thai nên cho gia súc mẹ đứng thai được thõng
xuống dưới, không bị các bộ phận khác chèn ép làm trở ngại nên thao tác. Mặt khác
cần phải gây tê ngoài màng cứng tuỷ sống.
Dùng nạng sản khoa đẩy thải vào để cho đầu và cổ thẳng dễ dàng khi sửa thai,
dùng ngón tay nắm vào hố mắt và xoay đầu lại và kéo vào phí trong xoang chậu.
Trong một số trường hợp khi thai còn sống dùng tay ấn mạnh vào mắt thai có thể tự
xoay thẳng đầu và chân. Nếu thai đã chết ta dùng móc cố định đưa vào xương hàm
dưới và kéo thai ra ngoài.
Dùng sức kéo một chân trước phía trên xuống dưới và sang phía đối diện với
phía thai nằm (ví dụ: Khi thai nằm nghiêng về bên phải thì kéo về bên trái). Không nên
kéo cùng lúc cả hai chân trước như vậy khi thai đã lọt qua cửa xoang chậu, từ trạng
thái nằm nghiêng có thể trở thành nằm sấp hay hơi nghiêng.
Người phụ kéo đầu thai người khác kéo chân trước lên phía trên, người chính
nắm lấy đầu gối chân trước phía dưới đẩy mạnh lên trên để xoay thẳng ngực của thai.
Trường hợp thai nằm ngửa khi xoay thai phải giữ chặt thai và xoay lật gia súc mẹ.
Trước hết dùng dụng cụ đẩy thai lùi vào phía trong tử cung tay giữ chặt lấy cổ chân khi đã
làm cho chân trước gập lại thai được cố định tương đối chắc nên khi lật gia súc mẹ từ bên
này sang bên kia thai có thể chuyển thành nằm sấp hay hơi nghiêng cần phải căn cứ vào vị
trí của đầu thai để quyết định con mẹ nằm ở phía nào và lật sang phía nào trường hợp đầu
thai bị kẹp vào giữa hai chân trước thì lật gia súc mẹ vào phía nào cũng được. Nếu đầu
thai nằm ở bên hải chân trước thì đạt mẹ nằm
ở bên phải sau đó lật qua bên trái và ngược
lại. Trường hợp nếu sửa thai một lần không
kết quả thì có thể tiến hành lần thứ hai. Sau
khi xoay thai và điều chỉnh đầu thai ở trạng
thái bình thường áp dụng phương pháp kéo
thai ra ngoài.
+) Thai nghiêng và thai ngửa trong
trường hợp đuôi ra trước
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình mô đun Phòng, trị bệnh sản khoa thú y - Nghề: Thú y", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mo_dun_phong_tri_benh_san_khoa_thu_y_nghe_thu_y.pdf

