Tiếp cận hệ thống thông tin kế toán theo chu trình: Góc nhìn từ thực tiễn hoạt động kinh doanh tại một số công ty xăng dầu khu vực miền Trung

Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
TIẾP CẬN HỆ THỐNG THÔNG TIN KẾ TOÁN THEO CHU TRÌNH:  
GÓC NHÌN TỪ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI MỘT SỐ  
CÔNG TY XĂNG DẦU KHU VỰC MIỀN TRUNG  
Trần Thị Phương Thảo  
Tóm tắt  
Tiếp cận hệ thống thông tin kế toán theo chu trình là cách tiếp cận hướng đến các đối tượng sử dụng thông  
tin kế toán. Cách tiếp cận mới này có ý nghĩa to lớn trong tổ chức hệ thống thông tin kế toán phù hợp với  
điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt khi các tổ chức có ứng dụng hệ thống hoạch định nguồn  
lực doanh nghiệp (Enterprise Resource Planning - ERP). Nhận thức đúng bản chất của hệ thống thông tin  
kế toán theo chu trình để tổ chức hệ thống thông tin kế toán hiệu quả, cung cấp thông tin hữu ích cho hoạt  
động quản lý là hết sức quan trọng. Bài báo sử dụng phương pháp nghiên cứu lý thuyết để tổng hợp và hệ  
thống hóa các nghiên cứu trong và ngoài nước về cách tiếp cận hệ thống thông tin kế toán theo chu trình.  
Trên nền tảng lý thuyết đó, tác giả sử dụng phương pháp khảo sát thực tế tại một số công ty xăng dầu khu  
vực Miền Trung để đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống thông tin kế toán theo  
chu trình tại những công ty trên.  
Từ khóa: Hệ thống thông tin kế toán, Tiếp cận theo chu trình.  
THE CYCLICAL APPROACH TO ACCOUNTING INFORMATION  
SYSTEMS: PRACTICAL VIEW OF BUSINESS ACTIVITIES IN  
SOME PETROLEUM COMPANIES IN THE CENTRAL REGION  
Abstract  
The cyclical approach to accounting information systems is an approach targeting those who use  
accounting information. This new approach has great significance in the organization of accounting  
information systems in terms of applying information technology, especially when Enterprise Resource  
Planning (ERP) is applied. It is very important to be aware of the true nature of the cyclical accounting  
information system in order to effectively organize the accounting information system and to provide  
useful information for management activities. Theoretical research method is used to synthesize and  
systematize domestic and foreign studies on the cyclical approach to accounting information systems. On  
that theoretical basis, the author uses the survey method at some petroleum companies in the Central  
region to assess the current situation and offer solutions to improve the cyclical accounting information  
systems for these companies.  
Key words: Accounting information system, cyclical approach.  
JEL classification: G; G3  
của từng hướng tiếp cận để đưa ra định hướng tổ  
chức HTTTKT phù hợp cho doanh nghiệp. Các  
cách tiếp cận hiện tại HTTTKT gồm cách tiếp cận  
hướng đến đối tượng kế toán, cách tiếp cận theo  
chu trình, cách tiếp cận theo hướng tổ chức công  
tác kế toán và bộ máy kế toán, cách tiếp cận  
HTTTKT với tư cách là một hệ thống thông tin.  
Trong những năm gần đây, đã có nhiều  
nghiên cứu tiếp cận HTTTKT theo chu trình, cách  
tiếp cận này hướng đến các đối tượng sử dụng  
thông tin kế toán trên cơ sở xác định rõ từng loại  
thông tin kế toán cần thiết cho ai, cho bộ phận  
chức năng nào trong một chu trình kinh doanh để  
tổ chức ghi nhận, theo dõi báo cáo hoặc phân  
quyền truy cập khai thác dữ liệu đó một cách  
nhanh chóng và chính xác. Theo đó, sự phối hợp  
giữa các phòng ban, bộ phận trong doanh nghiệp  
diễn ra nhịp nhàng, đồng bộ theo một chu trình  
chuẩn, khác với tổ chức HTTTKT theo từng phần  
hành, theo dõi và cung cấp thông tin theo từng đối  
1. Đặt vấn đề  
Hệ thống thông tin kế toán (HTTTKT) là một  
hệ thống thu thập, xử lý, tổng hợp và lưu trữ dữ  
liệu nhằm cung cấp thông tin kế toán hữu ích phục  
vụ cho việc lập kế hoạch, kiểm soát, phối hợp và  
phân tích và ra quyết định. Tổ chức HTTTKT hiệu  
quả, phát huy đầy đủ vai trò của hệ thống này  
trong điều kiện ứng dụng công nghệ thông tin  
nhằm tạo ra những thông tin kế toán hữu ích là  
một trong những mối quan tâm hàng đầu của bất  
kỳ doanh nghiệp nào.  
HTTTKT là một hệ thống bao gồm nhiều yếu  
tố cấu thành, mỗi yếu tố có tính độc lập tương đối  
nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Vì vậy,  
tiếp cận tổng thể khi nghiên cứu về HTTTKT là cần  
thiết, nhằm hiểu rõ mối liên giữa các yếu tố cấu  
thành, tổ chức phối hợp tốt các hoạt động chức  
năng trong hệ thống. Tuy nhiên, tùy thuộc vào mục  
tiêu nghiên cứu có thể tiếp cận HTTTKT dưới  
nhiều góc độ khác nhau, nhận diện tầm quan trọng  
84  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
tượng kế toán. Điều này hoàn toàn phù hợp khi tổ  
chức HTTTKT trong điều kiện ứng dụng hệ thống  
hoạch định nguồn lực doanh nghiệp (ERP). Hơn  
nữa, HTTTKT trong điều kiện ứng dụng ERP đòi  
hỏi các bước công việc phải được thực hiện theo  
qui trình đặt ra, các dữ liệu của các bộ phận chức  
năng và dữ liệu kế toán phải đồng nhất. Khi đó,  
thông tin kế toán không nhất thiết cập nhật hoàn  
toàn bởi bộ phận kế toán mà có thể được tích hợp  
từ các bộ phận liên quan khác. Như vậy, khi ứng  
dụng ERP, nhiệm vụ của kế toán là kiểm tra, đối  
chiếu và khai thác dữ liệu được cập nhật từ bộ  
phận khác để tiếp tục xử lý chứ không phải nhập  
lại chứng từ gốc do bộ phận khác chuyển đến. Vì  
vậy, tổ chức HTTTKT theo chu trình là cần thiết  
để tăng cường trao đổi thông tin giữa các phần  
hành kế toán cũng như giữa mỗi phần hành kế toán  
với các bộ phận chức năng khác của doanh  
nghiệp; và có ý nghĩa quan trọng trong việc ứng  
dụng ERP tại doanh nghiệp.  
