Quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội được bảo đảm bởi tòa án xét xử độc lập, khách quan và được thành lập theo luật
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
QUYỀN ĐƯỢC XÉT XỬ CÔNG BẰNG CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
ĐƯỢC BẢO ĐẢM BỞI TÒA ÁN XÉT XỬ ĐỘC LẬP, KHÁCH QUAN
VÀ ĐƯỢC THÀNH LẬP THEO LUẬT
Nguyễn Trần Như Khuê
ThS.-NCS.-Giảng-viên-Khoa-Luật,-Học-viện-Cán-bộ-Tp.-HCM
Thông tin bài viết:
Tóm tắt:
Từ khóa: Quyền được xét xử công
bằng; người bị buộc tội; tòa án xét
xử độc lập
Quyền được xét xử công bằng nói chung và quyền được xét xử công
bằng của người bị buộc tội nói riêng là một trong những quyền cơ
bản của con người được ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các nước
trên thế giới cũng như được thể hiện trong các văn kiện quốc tế.
Quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội được bảo đảm
bởi nghĩa vụ của cơ quan, người tiến hành tố tụng. Chính vì vậy, bảo
đảm xét xử bởi tòa án độc lập, khách quan và được thành lập theo
luật chính là bảo đảm cho người bị buộc tội được xét xử công bằng.
Lịch sử bài viết:
Nhận bài
Biên tập
Duyệt bài
: 13/8/2020
: 26/8/2020
: 05/9/2020
Abstract:
The right to a fair trial in general and the right to a fair trial of the
accused in particular is one of the fundamental human rights
recognized in the laws in most countries in the world recorded in the
international documents. The accused’s right to a fair trial is
guaranteed by the obligations of the proceeding persons or agencies.
Therefore, the essential guarantees of independence and impartiality
of the trial court established by law are to ensure that the accused has
the right to a fair trial.
Article Infomation:
Key words: Right to a fair trial; the
accused; independent trial court.
Article History:
Received
Edited
Approved
: 13 Aug. 2020
: 26 Aug. 2020
: 05 Sep. 2020
uyền con người nói chung và quyền
được xét xử công bằng trong lĩnh vực
tư pháp hình sự nói riêng đã được
quyền có tính tổng hợp và được bảo đảm bởi
các quyền tố tụng cơ bản khác của người bị
buộc tội? Quyền được xét xử công bằng
(Right to a fair trial) được nhìn nhận như là
quyền cơ bản và được bảo đảm từ nhiều
quyền cụ thể khác trong tố tụng hình sự như:
quyền được xét xử bình đẳng, kịp thời; quyền
được xét xử bởi tòa án độc lập, khách quan
và được thành lập theo luật; quyền bào chữa;
quyền được bảo đảm suy đoán vô tội....
Q
pháp luật quốc tế thừa nhận1. Chủ thể của
quyền này là người bị buộc tội, mà trong giai
đoạn xét xử, người bị buộc tội chính là bị can,
bị cáo. Với cách tiếp cận này, quyền được xét
xử công bằng là một quyền tố tụng cụ thể
như quyền bào chữa, quyền kháng cáo,
quyền nói lời nói sau cùng… hay là một
1 Tuyên ngôn nhân quyền thế giới năm 1948 (UDHR), Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm
1966 (ICCPR), Công ước châu Âu về quyền con người năm 1950 (EMRK).
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
18
Số 20 (420) - T10/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
1. Pháp luật quốc tế về quyền được xét xử
công bằng của người bị buộc tội được bảo
đảm bởi một tòa án xét xử độc lập, khách
quan và được thành lập theo luật
Tòa án xét xử độc lập, khách quan và
được thành lập theo luật là một trong những
nội dung cơ bản được thể hiện trong các văn
kiện quốc tế. Điều 10 Tuyên ngôn nhân
quyền thế giới năm 1948 (UDHR) quy định:
“Mọi người đều bình đẳng về quyền được xét
xử công bằng và công khai bởi một toà án
độc lập và khách quan để xác định các
quyền và nghĩa vụ của họ, cũng như bất cứ
buộc tội nào đối với họ”.
