Giáo trình Kế toán quản trị (Phần 2)

CHƯƠNG 5. KIỂM SOÁT DOANH THU VÀ CHI PHÍ  
Làm thế nào để nhà quản trị có thể kiểmsoát được doanh thu và chi phí? Đó là  
câu hỏi được đặt ra cho mỗi nhà quản trị. Hệ thống kiểmsoát bao gồm3 yếu tố cơ bản:  
đó là dự toán hay định mức được xác định trước khi quá trình bắt đầu, số liệu thực hiện  
và so sánh giữa thực hiện vớikế hoạch hay dự toán của từng bộ phận trong đơn vị.  
Qúa trình kiểm soát được thực hiện tùy thuộc vào việc phân chia trách nhiệm  
trong doanh nghiệp, hay nóicách khác phụ thuộc vào việc phân cấp trách nhiệmtrong  
doanh nghiệp. Chính vì thế, để kiểmsoát doanh thu và chi phí cần xác định rõ trách  
nhiệm, thành quả của từng bộ phận trong đơn vị; lập kế hoạch và dự toán doanh thu,  
chi phí; và đánh giá ảnh hưởng của các nhân tố lượng, giá đến thành quả của từng bộ  
phận. Như vậy, phân cấp quản lý là cơ sở để xác định các trung tâmtrách nhiệm. Các  
phần sau của chương sẽ đi vào nội dung cụ thể những vấn đề này.  
5.1. PHÂN CẤPQUẢN LÝVÀCÁC TRUNG TÂM TRÁCH NHIỆM  
Các nhà quản trị nhận thấy rằng các báo cáo bộ phận rất có giá trị đốivớimột tổ  
chức phân quyền. Một tổ chức phân quyền là tổ chức mà quyết định được đưa ra  
không chỉ từ cấp quản lý cao nhất trong đơn vị mà được trải dàitrong một tổ chức ở các  
cấp quản lý khác nhau. Các nhà quản trị các cấp đưa ra quyết định liên quan đến phạm  
vivà trách nhiệmcủa họ. Trong một tổ chức phân quyền mạnh mẽ, các nhà quản trị bộ  
phận có quyền tự do trong việc ra quyết định trong giớihạn của mình mà không có sự  
cản trở của cấp trên, ngay ở cấp quản lý thấp nhất trong đơn vị. Ngược lại, trong một tổ  
chức tập quyền, mọi quyết định được đưa ra từ cấp quản lý cao nhất trong đơn vị. Mặc  
dù có nhiều đơn vịtổ chức theo hướng kết hợp của cả 2 chiều hướng trên, nhưng ngày  
nay, nhiều đơn vị nghiên về hướng phân quyền bởi vì hệ thống phân quyền mang lại  
nhiều ưu điểm. Đó là:  
Việc ra quyết định được giao cho các cấp quản trị khác nhau, nhà quản trị cấp  
cao không phảixử lý sự vụ mà có nhiều thời gian hơn để tập trung vào các vấn đề chiến  
lược của đơn vị.  
Việc cho phép các nhà quản trị các cấp ra quyết định là một cách rèn luyện tốt  
nhất để các nhà quản trị không ngừng nâng cao năng lực cũng như trách nhiệmcủa  
mình trong đơn vị.  
-104-  
Việc uỷ quyền ra quyết định và chịu trách nhiệm về quyết định thường tạo ra sự  
hài lòng trong công việc cũng như khuyến khích sự nổ lực của các nhà quản trị bộ  
phận.  
Quyết định được xem là tốt nhất khinó được đưa ra ở nơimà cấp quản lý hiểu rõ  
về vấn đề. Thường thìcác nhà quản tri cấp cao không thể nắmbắt được tất cả các vấn  
đề từ các bộ phận chức năng trong toàn đơn vị.  
Phân cấp quản lý còn là cơ sở để đánh giá thành quả của từng nhà quản trị, và  
qua việc phân cấp quản lý, các nhà quản trị các cấp có cơ hội chứng minh năng lực của  
mình.  
Tuy nhiên, việc phân cấp quản lý cũng có những hạn chế nhất định. Bởi vì, sự  
phân cấp quản lý dẫn đến sự độc lập tương đối giữa các bộ phận, do đó các nhà quản  
trịbộ phận thường không biết được quyết định của mình sẽ ảnh hưởng như thế nào đến  
các bộ phận khác trong tổ chức. Mặt khác, các bộ phận độc lập tương đốithường quan  
tâmđến mục tiêu của bộ phận mình hơn là mục tiêu chung của toàn đơn vị vìhọ được  
đánh gía thông qua thành quả mà bộ phận họ đạt được. Điều này có thể gây tổn hại  
cho mục tiêu chung của đơn vị.  
Trong một tổ chức phân quyền, các bộ phận thường được xem như là các trung  
tâmtrách nhiệm. Một trung tâm trách nhiệmđược xác định gồmmột nhómhoạt động  
được giao cho một hay một nhómnhà quản trị. Vídụ một phân xưởng sản xuất là trung  
tâmtrách nhiệmcho quản đốc phân xưởng, một công ty có thể là trung tâmtrách nhiệm  
của giámđốc. Hệ thống kế toán trách nhiệmsẽ đánh giá kết quả hoạt động cuả từng  
trung tâmtrách nhiệmthông qua các báo cáo bộ phận và nhà quản trị cấp cao sẽ sử  
dụng thông tin của kế toán trách nhiệmđể đánh giá các nhà quản trị các cấp và khuyến  
khích họ trong công việc để đemlạihiệu quả cao nhất cho đơn vị.Trong một đơn vị,  
các trung tâmtrách nhiệmbao gồm:  
Trung tâm chi phí là trung tâmtrách nhiệmmà đầu vào được lượng hoá bằng tiền  
còn đầu ra thì không lượng hoá được bằng tiền. Trung tâm chi phí có thể là một bộ phận  
sản xuất, một phòng ban chức năng..., và nhà quản trị ở các bộ phận này có trách nhiệm  
kiểm soát chi phí phát sinh ở bộ phận mình. Trung tâmchi phí được chi thành hai loại là  
trung tâmchi phí tự do và trung tâmchiphí định mức.  
Trung tâm doanh thu là trung tâmtrách nhiệm mà đầu ra có thể lượng hoá bằng  
tiền còn đầu vào thì không lượng hoá được bằng tiền. Vídụ bộ phận bán hàng tiếp thị  
chỉ chịu trách nhiệmvề doanh thu mà không chịu trách nhiệm về giá thành sản phẩm.  
