Giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất
GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Lâm Thị Mỹ Thương
Khoa Luật, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh
GVHD: ThS. Lê Thị Minh Thư
TÓM TẮT
Thừa kế là một quyền cơ bản của con người trong quan hệ pháp luật dân sự. Quyền thừa kế thể
hiện rất rõ tính chất tự do của con người trong việc định đoạt, phân chia tài sản của mình cho người
thừa kế theo pháp luật hay hưởng di sản thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật được quy định
tại Điều 609 Bộ luật Dân sự (BLDS) năm 2015. Ngày nay, các tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng
đất diễn ra càng nhiều, tính chất phức tạp cao, diễn biến kéo dài lâu vì quyền sử dụng đất thường
là tài sản có giá trị lớn, tồn tại lâu hơn Cộc sống của con người. Do đó, giải quyết thỏa đáng, dứt
điểm các khiếu nại, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất là một vấn đề quan trọng nhằm đảm
bảo cho việc định đoạt các tài sản đó phù hợp với ý chí, mong muốn của người để lại di sản cũng
như đảm bảo các lợi ích hợp pháp của những người liên quan khác và cả lợi ích chung của toàn xã
hội. Mặc khác, nếu giải quyết không dứt điểm các khiếu nại, tranh chấp thì hậu quả khôn lường,
ảnh hưởng không nhỏ đến tình cảm của các thành viên trong gia đình, dòng tộc, gây ra các vấn
nạn nguy hiểm cho xã hội. Trong bài viết này tác giả nêu một số ý kiến về giải quyết tranh chấp
thừa kế quyền sử dụng đất từ một vụ án, đồng thời tác giả đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện quy
định pháp luật về vấn đề này.
Từ khóa: Bản án, di chúc, di sản, thừa kế, quyền sử dụng đất.
1 THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
1.1 Vụ án 1
Tranh chấp chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất, hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo
bản án số 26/2018/DS-ST ngày 19/6/2018 của Toà án nhân dân (TAND) huyện Nhơn Trạch, tỉnh
Đồng Nai và Bản án số 77/2019/DS-PT ngày 24/5/2019 của TAND tỉnh Đồng Nai:
Ông Đào Văn Tý, bà Nguyễn Thị Thành là ông bà nội của bà Phương, sống với nhau có một người
con là ông Đào Văn Lấn. Năm 1971 ông Lấn chết, bà Phương là người con duy nhất của ông Lấn.
Trước khi sống với ông Tý, bà Thành có một người con riêng là Trần Thị Năm. Năm 1949, ông Tý
chết, bà Thành sống chung với ông Võ Văn Tiến có được 04 người con gồm: ông Võ Văn Sử, bà Võ
Thị Yên, ông Võ Văn Tính và ông Võ Văn Nữa.
Về nguồn gốc đất đang tranh chấp là của ông Tý để lại cho bà Thành. Trước khi bà Thành chết đã
phân chia toàn bộ di sản cho các con trong gia đình. Đến năm 2005 bà Thành cho bà Phương diện
tích đất 2000 m2 cắt thửa số 11 tờ bản đồ số 140 xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch, diện tích đất này
bà Nguyễn Thị Thành đã được Ủy ban nhân dân (UBND) huyện Nhơn Trạch cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Việc bà Thành cho bà Phương mặc dù không để lại di chúc nhưng đã thể hiện
1526
rõ trong các biên bản làm việc của UBND xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch. Vì thời điểm đó, ông
Tính giữ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bà không làm thủ tục để sang tên được. Đến
ngày 29/5/2009 bà Thành chết, ông Tính tiếp tục quản lý diện tích đất trên và đi làm thủ tục để
được cấp giấy đối với diện tích đất mà bà Thành đã cho bà. Nay bà Phương khởi kiện yêu cầu Tòa
án giải quyết chia di sản thừa kế theo ý chí của bà Thành.