Một số công ty xăng dầu khu vực Miền Trung  
– những công ty mà tác giả đã khảo sát thực tế, là  
những đơn vị kinh doanh bán buôn, bán lẻ xăng  
dầu và kinh doanh vận tải xăng dầu bằng đường  
bộ, với 51% vốn góp công ty chịu sự chi phối chủ  
yếu của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. Cơ cấu tổ  
chức của những công ty trên phức tạp gồm nhiều  
chi nhánh, hệ thống cửa hàng xăng dầu nằm phân  
tán trên nhiều địa bàn, thêm vào đó với sự biến  
động phức tạp của giá xăng dầu hiện nay thì yêu  
cầu trao đổi chia sẻ thông tin giữa kế toán tại công  
ty với các chi nhánh, cửa hàng cũng như các  
phòng ban nhanh chóng, kịp thời, chuẩn xác là cấp  
thiết. Tuy nhiên, việc tổ chức hệ thống thông tin  
kế toán tại các công ty trên vẫn còn nhiều bất cập,  
vướng mắc. Để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông  
tin và kiểm soát hiệu quả hoạt động, cần có một  
phần mềm phù hợp có khả năng kết nối mọi  
nghiệp vụ, bộ phận trong doanh nghiệp là vấn đề  
mà ban lãnh đạo các công ty quan tâm. Giải pháp  
ERP là ưu tiên hàng đầu để giải quyết bài toán  
trên, giúp doanh nghiệp phá vỡ được tình trạng  
“nghẽn mạch” giữa các bộ phận trong quá trình  
tương tác và tiếp cận thông tin.  
những công việc đó chính là hoàn thiện HTTTKT  
để phù hợp với việc ứng dụng ERP.  
2. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Hiện nay , đã có nhiều tác giả nghiên cứu tiếp  
cận HTTTKT theo chu trình, điều này xuất phát  
từ việc nhìn nhận trong quá trình hoạt động của  
một tổ chức có những công việc được lặp đi lặp  
lại một cách thường xuyên, liên tục theo một  
trình tự nhất định qua nhiều khâu, nhiều giai đoạn  
do nhiều bộ phận, nhiều cá nhân tham gia thực  
hiện. Chẳng hạn, trong doanh nghiệp sản xuất, có  
thể tổ chức các hoạt động thành bốn chu trình cơ  
bản là chu trình bán hàng và thu tiền, chu trình  
mua hàng và thanh toán, chu trình sản xuất và tài  
chính (Romney và Steinbart, 2012;Wikinson và  
Cerullo, 1997). Nghiên cứu này là cơ sở để tác giả  
hệ thống lý thuyết các chu trình trong cách tổ chức  
HTTTKT theo chu trình.  
Trong điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay,  
nhu cầu thông tin và quy mô hoạt động của doanh  
nghiệp không ngừng gia tăng. Sự phát triển này  
cùng với áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt và  
yêu cầu quản lý liên tục thay đổi đã đặt ra những  
thách thức không nhỏ cho HTTTKT hiện hành  
chưa kịp thích ứng của doanh nghiệp. Bên cạnh  
đó việc sử dụng phần mềm kế toán riêng lẻ, độc  
lập với các phần mềm quản lý các bộ phận chức  
năng chỉ đáp ứng được yêu cầu thông tin trong bộ  
phận kế toán, còn khi cung cấp thông tin cho các  
bộ phận khác thường thực hiện thủ công, hiệu quả  
không cao. Vì vậy giải pháp ERP giúp đảm bảo  
các hoạt động được diễn ra nhịp nhàng, nâng cao  
hiệu quả khai thác và sử dụng thông tin giữa các  
bộ phận. Nhưng khi ứng dụng công nghệ thông tin  
nói chung và ERP nói riêng thì cần phải thay đổi  
cách tiếp cận tổ chức HTTTKT, và tiếp cận  
HTTTKT theo chu trình là cách tiếp cận phù hợp.  
Điều này được phân tích rõ trong nghiên cứu  
“Tiếp cận theo chu trình – Cơ sở năng cao hiệu  
quả của hệ thống thông tin kế toán” của tác giả  
Nguyễn Mạnh Toàn (2011). Nghiên cứu này tổ  
chức các hoạt động thành bốn chu trình cơ bản là  
chu trình bán hàng và thu tiền, chu trình mua hàng  
và thanh toán, chu trình sản xuất và chu trình tài  
chính. Nghiên cứu này là cơ sở để tác giả tổ chức  
các chu trình và định hướng hoàn thiện HTTTKT  
tại các đơn vị khảo sát.  
Hơn thế nữa Tập đoàn xăng dầu Việt Nam đã  
áp dụng thành công hệ thống quản trị nguồn lực  
doanh nghiệp ERP, với điều kiện này, bắt đầu từ  
năm 2018 Tập đoàn đã có lộ trình triển khai ERP  
cho các công ty con, đơn vị trực thuộc. Nằm trong  
xu thế này, việc ứng dụng hệ thống ERP là một  
định hướng không xa và các công ty đã có kế hoạch  
triển khai trong thời gian tới. Nhưng trước tiên để  
vận hành một hệ thống hiện đại thì các công ty cần  
có cuộc cải cách từ giai đoạn ban đầu và một trong  
Qua các nghiên cứu trên, tác giả hệ thống hóa  
các lý thuyết về HTTTKT theo chu trình nhằm  
nâng cao hiểu biết về bản chất cách tiếp cận trên.  
Đồng thời vì mỗi loại hình doanh nghiệp có đặc  
thù kinh doanh riêng, vì vậy tác giả vận dụng vào  
thực tiễn hoạt động kinh doanh của một số công  
ty xăng dầu khu vực Miền Trung để tìm hiểu thực  
85  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
trạng HTTTKT, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện  
HTTTKT theo chu trình tại các công ty trên.  
3. Những nội dung cơ bản về tổ chức hệ thống  
thông tin kế theo chu trình  
Mỗi doanh nghiệp có thể khác nhau về ngành  
nghề, lĩnh vực kinh doanh tuy nhiên hoạt động chủ  
yếu trong doanh nghiệp đều tổ chức thành bốn chu  
trình cơ bản gồm chu trình doanh thu, chu trình cung  
ứng, chu trình chuyển đổi và chu trình tài chính.  
