Giáo trình Kỹ năng mềm

LỜI NÓI ĐẦU  
Ngày nay, trong một nền kinh tế cạnh tranh toàn cầu có sự thay đổi liên tục  
của công nghệ, của thị trường và của hoạt động kinh doanh, càng ngày người sử  
dụng lao động càng đòi hỏi người lao động phải có những kỹ năng khác biệt, mới  
mẻ liên quan đến công việc nhiều hơn. Việc người lao động có được bằng cấp ở  
trường cao đẳng, đại học vẫn chưa đủ để đáp ứng những đòi hỏi của doanh nghiệp.  
Trên thực tế, các doanh nghiệp luôn đòi hỏi nhiều kỹ năng quan trọng khác mà  
nếu bạn chỉ bằng lòng với những gì học được ở nhà trường không thôi thì vẫn  
chưa đủ! Điều này có nghĩa là người lao động cần lấp đầy những thiếu hụt về kỹ  
năng của chính mình- giữa những kỹ năng đang có và những kỹ năng cần có- để  
làm tốt công việc của mình. Một khi có được những kỹ năng này, coi như bạn đã  
nắm trong tay chìa khóa của sự phát triển.  
Chính vì vậy, bên cạnh trình độ chuyên môn, người học rất cần được trang  
bị thêm nhiều kỹ năng khác, để có thể thích ứng với môi trường làm việc hiện đại,  
ứng phó với những áp lực, đáp ứng được các yêu cầu mới mẻ của công việc…tại  
từng doanh nghiệp.  
Giáo trình Kỹ năng mềm của Trường Cao đẳng Hàng hải I cung cấp cho  
người học những kỹ năng cơ bản để thành công trong học tập, cuộc sống cũng như  
trong công việc, giúp học sinh, sinh viên nhận thức đúng đắn hơn về sự cần thiết  
của các kỹ năng mềm, phương pháp hình thành và rèn luyện các kỹ năng cơ bản  
như kỹ năng giao tiếp; kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc, phỏng vấn; kỹ năng thuyết  
trình, kỹ năng làm việc nhóm; kỹ năng giải quyết vấn đề.  
Do khái niệm kỹ năng mềm khá rộng, trong khuôn khổ một giáo trình  
không thể chứa đựng đầy đủ hết đồng thời khó có thể tránh khỏi những khiếm  
khuyết về nội dung và hình thức. Chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp của  
các đồng nghiệp và học sinh, sinh viên để hoàn thiện trong những lần tái bản sau.  
Trân trọng cảm ơn!  
NHÓM TÁC GIẢ  
2
MỞ ĐẦU  
Nếu kỹ năng cứng là trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn hay bằng cấp,  
chứng chỉ về chuyên môn hay nghề nghiệp thì Kỹ năng mềm là thuật ngữ để chỉ  
các kỹ năng quan trọng trong cuộc sống như kỹ năng sống, kỹ năng nhận thức về  
mình và hoàn cảnh xung quanh mình, kỹ năng xử lý công việc  
Kỹ năng mềm cung cấp 75% khả năng thành công trong khi đó Kỹ năng  
cứng chỉ cung cấp 25% khả năng thành công. Bởi vậy, kỹ năng mềm sẽ là hành  
trang gì để bạn hội nhập vào cuộc sống. Vậy kỹ năng là gì và kỹ năng cứng với kỹ  
năng mềm khác nhau như thế nào?  
1. Khái niệm kỹ năng  
Cho đến nay có nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng.  
“Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong  
một lĩnh vực nào đó vào thực tế”1.  
“Kỹ năng về cơ bản là một dấu hiệu chung và bao quát của sự sẵn sàng  
đạt được một thành tích với trình độ và cường độ phù hợp ở một thời điểm  
nhất định trong những điều kiện nhất định hoặc là của sự sẵn sàng học được  
các kiến thức và hành động cần thiết cho việc đạt được thành tích đó. Mức độ  
đạt thành tích có cơ sở hoặc là giáo dục và luyện tập, hoặc ở các yếu tố bẩm  
sinh, các tố chất cơ bản không phụ thuộc vào kinh nghiệm. Như vậy kỹ năng  
được hiểu là sự sẵn sàng học tập và đạt thành tích và cần dẫn tới việc giải  
quyết được các vấn đề thông qua lao động có suy nghĩ”2.  
“Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức  
hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng”3.  
“Kỹ năng là hoạt động quan sát được và những phản ứng mà một người  
thực hiện nhằm đạt được mục đích; Kỹ năng là khả năng thực hiện công việc  
một cách có hiệu quả trên cơ sở tính đến điều kiện thời gian nhất định, dựa vào  
tri thức và kỹ xảo đã có”4  
---------------------  
1
Từ điển tiếng Việt. Viện ngôn ngữ học. Đà nẵng.: NXB Đà Nẵng, 1998.- Tr. 501.  
2
Nguyễn Tiến Đạt. Khái niệm kỹ năng và khái niệm kỹ xảo trong đào tạo kỹ thuật  
và nghề nghiệp//Tạp chí phát triển giáo dục. Số 6/2004.- Tr.18-20.  
3 Mai Hữu Khuê. Kỹ năng giao tiếp trong hành chính/ Kết quả nghiên cứu khoa học.  
H.: Học viện hành chính quốc gia, 1997.- Tr. 21.  
3
Các quan niệm trên tuy khác nhau nhưng có cùng một điểm chung: kỹ  
năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một  
chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức, kinh nghiệm) nhằm tạo ra  
kết quả mong đợi.  
2. Các loại kỹ năng  
Muốn thích nghi nhanh với cuộc sống, trở thành người có năng lực, ứng  
xử một cách văn hóa và làm việc có hiệu quả, đạt nhiều thành tích cao, con  
người cần học tập và rèn luyện rất nhiều kỹ năng, trong đó quan trọng nhất là  
các kỹ năng “cứng” và kỹ năng “mềm”  
.
Theo từ điển tiếng việt do Hoàng Phê chủ biên  
Kỹ năng “cứng” là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được  
trong một lĩnh vực nào đó vào trong thực tế (Tr501). Theo đó kỹ năng cứng là  
khả năng vận dụng những kiến thức đã học về chuyên môn, nghề nghiệp vào  
công việc ở cơ quan, xí nghiệp...Như vậy, kỹ năng cứng được đánh giá định vị  
bằng các loại chứng chỉ, bằng cấp, học hàm, học vị.  
