Giáo trình Kỹ năng mềm - Ngô Thiên Hoàng

TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN  
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể  
được phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và  
tham khảo.  
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh  
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.  
Giáo trình được lưu hành nội bộ Trường Cao Đẳng Nghề Đà Lạt  
LỜI GIỚI THIỆU  
Giáo trình mạng máy tính dùng để giảng dạy cho sinh viên trình độ  
trung cấp, cao đẳng nghề Quản trị Mạng máy tính  
Việc tổ chức biên soạn giáo trình Kỹ năng mềm nhằm phục vụ cho  
công tác đào tạo của trường Trường Cao đẳng Nghề Đà Lạt - Khoa Công  
nghệ thông tin – nghề Quản trị mạng máy tinh. Giáo trình là sự cố gắng  
lớn của tập thể Khoa Công nghệ thông tin nhằm từng bước thống nhất nội  
dung dạy và học môn Kỹ năng mềm.  
Nội dung của giáo trình đã được xây dựng trên cơ sở thừa kế những  
nội dung đã được giảng dạy ở các trường kết hợp với những nội dung  
mới nhằm đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng phục vụ sự nghiệp công  
nghiệp hoá, hiện đại hoá. Giáo trình cũng là cẩm nang về Kỹ năng mềm  
riêng cho sinh viên của Trường Cao đẳng Nghề Đà Lạt - Khoa Công nghệ  
thông tin.  
Giáo trình được biên soạn ngắn gọn, dễ hiểu, bổ sung nhiều kiến  
thức mới phù hợp với ngành nghề đào tạo mà Khoa Công nghệ thông tin  
đã tự điều chỉnh cho thích hợp và không trái với quy định của chương trình  
khung đào tạo của trường.  
Xin chân trọng cảm ơn Khoa Công nghệ thông tin - Trường Cao  
đẳng Nghề Đà Lạt cũng như sự giúp đỡ quý báu của đồng nghiệp đã giúp tác  
giả hoàn thành giáo trình này.  
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng chắc chắn không tránh khỏi sai sót,  
tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của người đọc để lần xuất  
bản sau giáo trình được hoàn thiện hơn.  
Lâm Đồng, ngày 5 tháng 9 năm 2019  
Chủ biên: Ngô Thiên Hoàng  
MỤC LỤC  
I.Tổng quan về nhóm:......................................................................................................3  
1.1.Khái niệm về nhóm:...............................................................................................3  
1.2.Tầm quan trọng của nhóm làm việc: ......................................................................5  
1.3.Các loại nhóm:.......................................................................................................6  
II.Hoạt động nhóm: .........................................................................................................6  
1.1.Phát triển nhóm......................................................................................................6  
2.2.Hoạt động nhóm: ...................................................................................................8  
2.3.Thông tin trong nhóm: ...........................................................................................9  
2.4.Thảo luận và ra quyết định trong nhóm:...............................................................10  
III.Điều hành nhóm: ......................................................................................................11  
3.1.Vai trò các thành viên trong nhóm: ......................................................................11  
3.2.Phong cách điều hành hoạt động nhóm: ...............................................................12  
IV.Kỹ năng làm việc nhóm:...........................................................................................13  
4.1.Giải quyết các xung đột: ......................................................................................13  
4.2.Họp nhóm:...........................................................................................................15  
4.3.Một số công cụ điều hành họp nhóm....................................................................17  
2
KỸ NĂNG LÀM VIỆC NHÓM  
I.Tổng quan về nhóm:  
1.1.Khái niệm về nhóm:  
Trong xã hội loài người nhóm hình thành rất sớm. Từ thời tiền sử, con người  
muốn tồn tại cần hình thành các nhóm. Nhóm để chống thú dữ, nhóm để  
cùng săn bắn, xây dựng chỗ ở chống chọi với thiên nhiên…  
Từ nhỏ chúng ta đã sống trong gia đình,  
nhóm bạn bè cùng xóm, cùng lớp học, cùng  
lứa tuổi…cho đến khi trưởng thành học tập  
và làm việc chúng ta đã vô tình hay có ý  
thức tham gia vào rất nhiều nhóm. Chỉ có  
điều chúng ta chưa tự hỏi vậy thì ta sẽ hòa  
mình vào nhóm như thế nào để làm việc hiệu  
quả nhất. Và nhóm cũng đã làm gì giúp cho  
chúng ta và giúp nhóm hoạt động hiệu quả.  
Do đó nghiên cứu, học tập về động thái  
nhóm rất quan trọng. Từ đầu thế kỷ 20 đã có  
nhiều nghiên cứu về nhóm trong sản xuất công nghiệp, ảnh hưởng của nó tới  
năng suất lao động của từng người và nhóm người cũng như tác động thay  
đổi hành vi, ứng xử của cá nhân. Những  
phát hiện của các nhà xã hội học Âu-Mỹ cho thấy nhóm có tác động tích cực  
và cả tiêu cực đến mọi mặt hoạt động xã hội: giáo dục, sản xuất, nghiên cứu  
…Do đó mọi người cần được trang bị những kiến thức và kỹ năng về nhóm  
và làm việc nhóm.  
Ngày nay, sống trong xã hội công nghiệp, mỗi cá nhân hoạt động trong một  
số nhóm. Các tổ chức cũng tìm cách huy động tối đa khả năng làm việc và  
sáng tạo của các nhóm trong tổ chức của họ. Các nhóm dự án được thành lập  
nhằm phát huy tối đa năng lực cạnh tranh trong sản xuất, sáng tạo sản phẩm  
mới, mẫu mã mới. Người ta coi các nhóm làm việc là nhân tố cơ bản làm  
nên vốn nhân lực trong một tổ chức.  
Nghiên cứu về nhóm làm việc càng  
trở nên quan trọng và bức thiết.  
Những kiến thức và hiểu biết về  
hoạt động nhóm do đó không  
những cần cho các nhà hoạt động  
3
xã hội, văn hóa, công tác thanh thiếu niên, các nhà giáo dục, nhân viên các  
dự án phát triển mà còn rất cần cho mọi người trong các lĩnh vực công  
nông nghiệp sản xuất ra của cải vật chất.  
Vậy nhóm là gì? Nhóm là tập hợp nhiều  
người cùng có chung mục tiêu, thường xuyên tương tác với nhau, mỗi thành  
viên có vai trò nhiệm vụ rõ ràng và có các quy tắc chung chi phối lẫn nhau.  
