Quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội được bảo đảm bởi tòa án xét xử độc lập, khách quan và được thành lập theo luật

NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI  
ĐƯỢC BẢO ĐẢM BỞI TÒA ÁN XÉT XỬ ĐỘC LẬP, KHÁCH QUAN  
VÀ ĐƯỢC THÀNH LẬP THEO LUẬT  
Nguyễn Trần Như Khuê  
ThS.-NCS.-Giảng-viên-Khoa-Luật,-Học-viện-Cán-bộ-Tp.-HCM  
Thông tin bài viết:  
Tóm tắt:  
Từ khóa: Quyền được xét xử công  
bằng; người bị buộc tội; tòa án xét  
xử độc lập  
Quyền được xét xử công bằng nói chung và quyền được xét xử công  
bằng của người bị buộc tội nói riêng là một trong những quyền cơ  
bản của con người được ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các nước  
trên thế giới cũng như được thể hiện trong các văn kiện quốc tế.  
Quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội được bảo đảm  
bởi nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, bảo  
đảm xét xử bởi tòa án độc lập, khách quan và được thành lập theo  
luật chính là bảo đảm cho người bị buộc tội được xét xử công bằng.  
Lịch sử bài viết:  
Nhận bài  
Biên tập  
Duyệt bài  
: 13/8/2020  
: 26/8/2020  
: 05/9/2020  
Abstract:  
The right to a fair trial in general and the right to a fair trial of the  
accused in particular is one of the fundamental human rights  
recognized in the laws in most countries in the world recorded in the  
international documents. The accused’s right to a fair trial is  
guaranteed by the obligations of the proceeding persons or agencies.  
Therefore, the essential guarantees of independence and impartiality  
of the trial court established by law are to ensure that the accused has  
the right to a fair trial.  
Article Infomation:  
Key words: Right to a fair trial; the  
accused; independent trial court.  
Article History:  
Received  
Edited  
Approved  
: 13 Aug. 2020  
: 26 Aug. 2020  
: 05 Sep. 2020  
uyền con người nói chung và quyền  
được xét xử công bằng trong lĩnh vực  
tư pháp hình sự nói riêng đã được  
quyền có tính tổng hợp và được bảo đảm bởi  
các quyền tố tụng cơ bản khác của người bị  
buộc tội? Quyền được xét xử công bằng  
(Right to a fair trial) được nhìn nhận như là  
quyền cơ bản và được bảo đảm từ nhiều  
quyền cụ thể khác trong tố tụng hình sự như:  
quyền được xét xử bình đẳng, kịp thời; quyền  
được xét xử bởi tòa án độc lập, khách quan  
và được thành lập theo luật; quyền bào chữa;  
quyền được bảo đảm suy đoán vô tội....  
Q
pháp luật quốc tế thừa nhận1. Chủ thể của  
quyền này là người bị buộc tội, mà trong giai  
đoạn xét xử, người bị buộc tội chính là bị can,  
bị cáo. Với cách tiếp cận này, quyền được xét  
xử công bằng là một quyền tố tụng cụ thể  
như quyền bào chữa, quyền kháng cáo,  
quyền nói lời nói sau cùng… hay là một  
1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm  
1966 (ICCPR), Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 (EMRK).  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
18  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
1. Pháp luật quốc tế về quyền được xét xử  
công bằng của người bị buộc tội được bảo  
đảm bởi một tòa án xét xử độc lập, khách  
quan và được thành lập theo luật  
Tòa án xét xử độc lập, khách quan và  
được thành lập theo luật là một trong những  
nội dung cơ bản được thể hiện trong các văn  
kiện quốc tế. Điều 10 Tuyên ngôn nhân  
quyền thế giới năm 1948 (UDHR) quy định:  
“Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét  
xử công bằng và công khai bởi một toà án  
độc lập và khách quan để xác định các  
quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ  
buộc tội nào đối với họ”.  
Khoản 1 Điều 14 Công ước quốc tế về  
quyền dân sự và chính trị năm 1966  
(ICCPR) quy định: “Mọi người đều bình  
đẳng trước toà án và cơ quan tài phán. Mọi  
người đều có quyền được xét xử công bằng  
và công khai bởi một toà án có thẩm quyền,  
độc lập, không thiên vị và được lập ra trên  
cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội  
người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để  
xác định quyền và nghĩa vụ của người đó  
trong các vụ kiện dân sự...”.  