* Chu trình doanh thu  
Hai chức năng chính của chu trình doanh thu  
là bán hàng và thu tiền. Chu trình này liên quan  
đến bốn phân hệ: nhận đặt hàng, gửi hàng, lập hóa  
đơn và thu tiền. Mục tiêu chủ yếu của chu trình  
doanh thu là phối hợp nhịp nhàng và hiệu quả giữa  
các bộ phận trong việc bán hàng, theo dõi thanh  
toán và thu tiền khách hàng. Trong chu trình  
doanh thu liên quan đến mối quan hệ mật thiết  
giữa hệ thống thông tin bán hàng thuộc phòng  
kinh doanh và hệ thống thông tin kế toán thuộc  
phòng kế toán. Để thực hiện đồng bộ các giai đoạn  
trong chu trình doanh thu đòi hỏi phải có sự phối  
hợp đồng bộ giữa bộ phận bán hàng, giao hàng,  
thủ kho, kế toán hàng tồn kho, kế toán thanh toán  
và kế toán tổng hợp. Nếu có sự gián đoạn hoặc  
không đồng bộ sẽ dẫn đến sai sót trong việc ghi  
nhận, phản ánh doanh thu và thu tiền gây mất thời  
gian và thất thoát trong quá trình thống kê doanh  
thu, số tiền thu từ việc bán hàng cũng như công nợ  
khách hàng.  
được xem như chiếc cầu nối giữa chu trình cung  
ứng và chu trình doanh thu. Chức năng chính của  
chu trình chuyển đổi là hạch toán chi phí sản xuất  
trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.  
Trong doanh nghiệp thương mại chu trình chuyển  
đổi tương đối đơn giản so với doanh nghiệp sản  
xuất. Hệ thống kế toán chi phí trong quá trình tiêu  
thụ hàng hóa: chi phí giá vốn hàng bán, chi phí  
lương nhân viên, khấu hao tài sản cố định, kế toán  
thanh toán, kế toán hàng tồn kho, thủ kho và các  
chi phí bằng tiền khác…Để thực hiện tốt các chức  
năng trên đòi hỏi các bộ phận có liên quan như bộ  
phận nhân sự, kế toán tài sản cố định, kế toán  
thanh toán, kế toán hàng tồn kho và các bộ phận  
khác có liên quan khác phải phối hợp chặt chẽ.  
* Chu trình tài chính  
Chức năng của chu trình tài chính là huy  
động vốn và sử dụng vốn có hiệu quả. Vì vậy, hệ  
thống thông tin kế toán trong chu trình tài chính  
có nhiệm vụ ghi nhận tất cả các hoạt động liên  
quan đến việc huy động vốn cũng như theo dõi,  
cung cấp thông tin về tình hình và sự biến động  
của từng loại tài sản, phục vụ công tác quản lý,  
bảo vệ và sử dụng hiệu quả tài sản của doanh  
nghiệp. Các hoạt động trong chu trình tài chính  
bao gồm: huy động vốn, đầu tư xây dựng, mua  
sắm tài sản cố định và hệ thống kế toán tổng hợp  
– lập báo cáo tài chính. Để thực hiện tốt chu trình  
tài chính, đòi hỏi phải loại trừ được các bút toán  
trùng trong công tác kế toán, tính toán và cập nhật  
số dư các tài khoản đồng thời kết chuyển dữ liệu  
trên tài khoản tổng hợp. Xử lý tốt các vấn đề đó  
chu trình tài chính trong doanh nghiệp sẽ phát huy  
hiệu quả tối đa.  
* Chu trình cung ứng  
Chức năng chính của chu trình cung ứng là  
mua hàng và thanh toán tiền cho nhà cung cấp.  
Chu trình này liên quan đến các phân hệ : mua  
hàng, nhận hàng, theo dõi thanh toán và chi tiền.  
Mục tiêu của chu trình là tạo điều kiện thuận lợi  
cho việc mua hàng và thanh toán cho nhà cung cấp  
khi phát sinh nhu cầu về nguyên liệu vật liệu, hàng  
hóa và dịch vụ. Chức năng của tài chính kế toán  
trong chu trình mua hàng và thanh toán là tham  
gia quản lý và kiểm soát hàng tồn kho, hạch toán  
chi tiết và tổng hợp hàng tồn kho, theo dõi các  
khoản phải trả nhà cung cấp, cung cấp thông tin  
liên quan đến quá trình mua hàng và thanh toán.  
Yêu cầu đặt ra đối với hoạt động cung ứng là phải  
cung ứng đầy đủ và kịp thời tất cả vật tư, hàng  
hóa, dịch vụ để đảm bảo hoạt động của doanh  
nghiệp không bị gián đoạn, đồng thời không để  
tồn kho quá mức cần thiết gây ứ đọng vốn và làm  
tăng các khoản chi phí bảo quản.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Bài viết sử dụng tổng hợp các phương pháp  
nghiên cứu:  
- Phương pháp nghiên cứu tại bàn (desk  
study): Trên cơ sở dữ liệu nguồn (dữ liệu thu thập  
từ những tài liệu có liên quan) và các dữ liệu thứ  
cấp (dữ liệu đã được xử lý qua các công trình  
nghiên cứu, bài viết…), tác giả rút ra một số vấn  
đề lý luận liên quan đến nội dung nghiên cứu của  
bài viết.  
- Phương pháp phân tích, đánh giá thực trạng:  
dựa trên kết quả khảo sát thực tế bằng hình thức  
phỏng vấn chuyên sâu để đưa ra những quan điểm,  
đánh giá và đề xuất các giải pháp thực thi. Tác giả  
tiến hành khảo sát tại 01 công ty xăng dầu trên địa  
bàn Tỉnh Quảng Ngãi và 02 công ty xăng dầu tại  
Thành phố Đà Nẵng.  
* Chu trình chuyển đổi  
Chu trình chuyển đổi là quá trình biến đổi các  
yếu tố đầu vào trở thành đầu ra của doanh nghiệp  
86  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
Nội dung khảo sát tổ chức HTTTKT theo chu trình  
Tìm hiểu thực trạng tổ chức HTTTKT tại doanh nghiệp, nhu cầu sử dụng thông  
Mục tiêu khảo sát  
Đối tượng khảo sát  
tin kế toán của các bộ phận chức năng, cũng như sự cần thiết cung cấp thông tin  
kế toán xuất phát từ nhu cầu này.  