-105-  
Trung tâm lợi nhuận là trung tâmtrách nhiệm mà nhà quản trị phảichịu trách  
nhiệmvề lợinhuận phát sinh trong bộ phận mình. Nghĩa là nhà quản trị chịu trách  
nhiệmcả về doanh thu và chiphí.  
Trung tâm đầu tư là trung tâmtrách nhiệm không chỉlượng hoá bằng tiền đầu  
vào, đầu ra mà cả lượng vốn sử dụng ở trung tâm.Như vậy, nhà quản trị ở trung tâm  
đầu tư chịu trách nhiệmcả về doanh thu, chi phí và vốn đầu tư.  
5.2. CHIPHÍ ĐỊNH MỨC  
5.2.1. Khái niệm và vai tròcủa chi phí định mức  
Chi phí định mức (Standard cost) là chi phídự tính cho việc sản xuất một sản  
phẩmhoặc cung cấp dịch vụ. Khi chi phí định mức tính cho toàn bộ số lượng sản phẩm  
sản xuất hay dịch vụ cung cấp thì chi phí định mức được gọilà chiphídự toán.  
Chi phí định mức được sử dụng như là thước đo trong hệ thống dự toán của  
doanh nghiệp. Khimột doanh nghiệp sản xuất nhiều lọaisản phẩm, kế toán quản trị sẽ  
sử dụng chiphíđịnh mức để xác định tổng chiphídự toán để sản xuất sản phẩm. Sau  
khi quá trình sản xuất được tiến hành, kế toán quản trị sẽ so sánh giữa chiphí thực tế và  
dự toán để xác định sự biến động về chi phí. Đây chính là cơ sở để kiểm soát chiphí.  
Chi phí định mức còn là cơ sở cho việc lập dự toán vốn bằng tiền và hàng tồn  
kho, bởi vì dựa vào định mức, kế toán quản trị tính được lượng tiền cần cho việc mua  
nguyên vật liệu, trả lương cho người lao động cũng như lượng vật liệu cần dự trữ cho  
quá trình sản xuất, từ đó có chính sách đặt hàng hợp lý.  
Chi phí định mức cũng giúp cho quá trình thực hiện kế toán trách nhiệm, vì chi  
phí định mức là một trong các thước đo để đánh giá thành quả của các trung tâmtrách  
nhiệm, nhất là trung tâmchi phí.  
5.2.2. Cácphương phápxâydựng định mức chi phí  
Để thiết lập chiphíđịnh mức, kế toán quản trịthường sử dụng các phương pháp  
sau:  
Phân tíchdữliệu lịch sử: phương pháp này được sử dụng khi quá trình sản xuất  
đã chín muồi, doanh nghiệp đã có nhiều kinh nghiệmtrong quá trình sản xuất, số liệu về  
chi phí sản xuất trong quá khứ có thể cung cấp một cơ sở tốt cho việc dự đoán chi phí  
sản xuất trong tương lai. Kế toán quản trị cần điều chỉnh lại chiphílịch sử cho phù hợp  
với tình hình hiện tại về giá cả, hay sự thay đổi về công nghệ trong quá trình sản xuất.  
-106-  
Vídụ, lượng bông dùng để sản xuất 1 kg sợi năm nay sẽ giống năm trước trừ khicó sự  
thay đổitrong công nghệ sản xuất sợi. Tuy nhiên, giá của bông có thể thay đổi so với  
năm trước thì khi đó một định mức mới cần được xây dựng cho việc sản xuất một kg sợi.  
Mặc dù số liệu lịch sử là một cơ sở tốt để xây dựng định mức chi phí, phương  
pháp này có nhược điểm là không phản ảnh được sự thay đổi về công nghệ hay những  
thay đổitrong quá trình sản xuất. Hoặc khidoanh nghiệp sản xuất một sản phẩm mới,  
chi phí lịch sử không có sẵn.Trong trường hợp này, kế toán quản trị phải sử dụng  
phương pháp khác.  
Phương phápkỹ thuật:theo phương pháp này, quá trình sản xuất sản phẩm được  
phân tích để xác công việc phát sinh chi phí. Trong phương pháp kỹ thuật, kế toán  
quản trị phảikết hợp với các nhân viên kỹ thuật, người am hiểu công việc để nghiên  
cứu thời gian, thao tác công việc nhằm xác định lượng nguyên vật liệu và lao động hao  
phí cần thiết để sản xuất sản phẩm trong điều kiện về công nghệ, trình độ quản lý và  
nguồn nhân lực hiện tại của doanh nghiệp.  
Phương phápkết hợp: kế toán quản trị thường kết hợp cả haiphương pháp là  
phân tích dữ liệu lịch sử và phương pháp kỹ thuật trong quá trình xây dựng chi phí định  
mức. Ví dụ khi có một sự thay đổi trong công nghệ sản xuất của một bộ phận, kế toán  
quản trị cần kết hợp với bộ phận kỹ thuất để xác định chi phí định mức cho bộ phận mới  
thay đổiđó.  
5.2.3. Xâydựng định mức chi phí sản xuất  
5.2.3.1. Xâydựng định mức chi phí nguyên vật liệu  
Để xây dựng định mức chiphínguyên vật liệu, kế toán quản trị thường xây dựng  
riêng định mức về lượng và định mức về gía. Định mức vềlượngvật liệu bao gồmlượng  
vật liệu trực tiếp để sản xuất 1 sản phẩm trong điều kiện lý tưởng cộng với lượng vật  
liệu tính cho sản phẩm hỏng. Định mức về lượng vật liệu tạimột doanh nghiệp có thể  
được xác định như sau:  
+ Lượng vật liệu dùng để sản xuất một sản phẩm  
+ Lượng vật liệu tính cho sản phẩm hỏng  
xxxx  
xxxx  
Định mức về lượng vật liệu để sản xuất một sản phẩm  
xxxx  
Định mứcvề giávật liệu trực tiếp bao gồm giá mua vật liệu, cộng với chi phí thu  
mua. Định mức về giá vật liệu của một doanh nghiệp có thể được xác đinh như sau:  
+ Giá mua 1 đơn vị vật liệu  
+ Chiphíthu mua  
xxxx  
xxxx  
-107-  
Định mức về giá vật liệu  
xxxx  
Sau khi xây dựng định mức về lượng và giá vật liệu trực tiếp, định mức chiphí  
nguyên vât liệu trực tiếp được tính bằng định mức về lượng vật liệu nhân vớiđịnh mức  
về giá vật liệu trực tiếp.  
5.2.3.2. Xâydựng định mức chi phí nhân công trực tiếp  
Định mức chi phí nhân công trực tiếp cũng được xây dựng bao gồmđịnh mức về  
lượng và định mức về giá.  