Khoản 1 Điều 6 Công ước châu Âu về  
quyền con người năm 1950 (EMRK) quy  
định, “…mọi người có quyền được xét xử  
bởi một cơ quan xét xử độc lập, khách quan,  
được thành lập theo luật pháp”;...  
không bao giờ có thể có một phiên xử công  
bằng và vì vậy không cần kiểm tra xem việc  
xét xử đó có được tiến hành công khai hay  
trong một thời gian hợp lý không. Ủy ban  
Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) lưu ý  
rằng, ở nhiều nước có tồn tại những tòa án  
quân sự hoặc tòa án đặc biệt xét xử thường  
dân có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng  
trong việc đảm bảo sự bình đẳng, khách  
quan và độc lập của những tòa án. Lý do  
thông thường để thành lập những tòa án này  
là sự cho phép áp dụng những thủ tục ngoại  
lệ mà không tuân thủ nguyên tắc thông  
thường của công lý. Ủy ban nhân quyền  
LHQ cũng khẳng định rằng, quyền này là  
tuyệt đối và không được có ngoại lệ2.  
Nội dung quyền được xét xử bởi tòa án  
độc lập, khách quan và được thành lập theo  
luật được giải thích rõ hơn thông qua Bình  
luận chung số 32 của Ủy ban nhân quyền  
LHQ, theo đó: “Người bị buộc tội có quyền  
được xét xử bởi tòa án được thành lập theo  
luật thì tòa án được hiểu là một cơ quan, bất  
kể tên gọi của nó, được thành lập theo pháp  
luật, độc lập với hành pháp và lập pháp.  
Quyền này không bị hạn chế và việc một cơ  
quan nào không phải là tòa án ra bản án là vi  
phạm nội dung “tòa án được thành lập theo  
luật”. Điều này có nghĩa là bất cứ khi nào các  
quyền và nghĩa vụ phù hợp với luật pháp cũng  
phải được thực hiện thông qua thủ tục tố tụng  
bởi một tòa án. Nếu nhà nước không thể  
thành lập một tòa án có thẩm quyền để xác  
định các quyền và nghĩa vụ hoặc không cho  
phép tiếp cận với một tòa án như vậy trong  
các vụ cụ thể thì nhà nước đó đã vi phạm  
quyền được xét xử bởi tòa án được thành lập  
theo luật. Cho nên, việc xét xử không dựa trên  
pháp luật, không có mục tiêu phù hợp với  
công lý, hoặc dựa trên các trường hợp ngoại  
lệ của pháp luật quốc tế như miễn trừ… đều  
dẫn đến vi phạm quyền này3.  
Quy định của các Công ước cho thấy,  
người bị buộc tội có quyền được xét xử công  
bằng, kịp thời được thực hiện bởi tòa án độc  
lập, khách quan và được thành lập theo luật.  
Tòa án không chỉ được thành lập theo luật  
mà còn bảo đảm xét xử độc lập, khách quan.  
Đây là yếu tố cơ bản của Điều 6 EMRK.  
Nếu tòa án đã xét xử nhưng không phù hợp  
với Điều 6 thì không cần phải kiểm tra thêm  
bất cứ thủ tục tố tụng nào khác. Những thủ  
tục tố tụng của một phiên tòa không thỏa  
mãn tiêu chí độc lập và khách quan thì  
2 Stefan Trechsel (with the assisistance of Sarah J. Summers) (2005), Human Rights in Criminal Proceedings,  
Oxford University Press, p.54.  
3 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Bình luận chung số 32, Quyền con người – Tập hợp những bình  
luận/khuyến nghị chung của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc (sách tham khảo), Nxb. Công an nhân dân,  
tr.363.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
19  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
Ngoài ra, người bị buộc tội có quyền có  
tòa án xét xử độc lập: “Độc lập” có nghĩa là  
không có sự lệ thuộc đối với bất cứ cơ quan  
nào của nhà nước. Có thể nói rằng, sự độc  
lập phản ánh vị trí hiến định của cơ quan tư  
pháp - độc lập từ người điều hành và cơ quan  
lập pháp. Nếu sự độc lập như vậy không tồn  
tại thì không thể đảm bảo quyền có tòa án  
xét xử độc lập. Theo Uỷ ban nhân quyền  
LHQ, yêu cầu về tính độc lập đề cập cụ thể  
tới thủ tục và năng lực của việc bổ nhiệm  
thẩm phán, và đảm bảo an ninh của họ cho  
tới hết nhiệm kỳ hay đến tuổi nghỉ hưu; các  
điều kiện thăng tiến, chuyển chỗ, đình chỉ,  
chấm dứt các chức vụ của họ; không có sự  
can thiệp từ các tổ chức chính trị hoặc từ các  
ngành hành pháp và lập pháp; bảo vệ thẩm  
phán khỏi bất kỳ ảnh hưởng chính trị nào…  
Thẩm phán có thể bị miễn nhiệm trên cơ sở  
xem xét tính chất nghiêm trọng của hành vi  
sai trái hoặc thiếu năng lực4.  