Khoản 1 Điều 14 Công ước quốc tế về
quyền dân sự và chính trị năm 1966
(ICCPR) quy định: “Mọi người đều bình
đẳng trước toà án và cơ quan tài phán. Mọi
người đều có quyền được xét xử công bằng
và công khai bởi một toà án có thẩm quyền,
độc lập, không thiên vị và được lập ra trên
cơ sở pháp luật để quyết định về lời buộc tội
người đó trong các vụ án hình sự, hoặc để
xác định quyền và nghĩa vụ của người đó
trong các vụ kiện dân sự...”.
Khoản 1 Điều 6 Công ước châu Âu về
quyền con người năm 1950 (EMRK) quy
định, “…mọi người có quyền được xét xử
bởi một cơ quan xét xử độc lập, khách quan,
được thành lập theo luật pháp”;...
không bao giờ có thể có một phiên xử công
bằng và vì vậy không cần kiểm tra xem việc
xét xử đó có được tiến hành công khai hay
trong một thời gian hợp lý không. Ủy ban
Nhân quyền Liên hợp quốc (LHQ) lưu ý
rằng, ở nhiều nước có tồn tại những tòa án
quân sự hoặc tòa án đặc biệt xét xử thường
dân có thể gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng
trong việc đảm bảo sự bình đẳng, khách
quan và độc lập của những tòa án. Lý do
thông thường để thành lập những tòa án này
là sự cho phép áp dụng những thủ tục ngoại
lệ mà không tuân thủ nguyên tắc thông
thường của công lý. Ủy ban nhân quyền
LHQ cũng khẳng định rằng, quyền này là
tuyệt đối và không được có ngoại lệ2.
Nội dung quyền được xét xử bởi tòa án
độc lập, khách quan và được thành lập theo
luật được giải thích rõ hơn thông qua Bình
luận chung số 32 của Ủy ban nhân quyền
LHQ, theo đó: “Người bị buộc tội có quyền
được xét xử bởi tòa án được thành lập theo
luật thì tòa án được hiểu là một cơ quan, bất
kể tên gọi của nó, được thành lập theo pháp
luật, độc lập với hành pháp và lập pháp.
Quyền này không bị hạn chế và việc một cơ
quan nào không phải là tòa án ra bản án là vi
phạm nội dung “tòa án được thành lập theo
luật”. Điều này có nghĩa là bất cứ khi nào các
quyền và nghĩa vụ phù hợp với luật pháp cũng
phải được thực hiện thông qua thủ tục tố tụng
bởi một tòa án. Nếu nhà nước không thể
thành lập một tòa án có thẩm quyền để xác
định các quyền và nghĩa vụ hoặc không cho
phép tiếp cận với một tòa án như vậy trong
các vụ cụ thể thì nhà nước đó đã vi phạm
quyền được xét xử bởi tòa án được thành lập
theo luật. Cho nên, việc xét xử không dựa trên
pháp luật, không có mục tiêu phù hợp với
công lý, hoặc dựa trên các trường hợp ngoại
lệ của pháp luật quốc tế như miễn trừ… đều
dẫn đến vi phạm quyền này3.
Quy định của các Công ước cho thấy,
người bị buộc tội có quyền được xét xử công
bằng, kịp thời được thực hiện bởi tòa án độc
lập, khách quan và được thành lập theo luật.
Tòa án không chỉ được thành lập theo luật
mà còn bảo đảm xét xử độc lập, khách quan.
Đây là yếu tố cơ bản của Điều 6 EMRK.