Bị đơn ông Võ Văn Tính cho rằng: Về nguồn gốc đất đang tranh chấp là của cha mẹ ông là ông Võ
Văn Tiến và bà Nguyễn Thị Thành. Ngày 22/4/2002 bà Thành và các anh chị em ruột của ông làm
thủ tục ủy quyền cho ông toàn bộ diện tích đất trên. Năm 2004 ông chuyển nhượng 1000 m2 đất
năm trong diện tích đất tranh chấp cho ông Võ Văn Kiệt với số tiền là 100.000.000 đồng để nuôi
dưỡng bà Thành, nhưng trên thực tế ông chưa giao đất cho ông Kiệt mà vẫn quản lý cho đến nay.
Việc bà Phương cho rằng bà Thành đã ký biên bản cho bà phần đất nằm trong tổng diện tích đất
mà ông được ủy quyền thì ông hoàn toàn không biết và thời điểm đó bà Thành cũng không còn
minh mẫn. Ngày 29/5/2009 bà Thành chết, ông Tính tiếp tục quản lý đất cho đến nay. Nay nếu bà
Đào Thị Lan Phương khởi kiện ông có ý kiến là để thuận thảo trong gia đình. Nếu gia đình đồng ý thì
ông đồng ý cắt cho bà Đào Thị Lan Phương 300 m2, nếu không đồng ý đề nghị Tòa án giải quyết
theo vụ án thừa kế.
Tại Bản án Dân sự Sơ thẩm số 26/2018/DS-ST ngày 19/6/2018 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh
Đồng Nai tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Lan Phương; Bà Đào Thị Lan
Phương được chia 2.000 m2 đất thửa 140 tờ bản đồ số 11 (cũ) xã Đại Phước nay là thửa 131 tờ bản đồ
số 18 (mới) xã Đại Phước nằm trong diện tích 2.433 m2. Diện tích đất có tứ cận như sau: Đông giáp
bờ đất từ mốc B2,3; Tây giáp đường đất thửa 132 mốc 6,7; Nam giáp các thửa 398, 400, 401; Bắc
giáp phần đất còn lại của ông Tính 433 m2 mốc A – mốc B; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất số BD 117053 ngày 26/10/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cấp cho
ông Võ Văn Tính. Đến ngày 02/7/2018 ông Võ Văn Tính kháng cáo một phần Bản án Sơ thẩm.
Sau đó, bản án dân sự phúc thẩm số 77/2019/DS-PT ngày 24/5/2019 của TAND tỉnh Đồng Nai
tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Lan Phương đòi ông Võ Văn Tính trả lại
2.000 m2 đất theo ý chí tặng cho của cụ Nguyễn Thị Thành; Công nhận cho Đào Thị Lan Phương và
buộc ông Võ Văn Tính phải giao cho bà Đào Thị Lan Phương quyền sử dụng 2.000 m2 đất thửa 140
tờ bản đồ số 11 (cũ) xã Đại Phước nay là thửa 131 tờ bản đồ số 18 (mới) xã Đại Phước nằm trong
diện tích 2.433 m2; Diện tích đất có tứ cận như sau: Đông giáp bờ đất từ mốc B2,3; Tây giáp
đường đất thửa 132 mốc 6,7; Nam giáp các thửa 398, 400, 401; Bắc giáp phần đất còn lại của
ông Tính 433 m2 mốc A – mốc B; Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BD 117053 ngày
26/10/2010 của Ủy ban nhân dân huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cấp cho ông Võ Văn Tính.