Có thể chia ra thành nhóm chính thức và nhóm không chính thức. Nhóm  
chính thức là nhóm được hình thành xuất phát từ nhu cầu của một tổ chức,  
trên cơ sở quyết định của tổ chức đó. Nhóm không chính thức là nhóm hình  
thành tự nhiên từ nhu cầu của mỗi thành viên của nhóm , thí dụ như nhóm  
bạn bè có cùng sở thích, nhóm người có cùng mối quan tâm…Trong một tổ  
chức thường tồn tại cả nhóm chính thức và nhóm không chính thức. Thời  
gian tồn tại của nhóm cũng là một yếu tố quan trọng. Có nhóm tồn tại suốt  
thời gian tồn tại của tổ chức. Có nhóm tồn tại theo từng dự án. Có nhóm lại  
chỉ hoạt động trong thời gian ngắn tính bằng phút như các nhóm thực hiện  
các bài tập , trò chơi trong các buổi tập huấn…Các nhóm dự án là các nhóm  
làm việc, nó là tập hợp những thành viên có năng lực làm việc bổ trợ cho  
nhau, cùng cam kết thực hiện mục tiêu chung, gắn với mục đích của tổ chức  
.
Một trong những yếu tố quan trọng nhất của nhóm là phải có mục tiêu nhóm.  
Mục tiêu chung (hay mục đích) của nhóm phải cụ thể, rõ ràng. Mục tiêu này  
phải được các thành viên nhóm hiểu rõ và cùng cam kết thực hiện. Mục tiêu  
xuyên suốt quá trình hoạt động của nhóm , nhưng cũng có thể điều chỉnh  
thay đổi để phù hợp môi trường mà nhóm tồn tại. Tuy nhiên mục tiêu từng  
thành viên, mục tiêu của nhóm phải phù hợp với mục tiêu của tổ chức.  
Yếu tố thứ hai của một nhóm là các thành viên phải tương tác, liên hệ, giao  
tiếp với nhau thường xuyên. Tiếp xúc và tương tác sẽ làm ảnh hưởng lẫn  
nhau giữa các thành viên và tác động ảnh hưởng này làm nên động lực phát  
triển nhóm: có thể tích cực hoặc tiêu cực. Yếu tố thứ ba là các quy tắc nhóm.  
Nhóm phải xây dựng được quy tắc, quy định, nội quy của nhóm để sao cho  
nhóm hoạt động hiệu quả. Đây là những quy tắc chính thức. Trong nhóm  
còn có những quy tắc ngầm không công bố nhưng cũng có hiệu lực không  
kém phần quan trọng. Quy tắc ngầm có mặt tích cực và mặt tiêu cực.  
4
Yếu tố cuối cùng là vai trò, trách nhiệm  
rõ ràng của các thành viên trong nhóm.  
Nhóm chỉ hoạt động hiệu quả khi các  
thành viên được biết rõ nhiệm vụ, phù  
hợp năng lực của mình, không chồng  
chéo, giẫm đạp lên nhau. Nhóm làm  
việc được thành lập để giải quyết và  
thực hiện công việc nào đó có mục tiêu  
rõ ràng mà một cá nhân không thể hoàn  
thành . Nếu những công việc đơn giản, có thể giải quyết bởi 1 cá nhân,  
không đòi hỏi phải phối hợp, không cần phối hợp nhiều kỹ năng thì  
không cần thiết tới thành lập nhóm.  
1.2.Tầm quan trọng của nhóm làm việc:  
Làm việc theo nhóm là xu hướng chung của các tổ chức, doanh nghiệp, công  
ty trên thế giới. Tại sao vậy? Một số đặc điểm sau đây có thể lý giải xú  
hướng này.  
Làm việc theo nhóm tạo điều kiện tăng năng suất và hiệu quả của công việc.  
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng làm việc theo nhóm năng suất và hiệu  
quả của mỗi cá nhân cao hơn hẳn năng suất và hiệu quả trung bình của mỗi  
cá nhân khi làm việc riêng lẻ. Vì trong nhóm, khi làm việc các kỹ năng và  
kinh nghiệm bổ trợ lẫn nhau.  
Làm việc theo nhóm có thể giảm được một số nhân sự, khâu trung gian nên  
linh hoạt hơn. Vì linh hoạt nên tổ chức dễ thay đổi để đối phó với thay đổi  
của môi trường, nắm bắt cơ hội và giảm thiểu nguy cơ.  
Nhóm có thể tạo ra môi trường làm việc mà các kiến thức và kinh nghiệm  
của các cá nhân bổ trợ cho nhau, các quyết định đưa ra toàn diện và phù hợp  
hơn.  
Nhóm làm việc có đủ khả năng hoàn thành một dự án hoàn chỉnh trong khi  
mỗi cá nhân chỉ có thể hoàn thành một phần việc. Nhóm có thể tận dụng  
những gì tốt nhất của mỗi cá nhân trong công tác chuyên môn và cả ngoài  
chuyên môn. Các thành viên tự rút ra những gí tốt nhất để học hỏi lẫn nhau,  
cải thiện thái độ và ứng xử của mình.  
5
Nhóm làm việc hiệu quả là nhóm hội tụ một số đặc điểm cơ bản như các  
thành viên hiểu rõ lý do tồn tại của nhóm; các nguyên tắc và quy chế được  
thảo luận, đồng thuận; thông tin trong nhóm thông đạt; các thành viên hỗ trợ  
nhau; có những quy tắc kiểm tra, đánh giá, khen thưởng rõ ràng. Để có  
những đặc điểm trên nhóm phải giữ giá trị căn bản của nhóm, lấy đó làm  
định hướng hoạt động của mình chứ không phải là thi hành theo chỉ thị cấp  
trên. Các nhiệm vụ của cá nhân và nhóm được nêu rõ bằng các mục tiêu  
(SMART). Nhóm phải phối hợp lẫn nhau, sáng tạo. Tuy nhiên những đặc  
điểm trên không phải là có ngay mà phải hình thành xây dựng dần dần trong  
các giai đoạn phát triển của nhóm.  