Nếu tòa án đã xét xử nhưng không phù hợp
với Điều 6 thì không cần phải kiểm tra thêm
bất cứ thủ tục tố tụng nào khác. Những thủ
tục tố tụng của một phiên tòa không thỏa
mãn tiêu chí độc lập và khách quan thì
2 Stefan Trechsel (with the assisistance of Sarah J. Summers) (2005), Human Rights in Criminal Proceedings,
Oxford University Press, p.54.
3 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Bình luận chung số 32, Quyền con người – Tập hợp những bình
luận/khuyến nghị chung của Ủy ban Công ước Liên hợp quốc (sách tham khảo), Nxb. Công an nhân dân,
tr.363.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
19
Số 20 (420) - T10/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
Ngoài ra, người bị buộc tội có quyền có
tòa án xét xử độc lập: “Độc lập” có nghĩa là
không có sự lệ thuộc đối với bất cứ cơ quan
nào của nhà nước. Có thể nói rằng, sự độc
lập phản ánh vị trí hiến định của cơ quan tư
pháp - độc lập từ người điều hành và cơ quan
lập pháp. Nếu sự độc lập như vậy không tồn
tại thì không thể đảm bảo quyền có tòa án
xét xử độc lập. Theo Uỷ ban nhân quyền
LHQ, yêu cầu về tính độc lập đề cập cụ thể
tới thủ tục và năng lực của việc bổ nhiệm
thẩm phán, và đảm bảo an ninh của họ cho
tới hết nhiệm kỳ hay đến tuổi nghỉ hưu; các
điều kiện thăng tiến, chuyển chỗ, đình chỉ,
chấm dứt các chức vụ của họ; không có sự
can thiệp từ các tổ chức chính trị hoặc từ các
ngành hành pháp và lập pháp; bảo vệ thẩm
phán khỏi bất kỳ ảnh hưởng chính trị nào…
Thẩm phán có thể bị miễn nhiệm trên cơ sở
xem xét tính chất nghiêm trọng của hành vi
sai trái hoặc thiếu năng lực4.
Ở phạm vi rộng hơn, khi bình luận về
Điều 6 EMRK5, học giả Stefan Trechsel
khẳng định, có 4 tiêu chí để xác định một cơ
quan xét xử có được coi là độc lập hay
không: cách thức thẩm phán được bổ nhiệm;
nhiệm kỳ của thẩm phán; những bảo đảm
đặc biệt chống lại các áp lực từ bên ngoài;
biểu hiện của độc lập6. Ngoài ra, ông cho
rằng, tính độc lập của tòa án thể hiện không
chỉ ở thủ tục và năng lực của việc bổ nhiệm
thẩm phán mà còn ở thẩm quyền và tính tự
chủ của tòa án; cơ quan xét xử chỉ có thể độc
lập nếu quyết định của họ có hiệu lực ràng
buộc đối với những cơ quan nhà nước khác7.
Bên cạnh đó, quyền có phiên tòa độc lập
hàm chứa rằng, cơ quan xét xử phải được
kiểm soát toàn diện đối với các quyết định
của mình và không phụ thuộc vào ý kiến của
bất cứ cơ quan nhà nước nào. Cơ quan xét
xử phải hoàn toàn có thẩm quyền trong việc
xem xét cả hai khía cạnh sự kiện thực tế và
yếu tố pháp luật8.
Không chỉ mang tính độc lập, hoạt động
xét xử của tòa án còn đòi hỏi mang tính
khách quan: khách quan là “không thuộc về
bên nào” hoặc “trung lập”. Thuật ngữ này
thường được định nghĩa một cách logic theo
cách phủ định: “không có định kiến”. Yêu
cầu về khách quan, không thiên vị có hai
khía cạnh: thứ nhất, các thẩm phán không
được cho phép phán quyết của họ bị ảnh
hưởng bởi sự thiên vị hay thành kiến cá
nhân, và cũng không được dựa trên các tổn
hại tới bên khác; thứ hai, phiên tòa phải hợp
lý và khách quan. Ví dụ, phiên tòa do một
thẩm phán không đủ năng lực thực hiện việc
xét xử thông thường không được coi là
khách qua9.