Nhận xét nội dung vụ án
Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm tại Đồng Nai tuyên xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của
nguyên đơn bà Đào Thị Lan Phương là chưa hợp lý vì việc bà Thành cho bà Phương diện tích đất
2000 m2 cắt thửa số 11 tờ bản đồ số 140 xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch chỉ thể hiện rõ trong các
biên bản làm việc của UBND xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch mà không để lại di chúc. Vì vậy, đây
chỉ là biên bản làm việc, không phải là di chúc miệng hay di chúc bằng văn bản của bà Thành về
1527
việc chia cho bà Phương 2000 m2/2443 m2 mà bà Thành đã được UBND huyện cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất. Điều này đã vi phạm về hình thức của di chúc theo quy định tại Điều 627
BLDS năm 2015 nên không có căn cứ để chia di sản thừa kế theo di chúc. Đồng thời xác định di sản
thừa kế của bà Thành để lại không có di chúc nên phải chia theo pháp luật, vì bà Phương cho rằng
năm 2002 bà Thành hứa cho bà 2000 m2, nhưng năm 2006 bà Phương phải khiếu nại, khởi kiện
đối với bà Thành về việc hứa cho bà 2000 m2 điều đó thể hiện đó không phải ý chí tự nguyện của
bà Thành. Mặc khác suốt từ năm 2002 đến năm 2009 trước khi bà Thành chết mà mọi thủ tục cho,
tặng đối với 2000 m2 đất này cũng không thực hiện theo đúng quy định của pháp luật là không có
giá trị pháp luật.
Để có cơ sở chia di sản thừa kế theo pháp luật cần phải xác minh làm rõ di sản thừa kế trước đây là
tài sản chung của bà Nguyễn Thị Thành với ông Đào Văn Tý, hay là của bà Thành với ông Võ Văn
Tiến để làm cơ sở cho việc xác định các đồng thừa kế, trường hợp di sản thừa kế là tài sản chung
của bà Thành với ông Võ Văn Tiến thì phải xác minh làm rõ những người con riêng của ông Tiến để
đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Do đó, chưa có đủ
cơ sở cho việc giải quyết vụ án.
1.2 Vụ án 2
Tranh chấp thừa kế theo bản án số 181/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 của TAND huyện Đức Hòa,
tỉnh Long An và bản án số 118/2019/DS-PT ngày 18/4/2019 của TAND tỉnh Long An:
Nguồn gốc đất tranh chấp diện tích 7.180 m2 tại một phần các thửa 266, 639, 640, 641 tờ bản đồ số
10, tọa lạc tại ấp Chánh, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An của cụ Trần Văn Nếp và cụ Hồ Thị
Năm là cha mẹ của các nguyên đơn, bị đơn để lại. Cụ Nếp và cụ Năm gồm có 07 người con, năm
1994 cụ Nếp chết nhưng không để lại di chúc. Đến ngày 05/9/2008 cụ Năm ký hợp đồng tặng cho
ông Trần Văn Kiền quyền sử dụng đất thửa 640, 641 và tặng cho ông Trần Văn C quyền sử dụng
đất thửa 266, 639. Ông Kiền và ông C đều đã được UBND huyện Đức Hòa cấp giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất. Năm 2010 cụ Năm chết, các nguyên đơn là bà Gọt, bà Tuổi, bà Chao đề nghị
ông Kiền và ông C chia cho các bà mỗi người một phần đất do cha mẹ để lại. Nguyên đơn khởi
kiện yêu cầu tuyên vô hiệu các hợp đồng tặng cho trên và chia thừa kế phần diện tích đất nói trên.
Bị đơn ông Kiền và ông C thống nhất với lời trình bày về mối quan hệ huyết thống của nguyên đơn.
Về đất tranh chấp nguồn gốc do mẹ các ông là cụ Năm chia đất tặng cho các con. Năm 2010 cụ
Năm chết, phần đất cụ tặng cho ông Kiền và ông C đã có hiệu lực pháp luật. Hai ông đã quản lý và
sử dụng ổn định phần đất được cụ Năm cho. Do đó, ông Kiền và ông C không đồng ý yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn.