Các cấp quản lý các bộ phận: Phòng kinh doanh kỹ thuật, Phòng Tổ chức tổng  
hợp, Các cửa hàng xăng dầu, Xí nghiệp vận tải và nhân viên Phòng Kế toán – Tài  
chính.  
Phương pháp phỏng vấn chuyên sâu, trực tiếp được thực hiện vào thời điểm thích  
hợp với người tham gia phỏng vấn.  
Trong quá trình phỏng vấn tác giả thực hiện ghi chép nội dung phỏng vấn và tổng  
hợp kết quả phỏng vấn  
- Đối với mỗi chu trình của hoạt động kinh doanh, với công việc được phân công  
anh/chị hãy mô tả nhiệm vụ của mình trong chu trình đó? Sự kết nối giữa các bộ  
phận liên quan đến chu trình đó như thế nào?  
- Đối với bộ phận, công việc của mình, Anh/chị hãy cho biết nhu cầu thông tin  
của bộ phận mình là gì và Anh/chị có nhu cầu sử dụng thông tin kế toán hay  
không? (cần thông tin kế toán gì và mục đích sử dụng thông tin đó).  
- Anh/chị có ý kiến như thế nào về hệ thống thông tin kế toán và thực trạng cung  
cấp thông tin kế toán hiện nay?  
Phương pháp khảo sát  
Câu hỏi khảo sát  
Hoạt động kinh doanh chính của một số công  
ty xăng dầu khu vực Miền Trung là hoạt động kinh  
doanh xăng dầu, trong đó chu trình doanh thu và  
chu trình cung ứng là hai chu trình chính. Thêm  
vào đó, từ kết quả khảo sát tác giả nhận thấy tổ  
chức thông tin theo chu trình doanh thu và chu  
trình cung ứng tại các doanh nghiệp còn nhiều tồn  
tại. Vì vậy, bài viết tập trung phân tích hạn chế và  
đề xuất định hướng hoàn thiện hai chu trình trên.  
5. Kết quả khảo sát và thảo luận  
toán nội bộ) do nhà cung cấp xuất, sau đó và  
chuyển hàng đến địa điểm người mua yêu cầu,  
khách hàng xác nhận nhận hàng trực tiếp trên hóa  
đơn. Lái xe chuyển hóa đơn GTGT (liên 2) về  
phòng kinh doanh nhập liệu vào máy, liên 3 làm  
căn cứ tính cước vận chuyển nội bộ. Phòng kinh  
doanh sẽ xuất hóa đơn cho khách hàng và cập nhật  
vào phần mềm, định kỳ dữ liệu hàng hóa xuất bán  
sẽ được chuyển về phòng kế toán.  
* Đối với bán lẻ  
Công ty có hai phương thức bán lẻ cho khách  
hàng trực tiếp tại cửa hàng xăng dầu : bán lẻ trực  
tiếp cho người tiêu dùng, thu tiền ngay và bán lẻ  
công nợ cho khách hàng mua nhiều lần, thu tiền  
một lần theo giá bán trên hợp đồng đã ký kết. Cửa  
hàng thực hiện bán, xuất hóa đơn cho khách hàng,  
tổng hợp giao dịch rồi gửi về văn phòng công ty  
hạch toán. Đối với khách hàng mua lẻ không lấy  
hóa đơn thì các cửa hàng đến cuối ngày dựa trên  
sổ giao ca viết hóa đơn cho lượng bán còn lại sau  
khi trừ lượng bán đã xuất hóa đơn. Cuối tháng,  
cửa hàng gửi các báo cáo (Cân đối tiền, Báo cáo  
công nợ…) về Công ty để kiểm tra đối chiếu.  
Do đặc trưng của xăng dầu dễ bay hơi, trong  
quá trình vận chuyển cũng như xuất, nhập xăng tại  
bồn bể nên việc theo dõi hao hụt được thực hiện  
thường xuyên, vào cuối tháng. Kế toán tại cửa  
hàng xăng dầu dựa vào báo cáo nhập xuất cuối  
tháng và tỷ lệ hao hụt xăng dầu do công ty qui định  
để xác định lượng hao hụt xăng dầu trong tháng.  
Ngoài dữ liệu chi tiết bán hàng thì mỗi cửa  
hàng xăng dầu tự theo dõi trên phần mềm ACESS,  
cuối tháng chuyển dữ liệu một lần về phòng kế  
toán kiểm tra, đối chiếu.  
5.1. Đối với chu trình doanh thu  
* Đối với bán buôn  
Khách hàng của công ty là các đơn vị có nhu  
cầu mua xăng dầu chính với khối lượng lớn. Công  
ty cung cấp hàng hóa và thu tiền như hợp đồng đã  
ký kết giữa hai bên. Việc giao hàng cho khách được  
thực hiện theo phương thức giao hàng thẳng, giá  
bán áp dụng cho từng khách hàng. Theo phương  
thức này công ty mua hàng của các công ty thành  
viên trực thuộc tập đoàn như: Công ty xăng dầu khu  
vực V,Công ty Xăng dầu Thừa Thiên Huế, Quảng  
Trị…sau đó tiến hành bán thẳng cho khách hàng  
mà không cần nhập qua kho công ty, chuyển thẳng  
đến địa điểm theo yêu cầu của khách hàng. Tất cả  
các công việc từ nhận đơn đặt hàng đến khi hợp  
đồng kinh tế được ký kết và triển khai do phòng  
kinh doanh đảm nhận. Việc phê chuẩn các điều  
kiện thanh toán sẽ phụ thuộc vào thông tin công nợ  
do phòng kế toán cung cấp. Căn cứ vào các thông  
tin trên hợp đồng như thời gian giao hàng, địa điểm  
giao hàng, chủng loại hàng hóa, Phòng kinh doanh  
thông báo Xí nghiệp vận tải điều lái xe đi nhận và  
giao hàng. Lái xe đến nhận hàng kèm Hóa đơn  
GTGT (liên 2 giao cho người mua, liên 3 thanh  
87  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
* Nhận xét về tổ chức thông tin kế toán trong  
chu trình doanh thu  
* Quy trình mua vật tư, phụ tùng, săm lốp,  
bình điện và thanh toán  
Thông tin danh mục như khách hàng, nhà  
cung cấp,…không được khai báo ở mức chung  
toàn công ty, mà được khai báo riêng theo từng  
đơn vị dẫn đến khó khăn trong việc tổng hợp  
thông tin chung. Ví dụ việc xác định công nợ của  
1 khách hàng có giao dịch với tất cả các cửa hàng  
xăng dầu thuộc công ty phải tổng hợp thủ công,  
không quản lý được hạn mức công nợ khách hàng.  