Tác động tới sự làm việc hiệu quả của nhóm là các yêu tố bối cảnh, quy mô  
nhóm, sự đa dạng của thành viên nhóm, các chuẩn mực nhóm, lãnh đạo…  
1.3.Các loại nhóm:  
Từ “nhóm” có nghĩa chỉ một tập hợp từ hai người trở lên. Có khi từ này  
dùng với nghĩa chung chỉ nhóm người rất rộng. Khái niệm nhóm chúng ta  
dùng ở đây là nhóm tập hợp một số ngưới có mục tiêu chung, có tương tác  
với nhau, có xây dựng các quy tắc chung để thành viên tuân theo và các  
thành viên đảm nhận những vai trò rõ ràng. Trong đó có thể chia làm nhóm  
chính thức – được thành lập bởi nhu cầu của tổ chức trên nhóm, có quyết  
định thành lập và mục tiêu phải phù hợp với mục tiêu chung của tổ chức và  
nhóm không chính thức – nhóm được hình thành tự nhiên do nhu cầu xã hội  
của những người tham gia, mục tiêu của nhóm có thể không trùng mục tiêu  
của tổ chức. Trong một tổ chức đồng thời có thể tồn tại nhiều nhóm chính  
thức và không chính thức. Các nhóm làm việc trong một cơ quan, tổ chức,  
nhà máy thường là nhóm “chính thức”. Tuy nhiên vai trò và ảnh hưởng của  
các nhóm không chính thức cũng rất quan trọng. Các nhóm không chính  
thức có khi ảnh hưởng rất mạnh đến kết quả hoạt động của các nhóm chính  
thức.  
II.Hoạt động nhóm:  
1.1.Phát triển nhóm.  
Thông thường một nhóm nào đó chính thức hay không chính thức đều trải  
qua 5 giai đoạn trong quá trình phát triển của nhóm. Các giai đoạn này được  
mô tả dưới đây.  
6
Giai đoạn 1: Hình thành nhóm.  
Giai đoạn này các thành viên nhóm bắt đầu tập hợp lại. Họ mang đến nhóm  
nhiều điểm khác biệt nhau từ tính cách đến cách làm việc, kiến thức và kỹ  
năng. Họ cần có thời gian tìm hiểu, thăm dò lẫn nhau để có thể thể hiện vai  
trò của họ hoặc không thể trong nhóm. Vai trò trưởng nhóm giai đoạn này là  
thúc đẩy các thành viên cởi mở, giao tiếp với nhau, sau đó cùng phối hợp  
xây dựng định hướng hoạt động của nhóm hoặc mục tiêu hoạt động nhóm.  
Nhóm trưởng và các thành viên tìm hiểu các thành viên khác về tính tình,  
khả năng làm việc, sự tự tin, trách nhiệm và những suy nghĩ đóng góp cho  
nhóm…Sau đó nhóm quyết tâm xây dựng hoặc hiểu rõ mục tiêu mà nhóm  
phải hoàn thành. Các mục tiêu được xây dựng bởi nhóm thường được đánh  
giá bằng các tiêu chí cụ thể, đo được, được đồng thuận, khả thi và có thời  
hạn xác định (SMART). Nếu nhóm không xây dựng được mục tiêu hoặc các  
thành viên không hiểu rõ mục tiêu của nhóm thì nhóm không thể hoàn thành  
công việc hoặc sớm tan rã.  
Giai đoạn 2: Hỗn loạn/ bão táp.  
Giai đoạn này xảy ra khi các thành viên  
xung đột nhau về cách làm việc, công  
việc phân công và chia sẻ trách nhiệm.  
Mới hình thành nhóm nên có một số  
thành viên tỏ ra nổi trội, mất đoàn kết  
có thể xảy ra. Truyền thông , giao tiếp  
trong nhóm chưa suôn sẻ, người muốn  
thống trị, lôi kéo, người thì hãy thờ ơ.  
Trưởng nhóm lúc này phải là người  
cứng rắn, gương mẫu, gần gũi các thành  
viên, tránh để xảy ra căng thẳng quá, tổ chức tốt công việc và làm cho công  
việc bắt đầu có hiệu quả. Làm sao cho các thành viên nhóm hiểu nhau nhiều  
nhất, hiểu công việc, tránh các thành viên cạnh tranh nhau trở thành đối thủ.  
Tăng cường giao tiếp trong nhóm. Chuyển các công việc do thành tích cá  
nhân sang thành tích chung của nhóm.  
Giai đoạn 3: Ổn định  
Giai đoạn này các thành viên bắt đầu nỗ lực đóng góp vào công việc chung  
của nhóm. Các thành viên nhóm tin tưởng lẫn nhau, gắn kết với nhau qua  
công việc. lãnh đạo nhóm tạo điều kiện để các thành viên hỗ trợ nhau. Bảo  
đảm các kênh thông tin trong nhóm thông suốt, xây dựng được cơ chế phản  
hồi tích cực. Thành viên tin tưởng lẫn nhau, cùng gắn kết bởi mục tiêu  
chung. Nhóm viên lắng nghe ý kiến lẫn nhau.  
7
Giai đoạn 4: Hoạt động.  
Sau giai doạn ổn định là giai đoạn hoạt động hiệu quả. Đặc trưng giai đoạn  
này là các thành viên hoàn toàn hòa hợp nhau, tạo ra năng suất làm việc cao,  
mọi tiềm năng của cá nhân và tập thể nhóm được phát huy, vấn đề được giải  
quyết hiệu quả, các mâu thuẫn không còn xảy ra. Tuy nhiên không phải là đã  
loại bỏ hết xung đột, vì xung đột lúc nào cũng thường trực tác động đến bất  
cứ nhóm nào ở bất cứ giai đoạn nào. Các thành viên phải tự hoàn thiện mình  
trong nhóm, thích ứng với thay đổi, chấp nhận sự khác biệt, hướng mục tiêu  
chung, tham gia vào việc quản lý chung.  
Giai đoạn 5: Kết thúc (hay tan rã!).  
Giai đoạn này các thành viên đã hoàn thành mục tiêu chung (hoặc không  
hoàn thành mục tiêu nào cả). Các thành viên ít phụ thuộc vào nhau. Nhiệm  
vụ hoàn thành thì nhóm sẽ kết thúc vai trò (các nhóm nghiên cứu, nhóm dự  
án thường kết thúc như vậy), xây dựng hoặc tập hợp thành các nhóm mới  
với mục tiêu mới. Hoạt động của nhóm thường được giám sát và đánh giá để  
rút kinh nghiệm và bài học cho các nhóm khác, dự án khác.  