Định mứcvề lượng bao gồmlượng thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm.  
Để xác định thời gian cần thiết cho việc sản xuất một sản phẩm, ngườita chia quá trình  
sản xuất thành các công đoạn, xác định thời gian định mức cho mỗicông đoạn và thời  
gian định mức cho việc sản xuất sản phẩmđược tính bằng tổng thời gian để thực hiện  
các công đoạn. Một cách khác, có thể xác định thời gian định mức để sản xuất sản phẩm  
thông qua việc bấm giờ từng công đoạn sản xuất của bộ phận sản xuất thử. Cần lưu ý  
rằng, thời gian định mức để sản xuất sản phẩm còn bao gồmthời gian nghĩ giải lao, thời  
gian lau chùi máy móc, và thời gian bảo trì máy. Định mức về lượng thời gian để sản  
xuất một sản phẩm có thể được xác định:  
+ Thời gian cơ bản để sản xuất một sản phẩm  
xxxx  
+ Thời gian nghĩ ngơi và thờigian dành cho nhu cầu cá nhân  
+ Thời gian lau chùi máy và thờigian ngừng việc  
Định mức về lượng thời gian để sản xuất một sản phẩm  
xxxx  
xxxx  
xxxx  
Định mứcvề giá giờ công lao động không chỉ bao gồmtiền lương, các khoản phụ  
cấp mà còn các khỏan trích theo lương của ngườilao động như BHXH, BHYT, kinh phí  
công đoàn. Như vậy, định mức về giá giờ công lao động có thể được xác định như sau:  
+ Tiền lương cơ bản một giờ công  
+ Phụ cấp (nếu có)  
xxxx  
xxxx  
xxxx  
+ Các khoản trích theo lương  
Định mức đơn giá giờ công  
xxxx  
Nhiều doanh nghiệp xây dựng đơn giá giờ công chung cho tất cả người lao động  
trong một bộ phận ngay cả đơn giá tiền lương của ngườilao động phụ thuộc vào kĩ  
năng và thờigian công tác. Mục đích của việc xây dựng chiphíđịnh mức này là cho  
phép nhà quản trị theo dõi việc sử dụng nhân công trong bộ phận mình.  
-108-  
Sau khi xây dựng được định mức về lượng và giá giờ công, định mức chi phí nhân  
công trực tiếp được xác định bằng định mức lượng thời gian để sản xuất một sản phẩm  
nhân định mức giá giờ công.  
5.2.3.3. Xâydựng định mức biến phí sản xuất chung  
Định mức biến phí sản xuất chung được xây dựng tùy thuộc vào việc lựa chon  
tiêu thức phân bổ biến phí sản xuất chung. Nếu biến phísản xuất chung được phân bổ  
dựa trên thờigian thì định mức biến phísản xuất chung được xây dựng gồm tỉ lệ biến  
phí sản xuất chung và thời gian. Tỉ lệ ở đây chính là tỉ lệ biến phí sản xuất chung ước  
tính đã được giới thiệu trong chương 3.Thời gian ở đây chính là tiêu thức phân bổ biến  
phí sản xuất chung cho sản phẩm. Nếu biến phí sản xuất chung được xác định trên cơ  
sở từng nội dung chi phí cụ thể, như: vật liệu gián tiếp, tiền lương quản lý phân xưởng,  
chi phí năng lượng…thì cách lập định mức mỗi loại phí này tương tự như đốivớichi phí  
nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp. Đinh mức về biến phísản xuất chung  
được tính bằng định mức về lượng nhân với định mức về giá  
5.3. KIỂM SOÁT DOANH THUVÀCHI PHÍ  
Kiểm tra là một chức năng quan trọng trong quản trị. Trong kế toán quản trị kiểm  
tra trước, trong và sau các quá trình không chỉnhằm mục đích đánh giá công tác, thành  
tích của mỗicá nhân, mỗibộ phận mà còn hỗ trợ việc tổ chức thực hiện cũng như điều  
chỉnh dự toán đã được lập của doanh nghiệp và làm cơ sở dự toán cho các kỳ sau.  
Kiểm tra thành tích cá nhân ở đây có thể hiểu rằng là việc xem xét đánh giá kết  
quả, hiệu quả mà mỗi cá nhân, mỗi bộ phận theo mục tiêu mà họ đã chấp nhận trước. Do  
vậy, nhiệm vụ kiểmtra phải xác định rõ khoảng cách, độ lệch giữa giá trị thực hiện với  
giá trịdự toán. Mục tiêu của kiểmtra phải trả lời được các câu hỏi sau:  
Mục tiêu của trung tâmhoạt động đã đạt được chưa?  
Các phương tiện dự toán để đạt được mục tiêu này đã thực hiện được  
chưa?  
Các chuẩn mực đề ra có phù hợp với đặc điểmcủa doanh nghiệp không?  
Dự toán có hiện thực không?  
Mặc dầu có nhiều nguyên nhân dẫn đến các khoản chênh lệch nhưng mục tiêu  
của kiểmtra là việc xác định trách nhiệmcá nhân. Nhân tố con người trong việc kiểmtra  
này phảilà nhân tố chủ yếu. Do vậy, hệ thống kiểm tra quản trị phải tách riêng được  
-109-  
trách nhiệmcá nhân cũng như xác định nhiệmvụ mà mỗicá nhân đã chấp nhận trước  
như thế nào.  
Để thực hiện nhiệmvụ này, nội dung của kiểmtra quản trị bao gồmkiểm soát tiêu  
thụ, kiểmsoát sản xuất, kiểm soát chi phí. Để thực hiện tốt kiểmtra này, ta cần phải xem  
xét được ảnh hưởng của nhân tố lượng và nhân tố giá đến kết quả thực hiện dự toán.  
5.3.1. Khái quát chung về nhân tốgiá và nhân tố lượng  
Khi dự toán được lập, sự chênh lệch giữa dự toán và thực tế là vấn đề không thể  
tránh khỏi. Sự chênh lệch dữ liệu giữa thực tế so với dự toán đã đặt ra có thể do nhiều  
nguyên nhân hoặc do dự toán đã lập chưa phù hợp với thực tế, hoặc do trách nhiệm  
của các bộ phận. Khi chỉ tiêu thực tế phát sinh lớn hơn chỉ tiêu dự toán gọi là kết quả  
dương, ngược lại chi phí thực tế phát sinh nhỏ hơn chi phí dự toán gọilà kết quả âm.  
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, để đơn giản trong kiểm soát các nhân tố  
ảnh hưởng thường ta chỉ xemxét hailoại nhân tố là: nhân tố do giá và nhân tố do lượng.  