Việc xét duyệt đơn hàng do phòng kinh  
doanh thực hiện, nếu muốn biết công nợ khách  
hàng nào đó tại một thời điểm bất kỳ thì phòng  
kinh doanh phải đợi thông tin phòng kế toán báo  
gây chậm trễ, ảnh hưởng đến việc đánh giá và  
phản hồi thông tin lại cho khách hàng.  
Quá trình trao đổi thông tin hàng hóa và tiền  
giữa cửa hàng xăng dầu và công ty bị chậm trễ và  
chưa đầy đủ. Văn phòng chỉ theo dõi hàng hóa,  
tiền hàng trên sổ sách, khi muốn biết tiền hàng,  
hàng hóa thực tế tại các cửa hàng thì phải kiểm kê.  
Xăng dầu nhập, xuất do phòng kinh doanh, cửa  
hàng xăng dầu theo dõi nhập liệu riêng, đến cuối  
tháng dữ liệu mới chuyển về phòng kế toán. Hiện  
nay, chính sách giá xăng dầu thay đổi theo giá thế  
giới, 15 ngày sẽ điều chỉnh tăng giảm, chỉ cần thay  
đổi ngày xuất bán trên hóa đơn tại các thời điểm  
giá xăng dầu tăng giảm liên tục, gây thất thu cho  
công ty. Thêm vào đó, tại các cửa hàng xăng dầu  
các vòi bơm chưa tích hợp với phần mềm, việc  
kiểm kê/giao nhận giữa các ca bán hàng tại cửa  
hàng thực hiện thủ công. Mặc khác, lúc nhập hàng  
từ lái xe, cửa hàng ký xác nhận lượng hàng trực  
tiếp trên hóa đơn GTGT của nhà cung cấp, sau đó  
theo dõi thủ công vào sổ riêng, chứ không có biên  
bản giao nhận làm căn cứ lập phiếu nhập kho.  
Tại cửa hàng xăng dầu, chỉ phát sinh hao hụt  
dự trữ, công ty có quy định về định mức hao hụt  
cho từng loại hàng, tuy nhiên hàng tháng cửa hàng  
tự tính thủ công và báo cáo. Vì vậy, tại văn phòng  
công ty, kế toán thương mại phải tính toán một lần  
nữa lượng hao hụt để ghi nhận giá vốn  
Khi bộ phận có yêu cầu đề nghị mua vật tư,  
phụ tùng…Cán bộ Phòng Kinh doanh kỹ thuạt lập  
tờ trình, trình lên lãnh đạo công ty xét duyệt. Sau  
khi xét duyệt, nhân viên Phòng kinh doanh sẽ tiến  
hành khảo giá, ký hợp đồng và đặt hàng. Nếu  
trường hợp tạm ứng trước cho người bán, hợp  
đồng và phiếu đề nghị tạm ứng được chuyển về  
phòng kế toán để thanh toán. Sau khi hàng về,  
nhân viên mua hàng nhận và bàn giao cho bộ phận  
đề xuất. Sau đó chuyển toàn bộ chứng từ lên  
phòng kế toán. Quy trình mua hàng trên thường  
áp dụng cho các loại vật tư, phụ tùng giá trị nhỏ,  
không thường xuyên. Đối với vật tư là xăm lốp,  
bình điện, đầu năm, nhân viên Phòng kỹ thuật đi  
khảo giá, ký hợp đồng với nhà cung cấp. Hàng  
tháng, dựa vào định mức, số km đã chạy thực tế,  
cán bộ kỹ thuật tự cân đối tiến hành đặt xăm lốp,  
bình điện. Việc theo dõi nhập xuất được giao cho  
một nhân viên chuyên trách theo dõi dựa trên định  
mức từng xe, hàng tháng, nhân viên tổng hợp  
chứng từ xuất xăm lốp từng loại xe, hóa đơn mua  
vào chuyển về phòng kế toán hạch toán.  
* Nhận xét về tổ chức thông tin kế toán trong  
chu trình cung ứng  
Trong quy trình mua xăng dầu và thanh toán,  
phòng kế toán cũng không theo dõi tức thời công  
nợ phải trả hiện tại của nhà cung cấp mà đợi dữ  
liệu phòng kinh doanh cung cấp vào cuối tháng.  
Vì vậy, dễ xảy ra trường hợp chuyển thừa tiền cho  
nhà cung cấp.  
Việc mua vật tư, cấp vật tư chưa được kiểm  
soát chặt chẽ, hầu như khoán hết việc mua vật tư  
cho cán bộ chuyên trách phòng kinh doanh kỹ  
thuật, dữ liệu cuối tháng mới chuyển về phòng kế  
toán. Do đó bộ phận kế toán không thể theo dõi  
kịp thời lượng săm lốp mua vào, xuất cấp cho lái  
xe có đúng thực tế hay không và cũng gặp khó  
khăn trong việc quản lý chi phí phát sinh. Dữ liệu  
giữa các phòng ban chồng chéo, không hiệu quả  
và công việc phòng kế toán dồn về cuối tháng.  
Đánh giá chung: Các phần mềm ứng dụng  
tại văn phòng công ty và các cửa hàng xăng dầu  
triển khai từ lâu, đều lạc hậu. Phần mềm kế toán  
công ty đang sử dụng là phần mềm offline, cài đặt  
riêng cho từng đơn vị, cấu trúc dữ liệu riêng, theo  
định kỳ cuối tháng mới chuyển dữ liệu về văn  
phòng công ty tổng hợp. Vì vậy, cơ sở dữ liệu  
chưa đồng nhất toàn công ty mà rời rạc theo từng  
đơn vị, văn phòng công ty không thể sử dụng  
thông tin của các đơn vị trực thuộc một cách  
nhanh chóng, chính xác. Ngược lại, đơn vị cấp  
5.2. Đối với chu trình cung ứng  
*Quytrìnhmuahànghóaxăngdầuvàthanhtoán  
Đầu năm, công ty sẽ ký hợp đồng nguyên tắc  
với nhà cung cấp về việc mua bán xăng dầu. Căn  
cứ vào khả năng kinh doanh của từng cửa hàng  
xăng dầu hoặc có đơn hàng bán buôn, phòng kinh  
doanh lập yêu cầu mua hàng gửi các nhà cung cấp.  