Ở phạm vi rộng hơn, khi bình luận về  
Điều 6 EMRK5, học giả Stefan Trechsel  
khẳng định, có 4 tiêu chí để xác định một cơ  
quan xét xử có được coi là độc lập hay  
không: cách thức thẩm phán được bổ nhiệm;  
nhiệm kỳ của thẩm phán; những bảo đảm  
đặc biệt chống lại các áp lực từ bên ngoài;  
biểu hiện của độc lập6. Ngoài ra, ông cho  
rằng, tính độc lập của tòa án thể hiện không  
chỉ ở thủ tục và năng lực của việc bổ nhiệm  
thẩm phán mà còn ở thẩm quyền và tính tự  
chủ của tòa án; cơ quan xét xử chỉ có thể độc  
lập nếu quyết định của họ có hiệu lực ràng  
buộc đối với những cơ quan nhà nước khác7.  
Bên cạnh đó, quyền có phiên tòa độc lập  
hàm chứa rằng, cơ quan xét xử phải được  
kiểm soát toàn diện đối với các quyết định  
của mình và không phụ thuộc vào ý kiến của  
bất cứ cơ quan nhà nước nào. Cơ quan xét  
xử phải hoàn toàn có thẩm quyền trong việc  
xem xét cả hai khía cạnh sự kiện thực tế và  
yếu tố pháp luật8.  
Không chỉ mang tính độc lập, hoạt động  
xét xử của tòa án còn đòi hỏi mang tính  
khách quan: khách quan là “không thuộc về  
bên nào” hoặc “trung lập”. Thuật ngữ này  
thường được định nghĩa một cách logic theo  
cách phủ định: “không có định kiến”. Yêu  
cầu về khách quan, không thiên vị có hai  
khía cạnh: thứ nhất, các thẩm phán không  
được cho phép phán quyết của họ bị ảnh  
hưởng bởi sự thiên vị hay thành kiến cá  
nhân, và cũng không được dựa trên các tổn  
hại tới bên khác; thứ hai, phiên tòa phải hợp  
lý và khách quan. Ví dụ, phiên tòa do một  
thẩm phán không đủ năng lực thực hiện việc  
xét xử thông thường không được coi là  
khách qua9.  
2. Bảo đảm quyền của người bị buộc tội  
được xét xử công bằng bởi tòa án xét xử  
độc lập, khách quan và được thành lập  
theo luật trong tố tụng hình sự Việt Nam  
Ở nước ta, khoản 2 Điều 103 Hiến pháp  
năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm  
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;  
nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can  
thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội  
thẩm”; Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân  
dân năm 2014 quy định: “1. Thẩm phán, Hội  
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp  
4 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.364.  
5 Stefan Trechsel, tlđd, tr.54.  
6 Xem: Stefan Trechsel, tlđd, tr.57.  
7 Xem: Stefan Trechsel tlđd, tr.57.  
8 Tính tự chủ của Tòa án Bỉ liên quan đến một số vụ án: Delcourts, Borgers và Vermeulen. Chính phủ Bỉ đã  
tranh luận rằng, Trưởng công tố có mặt suốt quá trình xét xử của Tòa án là cần thiết để bảo đảm sự thống  
nhất trong các vụ án. Tuy nhiên, cơ quan xét xử với nghĩa tại Điều 6 của Công ước châu Âu về quyền con  
người không những không cần mà không ủng hộ sự “bảo đảm” như vậy. Họ phải quyết định vụ án đúng  
theo thủ tục tố tụng và phù hợp với mục đích của thủ tục thẩm vấn trước đó. Xem : Stefan Trechsel, tlđd,  
tr.58.  
9 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.365.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
20  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân  
can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán,  
Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”, “2. Cá  
nhân, cơ quan tổ chức có hành vi can thiệp  
vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì  
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử  
lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu  
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp  
luật”; Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự năm  
2015 (Bộ luật TTHS) quy định: “1.Thẩm  
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân  
theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ  
chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của  
Thẩm phán, Hội thẩm”, “2. Cơ quan, tổ  
chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của  
Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức  
nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị  
lập nhưng phải tuân theo pháp luật trong  
việc giải quyết vụ án hình sự, tuân theo các  
quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật  
TTHS, Bộ luật Dân sự khi giải quyết vấn đề  
bồi thường dân sự trong vụ án hình sự...  