Tại Bản án số 181/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Gọt, bà Trần Thị Tuổi, bà Trần
Thị Chao về việc hủy các quyết định cấp giấy chứng nhận và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất gồm: Quyết định số 17385/QĐ-UBND ngày 30/9/2008 của UBND huyện Đức Hòa; Quyết định
số 17356/QĐ-UBND ngày 30/9/2008 của UBND huyện Đức Hòa. Không chấp nhận yêu cầu tuyên
vô hiệu hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa bà Hồ Thị Năm tặng cho ông Trần Văn C và
1528
ông Trần Văn Kiền. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn bà Trần Thị Gọt, bà Trần Thị
Tuổi, bà Trần Thị Chao đối với ông Trần Văn C về việc chia thừa kế quyền sử dụng đất diện tích
6496 m2 tại các thửa 639, 640, 641 TBĐ số 10, ấp Chánh, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Đình chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Hồ Thị Năm ngày 21/11/1997;
Đình chỉ yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện Đức Hòa cấp cho ông
Trần Văn C và yêu cầu chia thừa kế đối với diện tích đất 648 m2 thuộc thửa 266, TBĐ số 10 tọa lạc tại
ấp Chánh, xã Tân Mỹ. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn về việc yêu cầu hủy các hợp
đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Sau khi xét xử sơ thẩm thì các nguyên đơn kháng cáo đối
với Bản án số 181/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Sau khi tiếp nhận đơn kháng cáo của các nguyên đơn thì TAND tỉnh Long An tiến hành nghiên cứu
và mở phiên tòa tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn bà Trần
Thị Chao, bà Trần Thị Gọt, bà Trần Thị Tuổi. Sửa Bản án số 181/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 của
TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
Nhận xét nội dung vụ án
Cụ Trần Văn nếp chết vào năm 1994, đây cũng là thời điểm mở thừa kế đối với phần tài sản của cụ
Nếp nằm trong khối tài sản chung với cụ Năm. Phần đất tranh chấp thuộc khối tài sản chung vợ
chồng của cụ Nếp và cụ Năm, do đó, theo quy định tại Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình năm
1986 thì tài sản chung của vợ chồng tạo ra, khi một bên chết trước thì phần tài sản chung vợ chồng
phải được chia đôi. Phần tài sản của người chết được chia theo quy định của pháp luật về thừa kế.
Vì vậy, việc UBND huyện Đức Hòa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Hồ Thị Năm vào
ngày 21/10/1997 là không đúng đối tượng cấp quyền sử dụng đất. Từ những căn cứ pháp luật nêu
trên thì phần diện tích tài sản chung của vợ chồng cụ Nếp, cụ Năm là 24.312 m2 về nguyên tắc phải
được chia đôi mỗi người ½. Sau đó, phần diện tích của cụ Nếp sẽ được chia theo hàng thừa kế,
trong đó cụ Nếp và cụ Năm có 07 người con và 01 phần cho vợ cụ Nếp (cụ Năm). Do đó, phần di
sản thừa kế của cụ Nếp để lại sẽ được chia thành 8 phần bằng nhau. Tuy nhiên, cụ Năm lại chuyển
nhượng cũng như tặng cho các con là ông C, ông Kiền, bà Hiền đã vượt quá số diện tích mà cụ
Năm nếu được chia. Đồng thời tại Tòa án cấp sơ thẩm cũng cho rằng cụ Năm tặng cho ông C và
ông Kiền phần đất có diện tích 6496 m2 là tự nguyện, đúng với ý chí của cụ Năm tại các hợp đồng
tặng cho số 760, 761 và tại thời điểm ký tặng cho các con phần đất nêu trên thì cụ Năm vẫn còn
minh mẫn, không bị ai ép buộc hoặc lừa dối. Những nhận định nêu trên của Tòa án cấp sơ thẩm là
không đúng theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra, bị đơn ông Trần Văn Kiền và ông Trần Văn C còn cho rằng: Cha ông là cụ Trần Văn Nếp
chết vào năm 1994 và đến năm 1997 mẹ ông là cụ Hồ Thị Năm được UBND huyện Đức Hòa xem
xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cụ Năm với tổng diện tích là 24.312 m2, việc cấp
giấy này tất cả các con của cụ Năm và cụ Nếp đều biết và không ai tranh chấp việc cá nhân cụ
Năm đứng tên. Trong quá trình này, cụ Năm đã chia tiền từ việc chuyển nhượng cho các con, các
người con như ông Kiền, ông C, bà Hiền, bà Chao đều nhận đất và cũng không có ai tranh chấp.