Nhân tố do giá là chênh lệch giữa giá đơn vị thực tế với giá đơn vị dự toán nhân  
với sản lượng sản phẩm, hàng hoá hay dịch vụ thực tế (như sản lượng bán, mua hoặc  
sử dụng). Ảnh hưởng của nhân tố giá có thể xác định tổng quát như sau:  
Ảnh hưởng về = Giá đơn vị  
giá thực tế  
- Giá đơn vị  
dự toán  
x Lượng  
thực tế  
Nhân tố lượng là chênh lệch giữa khối lượng thực tế và khốilượng dự toán nhân  
với giá dự toán. Tùy theo từng trường hợp kiểmsoát mà khối lượng có thể là lượng sản  
phẩmtiêu thụ, lượng vật liệu tiêu hao hay lượng sản phẩm sản xuất. Ảnh hưởng của  
nhân tố lượng có thể xác định tổng quát như sau:  
Ảnh hưởng về  
lượng  
=
Lượng  
thực tế  
- Lượng  
dự toán  
x Giá đơn vị  
dự toán  
Tính toán chính xác các nhân tố cho phép nhà quản trị thuận lợi hơn khi đánh giá  
tình hình và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.  
5.3.2. Kiểm soátkết quả của bán hàng (kiểm tra doanh thu)  
Để kiểm soát mức độ bán hàng của doanh nghiệp, thường ta cần phân tích ba  
mức độ khác nhau:về con người, về sản phẩm, về thịtrường, qua đó đánh giá thành  
-110-  
tích của các cá nhân trong cơ cấu tổ chức có trách nhiệmtrong doanh nghiệp. Có ba  
trường hợp sau về kiểmtra kết quả bán hàng:  
Một giámđốc vùng sẽ kiểm tra hoạt động các đạidiện của họ về giá và khối  
lượng bán ra.  
Một giámđốc kinh doanh sẽ phải kiểm tra hoạt động của các vùng khác nhau. Sự  
thay đổivề khối lượng và giá bán theo sản phẩm cũng là kiểm tra về thành tích của giám  
đốc vùng.  
Tổng giám đốc thường sẽ kiểmtra tổng doanh thu cũng như sự thay đổi doanh  
thu từng sản phẩm. Việc kiểmtra này cũng nhằm xemxét lãigộp của từng sản phẩm, qua  
đó ra quyết định duy trì hoặc tiếp tục sản xuất, kinh doanh các sản phẩm.  
5.3.2.1. Kiểm soát kết quả đại diện bán hàng  
Nội dung kiểm soát này nhằmmục đích xemxét kết quả của từng ngườibán cũng  
như chênh lệch giữa thực tế đạt được so với dự toán đã được duyệt. Công việc này giúp  
các giámđốc vùng đánh giá hiệu quả của từng ngườibán, đồng thời phân tích được các  
nguyên nhân, xác định được các biện pháp điều chỉnh. Ngoài ra, việc thông báo các  
chênh lệch cho phép kích thích người bán quan tâm nhiều đến công việc. Báo cáo kiểm  
tra kết quả đại diện bán hàng có thể như sau:  
Vùng I  
Chênh lệch  
dương  
Chênh lệch  
âm  
Đạidiện bán hàng 1  
Đạidiện bán hàng 2  
Đạidiện bán hàng 3  
X
X
X
Vùng I  
Kết quả tháng  
Kết quả tích luỹ  
30% 20% 10% 30% 20% 10% 30% 20% 10% 30% 20% 10%  
*
Đại diện  
bán hàng 1  
Đại diện  
*
bán hàng 2  
Đại diện  
*
bán hàng 3  
5.3.2.2. Kiểm soát kết quả doanh thu theo vùng  
-111-  
Giám đốc kinh doanh sẽ kiểmtra hiệu quả các giámđốc vùng đối với việc tiêu thụ  
sản phẩm của đơn vị. Để thực hiện mục tiêu này thì việc kiểmtra chênh lệch giữa doanh  
thu thực tế và doanh thu dự toán ít có ý nghĩa. Do vậy, khi nghiên cứu doanh thu theo  
vùng cần thiết phảitách biệt các khoản chênh lệch giữa doanh thu thực hiện và doanh  
thu dự toán thành ảnh hưởng của 2 nhân tố:  
Ảnh hưởng của sự thay đổi khốilượng tiêu thụ  
Ảnh hưởng của sự khác nhau của giá bán sản phẩm  
Việc tách biệt này nhằmxác định đầy đủ hơn nguyên nhân ảnh hưởng đến doanh  
thu từng vùng, từng đơn vị, người bán hàng. Kết quả kiểm tra trên đây sẽ cho phép điều  
chỉnh nhằm thực hiện chính sách kinh doanh ngắn hạn thông qua xemxét lạigiá bán,  
chiến dịch quảng cáo theo các nguyên nhân phân tích.  
5.3.2.3. Kiểm soát doanh thu chung  
Ở mọithời điểm, tổng giámđốc phảibiết được kết quả và hiệu quả của mạng lưới  
kinh doanh thông qua việc đánh giá kết quả của từng cá nhân, bộ phận. Hiệu quả này  
gắn chặt vớisản phẩm kinh doanh của đơn vị,một sản phẩmtồi hoặc không phù hợp  
với nhu cầu của thịtrường sẽ không cho phép mạng lướikinh doanh của đơn vị đạt  
được hiệu quả cao.  
Vídụ minh họa:Dự toán tiêu thụ ở các vùng của một công ty được thành lập với  
đơn giá bán dự toán là 10.000đồng/sp trong 6tháng đến như sau:  
Thị trường  
Đà Nẵng  
Tháng 7  
3000  
Tháng 8  
1500  
750  
Tháng 9  
3000  
Tháng 10 Tháng 11 Tháng 12  
3000  
1500  
1800  
3000  
1500  
1800  
3000  
1500  
1800  
Quảng Nam  
1500  
1500  
1800  
900  
1800  
Thừa thiên-  
Huế  
1700  
8000  
850  
1700  
8000  
1700  
8000  
1700  
8000  
1700  
8000  
Quảng trị-  
Quảng Bình  
4000  
Tổng cộng  
Doanh thu  
80.000.000 40.000.000 80.000.000 80.000.000 80.000.000 80.000.000  
Doanh thu thực tế từng vùng được thực hiện ở tháng 7 như sau:  
Đà Nẵng  
3.100sản phẩm vớigiá bán đơn vị 9.800đ  
Quảng Nam  
1.800sản phẩm vớigiá bán đơn vị 8.000đ  
-112-  
Thừa thiên-Huế  
1.800sản phẩm vớigiá bán đơn vị 10.450đ  
1.500sản phẩm vớigiá bán đơn vị 12.000đ  
Quảng trị-Quảng Bình  
Doanh thu thực tế tổng cộng là: 81.590.000đồng với khối lượng tiêu thụ thực tế là  
8200 và đơn giá bán trung bình một sản phẩm là 9.950đ. Số liệu từ tình huống trên có  
thể phục vụ cho các nội dung kiểm tra sau:  
a. Kiểm soátsản phẩm theo các nhân tố ảnh hưởng  
Công việc kiểm tra này nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đơn giá  
bán, khốilượng tiêu thụ đến biến động doanh thu của đơn vị. Qua đó xác định trách  
nhiệmcủa mỗi bộ phận cũng như các nguyên nhân cụ thể ảnh hưởng đến doanh thu  
thông qua các nhân tố.  