2. Bảo đảm quyền của người bị buộc tội
được xét xử công bằng bởi tòa án xét xử
độc lập, khách quan và được thành lập
theo luật trong tố tụng hình sự Việt Nam
Ở nước ta, khoản 2 Điều 103 Hiến pháp
năm 2013 quy định: “Thẩm phán, Hội thẩm
xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can
thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội
thẩm”; Điều 9 Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân năm 2014 quy định: “1. Thẩm phán, Hội
thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp
4 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.364.
5 Stefan Trechsel, tlđd, tr.54.
6 Xem: Stefan Trechsel, tlđd, tr.57.
7 Xem: Stefan Trechsel tlđd, tr.57.
8 Tính tự chủ của Tòa án Bỉ liên quan đến một số vụ án: Delcourts, Borgers và Vermeulen. Chính phủ Bỉ đã
tranh luận rằng, Trưởng công tố có mặt suốt quá trình xét xử của Tòa án là cần thiết để bảo đảm sự thống
nhất trong các vụ án. Tuy nhiên, cơ quan xét xử với nghĩa tại Điều 6 của Công ước châu Âu về quyền con
người không những không cần mà không ủng hộ sự “bảo đảm” như vậy. Họ phải quyết định vụ án đúng
theo thủ tục tố tụng và phù hợp với mục đích của thủ tục thẩm vấn trước đó. Xem : Stefan Trechsel, tlđd,
tr.58.
9 Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tlđd, tr.365.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
20
Số 20 (420) - T10/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân
can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán,
Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức nào”, “2. Cá
nhân, cơ quan tổ chức có hành vi can thiệp
vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm thì
tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử
lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc truy cứu
trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp
luật”; Điều 23 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 (Bộ luật TTHS) quy định: “1.Thẩm
phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân
theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ
chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của
Thẩm phán, Hội thẩm”, “2. Cơ quan, tổ
chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của
Thẩm phán, Hội thẩm dưới bất kỳ hình thức
nào thì tùy tính chất, mức độ vi phạm mà bị
lập nhưng phải tuân theo pháp luật trong
việc giải quyết vụ án hình sự, tuân theo các
quy định của Bộ luật Hình sự, Bộ luật
TTHS, Bộ luật Dân sự khi giải quyết vấn đề
bồi thường dân sự trong vụ án hình sự...
3. Một số vướng mắc trong việc bảo đảm
quyền của người bị buộc tội được xét xử
công bằng bởi Tòa án xét xử độc lập,
khách quan và được thành lập theo luật
trong tố tụng hình sự Việt Nam
Thực tiễn xét xử của Tòa án ở nước ta
trong những năm qua cho thấy, bên cạnh
những kết quả đạt được trong việc bảo đảm
quyền của người bị buộc tội được xét xử
công bằng bởi Tòa án xét xử độc lập, khách
quan và được thành lập theo luật, quy định
hiện hành của pháp luật tố tụng hình sự còn
một số bất cập sau đây:
xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính
hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo
quy định của luật”.
Thứ nhất, quyền được xét xử công bằng
của người bị buộc tội không được bảo đảm
khi quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc về
Tòa án.