Lái xe tới kho tới kho lấy hàng (nhận Hóa đơn  
GTGT), chở hàng về cửa hàng hặc giao thẳng cho  
khách hàng (xác nhận giao hàng). Phòng kinh  
doanh nhập liệu hàng mua vào, cân đối báo số tiền  
cần phải thanh toán báo cho phòng kế toán.  
88  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
dưới cũng chưa truy cập được các dữ liệu liên  
quan đến văn phòng công ty.  
luồng quy trình từ hợp đồng, đặt hàng xuất hàng,  
hóa đơn…dữ liệu được tích hợp với kế toán công  
nợ phải thu nhằm quản lý giá bán buôn, đơn đặt  
hàng, khách hàng.  
Qua khảo sát, tác giả cho rằng HTTTKT theo  
chu trình tại một số công ty xăng dầu khu vực  
Miền Trung vẫn chưa hoàn chỉnh để sẵn sàng ứng  
dụng ERP. Vì vậy, chuẩn hóa qui trình kinh doanh  
là công việc trước hết để hoàn thiện HTTTKT tại  
các công ty trên.  
* Quy trình kiểm soát tín dụng  
Đối với quy trình kiểm soát tín dụng trong  
quản lý bán hàng, trong quá trình thực hiện đàm  
phán ký kết hợp đồng với khách hàng, phòng  
nghiệp vụ kết hợp với Phòng kế toán xác định hạn  
mức tín dụng cho khách hàng. Sau khi ký hợp  
đồng, phòng nghiệp vụ khai báo hạn mức tín dụng  
vào hệ thống. Khác với hệ thống hiện nay, công ty  
theo dõi riêng, phòng nghiệp vụ đợi thông tin từ  
phòng kế toán báo về để xét duyệt.  
Tác giả kiến nghị đối với quy trình khai báo  
dữ liệu khách hàng, thông tin khách hàng nên  
được quản lý tập trung bằng cách khi có yêu cầu  
tạo mới khách hàng, toàn bộ thông tin sẽ được đưa  
về văn phòng công ty để khai báo. Trường hợp có  
tồn tại trên hệ thống thì tiếp tục thực hiện các  
nghiệp vụ như bình thường. Nếu không tồn tại, gửi  
thông tin khách hàng, hạn mức tín dụng theo mẫu  
về văn phòng công ty để tạo mới hoặc cập nhật  
thông tin nếu có thay đổi. Việc này đảm bảo tính  
chính xác của thông tin, tránh trùng lặp và dễ dàng  
quản lý.  
6. Kiến nghị  
6.1. Đối với chu trình doanh thu  
Tác giả đưa ra quy trình khai báo dữ liệu  
khách hàng và quy trình kiểm soát tín dụng nhằm  
quản lý tập trung thông tin và là cơ sở để chuẩn  
hóa quy trình doanh thu bán buôn xăng dầu  
* Quy trình bán buôn xăng dầu  
Tác giả đưa ra quy trình khai báo dữ liệu  
khách hàng và quy trình kiểm soát tín dụng nhằm  
quản lý tập trung thông tin và là cơ sở để chuẩn  
hóa quy trình doanh thu bán buôn xăng dầu  
* Qui trình khai báo dữ liệu khách hàng, hạn  
mức tín dụng  
Trong hoạt động bán buôn xăng dầu, tác giả  
kiến nghị thay vì phòng kinh doanh xuất hóa đơn  
GTGT như hiện nay chuyển cho phòng kế toán  
kiểm tra, xuất cho khách hàng bán buôn. Trong  
quy trình này, xác định rõ được trách nhiệm từng  
bộ phận, ghi nhận giao dịch xuất, bán hàng theo  
Bảng 1: Quy trình bán buôn xăng dầu  
Mô tả chi tiết  
Tên công  
Bộ phận  
việc  
thực hiện  
Đầu vào  
Thực hiện  
Đầu ra  
Đầu năm, Phòng kinh doanh phối hợp với các  
phòng có liên quan thực hiện đàm phán, ký kết  
hợp đồng, tùy theo từng khách hàng phân loại Hợp đồng  
hạn mức tín dụng.Trong hợp đồng đầy đủ các đã ký kết  
thông tin loại hàng, điều khoản thanh toán, địa  
điểm giao hàng…  
Phòng  
Kinh  
doanh kỹ  
thuật  
Ký kết hợp  
đồng  
Hợp đồng  
Tạo mã  
khách  
hàng/Khai  
báo dữ liệu  
Phòng  
Kinh  
doanh kỹ  
thuật  
Kiểm tra khách hàng đã có trên hệ thống hay  
chưa, nếu không thì tạo mẫu lấy thông tin để Mã khách  
Mẫu khai báo  
thông tin khách  
hàng  
khai báo khách hàng mới, hạn mức tín dung  
áp dụng  
hàng  
Phòng  
Kinh  
doanh kỹ  
thuật  
Khi khách hàng gửi yêu cầu giao hàng, tổ bán  
hàng tạo đơn đặt hàng tham chiếu từ hợp đồng  
đã ký. Các thông tin trên đơn đặt hàng như  
mặt hàng, số lượng, ngày giao hàng…  
Hệ thống sẽ kiểm tra hạn mức tín dụng của  
khách hàng dựa trên thông tin hợp đồng, dữ  
liệu công nợ cập nhật từ phòng kế toán. Nếu  
tín dụng vượt quá hạn mức thì hệ thống sẽ  
thông báo, gửi đến cấp thẩm quyền phê duyệt  
Cấp thẩm quyền phê duyệt đơn đặt hàng, các  
thông tin cập nhật bao gồm tờ trình, lý do phê  
duyệt…  
Nhận yêu cầu  
giao hàng từ  
khách hàng  
Đơn đặt hàng  
Phòng  
Kinh  
doanh kỹ  
thuật  
Kiểm tra tín  
dụng  
Cập nhật tờ  
trình và phê  
duyệt đơn  
hàng  
Phòng  
Kinh  
doanh kỹ  
thuật  
Đơn đặt  
hàng đã  
phê duyệt  
89  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
Bảng 2: Quy trình bán buôn xăng dầu  
Mô tả chi tiết  
Tên công  
Bộ phận  
thực hiện  
Phòng  
việc  
Đầu vào  
Thực hiện  
Đầu ra  
Căn cứ các đơn đặt hàng đã phê duyệt, Phòng Đơn đặt  
Đặt hàng với  
nhà cung cấp doanh kỹ  
Kinh  
kinh doanh đặt hàng với nhà cung cấp  
hàng gửi  
nhà cung  
cấp  
thuật  
Phòng  
kinh  
Điều động  
doanh, Xí  
Phòng kinh doanh gửi thông tin cho Xí nghiệp  
vận tải điều phối xe đến kho của nhà cung cấp,  
nhận hàng, chuyển thẳng đến khách hàng  
Xác nhận  
phương tiện  
Lệnh vận  
chuyển  
vận tải  
nghiệp  
vận tải  
Hóa đơn GTGT Lái xe giao hàng cho khách hàng, sau khi đã  
của nhà cung ký xác nhận đã nhận hàng vào lệnh vận  
cấp, Lệnh vận chuyển. Lái xe nộp lệnh vận chuyển, hóa đơn  
Giao và nhận  
Lái xe  
hàng  
chuyển có ký  
xác nhận nhận  
hàng  
GTGT về văn phòng công ty.  