Biến độngdoanh  
thu  
Ảnh hưởngvề  
lượng đến biến  
động doanh thu  
Ảnh hưởngvề giá  
+ đến biến động  
doanh thu  
=
Trong đó  
Ảnh hưởng về  
lượngđến biến  
độngdoanh thu  
Số sản  
phẩm tiêu - phẩm tiêu  
thụ thực tế thụ dự toán  
Số sản  
Đơn giá bán  
x sản phẩm  
theo dự toán  
=
Ảnh hưởng về lượng âm là biểu hiện không tốt, có thể do nhiều nguyên nhân  
như doanh nghiệp không bán được sản phẩm do chất lượng sản phẩm không tốt, công  
việc giao nhận thanh toán còn nhiều bất cập, chu kỳ sống của sản phẩm đã đến cuối  
kỳ, hoặc thị phần của doanh nghiệp đã bắt đầu giảm, sức cạnh tranh kém... Ngược lại  
nếu ảnh hưởng về lượng dương chứng tỏ doanh nghiệp có số lượng sản phẩm bán vượt  
trên dự toán. Ảnh hưởng này có thể thể có nhiều nguyên nhân nhưng khi kiểm tra cần  
chú ý đến việc động viên, cổ động cho bộ phận bán hàng; không nên cứ thấy sản  
lượng bán tăng lại tăng dự toán bán hàng thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả doanh nghiệp.  
Ảnh hưởng về giá  
đến biến đông  
doanh thu  
Đơn giá bán  
= thựctế  
Đơn giá bán  
- dự toán  
Số sản  
x phẩm tiêu  
thụ thực tế  
Tương tự ảnh hưởng về lượng, khi kiểmtra biến động về giá cũng cần phải  
nghiên cứu cụ thể nhằm xác định chính xác các nguyên nhân để có những giải pháp  
khắc phục. Ảnh hưởng của lượng và giá đối với doanh thu có thể biểu diễn qua đồ thị  
sau:  
-113-  
Giábán  
P1  
∆P.Q1  
∆q x∆g  
∆q.P0  
P0  
S.lượng  
Q0  
Q1  
Đồ thị 6.1. Ảnh hưởng nhân tố lượng và giá đối với doanh thu  
Trong đó Q0, Q1: sản lượng tiêu thụ theo dự toán và thực tế  
G0, G1:đơn giá bán sản phẩm theo dự toán và thực tế  
DT: doanh thu bán sản phẩm  
AQ: Ảnh hưởng của khối lượng tiêu thụ đến biến động doanh thu  
AG: Ảnh hưởng của đơn giá bán đến biến động doanh thu  
Ở ví dụ trên, nếu kiểm soát doanh thu trong tháng 7 thì chênh lệch doanh thu của toàn  
công ty là:  
∆DT = 81.590.000-80.000.000 =+ 1.590.000  
Doanh thu tăng lên là do ảnh hưởng của hai nhân tố sau:  
+ Ảnh hưởng của khốilượng tiêu thụ: (8.200-8.000) x10.000= +2.000.000  
+ Ảnh hưởng của đơn giá bán hàng:(9.950-10.000)x 8.200= - 410.000  
Tổng hợp: ∆DT = +2.000.000+ (- 410.000) = + 1.590.000 đồng  
Như vậy, doanh thu của toàn công ty trong tháng 7 tăng lên 1.590.000đồng là do tăng  
khối lượng tiêu thụ toàn công ty 200sản phẩm làmdoanh thu tăng 2 triệu đồng. Ngược  
lại, giá bán bình quân giảmso với dự toán làmdoanh thu giảm 410.000đồng.  
b. Ảnh hưởng của các nhân tố theo từng vùng  
Để xemxét biến động doanh thu của từng vùng thị trường đối với biến động của  
toàn công ty, phần kiểm soát tiếp theo cũng cần xemxét ảnh hưởng của nhân tố khối  
lượng tiêu thụ và đơn giá bán của từng vùng thị trường. Lấy thịtrường Đà nẵng làm  
minh họa:  
Tổng doanh thu thực tế tháng 7 của thịtrường Đà nẵng:  
3.100 sp x9.800 đ/sp = 30.380.000đồng  
-114-  
Tổng doanh thu dự toán tháng 7của thịtrường Đà nẵng:  
3.000 sp x10.000đ/sp = 30.000.000 đồng  
Chênh lệch doanh thu của tháng 7 tại thị trường Đà nẵng:  
∆DT = 30.380– 30.00 = 380(ngàn đồng)  
Doanh thu tăng so vớidự toán là 380.000 đồng là do:  
+ Ảnh hưởng của khốilượng tiêu thụ: (3.100 – 3.000)x 10= + 1.000(ngàn đồng)  
+ Ảnh hưởng của đơn giá bán hàng:(9,8– 10)x 3.100= - 620(ngàn đồng)  
Bằng cách phân tích tương tự, ta có thể xác định ảnh hưởng của các nhân tố đối  
với doanh thu tiêu thụ theo từng vùng thị trường, cũng như ảnh hưởng của từng vùng  
đối với doanh thu toàn công ty. Số liệu phân tích được thể hiện trên báo cáo sau:  
Thị trường  
Chênh lệch  
Ảnh hưởng  
của đơn giá  
bán  
Ảnh hưởng  
của sản  
lương tiêu  
thụ  
Đà Nẵng  
+ 380.000  
- 600.000  
+ 810.000  
- 620.000  
-3.600.000  
+ 810.000  
3.000.000  
+ 1.000.000  
+ 3.000.000  
0
Quảng Nam  
Thừa thiên-Huế  
Quảng trị - Quảng +1.000.000  
Bình  
-2.000.000  
Tổng cộng  
+ 1.590.000  
- 410.000  
+2.000.000  
Với báo cáo trên, việc kiểmtra này là xác định các bộ phận, cá nhân chịu trách  
nhiệmảnh hưởng đến từng khoản chênh lệch về doanh thu.  