2.2.Hoạt động nhóm:  
Nhóm là tập hợp nhiều người do đó luôn có những thành viên mới với thành  
viên cũ, có quen nhau từ trước hoặc hoàn toàn chưa quen nhau. Người  
trưởng nhóm luôn phải giải quyết nhiều vấn đề về đoàn kết, tranh chấp, xung  
đột, ra quyết định, hài hòa các chức năng của nhóm. Các thành viên cũng  
cần hiểu rõ cá động thái của nhóm để xây dựng nhóm làm việc. Nhóm muốn  
vận hành hiệu quả thì cần làm tốt các hoạt động sau:  
1.Hội nhập thành viên mới vào nhóm. Khó khăn luôn xảy ra khi nhóm mới  
thành lập hoặc có thêm thành viên mới nhập vào nhóm. Thành viên mới  
cũng phải tự mình giải quyết vấn đề hội nhập. Các thành viên mới có thể  
thuộc một trong ba dạng chính như người thích tranh cãi, người tốt bụng  
hoặc người có lý, ba dạng này đều gây khó khăn cho quá trình hội nhập.  
Người thích tranh cãi hay phản ứng lại mọi vấn đề, muốn khẳng định sự nổi  
trội của mình trong nhóm. Người tốt bụng thì có thái độ phụ thuộc người  
khác, luôn muốn tìm phe nhóm để dựa, sợ hãi những điều bất ngờ, nhu cầu  
an toàn cao. Người có lý thì lo lắng về nhu cầu cá nhân của mình trong  
nhóm, bướng bỉnh khi hòa hợp nhu cầu cá nhân và định hướng của nhóm.  
8
2.Lãnh đạo nhóm liên quan đến nhiệm vụ và các mối quan hệ. Để đạt được  
năng suất trong làm việc nhóm thì phải thỏa mãn hai nhu cầu: nhu cầu liên  
quan đến nhiệm vụ và nhu cầu liên quan đến các mối quan hệ. Hai nhu cầu  
này toàn thể thành viên nhóm và lãnh đạo nhóm phải cùng phấn đấu để thỏa  
mãn. Các công việc gồm nêu ra tất cả các ý kiến, tìm kiếm thông tin, làm  
sáng tỏ các nhiệm vụ, làm rõ và tóm tắt nội dung các cuộc họp nhóm, thảo  
luận nhóm, khuyến khích các thành viên, dung hòa sự khác biệt, tăng cường  
giao tiếp, khuyến khích tham gia, tránh các thái độ gây rối…  
3.Vai trò trong nhóm và sự vận động. Trong nhóm làm việc các thành viên  
luôn có một vai trò và muốn người khác cũng có vai trò rõ ràng. Nếu vai trò  
không rõ thì sẽ dễ gây hiểu lầm, mất đoàn kết ảnh hưởng đến năng suất  
chung. Các thành viên cũng mong muốn được biết người khác chờ đợi gì ở  
cá nhân đó. Không nen để vai trò của người này quá nhiều (quá tải) và người  
khác thì quá ít. Xung đôt về vai trò có thể xảy ra bời cá nhân với cá nhân ,  
bởi cá nhân với tập thể, bởi chính cá nhân với vai trò của anh ta.  
4.Các chuẩn mực, quy định của nhóm. Đây là các quy chế, quy tắc mà nhóm  
tự đề ra để các thành viên theo đó mà thực hiện. Các chuẩn mực của nhóm  
rất quan trọng, nó cho phép các thành viên trong nhóm nhận các thông tin  
phản hồi tích cực. Các chuẩn mực được xây dựng có sự tham gia, sao cho  
mục tiêu của nhóm được thực hiện một cách tốt nhất.  
5.Sự gắn kết trong nhóm. Sự gắn kết trong nhóm làm cho nhóm hoạt động  
hiệu quả và bền vững. Các thành viên càng tự hào về mình được tham gia  
nhóm thì sự gắn kết trong nhóm càng cao. Như vậy các thành viên cũng như  
trưởng nhóm phải làm sao cho nhóm đáng tự hào về các công việc làm.  
Trưởng nhóm và các thành viên cần phấn đấu để có sự gắn kết trong nhóm  
cao và sự tuân theo chuẩn mực của nhóm cũng cao, để hình thành nhóm lý  
tưởng, có hiệu suất làm việc cao.  
2.3.Thông tin trong nhóm:  
Thông tin trong nhóm rất quan trọng , nó như là các mạch máu nuôi dưỡng  
cơ thể nhóm. Thông tin rõ ràng, chính xác thì mọi người sẽ hiểu nhau và  
hiểu nhiệm vụ để hơp tác với nhau. Thông tin có nguồn phát ra và có nơi  
tiếp nhận qua một kênh truyền nào đó, rồi lại phản hồi lại nơi phát thông tin.  
Cơ chế này phải thông suốt trong nhóm. Quá trình thông tin luôn tiếp diễn  
không ngừng.  
9
Trong nhóm thì thông tin xảy ra giữa cá nhân mỗi thành viên với nhóm  
trưởng và ngược lại, các thành viên với nhau và ngược lại.  
Thông tin được truyền bởi các  
kênh truyền thông tin. Các kênh  
này như nói, viết, ngôn ngữ cơ thể  
(động tác tay, chân, nét mặt…)  
Khi thông tin thì có những rào cản  
của thông tin. Các rào cản này  
làm hạn chế hoặc triệt tiêu thông  
tin mà mọi thành viên muốn gửi  
cho nhau và muốn nhận được. Do  
đó muốn nhậ thông tin tốt thì  
chúng ta phải rèn các kỹ năng truyền thông tin và nhận thông tin. Các kỹ  
năng này sẽ đề cập đến trong phần “ kỹ năng giao tiếp”.  
2.4.Thảo luận và ra quyết định trong nhóm:  
Nhóm là một tập thể làm việc để đạt được mục tiêu. Rất nhiều công việc cần  
phải được cùng bàn bạc, thảo luận và cuối cùng là ra quyết định. Cho nên đi  
tới quyết định định cuối cùng là nhiệm vụ rất quan trong của nhóm. Quá  
trình ra quyết định có sự tham gia có những đặc trưng riêng mà mỗi cá nhân  
trong nhóm cần phải hiểu để làm. Để ra quyết định có thể theo một số cách  
sau:  
Ra quyết định theo kiểu thờ ơ: một người nào đó đưa ra ý tưởng, các thành  
viên khác không quan tâm và do đó quyết định được nhanh chóng thông  
qua. Theo kiểu này một số ý tưởng hay khác không được phân tích và bị bỏ  
qua.  