Kỹ năng cứng thường được hiểu là những kiến thức, đúc kết và thực hành  
có tính chất kỹ thuật nghề nghiệp. Kỹ năng cứng được cung cấp thông qua các  
môn học đào tạo chính khóa, có liên kết lô-gich chặt chẽ, và xây dựng tuần tự.  
Thời gian để có được kỹ năng cứng thường rất dài, hàng chục năm, bắt đầu từ  
những kiến thức kỹ năng cơ bản ở nhà trường phổ thông qua các cấp như: Tư duy  
hình học, tư duy ngôn ngữ-văn phạm, các hệ thống khái niệm lý thuyết cơ bản vật  
lý hóa học sinh học toán học... và những kiến thức kỹ năng này được phát triển  
dần lên các mức độ cao hơn, thông qua giảng dạy, thực hành và tự học một cách  
hệ thống.  
Vì quá trình rèn luyện dài, vất vả và đi kèm với những kỳ thi chứng minh  
khả năng đã vượt qua các mức độ nhất định, các kỹ năng cứng được dành nhiều  
thời gian hơn kỹ năng mềm; và về tuần tự thời gian, thường được đầu tư trước khi  
sở hữu kỹ năng mềm trong cuộc sống.  
Kỹ năng mềm là một khái niệm rộng. Đây là những kỹ năng thuộc về  
tính cách con người, không mang tính chuyên môn, không thể sờ nắm được.  
Ví dụ: sự tận tâm, sự dễ chịu, tính lạc quan, khả năng hài hước, khả năng giao  
tiếp hiệu quả, khả năng ứng xử trước những lời phê bình  
4
Kỹ năng mềm cũng là khả năng, là cách thức tiếp cận và phản ứng với  
môi trường xung quanh, không phụ thuộc vào trình độ chuyên môn.  
Theo cách hiểu trên thì kỹ năng mềm chính là khả năng vận dụng một  
cách linh hoạt, mềm mại, uyển chuyển những kiến thức tiếp thu trong cuộc  
sống hàng ngày vào việc xử lý những tình huống trong công việc cũng như  
trong mọi lĩnh vực của cuộc sống. Đây là thuật ngữ được dùng để chỉ các kỹ  
năng quan trọng như kỹ năng sống, kỹ năng xử lý đối với công việc, kỹ năng  
quản lý thời gian, kỹ năng quản lý tài chính và chi tiêu, kỹ năng sáng tạo, kỹ  
năng tìm kiếm việc làm…Thường thì kỹ năng này có được không phải nhờ  
một trường lớp nào đào tạo rồi cấp bằng, cấp chứng chỉ…mà là có được nhờ  
khả năng nhận thức cuộc sống và vận dụng nó một cách hợp lý, biện chứng  
trong quá trình sống.  
Các kỹ năng cứng và kỹ năng mềm nếu được kết hợp với nhau sẽ giúp  
con người kỹ năng sống có hiệu quả và là bí quyết thành công của nhiều người  
thành đạt. Đó chính là năng lực của mỗi người, giúp họ lựa chọn được những  
phương án tối ưu để giải quyết những nhu cầu và thách thức của cuộc sống  
một cách có hiệu quả nhất, tự tin vào bản thân nhưng không kiêu ngạo, không  
nản chí trước thất bại, không đầu hàng trước những khó khăn, thử thách.  
3. Tầm quan trọng của kỹ năng mềm  
3.1. Vai trò đối với cá nhân  
Kỹ năng mềm đưa đến cho con người rất nhiều điều bổ ích, một thực tế là  
hiện nay có nhiều sinh viên khi tham gia tuyển dụng đã bị đánh trượt do thiếu kỹ  
năng mềm. Đã có khá nhiều ứng viên trả lời nhà tuyển dụng “em là sinh viên mới  
ra trường nên em không biết vấn đề này” khi gặp những câu kiểm tra kỹ năng. Dễ  
hiểu cái không biết đó phải trả giá: rớt khỏi vòng phỏng vấn.  
Các nhà tuyển dụng nhấn mạnh đến kiến thức nền tảng mà các sinh viên  
tích luỹ được trong quá trình đào tạo ở trường đại học, từ các cơ quan, tổ chức họ  
đã từng tham gia, các chứng chỉ, bằng cấp đã nhận… và tất nhiên chúng phải liên  
quan đến vị trí mà ứng viên xin tuyển. Kiến thức nền tảng từ ghế nhà trường là  
yếu tố tiên quyết để bạn có thể chinh phục nhà tuyển dụng. Kiến thức là mấu chốt  
cho bạn để có thể làm việc. Nếu ví hành trang của các bạn gói gọn trong một chiếc  
ba lô thì ngăn chính của chiếc ba lô này sẽ chứa đựng những nguồn kiến thức học  
thuật. Đây là vốn kiến thức vô hạn thu nhận từ trường cao đẳng hay đại học, từ  
quá trình nghiên cứu, tham khảo qua sách vở. Khó có thể khẳng định rằng kiến  
5
thức không quyết định sự thành bại của một cá nhân, nhưng nếu có kiến thức, thất  
bại sẽ được hạn chế và thay vào đó là những thuận lợi và thành công trong cuộc  
sống.  
Nếu như ngăn chính của ba lô chứa đựng vô vàn kiến thức bổ ích, vậy ngăn  
phụ của nó sẽ gồm những gì? Đó là những kỹ năng mềm cần thiết cho các bạn  
“90% sinh viên ra trường thiếu kỹ năng mềm”, đó là kết quả của một cuộc khảo  
sát gần đây do một số nhà tuyển dụng thực hiện nhằm đánh giá lại tình hình nguồn  
nhân lực trẻ. Vì sao rất nhiều người biết “kỹ năng mềm” là gì, nhưng rất ít trong số  
đó có thể áp dụng được nó vào thực tế? Hiện nay những yêu cầu của nhà tuyển  
dụng với người lao động không chỉ dừng lại ở kiến thức mà còn cả những kỹ năng  
mềm như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng teamwork,... Để có được điều này, điều bạn  
cần làm không phải là ngày ngày ôm laptop xem phim, chơi game, lướt facebook  
mà hãy đi ra ngoài, tham gia các câu lạc bộ trong và ngoài trường, làm thêm hay  
tham gia các cuộc thi cũng là cách trải nghiệm đầy bổ ích.  