3. Một số vướng mắc trong việc bảo đảm  
quyền của người bị buộc tội được xét xử  
công bằng bởi Tòa án xét xử độc lập,  
khách quan và được thành lập theo luật  
trong tố tụng hình sự Việt Nam  
Thực tiễn xét xử của Tòa án ở nước ta  
trong những năm qua cho thấy, bên cạnh  
những kết quả đạt được trong việc bảo đảm  
quyền của người bị buộc tội được xét xử  
công bằng bởi Tòa án xét xử độc lập, khách  
quan và được thành lập theo luật, quy định  
hiện hành của pháp luật tố tụng hình sự còn  
một số bất cập sau đây:  
xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính  
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo  
quy định của luật”.  
Thứ nhất, quyền được xét xử công bằng  
của người bị buộc tội không được bảo đảm  
khi quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về  
Tòa án.  
Những quy định trên cho thấy, ở nước ta,  
quyền của người bị buộc tội được xét xử công  
bằng bởi tòa án xét xử độc lập và được thành  
lập theo luật thể hiện qua các nội dung sau:  
- Xét xử độc lập, khách quan: đòi hỏi  
hoạt động xét xử của tòa án không bị phụ  
thuộc, không bị tác động bởi bất cứ chủ thể  
nào; thông qua phiên tòa, tòa án kiểm tra,  
đánh giá chứng cứ, kết quả tranh tụng tại  
phiên tòa... và đưa ra bản án, quyết định  
đúng pháp luật; thẩm phán và hội thẩm khi  
xét xử người bị buộc tội không chịu sự chỉ  
đạo của lãnh đạo tòa án hay tòa án cấp trên;  
không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra và  
cáo trạng (có quyền có quan điểm và kết  
luận khác với Cơ quan điều tra và Viện kiểm  
sát); các thành viên trong Hội đồng xét xử  
cũng độc lập với nhau, ý kiến biểu quyết của  
hội thẩm có giá trị như của thẩm phán. Bên  
cạnh đó, Bộ luật TTHS cũng nghiêm cấm tổ  
chức, cá nhân can thiệp vào hoạt động xét  
xử của tòa án.  
Điều 15 Bộ luật TTHS quy định, trách  
nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan có  
thẩm quyền tiến hành tố tụng. Điều 34 Bô  
luật TTHS xác định, cơ quan tiến hành tố  
tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,  
Tòa án. Quy định này không phù hợp với  
chức năng xét xử của tòa án được Hiến pháp  
quy định. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm  
2013 quy định: “1.Tòa án nhân dân là cơ  
quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ  
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.  
Là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, Tòa  
án không có trách nhiệm chứng minh tội  
phạm. Tòa án chỉ có nghĩa vụ chứng minh  
cho quyết định của mình: chấp nhận lời buộc  
tội (nếu phán quyết của tòa án là có tội) hoặc  
bác bỏ lời buộc tội (trong trường hợp tòa án  
tuyên vô tội)10. Quy định trên của Bộ luật  
TTHS gây ảnh hưởng đến hoạt động xét xử  
độc lập, khách quan của tòa án. Ngoài ra, xét  
ở góc độ thực tiễn, trong phiên tòa xét xử,  
thông thường thẩm phán đặt câu hỏi theo  
- Được thành lập theo luật: mặc dù  
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc  
10 Nguyễn Mạnh Kháng (2008), Bàn về chức năng tố tụng của tòa án và vấn đề độc lập của hoạt động xét xử,  
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (246), tr.26.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
21  
Số 20 (420) - T10/2020  
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT  
hướng chứng minh lỗi của bị cáo hoặc ngược  
lại. Việc quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc  
trách nhiệm của Tòa án đã làm cho hoạt động  
xét xử của Tòa án không còn mang tính  
khách quan, ảnh hưởng đến quyền được xét  
xử công bằng của người bị buộc tội.  
khách quan cần sửa đổi Điều 15 Bộ luật  
TTHS theo hướng giải phóng Tòa án khỏi  
nghĩa vụ chứng minh là một trong những cơ  
sở pháp lý đảm bảo hoạt động xét xử của  
Tòa án có tính khách quan, công bằng. Theo  
đó, Tòa án chỉ có nghĩa vụ kiểm tra, đánh  
giá chứng cứ. Đây cũng là nghĩa vụ chứng  
minh tính có cơ sở của bản án, quyết định  
của tòa án11.  