Ra quyết định từ trên xuống: Theo kiểu này người lãnh đạo nhóm hay cấp  
cao hơn chỉ cần phổ biến, thông báo, nhân danh cả nhóm thông qua mà  
không qua thảo luận. Ra quyết định kiểu này nhanh chóng, nhưng cũng như  
kiểu trên có thể nhiều ý kiến hay khác bị bỏ qua. Nó trở nên xấu nếu người  
ra quyết định có quá ít thông tin, chủ quan và độc đoán. Khi thực hiện quyết  
định sẽ xảy ra vấn đề khác không lường trước.  
Ra quyết định theo kiểu thiểu số: Cách này một hoặc một vài cá nhân gợi ý  
rồi thúc giục, ép mọi người theo ý kiến mình. Khuyết điểm của cách này  
cũng như trên.  
Ra quyết định theo nguyên tắc đa số: Theo cách này mang danh dân chủ qua  
bỏ phiếu hoặc giơ tay tán thành lấy số đông. Quyết định sẽ thông qua nhưng  
10  
không phải tất cả các thành viên đều hài lòng. Một số không hài lòng sẽ làm  
ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu suất công việc. Nguy cơ trong nhóm sẽ kéo  
bè cánh để lấy phiếu áp đảo cho quyền lợi của một nhóm nào đó.  
Ra quyết định theo nguyên tắc đồng thuận: cách  
này chỉ ra quyết định khi đã thảo luận kỹ mọi ý  
tưởng, không bỏ qua ý kiến nào kể cả các ý  
kiến trái ngược. Quyết định được ra khi có đa  
số tán thành nhưng thiểu số khác cũng được  
nghe, được phân tích và có ý kiến của mình.  
Kiểu ra quyết định này mất nhiều thời gian  
nhưng sẽ tiến tới dần sự đồng thuận hoàn toàn –  
là lý tưởng đối với tiến trình ra quyết định.  
Để ra quyết định các thành viên cần được biết  
những khó khăn và thuận lợi khi ra quyết định, nhất là quyết định có sự  
đồng thuận, có sự tham gia. Những thuận lợi ở đây có thể là nhóm có nhiều  
hiểu biết, có nhiều lựa  
chọn hơn một người. Nhóm một khi đồng thuận thì có động lực cùng thực  
hiện quyết định. Khó khăn là có một số thành viên như bị bắt phải đồng ý,  
phải theo một ý tưởng, có thể có bè phái và áp đặt ý tưởng của các nhóm  
nhỏ, thảo luận nhiều thì chậm ra quyết định và có thể mất cơ hội.  
Nhóm cũng cần phải tránh kiểu “tư duy nhóm” nghĩa là đoàn kết quá thiếu  
dần tư duy phê phán. Tham gia trong nhóm lâu nên các thành viên gắn kết ,  
không còn sẵn sàng phê phán ý tưởng của thành viên khác. Cần phát hiện  
sớm tư duy nhóm và có biện pháp phòng trừ.  
Để ra quyết định các thành viên và nhất là nhóm trưởng cần có các kỹ năng  
phát huy ý tưởng các thành viên khi thảo luận, bàn bạc và ra quyết định. Các  
kỹ năng này như phương pháp động não, cây vấn đề, phương pháp Delphi  
(dùng bảng hỏi gửi trước), thảo luận nhóm, đóng vai chậu cá…  
III.Điều hành nhóm:  
3.1.Vai trò các thành viên trong nhóm:  
Các thành viên nhóm thường có vai trò nhất định, được phân công hoặc  
nhận những nhiệm vụ cụ thể. Nhóm chính thức có trưởng phó nhóm, thư ký,  
hậu cần…Nhóm không chính thức cũng có thể có các vai trò đó.  
11  
Trưởng nhóm giữ vai trò người tổ chức, người thực hiện và người điều hành.  
Trưởng nhóm phải lo bố trí các cuộc họp từ buổi gặp mặt đầu tiên đến khi  
nhóm tan rã. Việc tổ chức cuộc họp bàn kế hoạch sao cho có sự tham gia  
bình đẳng giữa các thành viên là kỹ năng cần có của trưởng nhóm. Lập kế  
hoạch và phân công công việc cho các thành viên cũng là nghệ thuật của  
trưởng nhóm. Tất cả các giai đoạn hoạt động của nhóm, người nhóm trưởng  
phải nắm vững và điều hành cho tốt. Các kỹ năng điều hành hoạt động nhóm  
đã có rất nhiều sách viết và có những lớp tập huấn kỹ càng. Nhưng quan  
trọng nhất là trưởng nhóm phải là người có các kỹ năng truyền thông và thúc  
đẩy và càng có nhiều trải nghiệm càng tốt ( xem phần Kỹ năng giao tiếp).  
Các kỹ năng này được xây dựng dựa trên nền tảng của 4 thái độ: cảm thông,  
tôn trọng, quan tâm và tin tưởng vào tiềm năng nhóm. Tóm lại trưởng nhóm  
phải là người có trách nhiệm với công việc của nhóm, với từng thành viên  
của nhóm và với cả nhóm nói chung.  
Ngoài ra khi đề cập đến vai trò thành viên còn lại trong nhóm người ta  
thường phân các thành viên thành các “kiểu vai trò” hỗ trợ hay cản trở các  
hoạt động của nhóm. Có ba loại vai trò như vậy.  
Loại thứ nhất là các thành viên hỗ trợ cho viêc hoàn thành công việc như  
người khởi xướng, người làm sáng tỏ, người thực hiện, người thông tin,  
người đóng góp.  
Loại thứ hai là các thành viên củng cố nhóm như người khuyến khích, người  
giữ cửa, người quan sát, người đề xuất và củng cố quy tắc, người đùa vui.  
Nhóm thứ ba là nhóm những người tiêu cực như người gây hấn, người phu  
thuộc, người thống trị, người đùa dai, người lè phè, người phá đám…  
Hai nhóm đầu là nhóm tích cực. Khi có những hành vi tiêu cực cần đưa quy  
tắc, quy chế của nhóm ra để các thành viên tự giác tuân theo.  
3.2.Phong cách điều hành hoạt động nhóm:  
Đây là nói về phong cách của người điều hành nhóm hay trưởng nhóm. Các  
phong cách này thường thấy ở các nhóm chính thức.  
3.2.1.Phong cách chuyên quyền.  
Trưởng nhóm đưa ra mục đích công việc,  
quyết định phương thức làm việc, phân công  
12  
nhiệm vụ, thông tin chủ yếu từ trên xuống. Phong cách này cả nhóm bị động  
theo dẫn dắt của trưởng nhóm, các thành viên độc lập với trưởng nhóm, đôi  
khi âm thầm chống lại trưởng nhóm. Phong cách này dễ gây ra cá nhân chủ  
nghĩa, ganh đua, ngờ vực lẫn nhau nhưng có ưu điểm là đôi khi nhóm nhanh  
triển khai công việc và đạt mục tiêu, có hiệu quả.  