Các nguyên đơn biết nhưng không tranh chấp đồng thời điều được cụ Năm chia tiền từ việc chuyển
nhượng không đồng nghĩa với việc các nguyên đơn từ chối nhận phần di sản thừa kế của cha mình
1529
là cụ Nếp để lại. Từ đó cho thấy, TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tuyên xử không chấp nhận
yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn bà Trần Thị Chao, bà Trần Thị Gọt, bà Trần Thị Tuổi là chưa
đúng theo quy định của pháp luật.
2 MỘT SỐ BẤT CẬP VỀ VIỆC THỪA KẾ QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT
Thực tiễn việc áp dụng pháp luật vẫn còn phát sinh ra một số bất cập về tranh chấp thừa kế quyền
sử dụng đất. Điều đó được thể hiện như sau:
Thứ nhất, theo quy định của BLDS, di chúc là sự thể hiện ý chí của một người nhằm định đoạt tài sản
của mình sau khi chết. Về hình thức thể hiện, di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể
lập được di chúc bằng văn bản thì có thể lập bằng di chúc miệng. Di chúc miệng chỉ được lập trong
hoàn cảnh rất đặc biệt. Đồng thời pháp luật rất khắc khe về hình thức của di chúc, do đó, di chúc là
một hành vi pháp lý quan trọng đối với người để lại di sản cũng như đối với người thừa kế của
người để lại di sản.
Tại quy định của BLDS năm 2015, để di chúc có hiệu lực pháp luật thì cần phải thể hiện rõ các vấn
đề sau:
Điều kiện 1: Về người lập di chúc: Theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể Điều 625 BLDS
năm 2015, người lập di chúc phải là người từ đủ 15 tuổi trở lên. Tuy nhiên, dù là người đã thành niên
hay là người chưa thành niên (từ đủ 15 tuổi trở lên) thì khi lập di chúc, họ đều phải đáp ứng điều
kiện minh mẫn, sáng suốt và không bị lừa dối, hay cưỡng ép, đe dọa khi lập di chúc. Quy định về
điều kiện này nhằm đảm bảo di chúc đã được lập có thể phản ánh chân thực nhất nguyện vọng
của người chủ sở hữu tài sản trong việc định đoạt tài sản trước khi chết. Nếu di chúc được lập khi
người lập di chúc không được minh mẫn, sáng suốt, tức là không đầy đủ năng lực hành vi để thực
hiện việc lập di chúc hay bị người khác ép buộc, gây ảnh hưởng thì nội dung di chúc đó sẽ không
thể hiện được nguyện vọng, mong muốn thực sự của người lập di chúc trong việc định đoạt tài sản
của chính họ trước khi chết.
Điều kiện 2: Về nội dung di chúc: Theo quy định tại Điều 630 BLDS năm 2015, một di chúc sẽ bao
gồm những nội dung cơ bản như: ngày, tháng năm lập di chúc; thông tin người lập di chúc; thông
tin cá nhân, cơ quan được hưởng di sản; thông tin về di sản và điều kiện hưởng di sản (nếu có) và
các nội dung khác. Một di chúc được xác định là hợp pháp khi nội dung của di chúc không vi phạm
điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội.