Thứ hai, nhiệm kỳ của Thẩm phán.  
Hiện nay, theo quy định của Điều 74  
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014,  
nhiệm kỳ đầu của các thẩm phán là 05 năm;  
trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ  
nhiệm vào ngạch thẩm phán khác thì nhiệm  
kỳ tiếp theo là 10 năm. Việc giới hạn nhiệm  
kỳ dẫn đến tâm lý của thẩm phán không yên  
tâm khi làm việc. Đặc biệt là khoảng thời  
gian gần bổ nhiệm lại, thẩm phán dễ bị sự tác  
động từ các yếu tố bên ngoài. Đây là một  
trong những nguyên nhân làm nguyên tắc tòa  
án xét xử độc lập, khách quan bị ảnh hưởng.  
Thứ ba, quyền được xét xử công bằng  
của người bị buộc tội không được bảo đảm  
khi giữa thẩm phán và hội thẩm nhân dân  
chưa độc lập trong hoạt động xét xử.  
- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ  
án hình sự thường thụ động, nhường quyền  
chủ động cho các thẩm phán. Điều này làm  
mất tính “ngang bằng” và “độc lập” của hội  
thẩm nhân dân theo luật định.  
- Hội thẩm nhân dân không bị ràng  
buộc về tổ chức, tái bổ nhiệm, thi đua khen  
thưởng và các lợi ích khác như các thẩm  
phán, thêm vào đó là chế độ thù lao thấp nên  
khó khuyến khích Hội thẩm nhân dân tham  
gia tích cực vào hoạt động xét xử.  
Ba là, sửa đổi quy định về nhiệm kỳ của  
thẩm phán.  
Một trong những yếu tố quan trọng để  
tòa án xét xử độc lập, khách quan chính là  
sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động tố  
tụng. Để bảo đảm cho người bị buộc tội  
được quyền xét xử công bằng bởi tòa án xét  
xử độc lập, khách quan, kịp thời, nhanh  
chóng cần xây dựng chế độ đãi ngộ, kinh phí  
hoạt động của Tòa án, tuổi hưu, nhiệm kỳ và  
chế độ lương của thẩm phán... cho phù hợp,  
tạo điều kiện để Tòa án hoàn thành tốt chức  
năng xét xử của mình.  
Tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2014), Quốc  
hội đã thảo luận, cho ý kiến đối với Dự thảo  
Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), đa  
số đại biểu Quốc hội đồng ý với Dự thảo là  
kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án  
nhân dân tối cao (TANDTC) không thời hạn  
với lý do Thẩm phán TANDTC là ngạch  
Thẩm phán đặc biệt với những tiêu chuẩn,  
điều kiện để được bổ nhiệm cao, người được  
bổ nhiệm làm Thẩm phán TANDTC phải trải  
qua một quá trình công tác lâu dài, năng lực  
và uy tín cao. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng,  
kéo dài nhiệm kỳ không chỉ quy định riêng  
cho Thẩm phán TANDTC mà cho cả thẩm  
phán nói chung. Nghị quyết số 49 - NQ/TW  
ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị xác định:  
“Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp  
hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ  
hạn“12. Thể chế hóa quan điểm của Đảng,  
khắc phục những hạn chế về nhiệm kỳ của  
thẩm phán theo quy định hiện hành, chúng  
4. Một số giải pháp bảo đảm quyền của  
người bị buộc tội được xét xử công bằng  
bởi Tòa án xét xử độc lập, khách quan và  
được thành lập theo luật trong tố tụng  
hình sự Việt Nam  
Một là, sửa đổi quy định của Bộ luật  
TTHS về nghĩa vụ chứng minh của tòa án.  
Để bảo đảm cho người bị buộc tội được  
xét xử công bằng bởi tòa án xét xử độc lập,  
(Xem tiếp trang 34)  
11 Lê Nguyên Thanh (2015), Hoàn thiện các quy định về chứng minh trong TTHS nhằm đảm bảo quyền bào  
chữa và bảo đảm tranh tụng, Tạp chí Khoa học pháp lý, trường Đại học Luật TP. HCM số 08.  
12 Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 2/6//2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.  
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU  
22  
Số 20 (420) - T10/2020  
pdf 5 trang yennguyen 20140 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội được bảo đảm bởi tòa án xét xử độc lập, khách quan và được thành lập theo luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquyen_duoc_xet_xu_cong_bang_cua_nguoi_bi_buoc_toi_duoc_bao_d.pdf