3.2.2.Phong cách tự do.  
Trưởng nhóm không đưa ra quyết định, để nhóm tự do tổ chức giải quyết các  
công việc. Nhóm có thể tự tổ chức thành công hoặc sinh ra những thủ lĩnh tự  
phát, làm giảm uy tín của trưởng nhóm. Phong cách này cũng dễ dẫn tới thất  
bại vì nhóm không có khả năng tự tổ chức, người chăm, người lười sinh  
xung đột giữa các thành viên.  
3.2.3.Phong cách cộng tác.  
Người trưởng nhóm là người chỉ huy đề  
xuất các phương án khác nhau để nhóm  
bàn bạc, lựa chọn. Trưởng nhóm phân  
công nhiệm vụ khi được bàn bạc thống  
nhất. Hoạt động nhóm theo cách tiếp cận  
có sự tham gia, có sự hợp tác của mọi  
thành viên. Phong cách này có nhược  
điểm là mất nhiều thời gian cho thảo  
luận, bàn bạc. Nếu cần giải quyết gấp rút  
công việc thì không phù hợp. Nhưng  
phong cách này có sự hài lòng của các  
thành viên và đa số trường hợp mang lại tính hiệu quả của công việc.  
IV.Kỹ năng làm việc nhóm:  
4.1.Giải quyết các xung đột:  
Kỹ năng quản lý nhóm quan trọng nhất là kỹ năng quản lý xung đột, mâu  
thuẫn do nhóm được tạo nên bởi nhiều người có tư tưởng, quan điểm, văn  
hóa, nguồn gốc xã hội, cách làm việc… khác nhau. Xung đột là sự bất đồng  
xảy ra giữa cá nhân với cá nhân trong nhóm, giữa các nhóm trong một tổ  
chức do khác biệt về nhu cầu, giá trị, mục đích hay cạnh tranh về quyền lợi,  
tài nguyên, quyền lực hay bất đồng về vai trò, nhiệm vụ, trách nhiệm.  
13  
Xung đột có thể là yếu tố phá hoại nhưng  
cũng có thể là yếu tố xây dựng đối với hiệu  
quả làm việc của nhóm. Xung đột nếu lôi  
kéo mọi người tham gia vào giải quyết vấn  
đề và đưa tới giải pháp cho vấn đề thì mang  
tính tích cực. Nếu xung đột làm chệch  
hướng mục tiêu, phá hỏng hoạt động nhóm,  
chia rẽ thành viên thì mang tính tiêu cực,  
cần phát hiện và loại bỏ sớm. Hiểu biết về  
xung đột để các nhóm, các thành viên có thể  
quản lý và giải quyết xung đột sao cho có  
lợi cho hoạt động của nhóm. Để làm được việc quản lý xung đột một số lời  
khuyên sau đây cần được áp dụng. Nhóm cần giải quyết xung đột nhỏ trước  
khi trở thành lớn. Tăng  
cường giao tiếp trong nhóm, nhóm cần tìm ra những nguyên nhân thực sự  
trước khi đi kiếm tìm giải pháp. Linh hoạt tìm những giải pháp khác nhau  
cho cùng một nguyên nhân. Công bằng và minh bạch trong giải pháp. Tìm  
giải pháp giải quyết vấn đề xung đột chứ không tìm giải pháp chống lại  
nhau. Mọi thành viên cần có thái độ tôn trọng nhau, thông cảm thực sự với  
nhau. Muốn người khác xem xét vấn đề của mình thì mình cần xem xét vấn  
đề của người khác trước họ. Nhìn thẳng vào vấn đề, nói ra, tránh im lặng  
ngấm ngầm.  
Quản lý xung đột chứ không đàn áp xung đột hay tiêu diệt xung đột, là một  
nghệ thuật để củng cố hợp tác giữa các thành viên trong nhóm. Người ta  
chia ra năm cách ứng phó với xung đột.  
Cách thứ nhất là cứng rắn, áp đảo (kiểu cá mập). Cách này một bên luôn áp  
đảo bên kia, đặt quyền lợi của mình hay nhóm mình trước quyền lợi của  
nhóm khác. Nhóm này phải thắng trong tranh chấp. Như vậy sẽ đặt mối  
quan hệ các bên vào tình trạng nguy hiểm, tạo thù địch, có kẻ thắng, người  
thua. Nó cũng có mặt tích cực là có thể tạo thay đổi hay dẫn đến tiến bộ.  
Cách thứ hai là né tránh (kiểu con rùa). Đây là cách khi gặp xung đột thì né  
tránh sự va chạm, sợ đối đầu với mâu thuẫn, không quan tâm đến nhu cầu  
của các bên, thua cũng không sao. Cách này dễ tạo ra kết quả các bên cùng  
thua.  
Cách thứ ba là nhường nhịn, xoa dịu (gấu bông). Cách này quan tâm đến  
giữa các mối quan hệ chứ không cần quan tâm đến kết quả quyền lợi. Vì vậy  
loại người giải quyết xung đột theo kiểu này có thể hy sinh quyền lợi của  
14  
mình nhưng giữa được mối quan hệ thân thiện với mọi người khác nhóm  
khác là được.  
Cách thứ tư là cách thỏa hiệp (con chồn). Mỗi bên có thể phải hy sinh một  
chút quyền lợi để đạt được một số quyền lợi khác. Họ cùng nhau tìm những  
giải pháp trung hòa để đôi bên cùng có một phần lợi ích. Có thể tạo ra kết  
quả cùng thắng hoặc cùng thua thiệt.  
Cách cuối cùng là hợp tác (chim cú). Cách này coi trong cả mục đích và mối  
quan hệ. Các bên hợp tác với nhau tìm ra giải pháp tốt nhất cho cả đôi bên,  
chú trọng sự đồng thuận. Tất cả các bên phải cùng theo đuổi tìm kiếm giải  
pháp tốt cho các bên chứ không chỉ cho một bên. Cách này tạo ra được kết  
quả cả hai bên đều thắng.  
Nên nhớ rằng trong nhóm bao giờ cũng có các thành viên muốn giải quyết  
xung đột theo một trong 5 cách nói trên.  
Muốn quản lý tốt xung đột người ta thường đi theo 4 bước.  