Điều kiện 3: Về hình thức của di chúc: Theo quy định tại Điều 627 và Điều 628 BLDS năm 2015 thì
di chúc có thể lập thành văn bản hoặc di chúc miệng. Trong đó, di chúc bằng văn bản gồm: di
chúc bằng văn bản không có người làm chứng, di chúc bằng văn bản có người làm chứng hoặc di
chúc bằng văn bản có công chức hoặc chứng thực. Với mỗi hình thức lập di chúc thì cần phải đáp
ứng một số điều kiện với hình thức, cụ thể như sau:
Di chúc miệng: Căn cứ theo quy định tại Điều 629 BLDS năm 2015 thì di chúc miệng chỉ được thừa
nhận là hợp pháp khi nó được lập trong trường hợp một người đang bị cái chết đe dọa về tính
mạng, không có đủ thời gian cũng như điều kiện để lập di chúc bằng văn bản. Đồng thời, theo quy
1530
định tại Điều 630 BLDS năm 2015, một di chúc miệng được xác định là hợp pháp, ngoài việc đáp
ứng về thời điểm, hoàn cảnh lập di chúc nêu trên thì người lập di chúc phải thể hiện ý chí Cối cùng
đối với việc định đoạt tài sản của mình trước ít nhất là hai người làm chứng. Trong đó, người làm
chứng cho việc lập di chúc, theo quy định tại Điều 632 BLDS năm 2015, phải là người đã thành niên,
có đầy đủ năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, và không thuộc trường hợp có
quyền, hay nghĩa vụ liên quan đến nội dung di chúc, và không phải là người được thừa kế tài sản
mà người lập di chúc để lại theo nội dung di chúc hoặc theo pháp luật. Trường hợp này, sau khi
lắng nghe ý chí Cối cùng, lời trăn trối của người lập di chúc miệng thì hai người làm chứng này phải
ghi chép lại và cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Văn bản ghi lại nội dung di chúc miệng của người lập di
chúc thì phải được công chứng, hoặc chứng thực hợp pháp trong thời gian 05 ngày kể từ ngày
người lập di chúc miệng thể hiện ý chí Cối cùng để nhằm mục đích xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ
của người làm chứng trong nội dung di chúc. Tuy nhiên, khác với việc lập di chúc bằng văn bản, di
chúc miệng không có hiệu lực ngay mà theo quy định, nếu một người vẫn còn sống, minh mẫn và
sáng suốt sau 03 tháng kể từ thời điểm người này lập di chúc miệng thì nội dung di chúc miệng đã
được lập sẽ bị hủy bỏ, đương nhiên hết hiệu lực.
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng: Khi một người quyết định lập di chúc bằng văn
bản và không có người làm chứng thì di chúc này phải có đầy đủ nội dung của một di chúc thông
thường theo quy định tại Điều 631 BLDS năm 2015 được trích dẫn ở trên. Di chúc này, theo quy định
tại Điều 633 BLDS năm 2015, phải do người lập di chúc tự viết và tự ký chữ ký của mình vào nội
dung di chúc. Trường hợp di chúc có nhiều trang, nhiều tờ thì người lập di chúc phải ghi đầy đủ số
thứ tự và đồng thời ký vào từng trang của di chúc. Đồng thời và di chúc không được viết tắt, cũng
không được viết hay chú thích bằng ký hiệu. Người lập di chúc, nếu có sửa chữa, tẩy xóa một nội
dung nào của di chúc thì phải ký tên bên cạnh chỗ tẩy xóa, sửa chữa đó để xác minh việc họ tự sửa
chữa, tẩy xóa chứ không phải do người khác thực hiện, đảm bảo tính hợp pháp của di chúc.