Những quy định trên cho thấy, ở nước ta,
quyền của người bị buộc tội được xét xử công
bằng bởi tòa án xét xử độc lập và được thành
lập theo luật thể hiện qua các nội dung sau:
- Xét xử độc lập, khách quan: đòi hỏi
hoạt động xét xử của tòa án không bị phụ
thuộc, không bị tác động bởi bất cứ chủ thể
nào; thông qua phiên tòa, tòa án kiểm tra,
đánh giá chứng cứ, kết quả tranh tụng tại
phiên tòa... và đưa ra bản án, quyết định
đúng pháp luật; thẩm phán và hội thẩm khi
xét xử người bị buộc tội không chịu sự chỉ
đạo của lãnh đạo tòa án hay tòa án cấp trên;
không bị phụ thuộc vào kết luận điều tra và
cáo trạng (có quyền có quan điểm và kết
luận khác với Cơ quan điều tra và Viện kiểm
sát); các thành viên trong Hội đồng xét xử
cũng độc lập với nhau, ý kiến biểu quyết của
hội thẩm có giá trị như của thẩm phán. Bên
cạnh đó, Bộ luật TTHS cũng nghiêm cấm tổ
chức, cá nhân can thiệp vào hoạt động xét
xử của tòa án.
Điều 15 Bộ luật TTHS quy định, trách
nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan có
thẩm quyền tiến hành tố tụng. Điều 34 Bô
luật TTHS xác định, cơ quan tiến hành tố
tụng gồm Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát,
Tòa án. Quy định này không phù hợp với
chức năng xét xử của tòa án được Hiến pháp
quy định. Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp năm
2013 quy định: “1.Tòa án nhân dân là cơ
quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp”.
Là cơ quan thực hiện chức năng xét xử, Tòa
án không có trách nhiệm chứng minh tội
phạm. Tòa án chỉ có nghĩa vụ chứng minh
cho quyết định của mình: chấp nhận lời buộc
tội (nếu phán quyết của tòa án là có tội) hoặc
bác bỏ lời buộc tội (trong trường hợp tòa án
tuyên vô tội)10. Quy định trên của Bộ luật
TTHS gây ảnh hưởng đến hoạt động xét xử
độc lập, khách quan của tòa án. Ngoài ra, xét
ở góc độ thực tiễn, trong phiên tòa xét xử,
thông thường thẩm phán đặt câu hỏi theo
- Được thành lập theo luật: mặc dù
Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc
10 Nguyễn Mạnh Kháng (2008), Bàn về chức năng tố tụng của tòa án và vấn đề độc lập của hoạt động xét xử,
Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, số 10 (246), tr.26.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
21
Số 20 (420) - T10/2020
NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
hướng chứng minh lỗi của bị cáo hoặc ngược
lại. Việc quy định nghĩa vụ chứng minh thuộc
trách nhiệm của Tòa án đã làm cho hoạt động
xét xử của Tòa án không còn mang tính
khách quan, ảnh hưởng đến quyền được xét
xử công bằng của người bị buộc tội.
khách quan cần sửa đổi Điều 15 Bộ luật
TTHS theo hướng giải phóng Tòa án khỏi
nghĩa vụ chứng minh là một trong những cơ
sở pháp lý đảm bảo hoạt động xét xử của
Tòa án có tính khách quan, công bằng. Theo
đó, Tòa án chỉ có nghĩa vụ kiểm tra, đánh
giá chứng cứ. Đây cũng là nghĩa vụ chứng
minh tính có cơ sở của bản án, quyết định
của tòa án11.
Thứ hai, nhiệm kỳ của Thẩm phán.
Hiện nay, theo quy định của Điều 74
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014,
nhiệm kỳ đầu của các thẩm phán là 05 năm;
trường hợp được bổ nhiệm lại hoặc được bổ
nhiệm vào ngạch thẩm phán khác thì nhiệm
kỳ tiếp theo là 10 năm. Việc giới hạn nhiệm
kỳ dẫn đến tâm lý của thẩm phán không yên
tâm khi làm việc. Đặc biệt là khoảng thời
gian gần bổ nhiệm lại, thẩm phán dễ bị sự tác
động từ các yếu tố bên ngoài. Đây là một
trong những nguyên nhân làm nguyên tắc tòa
án xét xử độc lập, khách quan bị ảnh hưởng.
Thứ ba, quyền được xét xử công bằng
của người bị buộc tội không được bảo đảm
khi giữa thẩm phán và hội thẩm nhân dân
chưa độc lập trong hoạt động xét xử.
- Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ
án hình sự thường thụ động, nhường quyền
chủ động cho các thẩm phán. Điều này làm
mất tính “ngang bằng” và “độc lập” của hội
thẩm nhân dân theo luật định.
- Hội thẩm nhân dân không bị ràng
buộc về tổ chức, tái bổ nhiệm, thi đua khen
thưởng và các lợi ích khác như các thẩm
phán, thêm vào đó là chế độ thù lao thấp nên
khó khuyến khích Hội thẩm nhân dân tham
gia tích cực vào hoạt động xét xử.
Ba là, sửa đổi quy định về nhiệm kỳ của
thẩm phán.
Một trong những yếu tố quan trọng để
tòa án xét xử độc lập, khách quan chính là
sự độc lập của thẩm phán trong hoạt động tố
tụng. Để bảo đảm cho người bị buộc tội
được quyền xét xử công bằng bởi tòa án xét
xử độc lập, khách quan, kịp thời, nhanh
chóng cần xây dựng chế độ đãi ngộ, kinh phí
hoạt động của Tòa án, tuổi hưu, nhiệm kỳ và
chế độ lương của thẩm phán... cho phù hợp,
tạo điều kiện để Tòa án hoàn thành tốt chức
năng xét xử của mình.
Tại kỳ họp thứ 7 (tháng 5/2014), Quốc
hội đã thảo luận, cho ý kiến đối với Dự thảo
Luật tổ chức Tòa án nhân dân (sửa đổi), đa
số đại biểu Quốc hội đồng ý với Dự thảo là
kéo dài nhiệm kỳ của Thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao (TANDTC) không thời hạn
với lý do Thẩm phán TANDTC là ngạch
Thẩm phán đặc biệt với những tiêu chuẩn,
điều kiện để được bổ nhiệm cao, người được
bổ nhiệm làm Thẩm phán TANDTC phải trải
qua một quá trình công tác lâu dài, năng lực
và uy tín cao. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng,
kéo dài nhiệm kỳ không chỉ quy định riêng
cho Thẩm phán TANDTC mà cho cả thẩm
phán nói chung. Nghị quyết số 49 - NQ/TW
ngày 2/6/2005 của Bộ chính trị xác định:
“Tăng thời hạn bổ nhiệm chức danh tư pháp
hoặc thực hiện chế độ bổ nhiệm không có kỳ
hạn“12. Thể chế hóa quan điểm của Đảng,
khắc phục những hạn chế về nhiệm kỳ của
thẩm phán theo quy định hiện hành, chúng
4. Một số giải pháp bảo đảm quyền của
người bị buộc tội được xét xử công bằng
bởi Tòa án xét xử độc lập, khách quan và
được thành lập theo luật trong tố tụng
hình sự Việt Nam
Một là, sửa đổi quy định của Bộ luật
TTHS về nghĩa vụ chứng minh của tòa án.
Để bảo đảm cho người bị buộc tội được
xét xử công bằng bởi tòa án xét xử độc lập,
(Xem tiếp trang 34)
11 Lê Nguyên Thanh (2015), Hoàn thiện các quy định về chứng minh trong TTHS nhằm đảm bảo quyền bào
chữa và bảo đảm tranh tụng, Tạp chí Khoa học pháp lý, trường Đại học Luật TP. HCM số 08.
12 Nghị quyết số 49 NQ/TW ngày 2/6//2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
NLẬGHPIÊPNHCÁỨPU
22
Số 20 (420) - T10/2020
Bạn đang xem tài liệu "Quyền được xét xử công bằng của người bị buộc tội được bảo đảm bởi tòa án xét xử độc lập, khách quan và được thành lập theo luật", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
quyen_duoc_xet_xu_cong_bang_cua_nguoi_bi_buoc_toi_duoc_bao_d.pdf