1.Nhìn nhận ra xung đột , coi nó là vấn đề cần được giải quyết, xác định rõ  
nội dung chi tiết của xung đột, không quy kết, dán nhãn, tố cáo.  
2.Mọi người lắng nghe nhau, sẵn sàng thay đổi quan điểm của chính mình,  
phát hiện những khác biệt giữa hai bên. Sẵn sàng hợp tác, xây dựng vì mục  
đích chung.  
3.Tìm hiểu hoàn cảnh và điều kiện của người có xung đột với mình để hiểu  
quan điểm của họ  
4.Có gắng tiến dần tới sự thỏa thuận giữa hai bên.  
Nhóm trưởng (lãnh đạo nhóm) cần khách quan, công bằng, vì mục đích  
chung. Cách giải quyết phải linh hoạt, nhẹ nhàng với cả hai bên, dựa vào các  
thành viên tích cực để quản lý và giải quyết mâu thuẫn.  
4.2.Họp nhóm:  
Đặc điểm của sinh hoạt loài người là nhóm họp, tập trung lại làm việc gì đó,  
bàn bạc, hỏi han, hội hè, vui chơi , học tập…Nhiều khi người ta lạm dụng  
hội họp để lãng phí biết bao thời gian, tiền bạc. Nhưng con người vẫn phải  
họp nhóm cho dù ngày nay có thể có các cuộc họp ảo (thông qua các phần  
mềm hội họp), nhưng họp gặp mặt nhau vẫn là hình thức phổ biến và có  
15  
nhiều mặt tích cực. Vấn đề là họp để làm gì, tiến hành như thế nào.Để tránh  
lãng phí thì cần có tổ chức cuộc họp sao cho hiệu quả. Trước khi triệu tập  
họp cần xem xét họp có phải là hình thức tốt nhất trong trường hợp này  
không hay có thể có hình thức nào tốt hơn. Có thể thay thế một cuộc họp  
bằng gửi tài liệu phát tay, viết thông báo trên bảng, gửi Email, gọi điện  
thoại…hay không? Kỹ năng tổ chức một cuộc họp phù hợp cũng là một yếu  
tố quyết định đến sự thành bại của cuộc họp vì các cuộc họp có mục tiêu  
khác nhau: để thông tin, để thuyết phục, để thu thập ý kiến, để ra quyết  
định…  
Thông thường một cuộc họp nhóm , dù quy mô lớn nhỏ thế nào, người  
trưởng nhóm điều hành (hoặc người thay thế trưởng nhóm để điều hành)  
cũng phải vận dụng các kỹ năng điều hành cuộc họp. Dưới đây sẽ trình bày  
về một số kỹ năng đó.  
Trước tiên là bước chuẩn bị họp  
nhóm. Bước này người điều hành  
xem xét trước xem chủ đề cuộc  
họp, mục tiêu và nội dung cuộc  
họp có rõ ràng không, thành viên  
cần tham gia là ai. Lập kế hoạch  
điều hành cuộc họp, các kế hoạch  
sử dụng công cụ trực quan ( bảng  
biểu, tài liệu, máy chiếu…). Các  
kế hoạch về thời gian, địa điểm,  
phòng ốc, hậu cần, giấy mời,  
thông báo…ai chuẩn bị và chuẩn bị đến đâu. Trước ngày họp nên chuẩn bị  
sức khỏe, tinh thần, làm quen phương tiện, phòng họp…  
Bước tiếp theo là bắt đầu cuộc họp. Bước này cần làm những việc như làm  
quen các thành viên, tạo không khí thân thiện, thống nhất khung chương  
trình làm việc, chỉnh sửa mục tiêu cuộc họp nếu cần, thống nhất cách làm  
việc.  
Bước thứ ba là đưa ra từng chủ đề, phân tích từng chủ đề. Đây là bước quan  
trọng nhất của một cuộc họp. Các thành viên được thảo luận, tham gia ý kiến  
để cuối cùng ra quyết định của nhóm, các quyết định này phù hợp với mục  
tiêu cuộc họp.  
16  
Bước thứ tư là lập kế hoạch hành động. Ở bước này toàn nhóm lập ra một kế  
hoạch sau cuộc họp được các thành viên nhất trí chấp thuận. Kế hoạch này  
thường bao gồm : công việc gì cần làm, ai làm, làm như thế nào, kết quả  
mong muốn, thời gian, cần điều kiện, hỗ trợ gì…Nếu cuộc họp mà không có  
kế hoạch hành động, hay nói cách khác nếu sau cuộc họp mà các thành viên  
thấy không phải làm gì thì là cuộc họp không hiệu quả hay không nên họp.  
Bước cuối cùng là bế mạc cuộc họp. Các cuộc họp nhóm nên dành thời gian  
đánh giá, suy ngẫm về tiến trình họp, kết quả cuộc họp, các vấn đề còn bỏ  
sót, các vấn đề gác lại để cuộc họp sau, kết quả cuộc họp đã tài liệu hóa  
chưa, các thành viên sẽ nhận kết quả này như thế nào, cuộc họp thành công  
đến mức nào qua đánh giá nhanh.  
Để tiến hành tốt năm bước này người điều hành thường sử dụng các công cụ  
như: thảo luận nhóm nhỏ, cây vấn đề, lập kế hoạch theo khung logic, động  
não, bản đồ tư duy, chậu cá, đóng vai, tranh luận… mà một số kỹ năng này  
sẽ trình bày ngắn gọn sau đây.  
4.3.Một số công cụ điều hành họp nhóm.  
4.3.1.Kỹ thuật động não:  
Động não là kỹ thuật nhận ý tưởng của các thành viên. Nguyên tắc là càng  
nhiều ý tưởng nhận được càng tốt, do đó người điều hành cần tạo ra môi  
trường để nhận ý tưởng. Để làm tốt kỹ thuật này có các thẻ màu (kích thước  
1/3 kích thước tờ giấy A4) để viết các ý tưởng. Phát các tờ giấy màu cho  
từng thành viên đề nghị họ viết ngắn gọn mỗi ý tưởng của họ vào một thẻ  
màu đó rồi dùng băng dính (loại giấy xé) dán các thẻ này lên. Sau đó có thể  
cho các thành viên gom nhóm, phân loại các ý tưởng, rồi thảo luận lựa chọn  
ưu tiên ý tưởng. Nếu không có thẻ màu có thể dùng giấy A0 cử thành viên  
viết ý tưởng trên đó mỗi khi có thành viên phát biểu. Chú ý kỹ thuật này coi  
trong số lượng các ý tưởng hơn chất lượng , không phê phán, bình luận,  
chấp nhận mọi ý tưởng có thể lạ lùng,  
trái chiều.  