Di chúc bằng văn bản có người làm chứng: Việc lựa chọn lập di chúc bằng văn bản có người làm
chứng, theo quy định tại Điều 634 BLDS năm 2015, được áp dụng trong trường hợp người lập di
chúc tự mình viết di chúc và có yêu cầu người làm chứng hoặc thuộc trường hợp người lập di chúc
không tự mình viết di chúc, nhưng tự mình đánh máy hoặc nhờ người khác viết hoặc đánh máy bản
di chúc. Đối với di chúc được lập trong trường hợp này, theo quy định của pháp luật thì di chúc phải
có ít nhất hai người làm chứng. Trong đó, người làm chứng cũng phải đáp ứng điều kiện được quy
định tại Điều 632 BLDS năm 2015 giống như người làm chứng trong trường hợp lập di chúc miệng.
Di chúc bằng văn bản được công chứng: Ngoài việc lập di chúc bằng văn bản không có người làm
chứng, bằng văn bản có người làm chứng hay di chúc miệng thì người lập di chúc vẫn có quyền lập
di chúc và yêu cầu công chứng di chúc. Việc lập di chúc bằng văn bản được công chứng có thể
thực hiện qua việc người lập di chúc đến Văn phòng công chứng, hoặc Tổ chức hành nghề công
chứng để lập hoặc yêu cầu công chứng viên đến tận chỗ ở của mình để lập di chúc.
Di chúc bằng văn bản được chứng thực: Đối với việc lập di chúc bằng văn bản được chứng thực thì
người lập di chúc sẽ trực tiếp đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi mình cư trú để thực hiện việc lập di
1531
chúc. Về trình tự, thủ tục lập di chúc có chứng thực sẽ được thực hiện tương tự như trường hợp lập di
chúc ở Văn phòng công chứng, tổ chức hành nghề công chứng.
Do đó, trong trường hợp này, cả bản án dân sự sơ thẩm số 26/2018/DS-ST ngày 19/6/2018 của
TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và bản án dân sự phúc thẩm số 77/2019/DS-PT ngày
24/5/2019 của TAND tỉnh Đồng Nai đều tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị Lan
Phương đòi ông Võ Văn Tính trả lại 2.000 m2 đất theo ý chí tặng cho của cụ Nguyễn Thị Thành là
chưa đảm bảo tính thuyết phục. Để di chúc của bà Thành có hiệu lực pháp luật thì cần phải thỏa
mãn điều kiện về hình thức của di chúc như tác giả đã phân tích nêu trên, tuy nhiên Tòa án hai cấp
sơ thẩm và phúc thẩm tại Đồng Nai chưa xem xét đến điều này, cả hai bản án đều cho rằng biên
bản làm việc của UBND xã Đại Phước, huyện Nhơn Trạch đã thể hiện được ý chí, nguyện vọng của
cụ Thành. Trong khi biên bản làm việc này không đảm bảo điều kiện về hình thức của di chúc theo
quy định tại Điều 627 của BLDS năm 2015. Nguyên nhân của việc cả hai cấp xét xử sơ thẩm và
phúc thẩm đều nhận định như trên có thể do quá trình xem xét, điều tra vụ án chưa được thực hiện
đúng đắn, dẫn đến sự nhầm lẫn về nguyện vọng của cụ Thành trong việc phân chia di sản của
mình cho các con cháu. Do vậy, các cơ quan có thẩm quyền cần xem xét, nghiên cứu, điều tra nội
dung vụ việc một cách khách quan nhằm đảm bảo theo đúng ý chí, nguyện vọng của các đương
sự, đồng thời phải tuân thủ theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, di sản thừa kế để lại là tài sản chung của bà Thành với ông Đào Văn Tý, hay là của bà
Thành với ông Võ Văn Tiến. Điều này tại Tòa án hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm vẫn chưa xác định
rõ phần di sản thừa kế để lại là của ai? Đồng thời, việc bà Thành sống chung với ông Tý và ông Tiến
được xác lập từ thời điểm nào? Vụ việc này có phải là hôn nhân thực tế không? Trong trường hợp
bà Thành chung sống với ông Tiến như vợ chồng trước thời điểm ngày 03/01/1987 mà không đăng
ký kết hôn, do vậy sẽ áp dụng quy định của Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của
Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 và Thông tư số 01/2001/TTLT-
TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi hành Nghị quyết số 35/2000/QH10 để xem
xét tính hợp pháp của quan hệ chung sống giữa bà Thành và ông Tiến. Theo quy định tại điểm a
khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội thì ‚Trong trường hợp quan
hệ vợ chồng được xác lập trước ngày 03 tháng 1 năm 1987, ngày Luật hôn nhân và gia đình năm
1986 có hiệu lực mà chưa đăng ký kết hôn thì được khuyến khích đăng ký kết hôn; trong trường hợp
có yêu cầu ly hôn thì được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định về ly hôn của Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000‛.