Phòng tài  
Xuất hóa đơn chính kế  
toán  
Lệnh vận chuyển kèm xác nhận đã nhận hàng  
của khách hàng là cơ sở để kế toán xuất hóa  
đơn  
Hóa đơn  
GTGT  
Đối với khách hàng mới phải thanh toán trước  
khi giao hàng, còn đối với khách hàng truyền  
Phiếu thu/ Giấy thống thì tùy theo hạn mức tín dụng của từng  
Phòng tài  
chính kế  
Phiếu thu/  
Giấy báo  
có  
Thu tiền  
báo có  
khách hàng. Khi khách hàng thanh toán, kế  
toán công nợ căn cứ chứng từ khai báo vào hệ  
thống, ghi nhận giảm công nợ  
toán  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
* Quy trình bán lẻ xăng dầu  
phòng công ty quản lý kịp thời lượng hàng, công  
nợ khách hàng của từng cửa hàng. Sau khi chuẩn  
hóa từng khâu chi tiết, tác giả mô tả quy trình bán  
lẻ và thu tiền như sau:  
Tác giả hoàn thiện từng khâu nhập hàng, xuất  
hàng tại cửa hàng xăng dầu, là cơ sở để cửa hàng  
xăng dầu có chứng từ nhập xuất, đồng thời văn  
Bảng 3: Quy trình bán lẻ xăng dầu  
Mô tả chi tiết  
Bộ phận  
thực hiện  
Tên công việc  
Đầu vào  
Thực hiện  
Đầu ra  
Nhận yêu cầu mua  
hàng từ cửa hàng  
xăng dầu  
Cửa hàng xăng dầu yêu cầu mua hàng,  
các thông tin trên chứng từ gồm mặt  
hàng, số lượng, ngày giao…  
Phòng kinh doanh  
kỹ thuật  
Yêu cầu mua  
hàng  
Tổ bán hàng căn cứ vào yêu cầu mua  
hàng, tạo đơn đặt hàng. Các thông tin  
trên đơn đặt hàng bao gồm mặt hàng,  
số lượng, ngày giao…  
Phòng kinh doanh  
kỹ thuật  
Tạo đơn đặt hàng  
Đơn đặt hàng  
Phòng kinh doanh phối hợp phòng kế  
toán để theo dõi lượng hàng tồn, định  
mức của từng cửa hàng xăng dầu để  
xét duyệt đơn đặt hàng  
Phòng kinh doanh  
kỹ thuật/Phòng kế  
toán  
Đơn đặt  
hàng đã  
xét duyệt  
Phê duyệt đơn  
hàng  
Căn cứ các đơn đặt hàng đã phê duyệt,  
Đơn đặt  
Đặt hàng với nhà Phòng Kinh doanh  
Phòng kinh doanh đặt hàng với nhà hàng gửi  
cung cấp  
kỹ thuật  
cung cấp  
nhà cung  
cấp  
Phòng kinh doanh gửi thông tin cho Xí  
Xác nhận phương nghiệp vận tải điều phối xe đến kho Lệnh vận  
Phòng  
kinh  
Điều động vận tải doanh, Xí nghiệp  
vận tải  
tiện  
của nhà cung cấp, nhận hàng, chuyển  
thẳng đến khách hàng  
chuyển  
90  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
Bảng 4: Quy trình bán lẻ xăng dầu  
Mô tả chi tiết  
Bộ phận  
Tên công việc  
thực hiện  
Đầu vào  
Thực hiện  
Đầu ra  
Hóa đơn GTGT Lái xe giao hàng cho khách hàng, sau  
của nhà cung cấp, khi đã ký xác nhận đã nhận hàng vào  
Lệnh vận chuyển lệnh vận chuyển. Lái xe nộp lệnh vận  
Giao và nhận hàng Lái xe  
có ký xác nhận  
nhận hàng  
chuyển, hóa đơn GTGT về văn phòng  
công ty.  
Hàng ngày, xuất bán hàng cho khách  
hàng, xuất hóa đơn cho khách hàng,  
cuối ngày tổng hợp xuất hóa đơn cho  
lượng hàng bán lẻ còn lại không lấy  
Hóa đơn  
GTGT,  
Báo cáo  
Bán lẻ tại cửa Cửa hàng xăng  
hàng xăng dầu  
dầu  
hóa đơn. Lập báo cáo bán hàng và nộp bán hàng  
tiền về công ty  
Căn cứ vào hóa đơn GTGT, Báo cáo  
bán hàng, kế toán ghi nhận doanh thu  
và công nợ của cửa hàng xăng dầu  
Căn cứ số tiền cửa hàng xăng dầu nộp  
về kế toán ghi nhận vào hệ thống,  
giảm trừ công nợ của hàng xăng dầu,  
sau đó chuyển báo có về cửa hàng  
xăng dầu  
Ghi nhận công nợ  
cửa hàng xăng dầu  
Hóa đơn GTGT,  
Báo cáo bán hàng  
Phòng kế toán  
Thu tiền cửa hàng Phòng tài chính kế  
xăng dầu nộp về toán  
Giấy báo có,  
Phiếu thu  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Trong quy trình mua vật tư, thiết bị tác giả hệ  
6.2. Đối với chu trình cung ứng  
Trong quy trình mua hàng hóa xăng dầu, tác  
giả kiến nghị các công ty nên có sự phân chia các  
bước công việc rõ ràng, trách nhiệm của các bộ  
phận tham gia. Khi ứng dụng ERP, thông tin chia  
sẻ giữa các bộ phận dễ dàng hơn, phòng kế toán có  
thể theo dõi giá trị hàng hóa mua vào từ phòng kinh  
doanh để cân đối thanh toán cho nhà cung cấp.  