5.3.3. Kiểm soátlợi nhuận  
Kiểm soát lợinhuận của doanh nghiệp nhằmxác định trách nhiệm cụ thể của bộ  
phận cũng như các nhân tố ảnh hưởng. Để đơn giản ta có thể chỉ cần xemxét ảnh  
hưởng của thu nhập, của chi phíđốivớitừng loạisản phẩm, dịch vụ mà không cần  
dùng phương pháp phân biệt ảnh hưởng các nhân tố lượng, nhân tố giá.  
5.3.4. Kiểm soátkhối lượng sản xuất  
-115-  
Nội dung này nhằmkiểm tra khốilượng sản xuất có đảm bảo thực hiện mục tiêu  
bán hàng của doanh nghiệp theo dự toán đã lập. Quá trình kiểmtra này còn nhằmxác  
định các chênh lệch về khối lượng cũng như chất lượng của sản phẩm ở mỗi bộ phận để  
đánh giá thành tích của họ. Qua đó có thể xemxét xác định các nguyên nhân ảnh  
hưởng.  
5.3.4. Kiểm soátchi phí sản xuất  
Như đã đề cập ở trên, phương pháp dự toán chi phí không những theo dõichi phí  
dự toán mà còn theo dõi chi phí thực tế. Chính vì vậy, một trong những ứng dụng của  
phương pháp này là giúp kiểmsoát chiphíchặt chẽ hơn thông qua việc phân tích nhân  
tố chiphí sản xuất.  
5.3.4.1. Kiểm soát chi phí nguyên vật liệu trực tiếp  
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các chi phínguyên liệu, vật liệu chính,  
vật liệu phụ hao phí cho từng quá trình sản xuất. Biến động của chi phí nguyên vật liệu  
trực tiếp có thể được kiểmsoát gắn liền vớicác nhân tố giá và lượng có liên quan.  
a. Phân tích biến động  
- Biếnđộng giá: là chênh lệch giữa giá nguyên vật liệu trực tiếp kỳ thực tế với giá  
nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định. Nếu  
tính trên một đơn vị sản phẩmthì nó phản ánh giá cả của một đơn vị nguyên vật liệu để  
sản xuất ra một đơn vịsản phẩm đã thay đổi như thế nào so vớidự toán.  
Ảnh hưởng về  
giá đến biến  
Đơn giá nguyên  
vật liệu trực tiếp  
thực tế  
Đơn giá nguyên  
vật liệu trực tiếp  
dự toán  
Lượng nguyên  
vật liệu trực tiếp  
thực tế sử dụng  
=
-
x
động NVLTT  
Ảnh hưởng biến động về giá có thể là âm hay dương. Nếu ảnh hưởng là âm  
chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá vật liệu dự toán đặt ra. Tình hình này được  
đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảmbảo. Ngược lại,ảnh hưởng dương thế hiện giá  
vật liệu tăng so vớidự toán và sẽ làmtăng tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp. Xét  
trên phương diện các trung tâm trách nhiệmthì biến động về giá gắn liền với trách  
nhiệmcủa bộ phận cung ứng vật liệu. Khi kiểmsoát biến động về giá, cần quan tâmđến  
các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu trên thị trường, chiphíthu mua, chất  
lượng nguyên vật liệu, thuế và cả các phương pháp tính giá nguyên vật liệu (nếu có).  
-116-  
- Biếnđộng lượng:là chênh lệch giữa lượng nguyên vật liệu trực tiếp ở kỳ thực tế  
với lượng nguyên vật liệu trực tiếp theo dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất  
định. Biến động về lượng phản ánh tiêu hao vật chất thay đổi như thế nào và ảnh  
hưởng đến tổng chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ra sao. Biến động về lượng được xác  
định:  
Ảnh hưởng về  
lượng đến biến  
động NVLTT  
Nguyên vật liệu  
trực tiếp thực tế  
sử dụng  
Nguyên vật liệu  
trực tiếp dự  
Đơn giá nguyên  
vật liệu trực tiếp  
dự toán  
=
-
x
toán sử dụng  
Biến động về lượng nếu là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu sử dụng thực tế  
nhiều hơn so với dự toán; còn nếu là kết quả âm thể hiện lượng vật liệu sử dụng tiết  
kiệm so với dự toán. Nhân tố lượng sử dụng thường do nhiều nguyên nhân, gắn liền với  
trách nhiệmcủa bộ phận sử dụng vật liệu (phân xưởng, tổ, đội…). Đó có thể là do khâu  
tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân trong sản xuất...  
Ngay cả chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm  
hỏng nhiều làmcho lượng tiêu hao nhiều. Khitìmhiểu nguyên nhân của biến động về  
lượng cũng cần xemđến các nguyên nhân khách quan, như: thiên tai,hỏa hoạn, mất  
điện…  
b. Ví dụ minh họa  
Một doanh nghiệp may mặc sử dụng một loại vải để sản xuất theo đơn của khách  
hàng. Có số liệu về chiphí tiêu chuẩn của vật liệu vải và chiphí thực tế để sản xuất  
10.000chiếc áo như sau:  
2
Đơn giá vải theo dự toán: 30.000 đ/m , thực tế là 29.000đ/m2  
Định mức vải sử dụng để làmmột chiếc áo là: 2m2/áo.  
2
Tổng số vật liệu sử dụng để sản xuất 10.000áo là 24200 m , nghĩa là mức tuêu  
2
hao thực tế là 2,42 m /áo ).  