Những điều đó sẽ giúp bạn trưởng thành hơn trong cuộc sống. Thực tế cho  
thấy kỹ năng cứng (IQ) tạo tiền đề và kỹ năng mềm (EQ) tạo nên sự phát triển.  
Người thành đạt chỉ có 25% là do những kiến thức chuyên môn, 75% còn lại được  
quyết định bởi những kỹ năng mềm họ được trang bị. Chìa khóa dẫn đến thành  
công thực sự là bạn phải biết kết hợp cả hai kỹ năng này một cách khéo léo.  
Có thể nói, kỹ năng mềm có một vai trò rất quan trọng đối với mỗi cá nhân.  
Như mục khái niệm trên đã nói, kỹ năng mềm giúp cho con người vận dụng một  
cách mềm mại, linh hoạt và hiệu quả những kiến thức kỹ năng cứng vào công  
việc. Đồng thời, kỹ năng mềm giúp con người xử lý mọi tình huống gặp phải trong  
cuộc sống dể giúp họ đi đến thành công. Nó chính là chìa khóa cho sự thành công  
trong cuộc sống của mọi người.  
3.2. Vai trò đối với xã hội  
Xã hội ngày nay chịu ảnh hưởng bởi nền công nghiệp hiện đại, là xã hội hội  
nhập với khu vực và thế giới, vấn đề của một quốc gia không còn gói gọn trong  
phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó, mà ít nhiều gây ảnh hưởng đến khu vực và thậm  
chí là cả thế giới. Sự phụ thuộc của các quốc gia, ở nhiều phương diện, ngày càng  
gia tăng; khoảng cách, thời gian và biên giới ngày càng bị rút ngắn và xóa mờ đi…  
Ngày nay, tính chuyên nghiệp trong công việc được đòi hỏi rất cao. Nguồn  
nhân lực có thể đáp ứng nhu cầu của xã hội không chỉ có trình độ tay nghề mà còn  
đòi hỏi nhiều kỹ năng khác. Một khi đáp ứng được yêu cầu đó, chúng ta đã tạo ra  
6
một xã hội năng động, một xã hội thành công. Điều đó cũng đồng nghĩa với phát  
triển xã hội trên nhiều lĩnh vực như kinh tế, khoa học kỹ thuật, văn hóa, an ninh  
quốc phòng…  
Như vậy, kỹ năng mềm có vai trò quan trọng đối với xã hội. Nó vừa là  
phương tiện, vừa là cách thức và động lực phát triển xã hội. Cuộc sống hiện đại  
với môi trường làm việc ngày càng năng động, nhiều sức ép và tính cạnh tranh thì  
kỹ năng mềm là một yếu tố không thể thiếu đặc biệt với người trẻ.  
Câu hỏi ôn tập  
1. Kỹ năng mềm là gì? Phân biệt kỹ năng cứng và kỹ năng mềm?  
2. Liệt kê tên các loại kỹ năng mềm cần thiết trong cuộcsống.  
3. Tại sao phải kết hợp kỹ năng cứng và kỹ năngmềm?  
4. Vai trò của kỹ năng mềm đối với cá nhân và xã hội hiện nay.  
7
CHƯƠNG 1  
KỸ NĂNG GIAO TIẾP  
1. Khái niệm, phân loại và chức năng của giao tiếp  
1.1. Khái niệm  
Giao tiếp là một trong những nhu cầu cơ bản của con người, là hoạt động có vai  
trò vô cùng quan trọng trong đời sống của con người.  
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về giao tiếp:  
+ Giao tiếp là một quá trình thiết lập mối quan hệ hai chiều giữa một người  
với một người hoặc với nhiều người xung quanh, liên quan đến sự truyền đạt  
thông điệp và sự đáp ứng với sự truyền đạt ấy.  
+ Giao tiếp là một quá trình qua đó chúng ta phát và nhận thông tin, suy  
nghĩ, có ý kiến và thái độ để có được sự thông cảm và hành động.  
+ Giao tiếp là quá trình nói, nghe và trả lời để chúng ta có thể hiểu và phản ứng  
với nhau.  
Như vậy, có rất nhiều quan điểm khác nhau về giao tiếp, nhưng có thể khái  
quát thành khái niệm được nhiều người chấp nhận như sau: Giao tiếp là quá  
trình trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ; là quá trình nhận biết và tác động  
lẫn nhau trong quan hệ giữa người với người nhằm đạt đến một mục đích  
nhất định.  
- Giao tiếp trải qua nhiều mức độ, từ thấp đến cao, từ sự e dè bề ngoài  
đến việc bộc lộ những tình cảm sâu kín bên trong :  
+ Mức độ xã giao (các bên còn dè dặt trong trao đổi, dừng lại ở mức  
chào hỏi làm quen).  
+ Mức độ quen biết: Trao đổi các ý tưởng khi mối quan hệ trở nên thân  
thiết hơn, nói về mình hoặc người đối diện.  
+ Mức độ thân thiết: Trao đổi cảm nghĩ, bộc lộ tình cảm của mình với  
người đối diện, nói về những điều mình yêu, mình ghét…chia sẻ với nhau niềm  
vui buồn trong cuộc sống.  
+ Mức độ gắn bó sâu đậm : Mức độ cao nhất của giao tiếp. Người ta có  
thể trao đổi một cách cởi mở những cảm nghĩ và tình cảm, những niềm tin và ý  
kiến với người khác mà không sợ những điều mình nói ra sẽ bị từ chối hoặc  
8
không được chấp nhận.  
1.2. Phân loại giao tiếp  
Có nhiều cách phân loại giao tiếp tùy theo những tiêu chuẩn khác nhau:  
a. Dựa vào phương tiện giao tiếp: có 2 loại:  
+ Giao tiếp bằng ngôn ngữ: Con người sử dụng tiếng nói và chữ viết để  
giao tiếp với nhau. Đây là phương tiện giao tiếp chủ yếu của con người. Bằng  
ngôn ngữ, con người có thể truyền đi bất cứ một loại thông tin nào, như thông  
báo tin tức, diễn tả tình cảm, ám chỉ, miêu tả sự vật...  