4.3.2. Sử dụng cây vấn đề:  
Từ vấn đề chính cần thảo luận người  
điều hành vẽ nó như thân của một  
cây. Sau đó đặt các câu hỏi tại sao để  
tìm các nguyên nhân chính đặt vào  
phía dưới như các rễ chính của cây,  
có thể đặt thêm câu hỏi tại sao vào  
các nguyên nhân chính tạo ra các rễ  
cây cấp hai… và có thể tiếp tục. Phần  
17  
cành cây là các nhánh chính trả lời cho câu hỏi kết quả thế nào. Cũng như  
các “rễ cây”, các cành nhánh của cây cũng có cành bậc hai khi đặt câu hỏi  
tiếp kết quả ra sao cho các nhánh kết quả chính. Cả nhóm sẽ xây dựng  
được một hình tượng cái cây mà thân cây là vấn đề, rễ cây là các nguyên  
nhân và cành cây là các kết quả.  
4.3.3.Sử dụng bản đồ tư duy (mind map).  
Công cụ này xuất phát từ một vấn đề chính coi như một nhánh, đi phân tích  
tiếp mối liên hệ với các vấn đề khác chi tiết hơn, rồi lại phân tích tiếp các  
vấn đề chi tiết hơn, cứ như vậy cho đến ý kiến chi tiết, cụ thể. Hình vẽ thể  
hiện như một dây thần kinh từ nhánh lớn đến nhánh nhỏ và tới các nhánh  
nhỏ nhất.  
4.3.4.Sử dụng khung logic.  
Khung này là một ma trận dạng bảng gồm 4 cột và 4 hàng. Bốn cột từ trái  
sang phải gồm có cột các nội dung, chỉ báo, nguồn chứng minh, điều kiện  
(hay giả định). Bốn hàng từ trên xuống dưới gồm mục đích, mục tiêu, kết  
quả mong đợi, các hoạt động. Dựa trên ma trận này mà nhóm thảo luận và  
kết quả được đưa vào từng ô của ma trận.  
4.3.5.Kỹ thuật sử dụng chậu cá.  
Chậu cá là dạng thảo luận nhóm có đóng vai. Một nhóm 4 đến 5 thành viên  
ngồi ở giữa thảo luận về một vấn đề nào đó. Có một thành viên đóng vai  
người thúc đẩy cuộc họp nhóm. Có để một ghế trống để người ngoài khi  
muốn tham gia tranh luận thì ngồi vào đó, phát biểu xong thì phải đi ra để  
ghế trống cho cơ hội tham gia của người khác. Các thành viên còn lại ngồi  
xung quanh để nghe nhóm trong thảo luận và khi muốn tham gia thì phải  
ngồi vào ghế trống phía trong. Người thúc đẩy cuối buổi thảo luận phải tổng  
kết và tóm tắt những điều đã thảo luận và nhất trí của nhóm.  
Một số kỹ năng khác sẽ được trình bày ở phần ”kỹ năng giao tiếp”.  
4.4.Cải thiện bản thân trong  
nhóm làm việc:  
Trong một nhóm, như đã trình  
bày ở trên, thường là tập hợp  
những thành viên có khác biệt  
trong cách giao tiếp, ngôn ngữ,  
quan điểm, suy nghĩ, cách ra  
quyết định, khác cấp bậc, nhiệm  
18  
vụ và quyền hạn…, nói tóm lại là khác biệt về văn hóa. Mọi người có khó  
khăn làm việc trong nhóm như vậy.  
Để cải thiện bản thân trong nhóm đa văn hóa, mỗi người cần nắm phương  
châm: hãy đối xử với thành viên khác như cách mà mình muốn ngưới khác  
đối xử với mình.  
Để làm tốt, thứ nhất trong nhóm các thành viên luôn luôn cần học hỏi các  
nền văn hóa khác. Làm như vậy để có thể hiểu được nhiều nhất các thành  
viên khác nghĩ gì và hành động như thế nào qua giao tiếp cá nhân – cá nhân.  
Để học hỏi cần đọc sách báo về các nền văn hóa, tìm hiểu về lịch sử, tôn  
giáo, giá trị, phong tục của nơi các thành viên khác xuất xứ.  
Thứ hai, mọi người phải cải thiện kỹ năng viết, một kênh giao tiếp quan  
trọng. Viết sao cho rõ ràng, ngắn gọn, tránh sử dụng thành ngữ, tiếng lóng…  
Làm sao cho người đọc hiểu thông điệp mình muốn gửi đến họ như mình  
hiểu.  
Thứ ba cải thiện kỹ năng nói. Vì họp và gặp nhau mặt giáp mặt là hoạt động  
thường xuyên của nhóm nên kỹ năng nói với nhau là rất quan trọng. Luyện  
sao cho trường độ, cao độ, âm lượng và âm vực tiếng nói của bạn là rõ ràng,  
dễ hiểu với người nghe. Ngoài ra khi nói, kết hợp với ngôn ngữ không lời  
(động tác tay, chân, nét mặt…) phù hợp với ngữ cảnh gây ấn tượng với  
người nghe.  
Thứ tư là phải cải thiện kỹ năng nghe. Lắng nghe người khác là biểu thị tôn  
trọng họ. Các kỹ năng này sẽ được trình bày kỹ hơn trong phần kỹ năng  
giao tiếp.  
Có thể tóm tắt những phương châm xây dựng bản thân để hoạt động trong  
nhóm như trong bảng sau:  
Đối với bản thân  
Đối với người khác  
19  
-Nói lên điều mình nghĩ  
-Có thái độ cởi mở  
-Có tư duy tích cực  
-Hãy khoan dung  
-Đừng đòi hỏi sự hoàn hảo  
-Hãy cố gắng hiểu họ  
-Luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác  
-Hãy là chính mình -  
Biết ngưng đúng lúc  
-Hãy cố tìm cái tốt nơi họ  
-Hãy phê phán hành vi, không phê  
phán vào con người  
-Giữ bí mật những điều riêng tư  
-Hãy tập thương yêu người khó gần  
-Hãy luôn dựa trên sự kiện khách  
quan  
-Biết cảm thông  
-Làm chủ thái độ của bạn  
-Hãy là người hiểu biết  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 21 trang yennguyen 22840 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kỹ năng mềm - Ngô Thiên Hoàng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ky_nang_mem_ngo_thien_hoang.pdf