Với số liệu trên, chúng ta có thể xác định:  
Tổng chiphí vải theo dự toán để sản xuất 10.000 sp: 2x 10.000 x30= 600.000(ng.đồng)  
Tổng chiphí vải theo thực tế:24.200x 29 = 701.800(ng. đồng)  
Biến động chi phí về vật liệu (a) = 701.800 – 600.000 = + 101.800(ng. đồng)  
+ Biến động về giá của vật liệu  
(b) = (29-30) x24.200 =-24.200 (ng. đồng)  
-117-  
+ Biến động về lượng vật liệu hao phí  
(c) = (24.200– 10.000 x2) x30= + 126.000 (ng.đồng)  
Tổng hợp: - 24.200 +126.000 =+ 101.800(ngàn đồng)  
Như vậy, chiphívật liệu vải tăng so vớidự toán là do lượng vảisử dụng thực tế  
tăng so với dự toán làmchi phí tăng 126triệu đồng, trong khi giá vải giảm1.000đ/m2 làm  
chi phí vật liệu để sản xuất 10.000chiếc áo giảm24,2 triệu đồng. Kết quả phân tích trên  
có thể biểu diễn bằng đồ thị sau:  
Tổng chi phí  
(ng.đ)  
726.000  
(b)  
701.800  
(c)  
(a)  
600.000  
Lượng vật  
liệu (m2)  
20.000  
24.200  
Quá trình kiểm tra ảnh hưởng các nhân tố đến chênh lệch của chi phí vật liệu trực  
tiếp có thể được thấy qua sơ đồ phân tích :  
Lượng t.tế xGiá t.tế  
(24200 x29)  
Lượng t.tế xGiá dự toán  
4200 x30 )  
Lượng dự toán x Giá dự toán  
(20000 x30)  
701.800(ngđ)  
726.000 (ngđ)  
600.000(ngđ)  
-24.200(ngđ)  
(b) Nhân tố giá  
+ 101.800(ngđ)  
+ 126.000(ngđ)  
(c) Nhân tố lượng  
Tổng biến động (a)  
-118-  
5.3.5.2. Kiểm soát chi phí nhân công trựctiếp  
Chi phí nhân công trực tiếp bao gồmchiphí lương và các khoản trích theo lương  
tính vào chiphí, như kinh phícông đoàn, BHXH, BHYT của công nhân trực tiếp vận  
hành từng quá trình sản xuất. Biến động của chi phí nhân công trực tiếp gắn liền với các  
nhân tố giá và lượng liên quan.  
a. Phân tích nhân tố ảnh hưởng  
- Nhân tố giá: là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự  
toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định. Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá  
của giờ công lao động để sản xuất sản phẩmảnh hưởng đến chi phí nhân công trực  
tiếp.  
Ảnh hưởng của  
giá đến biến  
Đơn giá nhân  
công trực tiếp  
thực tế  
Đơn giá nhân  
công trực tiếp  
dự toán  
Thời gian lao  
động thực tế  
=
-
x
động CPNCTT  
Biến động do giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động  
như chế độ lương, tình hình thị trường cung cầu lao động, chính sách của nhà nước  
vv... Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệmchiphínhân  
công trực tiếp, thì việc kiểm soát chiphínhân công còn cho phép ta làm rõ bộ phận chịu  
trách nhiêm, làmảnh hưởng đến công tác quản lý chiphívà giá thành. Nhân tố giá tăng  
hay giảmđược đánh giá là tốt hay không tốt phải căn cứ vào chất lượng công nhân tức  
trình độ và năng lực làmviệc của công nhân. Nếu giá giảm so với dự toán nhưng chất  
lượng vẫn đảm bảo thìsự biến động đó là tốt và ngược lại .  
- Nhântố lượng: là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán để  
sản xuất ra lượng sản phẩmnhất định. Nhân tố này phản ánh sự thay đổivề số giờ  
công để sản xuất sản phẩmảnh hưởng đến chiphí nhân công trực tiếp hay gọi là nhân  
tố năng suất. Ảnh hưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau:  
Ảnh hưởng của  
NSLĐ đến biến  
động CPNCTT  
Thời gian lao  
động thực tế  
Thời gian lao  
động theo dự  
toán  
Đơn giá nhân  
công trực tiếp  
dự toán  
=
-
x
-119-  
Nhân tố năng suất lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là trình độ và năng lực  
của người lao động thay đổi,do điều kiện trang bịmáy móc thiết bị, chính sách lượng  
của doanh nghiệp. Biến động do nhiều nguyên nhân khác nhau tác động đến chi phí  
sản xuất có thể do chính quá trình sản xuất của doanh nghiệp hoặc vìbiến động của  
các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp. Việc phân tích biến động chi phí sản xuất theo các  
khoản mục và theo nhân tố giá, nhân tố lượng giúp người quản lý phát hiện, xemxét các  
yếu tố đã gây ra biến động nhằm đưa ra biện pháp đúng đắn và kịp thời để chấn chỉnh  
hoặc phát huy các nhân tố đó theo hướng có lợi nhất cho doanh nghiệp .  
b. Ví dụ minh họa  
Sử dụng lại tình huống trên, tài liệu về tình hình lao động như sau:  
Thời gian tiêu chuẩn để sản xuất 1 chiếc áo là 0,8 giờ/áo  
Thời gian thực tế để sản xuất 1 chiếc áo là 0,88giờ/áo .  
Đơn giá giờ công lao động trực tiếp thực tế là 19.500 đồng/giờ và theo dự toán là  
20.000đồng/giờ.  
Với nguồn số liệu trên thì:  
Tổng chiphí nhân công trực tiếp dự toán = 0,8x 10.000 x20= 160.000 (ng.đ)  
Tổng chiphínhân công trực tiếp thực tế = 0,88 x10.000 x19,5 = 171.600 (ng.đ)  
Biến động chi phí nhân công trực tiếp: 171.600-160.000 = + 11.600 (ng.đ)  
Ảnh hưởng của nhân tố giá đến chi phínhân công trực tiếp (b)  
(19,5 - 20)x 0,88x 10000= - 4.400 (ng.đ)  
Ảnh hưởng của nhân tố năng suất lao động đến chi phí nhân công trực tiếp (c)  
(8.800– 0,8 x10.000)x 20 = + 16.000 (ng.đ)  
Tổng hợp: - 4.400 + 16.000= + 11.600(ng.đồng)  
Kết quả âm của nhân tố giá thể hiện đơn giá lương giờ thực tế thấp hơn dự toán  
làmcho chi phínhân công trực tiếp giảmso với dự toán là 4400(ng.đ). Kết quả dương  
của nhân tố năng suất lao động thể hiện số giờ để sản xuất ra 10.000 sản phẩm thực tế  
nhiều hơn số giờ theo dự toán làmcho chi phínhân công trực tiếp tăng so với dự toán  
là 16.000(ngđ)  
Kết quả phân tích trên có thể biểu diễn bằng đồ thị như sau:  
Tổng chi phí  
-120-  
176000  
171600  
160000  
(b)  
(a) (c)  
Số giờ công  
8000 8800  
Số giờ DT Số giờ TT  
theo SLTT sử dụng  
Quá trình kiểm tra ảnh hưởng các nhân tố ảnh hưởng có thể được thấy qua sơ đồ  
phân tích :  
Đầu vào TT xGiá TT  
Đầu vào TT xGiá DT  
( 8800 x 20 )  
Đầu vào DT x Giá DT  
(8000 x 20)  
( 8800 x 19,5)  
171600(ngđ)  
176000(ngđ)  
160000(ngđ)  
-4.400 (ngđ)  
(b) Nhân tố giá  
+ 16.000(ngđ)  
(c) Nhân tố lượng  
+ 11.600 (ngđ)  
(a) Tổng biến động  
Dưới hình thức đồ thị hay sơ đồ biểu diễn biến động chiphí,giúp cho quản lý có  
cái nhìn tổng quát hơn về các biến động, rõ ràng và nhanh chóng hơn.  