+ Giao tiếp phi ngôn ngữ: Con người giao tiếp với nhau bằng hành vi  
cử chỉ, nét mặt, ánh mắt, nụ cười, đồ vật…  
b. Dựa vào khoảng cách: Có 2 loại:  
+ Giao tiếp trực tiếp: Là loại giao tiếp giữa các cá nhân khi họ mặt đối  
mặt với nhau để trực tiếp giao tiếp.  
+ Giao tiếp gián tiếp: Là loại giao tiếp được thực hiện thông qua một  
phương tiện trung gian khác như điện thoại, email, thư tín, Fax, chat…  
c. Dựa vào tính chất giao tiếp: Có 2 loại:  
+ Giao tiếp chính thức: Là loại giao tiếp khi các cá nhân cùng thực hiện  
một nhiệm vụ chung theo quy định. Ví dụ: giao tiếp giữa giảng viên và sinh viên  
trong giờ học. Loại giao tiếp này có tính tổ chức, kỉ luật cao.  
+ Giao tiếp không chính thức: Là loại giao tiếp diễn ra giữa những người  
đã quen biết, hiểu rõ về nhau, không bị ràng buộc bởi pháp luật, thể chế, mang  
nặng tính cá nhân. Ví dụ: giao tiếp giữa các bạn sinh viên trong giờ ra chơi. Loại  
giao tiếp này thường tạo ra bầu không khí đầm ấm, vui tươi, thân mật, hiểu biết  
lẫn nhau.  
d. Dựa vào số người tham dự cuộc giao tiếp:  
+ Giao tiếp cá nhân – cá nhân. Ví dụ: giao tiếp giữa sinh viên A và sinh  
viên B  
+ Giao tiếp cá nhân – nhóm. Ví dụ: giao tiếp giữa giảng viên với lớp  
hoặc nhóm sinh viên  
+ Giao tiếp nhóm – nhóm: giao tiếp trong đàm phán giữa đoàn đàm phán  
của công ty A và công ty B.  
1.3. Hình thức giao tiếp  
Trong giao tiếp để trao đổi thông tin, tình cảm, suy nghĩ hay nhận thức và  
tác động lẫn nhau, chúng ta có thể sử dụng nhiều hình thức giao tiếp khác  
9
nhau, có thể khái quát thành hai hình thức giao tiếp cơ bản: giao tiếp trực tiếp và  
giao tiếp gián tiếp. Mỗi hình thức giao tiếp có những ưu và nhược điểm khác  
nhau phù hợp với từng tình huống giao tiếp cụ thể. Vì vậy, trong giao tiếp để đạt  
được hiệu quả cao nhất chúng ta cần lựa chọn và sử dụng hình thức giao tiếp hợp  
lý.  
a. Giao tiếp trực tiếp:  
+ Giao tiếp trực tiếp là hình thức giao tiếp khi các chủ thể có nhau cầu giao  
tiếp với nhau họ gặp mặt trực tiếp nhau – mặt đối mặt để trao đổi thông tin, nhận  
thức, tác động lẫn nhau.  
+ Hình thức giao tiếp trực tiếp có ưu điểm:  
- Giúp cho vấn đề mà các bên trao đổi được rõ ràng, cụ thể hơn  
- Thông tin phản hồi nhanh  
- Ra quyết định nhanh hơn, vấn đề được giải quyết nhanh và triệt để  
- Giúp cho việc nhận biết đối phương được rõ ràng cụ thể hơn  
- Giúp cho các chủ thể giao tiếp có thể thể hiện tình cảm, cảm xúc, thái độ  
một cách rõ ràng hơn  
- Làm cho mối quan hệ giữa các bên giao tiếp ngày càng gắn bó, bền chặt  
+ Hình thức giao tiếp trực tiếp có những hạn chế sau:  
- Tốn thời gian để tổ chức không gian, địa điểm giao tiếp, tốn chi phí đi lại  
- Dễ nảy sinh xung đột, mâu thuẫn giữa các bên giao tiếp nếu các bên giao  
tiếp có sự khác biệt lớn về quan điểm, tính cách, thái độ…  
+ Khi sử dụng hình thức giao tiếp trực tiếp cần chú ý một số điểm đặc  
trưng sau:  
- Tổ chức không gian, địa điểm giao tiếp thích hợp  
- Chú ý hình ảnh bên ngoài  
- Quan tâm ngôn ngữ cơ thể của bản thân và của đối tác  
b. Giao tiếp gián tiếp  
+ Giao tiếp gián tiếp là hình thức giao tiếp thông qua các phương tiện hay  
tố trung gian, giao tiếp gián tiếp rất đa dạng bao gồm nhiều hình thức khác  
yếu  
nhau như: giao tiếp qua điện thoại, thư tín, email, chat, fax, …  
+ Các hình thức giao tiếp gián tiếp có ưu điểm: thuận tiện, đỡ tốn kém,  
trao đổi được nhiều thông tin, cùng một thời gian có thể giao tiếp với nhiều  
người…  
+ Các hình thức giao tiếp gián tiếp có hạn chế: thông tin dễ bị thất lạc, rò  
10  
rỉ; sự nhận biết về nhau bị hạn chế; khó bộc lộ rõ tình cảm thái độ…  
1.4. Chức năng của giao tiếp  
a. Chức năng truyền thông tin (thông báo)  
Chức năng này có cả ở người và động vật. Ở động vật, chức năng thông  
báo thể hiện ở điệu bộ, nét mặt, âm thanh (phi ngôn ngữ). Còn ở người, với sự  
tham gia của hệ thống tín hiệu thứ 2, chức năng thông tin, thông báo được phát  
huy tối đa, nó có thể truyền đi bất cứ thông tin nào. Trong hoạt động chung,  
người này giao tiếp với người kia để thông báo cho nhau những thông tin giúp  
cho hoạt động được thực hiện một cách có hiệu quả.  
b. Chức năng nhận thức  
Giao tiếp là công cụ quan trọng giúp con người nhận thức về thế giới và  
về bản thân. Giao tiếp giúp cho khả năng nhận thức của con người ngày càng  
mở rộng, làm cho vốn hiểu biết, tri thức của con người ngày càng phong phú.  
c. Chức năng phối hợp hành động  
Trong một tổ chức thường có nhiều bộ phận với các chức năng và  
nhiệm vụ khác nhau. Để tổ chức hoạt động một cách thống nhất, đồng bộ, thì  
các bộ phận, thành viên trong tổ chức cần phải giao tiếp với nhau để phối hợp  
hành động cho có hiệu quả.  
d. Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi.  