thống hóa các bước rõ ràng cho từng bộ phận, từng  
công việc. Để kiểm tra xác nhận việc giao hàng  
tác giả kiến nghị công ty nên bổ sung Biên bản  
bàn giao giữa bộ phận kinh doanh (mua hàng) với  
bộ phận có nhu cầu, chứng từ này là căn cứ để kế  
toán kiểm tra và quản lý chi phí hợp lý. Sau khi  
chuẩn hóa, tác giả mô tả quy trình mua xăng dầu,  
vật tư như sau  
Bảng 5: Quy trình mua xăng dầu, vật tư thiết bị  
Mô tả chi tiết  
Thực hiện  
Tên công  
Bộ phận thực  
hiện  
việc  
Đầu vào  
Đầu ra  
Phiếu yêu Các bộ phận có nhu cầu gửi yêu cầu đến phòng  
Yêu cầu mua Bộ phận có nhu  
cầu mua  
kinh doanh kỹ thuật để trình duyệt  
hàng  
cầu  
hàng  
Xét duyệt tờ trình về yêu cầu hàng hóa, vật tư  
Tờ  
trình đã  
được  
Xét duyệt  
yêu cầu mua đạo,Phòng kinh  
Ban lãnh  
Tờ trình  
hàng  
doanh  
duyệt  
Lựa chọn  
nhà cung cấp doanh kỹ thuật  
Phòng kinh  
Phòng kinh doanh kỹ thuật tham khảo giá, chất  
lượng phù hợp trình ý kiến của ban lãnh đạo  
Ký kết hợp đồng mua vật tư kèm với các điều  
kiện giá cả, thanh toán  
Hợp  
đồng  
đã ký  
kết  
Ký kết hợp  
đồng  
Phòng kinh  
doanh kỹ thuật  
91  
Chuyên mục: Tài chính – Ngân hàng - TẠP CHÍ KINH TẾ & QUẢN TRỊ KINH DOANH SỐ 15 (2020)  
Bảng 6: Quy trình mua xăng dầu, vật tư thiết bị  
Mô tả chi tiết  
Thực hiện  
Tên công  
Bộ phận thực  
hiện  
việc  
Đầu vào  
Đầu ra  
Kiểm tra mã nhà cung cấp đã tồn tại chưa, khai Mã nhà  
Tạo mã nhà  
cung cấp  
Phòng kinh  
doanh kỹ thuật  
báo mới nếu chưa có thông tin  
cung  
cấp  
Phòng kinh  
doanh kỹ thuật  
Đơn đặt  
hàng  
Lập đơn đặt hàng gồm các thông tin vật tư, số  
lượng, chủng loại, thời gian giao…  
Đặt hàng  
Khi nhà cung cấp giao hàng, nhân viên phòng  
kinh doanh kiểm tra hàng, xác nhận hàng hóa.  
Biên bản Sau đó lập phiếu giao vật tư và chuyển vật tư cho  
giao hàng các bộ phận có nhu cầu. Toàn bộ chứng từ gồm  
tờ trình, hợp đồng, Hóa đơn, Biên bản bàn giao,  
Phòng kinh  
doanh kỹ  
thuật/Các bộ  
phận liên quan  
Nhận hàng  
Phiếu giao nhận được chuyển về Phòng kế toán  
Căn cứ vào bộ chứng từ kế toán theo dõi tình hình  
Hóa đơn, nhập xuất tồn vật tư, kế toán thanh toán tiến hành  
biên bản chi trả tiền cho nhà cung cấp. Toàn bộ chứng từ  
Thanh toán  
Phòng kế toán giao nhận, được chuyển cho kế toán tổng hợp ghi nhận chi  
Phiếu phí. Phòng kinh doanh căn cứ vào dữ liệu trên  
nhập kho điều phối việc cung ứng vật tư thiết bị đảm bảo  
đúng định mức quy định.  
Nguồn: Tác giả tổng hợp  
Qua khảo sát tác giả đánh giá thực trạng  
cải tiến chu trình doanh thu và chu trình cung ứng,  
giúp các công ty hoàn thiện HTTTKT, tạo điều  
kiện cho việc triển khai hệ thống ERP sau này  
được thuận lợi và đạt hiệu quả cao hơn.  
HTTTKT theo chu trình tại một số công ty xăng  
dầu khu vực Miền Trung còn những hạn chế, bất  
cập tồn tại. Những giải pháp tác giả đề xuất nhằm  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Alzoubi. (2011). The effectiveness of the accouting information systems under the ERP. Research  
Journal of Finance and Accouting.  
[2]. Công ty Cổ phần Tin Học Viễn Thông Petrolimex. (2013). Hệ thống quản lý cửa hàng xăng dầu  
EGAS.  
[3]. Nguyễn Mạnh Toàn. (2011). Tiếp cận theo chu trình – Cơ sở năng cao hiệu quả của hệ thống thông  
tin kế toán. Tạp chí Kế toán & Kiểm toán, số 05/2011.  
[4]. Nguyễn Mạnh Toàn, Huỳnh Thị Hồng Hạnh. (2011). Giáo trình Hệ thống thông tin kế toán, Nhà  
Xuất bản Tài chính.  
[5]. Romney M.B, Steinbart P.J. (2012). Accounting Information Systems, 12th edition, Prentice Hall.  
[6]. Trần Thị Thanh Thúy. (2011). Tình hình ứng dụng ERP và sự tác động của ERP đến tổ chức  
hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp Việt Nam. Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Đại học Kinh  
tế Thành phố Hồ Chí Minh.  
[7]. Wikinson J.W., Cerullo M.J. (1997). Accounting Information Systems, 3rd edition, John Wiley &  
Sons, Inc.  
Thông tin tác giả:  
Ngày nhận bài: 09/12/2020  
Ngày nhận bản sửa: 20/12/2020  
Ngày duyệt đăng: 30/12/2020  
1. Trần Thị Phương Thảo  
-Đơn vị công tác: Trường Đại học Tài Chính Kế toán  
- Địa chỉ email: [email protected]u.vn  
92  
pdf 9 trang yennguyen 21380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tiếp cận hệ thống thông tin kế toán theo chu trình: Góc nhìn từ thực tiễn hoạt động kinh doanh tại một số công ty xăng dầu khu vực miền Trung", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftiep_can_he_thong_thong_tin_ke_toan_theo_chu_trinh_goc_nhin.pdf