Như vậy, đối với trường hợp bà Thành và ông Tiến chung sống với nhau trước ngày 03/01/1987,
hiện họ chưa đăng ký kết hôn thì vẫn được pháp luật công nhận là vợ chồng (hôn nhân thực tế).
Đồng thời, trong trường hợp nếu di sản để lại là của bà Thành và ông Tiến tạo lập mà có thì phải
xem xét cho các con chung của ông Tiến và bà Thành tham gia vào vụ án với tư cách là người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhằm đảm bảo quyền lợi của các con chung của ông Tiến và bà
Thành được hưởng. Điều này được quy định cụ thể tại Điều 68 BLTTDS năm 2015. Do đó, việc Tòa án
hai cấp sơ thẩm và phúc thẩm chưa xác minh được bà Thành sống chung với ông Tý và ông Tiến
1532
vào thời điểm nào để lấy căn cứ xem xét điều tra phần di sản của bà Thành để lại là tài sản tạo
dựng của bà Thành với ai là chưa làm rõ nội dung của vụ việc.
Qua đó cho thấy, pháp luật Việt Nam quy định cụ thể về các điều khoản tại các bộ luật, nghị quyết,
tuy nhiên các cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại áp dụng chưa triệt để các điều khoản đó, dẫn
đến việc ‚bỏ sót‛ các chi tiết trong vụ việc, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự. Vì vậy, các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nói chung và những người có thẩm quyền áp dụng pháp luật nói
riêng, cần nghiên cứu, xem xét để đảm bảo việc giải quyết triệt để vụ án.
3 KẾT LUẬN
Qua những nghiên cứu, phân tích nêu trên tác giả nhận thấy, giải quyết tranh chấp thừa kế quyền
sử dụng đất còn là một trong những vấn đề nan giải trong xã hội. Hiện nay, căn cứ theo BLDS cũng
như những quy định khác có liên quan trong vấn đề giải quyết tranh chấp thì những quy định của
các bộ luật được đặt ra khá rõ ràng và cụ thể. Tuy nhiên, các cơ quan có thẩm quyền lại áp dụng
chưa triệt để các quy định của pháp luật đặt ra, mặc khác, những chủ thể có thẩm quyền chưa
nghiên cứu, xem xét điều tra rõ vụ án, điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến việc giải quyết vụ
án, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]
Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2]
[3]
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Bản án số 26/2018/DS-ST ngày 19/6/2018 của TAND huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai và
bản án số 77/2019/DS-PT ngày 24/5/2019 của TAND tỉnh Đồng Nai.
[4]
[5]
[6]
Nghị quyết số 35/2000/QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội về việc thi hành Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000.
Thông tư số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ban hành ngày 03/01/2001 hướng dẫn thi
hành Nghị quyết số 35/2000/QH10.
Bản án số 181/2018/DS-ST ngày 31/10/2018 của TAND huyện Đức Hòa, tỉnh Long An và bản
án số 118/2019/DS-PT ngày 18/4/2019 của TAND tỉnh Long An.
1533
Bạn đang xem tài liệu "Giải quyết tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_quyet_tranh_chap_ve_thua_ke_quyen_su_dung_dat.pdf