Qua giao tiếp con người có thể nhận biết về thế giới, về người khác và về  
bản thân; biết được cái hay cái dở của bản thân cũng như những yêu cầu đòi hỏi  
của người khác, của xã hội trên cơ sở đó con người tự điều khiển, điều chỉnh bản  
thân cho phù hợp hơn. Chức năng điều khiển, điều chỉnh hành vi trong giao tiếp  
thể hiện khả năng thích nghi lẫn nhau, khả năng nhận thức và đánh giá lẫn nhau  
của các chủ thể giao tiếp. Mặt khác, nó còn thể hiện vai trò tích cực của các chủ  
thể trong giao tiếp.  
e. Chức năng tạo lập mối quan hệ  
Đối với con người, sự cô đơn, bị cô lập đối với những người xung quanh  
là một trong những điều đáng sợ nhất. Giao tiếp giúp cho con người tạo ra  
những mối quan hệ với người khác người.  
f. Chức năng cân bằng cảm xúc  
Mỗi chúng ta đôi khi có những cảm xúc cần được chia sẻ. Sung sướng  
hay đau khổ, vui hay buồn, hy vọng hay thất vọng đều muốn được chia sẻ  
cùng người khác. Chỉ có trong giao tiếp chúng ta mới tìm được sự đồng cảm,  
11  
cảm thông và giải tỏa được cảm xúc của mình.  
g. Chức năng hình thành và phát triển nhân cách  
Trong giao tiếp con người lĩnh hội được kinh nghiệm xã hội, tâm hồn của  
con người trở nên phong phú, tri thức sâu sắc, tình cảm và thế giới quan được  
hình thành và phát triển. Thông qua giao tiếp những tiêu chuẩn đạo đức (tinh thần  
trách nhiệm, tính nguyên tắc, lòng vị tha...) không chỉ được thể hiện mà còn được  
hình thành. Cũng thông qua giao tiếp, con người được nhìn nhận, đánh giá từ đó  
mà có thể tự điều khiển điều chỉnh để tự hoàn thiện mình.  
Từ những chức năng trên, chúng ta khẳng định giao tiếp có vai trò đặc biệt  
quan trọng trong đời sống xã hội và trong đời sống của mỗi con người.  
2. Một số kỹ năng giao tiếp cơ bản  
2.1. Kỹ năng nói  
Kỹ năng nói hiệu quả là khả năng biểu đạt bằng lời nói, là một loại năng  
lực được thể hiện qua khẩu ngữ để truyền đạt thông tin, biểu đạt tư tưởng, tình  
cảm một cách chính xác, sinh động, có sức thuyết phục.  
Kỹ năng nói được quyết định bởi 5 yếu tố:  
a. Ngôn từ  
Ngôn từ là sản phẩm của tư duy, qua việc sử dụng ngôn từ, người nghe có  
thể nhận biết được người nói là một người như thế nào: có văn hóa hay không  
có văn hóa; nóng nảy, cục cằn hay nhã nhặn, lịch sự; ích kỷ, kiêu căng hay độ  
lượng, khiêm nhường.  
Tục ngữ có câu: “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa  
lòng nhau”, hay “nói ngọt, thì lọt đến xương”.  
Để gây được thiện cảm với người nghe, giao tiếp trong xã hội nói chung,  
giao tiếp trong công việc nói riêng, nên sử dụng ngôn ngữ nói theo các lưu ý sau:  
+ Nên dùng những từ ngữ phổ thông, đơn giản, dễ hiểu, cần rèn luyện để  
hạn chế nói ngọng và từ ngữ địa phương gây hiểu sai hoặc khó hiểu dẫn đến  
hiệu quả giao tiếp không đạt như mong muốn.  
+ Nên dùng từ đẹp, từ thanh nhã, dung dị, như: vui lòng, làm ơn, nên  
chăng, có thể, theo tôi nghĩ, rất tiếc…  
Vd: Chú vui lòng cho con xem chứng minh nhân dân  
+ Tránh dùng những từ mạnh như: Xấu quá, kém cỏi thế, nhầm, nhất định,  
yêu cầu, cần phải, kiên quyết…  
+ Hạn chế tối đa dùng từ “không”  
12  
Dùng từ không, từ mạnh, từ cứng nhắc khi giao tiếp là vô tình tạo ra không  
khí nặng nề, căng thẳng, làm ức chế người nghe và tính thuyết phục không cao  
đối với người nghe, nhất là những người phải tiếp nhận lời chê trách, phàn nàn.  
+ Để thể hiện sự tôn kính, lịch thiệp, nên dùng những từ xưng hô: thưa  
ông, thưa bà, thưa bác, thưa các anh, các chị…vì con người ai cũng muốn được  
người khác tôn trọng mình. Thưa gửi là những từ đệm thể hiện sự kính trọng, gần  
gũi để được mọi người chấp nhận.  
+ Để tạo cảm giác hứng thú, hấp dẫn, lôi cuốn lòng người nên dùng từ có  
biểu cảm, có hình ảnh, có màu sắc và đôi khi lợi dụng cơ hội có thể xen vào  
đúng lúc đôi chút hài hước thì có hiệu quả không nhỏ.  
Vd: Thơm ngây ngất, đẹp tuyệt vời…  
+ Để tăng sự chú ý và tạo sức thuyết phục cao trong khi người nghe đang  
chần chừ, do dự, có thể cũng cần dùng ngôn từ mạnh mẽ, từ nhấn, từ khẳng định:  
tuy nhiên, chẳng hạn, tất nhiên, bởi vậy, ….  
Khi sử dụng ngôn từ, cần chú ý tới hoàn cảnh, ngữ cảnh và đối tượng giao  
tiếp cụ thể để chọn loại ngôn từ gì, ở chừng mực nào cho thích hợp, chứ không  
nên lạm dụng chúng một cách thái quá.  
b. Âm điệu, giọng nói  
Âm giọng trong hoạt động giao tiếp có tác động rất mạnh mẽ đến cảm xúc,  
tình cảm của người nghe.  
Âm điệu chuẩn xác, nhịp nhàng; giọng nói to rõ, truyền cảm bao giờ  
cũng có sức lôi cuốn lòng người.  