5.3.5.3. Kiểm soát chi phí sản xuất chung  
Chi phí sản xuất chung biến động là do sự biến động biến phí sản xuất chung và  
biến động của định phí sản xuất chung:  
Biến động Chi  
phí SXC  
= Biến động định + Biến động biến  
phíSXC phíSXC  
a. Kiểm soátbiến động biến phí sản xuất chung  
-121-  
Biến phí sản xuất chung gồmnhững chiphígián tiếp liên quan đến phục vụ và  
quản lý hoạt động sản xuất. Chi phínày thường thay đổitheo sự biến thiên của mức độ  
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, như: chi phí vật tư gián tiếp, tiền lương bộ phận  
quản lý trả theo sản phẩm gián tiếp, chiphínăng lượng thay đổi theo số lượng sản  
phẩmsản xuất ...  
Biến động của biến phísản xuất chung do nhiều nguyên nhân, nhưng về phương  
pháp phân tích trong kiểmtra, nó cũng được phân tích thành ảnh hưởng của nhân tố  
giá và nhân tố lượng như đốivớichiphí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công  
trực tiếp.  
Ảnh hưởng của nhân tố giá đến biến phí sản xuất chung thường do sự thay đổi  
của các mức chiphíđược xemlà biến phí sản xuất chung. Các mức này thay đổithường  
do nhiều nguyên nhân như: đơn giá mua vật tư gián tiếp cũng như các chi phí thu mua  
thay đổi,sự biến động giá cả chung của thị trường, nhà nước thay đổimức lương,…Nếu  
biến phí sản xuất chung được xây dựng chung cho nhiều yếu tố chi phí theo mức hoạt  
động thìảnh hưởng của nhân tố giá được xác định:  
Ảnh hưởng của  
giá đến biến phí  
SXC  
Đơn giá biến  
phí sản xuất  
chung thực tế  
Đơn giá biến  
phí sản xuất  
chung dự toán  
Mức độ hoạt  
động thực tế  
=
-
x
Nếu kết quả tính toán là âmcó thể dẫn đến một kết luận tốt thuận lợi liên quan  
đến công tác quản lý chi phí và giảmgiá thành tạidoanh nghiệp. Ngược lại, kết quả  
dương là ảnh hưởng không tốt, do vậy phải kiểm tra các bộ phận có liên quan như bộ  
phận thu mua, cung ứng, bộ phận quản lý, .v.v.  
Ảnh hưởng của lượng (mức độ hoạt động) đến biến động của biến phísản xuất  
chung được xác định:  
Ảnh hưởng của  
lượng đến biến  
phí SXC  
Mức độ  
hoạt động  
thực tế  
Mức độ  
hoạt động  
dự toán  
Đơn giá biến  
phíSXC dự  
toán  
=
-
x
Ảnh hưởng của nhân tố lượng có thể do các nguyên nhân, như tình hình thay  
đổi sản xuất theo nhu cầu kinh doanh của doanh nghiệp, điều kiện trang thiết bịkhông  
-122-  
phù hợp phải giảmsản lượng sản xuất hoặc dẫn đến năng suất máy móc thiết bịgiảm  
vv.  
b. Kiểm soátđịnh phí sản xuất chung  
Định phísản xuất chung là các khoản chi phí phục vụ và quản lý sản xuất,  
thường không thay đổi theo sự biến thiên của mức độ hoạt động trong phạm viphù  
hợp. Chẳng hạn: tiền lương bộ phận quản lý phân xưởng trả theo thờigian, chi phí bảo  
hiểm, tiền thuê mặt bằng, khấu hao tài sản cố định vv...là những chi phí không thay đổi  
theo quimô sản xuất trong phạm vi hoạt động. Biến động định phísản xuất chung  
thường liên quan đến việc thay đổi cấu trúc sản xuất của doanh nghiệp hoặc do hiệu  
quả sử dụng năng lực sản xuất của doanh nghiệp ...  
Kiểm soát định phísản xuất chung nhằmđánh giá việc sử dụng năng lực tài sản  
cố định .  
Biến động định  
phí sản xuất  
chung  
Định phí sản  
xuất chung thực  
tế  
Định phí sản  
xuất chung theo  
dự toán  
=
-
Khi phân tích định phísản xuất chung, người ta cần xem xét định phí tùy ý, định  
phí bắt buộc cũng như định phí kiểmsoát được với định phíkhông kiểm soát được để  
xác định nguyên nhân, trách nhiệm cụ thể các bộ phận.  
Việc sử dụng kém hiệu quả năng lực sản xuất xảy ra khi công ty sản xuất thấp hơn  
dự toán đặt ra hoặc thấp hơn năng lực bình thường dẫn đến biến động không tốt.  
Ngược lại, việc sử dụng hiệu quả năng lực sản xuất khi công ty sản xuất vượt trội mức  
sản xuất dự toán (các điều kiện khác không đổi).  
5.3.6. Kiểm soátchi phí bán hàng, chi phí quản lý  
Chi phí bán hàng là những chi phí phục vụ cho công tác tiêu thụ, công tác  
marketing của doanh nghiệp; còn chi phí quản lý doanh nghiệp là các chiphíquản lý  
hành chính và các chiphíchung khác của toàn doanh nghiệp. Tương tự kiểmsoát chi  
phí sản xuất chung, biến động của chi phí bán hàng và chi phí quản lý là do sự biến  
động của cả biến phí và định phí.  
Đối với biến phí bán hàngvà quản lýdoanhnghiệp: để công tác kiểmsoát thực sự có  
ý nghĩa thì việc kiểmsoát loạichiphí này cần tiến hành theo từng khoản mục chi phí cụ  
thể, theo từng nơi phát sinh chi phí.Điều này vừa làmrõ trách nhiệm của từng trung tâm  
chi phí có liên quan đến hoạt động bán hàng và quản lý, vừa làmrõ biến động cá biệt  
-123-  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 85 trang yennguyen 19581 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình Kế toán quản trị (Phần 2)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiao_trinh_ke_toan_quan_tri_phan_2.pdf