Với những giọng nói đều đều, the thé, đay nghiến, chì chiết hay ngon ngọt  
theo kiểu nịnh hót dễ làm cho đối tác khó chịu, phiền lòng.  
Tuỳ theo cảm xúc và ý tứ của người nói mà giai điệu cần có lúc du dương,  
lên bổng, xuống trầm; đôi lúc phải biết cách nhấn giọng hoặc thả giọng khi cần  
thiết. Trong quá trình rèn luyện hãy luôn nhớ: nói lí nhí là điều cấm kỵ, phải nói  
to, rõ ràng, lưu loát như vậy mới có thể lôi cuốn được lòng người, đưa tâm hồn  
của người nghe hoà quyện vào trạng thái cảm xúc của người nói.  
c. Tốc độ, cường độ nói  
Tốc độ, cường độ nói có ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp nhận thông tin ở  
người nghe. Trong giao tiếp nếu chúng ta nói với tốc độ quá nhanh hay với  
cường độ nhỏ sẽ làm cho đối tác giao tiếp không thể nghe rõ những gì chúng ta  
trao đổi, từ đó có thể dẫn đến không hiểu hoặc hiểu lầm.  
13  
Theo các nhà nghiên cứu, nếu bạn vốn là người có khả năng nói lưu loát,  
thì khi nói tiếng mẹ đẻ, bạn nên nói khoảng 120 – 150 từ/phút. Nếu nói bằng ngôn  
ngữ thứ hai thì chỉ nên nói tối đa 100 từ/phút. Tốc độ nói như vậy đủ giúp bạn có  
thể phát âm rõ ràng, truyền cảm, có thể dùng những từ hoa mỹ, có thể nhấn  
giọng, hạ giọng làm cho bài nói sinh động, thu hút được người nghe.  
Do đó, trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói chúng ta cần điều chỉnh tốc độ  
và cường độ nói ở mức độ hợp lý, đặc biệt là khi nói trước đám đông, nói với  
người lớn tuổi, nói với trẻ em, với người có trình độ hiểu biết hạn chế….  
d. Phong cách nói  
Trong giao tiếp có nhiều phong cách nói khác nhau nhứ: nói hiển ngôn hay  
nói hàm ngôn; nói thẳng hay nói tránh; nói lịch sự hay nói mỉa mai, châm chọc,  
…. Trong giao tiếp tùy vào đối tượng giao tiếp, hoàn cảnh và nội dung giao tiếp  
mà chúng ta chọn phong cách nói cho phù hợp. Tuy nhiên, để giao tiếp bằng  
ngôn ngữ nói đạt hiệu quả chúng ta nên tránh sử dụng các phong cách nói quá  
thẳng thắn (Thuốc đắng giã tật, sự thật mất lòng), tránh phong cách nói mỉa mai  
châm chọc người khác.  
e. Cách truyền đạt  
Trong giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, cách truyền đạt được xem là một trong  
những vấn đề quan trọng trong việc thu hút và tạo hứng thú cho người nghe cũng  
như nâng cao hiệu quả của quá trình trao đổi thông tin. Để giao tiếp có hiệu quả  
chúng ta sử dụng cách truyền đạt lôgic, mạch lạc, hài hước, dí dỏm. Nên tránh  
cách truyền đạt ấp a ấp úng, gây mê…  
Như vậy, hình thành kỹ năng nói tốt giúp truyền đạt thông tin và giải quyết  
công việc nhanh chóng, hiệu quả. Nó tạo ra mối quan hệ tốt đẹp trong giao tiếp.  
Nó giúp con người nâng cao uy tín bản thân, tự khẳng định và là công cụ tạo ảnh  
hưởng đối với người khác.  
2.2. Kỹ năng lắng nghe  
Trong cuộc sống hiện đại, có quá nhiều điều chúng ta cần học hỏi và bị  
lãng quên trong những điều đó có “lắng nghe”  
Lắng nghe- một động tác tưởng chừng như vô thức nhưng lại có một ý  
nghĩa hết sức quan trọng trong giao tiếp hàng ngày.  
Nói chỉ là một mặt của truyền thông giao tiếp. Nếu bạn muốn thành công,  
khi giao tiếp với mọi người bạn không phải chỉ nghe mà phải dành hơn một nửa  
thời gian để lắng nghe.  
14  
2.2.1. Sự khác nhau giữa nghe và lắng nghe  
Nghe là một hoạt động vật lý, một hoạt động tự nhiên của con người, khi  
nghe con người sẽ đón nhận tất cả mọi âm thanh đến tai.  
15  
+ Lờ đi, không nghe gì cả: ví dụ như một bạn học sinh đang lơ đãng trong  
khi cô giáo đang giảng bài trên lớp, một nhân viên đăm chiêu nhìn ra ngoài cửa sổ  
và không để ý đến phát biểu của giám đốc.  
+ Giả vờ nghe: trong trường hợp này người nghe thường đang suy nghĩ một  
vấn đề khác, nhưng lại tỏ vẻ chú ý nghe người đối thoại để an ủi họ, đồng thời  
che giấu việc mình chẳng nghe gì cả.  
+ Nghe có chọn lọc: tức là chỉ nghe phần mình quan tâm. Cách nghe này  
khó có hiệu quả cao, bởi vì người nghe không theo dõi liên tục nên không nắm  
được đầy đủ chính xác những thông tin người đối thoại đưa ra.  
+ Nghe chăm chú: tập trung mọi sự chú ý vào người đối thoại để chú ý hiểu họ.  
+ Nghe thấu cảm: trong trường hợp này người nghe không những nghe mà còn  
đặt mình vào vị trí của người nói để hiểu được người nói có cảm nghĩ gì.  
Trong năm mức độ trên, nghe tập trung và nghe thấu cảm chính là lắng  
nghe.  
Khi nghe thấu cảm, chúng ta không những hiểu được lời nói của người đối  
thoại mà còn hiểu được tại sao họ nói như vậy, họ muốn gì, có nhu cầu gì. Nghĩa là  
chúng ta đang đi sâu vào nội tâm họ, lắng nghe không chỉ bằng tai mà bằng cả  
trái tim, lắng nghe cả những thông tin nói được thành lời và không nói được thành  
lời, lắng nghe những phút giây im lặng. Do đó lắng nghe là một trong kỹ năng ứng  
xử quan trọng trong giao tiếp hàng ngày, được coi là nghệ thuật chinh phục người  
đối diện.  
Lắng nghe là một khả năng của hệ thần kinh, khi lắng nghe hệ thần kinh sẽ  
nhận thông tin xử lý và lưu giữ những gì chúng ta nghe được thành dạng dễ hiểu  
và dễ sử dụng. Những người biết lắng nghe là những người biết tiếp nhận những  
thông tin mới, những ý kiến mới, và lợi điểm là họ nắm được thông tin, cập nhật  
hóa thông tin, và giải quyết được vấn đề. Sinh viên không hiểu bài hoặc không  
nắm vững vấn đề của bài giảng; nhân viên không nắm vững chủ trương chính  
sách của cơ quan; cấp lãnh đạo cơ quan không thành công... phần lớn chỉ vì  
không biết lắng nghe.  
Nói tóm lại: Lắng nghe là quá trình người nghe có sự tập trung chú ý cao độ  
vào tất cả những gì được thể hiện ở người nói (lời nói và tất cả những biểu hiện  
phi ngôn ngữ) để nắm bắt thông tin. Lắng nghe là quá trình người nghe cực suy  
nghĩ để hiểu ý nghĩa nội dung thông tin mới nghe được, thông qua đó nắm bắt suy  
nghĩ, tâm tư, tình cảm, mong muốn của người nói. Lắng nghe là nghe hiểu, nghe  
16  
thấu cảm.  
2.2.2.Tầm quan trọng của lắng nghe  
Khi ta có kỹ năng lắng nghe tốt thì công việc sẽ thuận lợi hơn, cuộc sống gia  
đình vui vẻ hơn, giải quyết xung đột dễ dàng hơn. Từ bé ta được dạy nói, dạy đọc,  
dạy viết rất nhiều. Nhưng lắng nghe ta chỉ được dạy vẻn vẹn có vài câu: "Con phải  
biết nghe lời bố mẹ!", "Có nghe không thì bảo?!" Nhưng làm thế nào để nghe hiệu  
quả thì không bao giờ được dạy.  
"Nói là gieo, nghe là gặt" là câu tục ngữ rất đúng với cuộc sống hàng ngày. Bạn  
không thể nói khi bạn chưa nghe, chưa hiểu về câu chuyện bạn đang muốn nói. Kỹ  
năng lắng nghe cũng là kỹ năng quan trọng trong “Đắc nhân tâm”. Việc lắng nghe  
tốt giúp bạn rất nhiều trong cuộc sống.  
Thứ nhất: Nó giúp người khác thấy được tôn trọng khi bạn chăm chú nghe  
những gì họ nói, từ đó tạo ra sự thiện cảm.  
Thứ hai: Trong giao tiếp lắng nghe sẽ tiếp nhận đầy đủ, trọn vẹn thông tin, giúp  
lợi thế trong giải quyết vấn đề và đàm phán với đối tác.  
Thứ ba: Giúp bạn thấu hiểu được người khác và đánh giá họ một cách đúng đắn  
hơn, giúp nắm bắt chính xác tính cách, tính nết và quan điểm của người nói  
chuyện.  
Thứ tư: Lắng nghe giữa hai bên tạo không khí trao đổi thẳng thắn, hiểu nhau  
dẫn tới giải quyết mâu thuẫn, tìm kiếm giải pháp nhanh hơn.  
Thứ năm: Lắng nghe kết hợp quan sát còn có thể nghe được những gì mà người  
ta không nói bằng lời, từ đó nhận ra những ẩn ý của người nói.  
2.2.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc lắng nghe  
Chúng ta trước hết cần tránh những thói quen có ảnh hưởng đến việc lắng nghe.  
Thứ nhất: giả vờ lắng nghe, tỏ ra lắng nghe làm hài lòng người nói nhưng lại  
không nghe.  
Thứ hai: nghe qua loa các thông tin, nghe mà không có suy nghĩ, chọn lọc, nghe  
hết mà không hiểu.  
Thứ ba: buông trôi từng thời điểm, lúc lắng nghe, lúc không, dòng thông tin  
không liên tục.  
Thứ tư: luôn bình luận về cách nói hoặc tác phong, bề ngoài của người nói theo  
tiêu chuẩn của bản thân.  
Thứ năm: không nghe những vấn đề “không thú vị” theo suy nghĩ của bản thân.  
Bản chất của sự không lắng nghe là tự nhiên của con người nên muốn lắng nghe  
17  
cũng phải tập luyện. Vì tốc độ suy nghĩ của con người nhanh hơn rất nhiều so với  
tốc độ nói, nên khi nghe xong con người còn nhiều thời gian để “suy nghĩ chuyện  
khác” mà sao lãng việc nghe. Từ nhỏ chúng ta thường được luyện viết, nói chứ  
không chú ý rèn luyện cách lắng nghe. Đó cũng là một trở ngại tự nhiên hình thành  
trong quá trình lớn lên của con người. Việc thích nghe những chủ đề này mà không  
thích nghe chủ đề khác, có thể là chủ đề phức tạp hoặc nhạy cảm, mang tính chủ  
quan cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến việc lắng nghe. Các yếu tố ảnh hưởng khác  
như sự thiếu kiên nhẫn, thích dễ ghét khó, không kết hợp các kỹ năng quan sát cử  
chỉ điệu bộ người nói và nghe giọng âm điệu lời nói, thành kiến với người nói cũng  
ảnh hưởng nhiều đến việc lắng nghe.  
2.2.4. Rèn kỹ năng lắng nghe  
Muốn lắng nghe tốt, hiệu quả thì người nghe cần được tập luyện để đạt đến khả  
năng nghe thấu cảm  
- Bước 1: Chăm chú khi nghe:  
+ Nhìn vào người nói, tập trung đón nhận từng lời, nghe cho hết lời hết ý người  
nói: không sốt ruột, nôn nóng; không ngắt lời người nói;  
+ Ngồi thẳng lưng, ngay ngắn, đặc biệt nếu nói chuyện với người nhiều tuổi hơn  
không nên vắt chân mà ngồi ở tư thế thoải mái. Tuyệt đối không phân tán người  
nói: làm việc riêng (xem điện thoại, đọc sách), cắn móng tay, vê áo, nhìn ra chỗ  
khác….  
- Bước 2: Nghe gợi mở: Thỉnh thoảng gật đầu và mỉm cười hoặc những tín hiệu  
bằng giọng nói hay thị giác…  
+ Lâu lâu hỏi lại một câu.  
+ Lâu lâu thả một câu vô thưởng, vô phạt: à há, thế à, thật không?...  
+ Lâu lâu đột ngột im lặng  
- Bước 3: Nghe bằng sự tóm tắt  
+ Khách quan khi lắng nghe, đừng chú trọng quá vào phong cách người nói, chú  
ý nội dung, cố đoán trước diễn giả muốn nói gì, chỗ nào người nói nhấn mạnh từ  
đó hiểu đâu là vẫn đề quan trọng và cơ bản nhất.  
+ Trao đổi phản hồi với người nói khi họ nói xong, có thể chắt lọc và tóm tắt  
nội dung đã nghe được để khẳng định thông tin với người nói.  
Có thể tổng kết những điều nên và không nên làm khi lắng nghe như trong  
bảng:  
Bảng: Những điều nên và không nên làm khi lắng nghe  
18  
Nên làm  
- Bày tỏ mối quan tâm  
Không nên  
- Thúc giục người nói  
- Kiên nhẫn  
- Tranh cãi  
- Cố hiểu vấn đề  
- Ngắt lời  
- Thể hiện khách quan  
- Biểu lộ đồng cảm  
- Nhanh chóng chỉ trích khi chưa rõ  
- Lên giọng khuyên bảo  
- Vội vàng kết luận  
- Tích cực tìm hiểu ý nghĩa  
- Giúp người nói phát triển năng lực, động  
- Để tâm lý người nói lấn át tâm lý  
cơ hình thành ý nghĩ, quan điểm và ý tưởng mình  
- Giữ im lặng khi đang nghe  
Tóm lại, nói chỉ là một mặt của truyền thông giao tiếp trong cuộc sống.  
Còn lắng nghe lại là một phần rất quan trọng trong đời sống của tất cả chúng ta:  
sinh viên, cán bộ công nhân viên, nhà kinh doanh, và nhất là các cấp quản trị lãnh  
đạo cơ quan đều cần phải biết lắng nghe.  
Biết lắng nghe là một cách tốt nhất để cải thiện khả năng giao tiếp và thăng  
tiến trong nghề nghiệp. Nó củng cố sự hoàn thành công tác và giúp bạn thành  
công trong cuộc sống.  
2.3. Giao tiếp đặc biệt  
2.3.1. Bắt tay  
Nghi thức bắt tay được hình thành từ xa xưa. Bắt tay được thực hiện sau lời  
chào hỏi. Hiện nay, bắt tay là nghi thức quen thuộc, thông dụng và được coi là cử  
chỉ văn minh, lịch sự trong giao tiếp. Qua cái bắt tay, có thể nhận biết được cuộc  
gặp gỡ ấy nồng hậu hay hờ hững. Bắt tay là một cử chỉ thể hiện sự thân thiện,  
chân thành và vô  
tư.  
a. Nguyên tắc bắt tay  
- Đối với người chưa quen biết, mới tiếp xúc lần đầu, không nên chủ động  
bắt tay mà nên chờ người giới thiệu hoặc chủ động tự giới thiệu sau đó mới bắt tay.  
- Không nên chủ động bắt tay người có cương vị cao hơn mình. Người được  
ưu tiên trong giao tiếp cần chủ động đưa tay ra bắt trước.  
- Chủ nhà khi đón chào khách được chủ động bắt tay khách trước để thể  
hiện sự thịnh tình mến khách.  
- Thông thường nữ không phải tháo gang tay trước khi bắt tay, tuy nhiên đối  
với những người và trong những trường hợp đặc biệt tôn trọng, phụ nữ phải tháo  
găng tay trước khi bắt tay. Nữ có thể ngồi bắt tay nam, trừ đối với cấp trên.  
19  
- Tay bạn phải luôn khô và sạch  
- Khi bắt tay với nhiều người, phải bắt tay với người được ưu tiên trong giao  
tiếp trước, sau đó tùy tình huống cụ thể lần lượt bắt tay.  
- Khi bắt tay, bạn nên kèm theo lời giới thiệu, cùng với việc nhìn vào mắt  
đối phương và mỉm cười.  
- Người bắt tay phải chủ động, dứt khoát. Bắt tay không được quá chặt, quá  
lâu, không xiết hoặc lắc mạnh. Khi bắt tay phụ nữ cần chú ý những phụ nữ đeo  
nhẫn tay  
phải.  
- Trong trường hợp muốn thể hiện sự tôn trọng hơn, thắm thiết hơn có thể  
đưa cả hai tay ra bắt.  
- Khi bắt tay không nên đứng dưới thấp bắt tay người trên cao hoặc ngược lại  
(trừ trường hợp đặc biệt). Tay phải đưa chếch ra phía trước, bàn tay mở rộng,  
người hơi ngả về phía trước. Mắt nhìn thẳng vào mặt người mình bắt tay, tùy theo  
mối quan hệ mà thể hiện tình cảm. Không nhìn ra chỗ khác hoặc nhìn kiểu dò xét,  
soi mói.  
- Không dùng hai tay để bắt tay hai người cùng một lúc, tránh bắt tay qua  
mặt, qua đầu người khác.  
- Không được thể hiện thái độ nhàm chán, mọi người được bắt tay đều có thể  
cảm nhận được sự chặt chẽ, sức nặng và chiều sâu của cái bắt tay.  
- Khi tay đang vướng bận hoặc bẩn, hãy xin lỗi và chìa tay để người khác nắm  
vào cổ tay mình.  
Chú ý:  
- Đối với người Hồi giáo: Nam giới không bắt tay nữ giới.  
- Một số nước phương Tây có tục hôn tay nữ giới.  
- Khi nhận biết người đó có dị tật ở tay, không nên chủ động bắt tay họ.  
Bắt tay ngoài nghi thức gặp mặt, còn là sự chúc mừng, cảm ơn và biểu thị  
khích lệ lẫn nhau. Khi ai đó có thành tựu, tiến bộ, được tặng thưởng huân, huy  
chương, sau lời chúc mừng, ta đều bắt tay chia vui, cảm tạ, động viên  
b. Cách thức bắt tay  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang yennguyen 26120 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kỹ năng mềm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ky_nang_mem.pdf