Giá trị của test da và kết quả giảm mẫn cảm nhanh với huyết thanh kháng dại tinh chế SAR

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
GIÁ TRỊ CỦA TEST DA VÀ KẾT QUẢ GIẢM MẪN CẢM NHANH  
VỚI HUYẾT THANH KHÁNG DẠI TINH CHẾ SAR  
Nguyễn Văn Hồng Quân, Nguyễn Văn Đoàn  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Nghiên cứu nhằm xác định giá trị của test da và kết quả giảm mẫn cảm nhanh với SAR, một huyết thanh  
kháng dại nguồn gốc từ ngựa sản xuất tại Việt Nam. 192 bệnh nhân (BN) có test da dương tính hoặc quá  
mẫn nhanh với SAR ở cơ sở tiêm phòng được làm test nội bì ở 3 độ pha loãng (1:10, 1:100 và 1:1000)  
với chứng âm. Kĩ thuật được tiến hành theo hướng dẫn ENDA/EAACI 2015. Nếu kết quả dương tính, test  
kích thích được thực hiện và giảm mẫn cảm khi có bất kì phản ứng dị ứng nào. Trong 184 bệnh nhân có  
test dương tính ở cơ sở tiêm phòng, chỉ 15,6% dương tính ở cùng nồng độ khi test tại Trung tâm Dị ứng.  
Giá trị dự đoán âm tính của test nội bì ở 3 nồng độ trên lần lượt là 97,3%, 96,2% và 89,3%. Giảm mẫn  
cảm được tiến hành ở 27 bệnh nhân, có 1 trường hợp thất bại. Test da với SAR cần được chuẩn hóa để  
cải thiện giá trị dự đoán. Giảm mẫn cảm là phương pháp có hiệu quả nếu bệnh nhân dị ứng SAR.  
Từ khóa: Dị ứng huyết thanh kháng dại, SAR, giảm mẫn cảm, test da.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bệnh dại là một bệnh truyền nhiễm nguy  
hiểm lây truyền qua tiếp xúc với động vật bị  
dại. Mặc dù nước ta đã và đang nỗ lực phòng  
chống bệnh dại nhưng hàng năm vẫn có nhiều  
bệnh nhân mắc dại. Điều trị dự phòng sau phơi  
nhiễm dại với vaccin và huyết thanh kháng dại  
có ý nghĩa quan trọng do tỉ lệ tử vong khi phát  
bệnh gần như 100%. Ở các nước đang phát  
triển, huyết thanh kháng dại có nguồn gốc từ  
ngựa (ERIG) có hiệu quả tốt và giá thành thấp  
là lựa chọn hàng đầu cho BN có chỉ định.1 Tuy  
nhiên ERIG có thể gây ra một số phản ứng dị  
ứng như phản vệ hay bệnh huyết thanh. Tỉ lệ dị  
ứng khác nhau tùy từng sản phẩm, phụ thuộc  
vào độ tinh khiết (< 1% với huyết thanh của  
Viện Pasteur Pháp, 4,02% với huyết thanh của  
Thụy Sĩ sản xuất).2  
lâu đã được tiến hành với ERIG, chủ yếu ở các  
nước phải sử dụng ERIG số lượng lớn như Thái  
Lan, Ấn Độ, Braxin, tuy nhiên chưa có sự thống  
nhất trong cách thực hiện cũng như vai trò thực  
sự của test da. Các nghiên cứu của các tác giả  
như Sunitha,3 Sudarshan,4 Tantawichien5 khác  
nhau về nồng độ huyết thanh làm test, thời gian  
đọc kết quả, tiêu chuẩn test dương tính, và cũng  
không tuân theo các nguyên tắc cơ bản về test  
da trong dị ứng học như vai trò của nồng độ  
không kích ứng, chứng âm tính (Bảng 1). Trong  
khi đó, WHO gần đây đã không còn khuyến cáo  
làm test da với ERIG trước khi sử dụng.6 Ở Việt  
Nam, đã ghi nhận một số trường hợp phản vệ  
nghiêm trọng với huyết thanh kháng dại SAR,  
nhưng chưa có nghiên cứu nào đánh giá về giá  
trị của test da và độ an toàn của SAR, test da  
(chủ yếu là test nội bì mà không làm test lẩy  
da) vẫn được làm thường quy tại cơ sở tiêm  
phòng theo hướng dẫn của nhà sản xuất. Trong  
một số trường hợp, khi bệnh nhân có biểu hiện  
dị ứng nhưng chưa dùng đủ liều huyết thanh  
kháng dại, giảm mẫn cảm với SAR được tiến  
hành khi không có các lựa chọn thay thế như  
Test da (bao gồm test lẩy da và test nội bì) từ  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Văn Hồng Quân  
Trường Đại học Y Hà Nội  
Ngày nhận: 19/03/2021  
Ngày được chấp nhận: 24/05/2021  
28  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
huyết thanh kháng dại nguồn gốc từ người hay  
huyết thanh kháng dại phân đoạn F(ab’)2 siêu  
tinh chế từ ngựa. Vì vậy, chúng tôi tiến hành  
nghiên cứu với 2 mục tiêu:  
1. Đánh giá giá trị của test da với huyết  
thanh kháng dại tinh chế SAR.  
2. Đánh giá hiệu quả của giảm mẫn cảm  
với huyết thanh kháng dại tinh chế SAR.  
Bảng 1. Đặc điểm kĩ thuật test da của một số tác giả  
Thể tích test  
Thời gian đọc Tiêu chuẩn  
Tác giả  
Độ pha loãng  
Chứng âm  
nội bì (ml)  
test (phút)  
dương tính  
Tantawichien  
(1995)  
1:100  
0,02  
Có  
10  
Sẩn > 5mm  
Sudarshan  
(2011)  
1:10  
1:10  
0,1  
0,1  
Có  
20  
30  
Sẩn > 10mm  
Sẩn > 10mm  
Sunitha (2015)  
Không  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
ứng hoặc các thuốc ảnh hưởng đến quá trình  
làm test hay cấp cứu phản vệ (kháng histamine  
H1 thế hệ 1: không dùng trước test da ít nhất  
1 ngày; kháng histamine H1 thế hệ 2: không  
dùng trước test da ít nhất 7 ngày; beta-blocker:  
không dùng trước test da ít nhất 5 lần thời gian  
bán thải của thuốc).  
1. Đối tượng  
Tiêu chuẩn lựa chọn  
Các bệnh nhân có chỉ định tiêm SAR, có  
test nội bì dương tính ở cơ sở tiêm phòng nên  
chưa được tiêm SAR, hoặc test nội bì âm tính  
ở cơ sở tiêm phòng nên đã được tiêm một phần  
liều SAR, hoặc có tiền sử phản vệ nặng được  
chuyển thẳng lên trung tâm Dị ứng- Miễn dịch  
lâm sàng và có biểu hiện dị ứng Những bệnh  
nhân được chẩn đoán xác định có dị ứng SAR  
nhưng vẫn có chỉ định tiêm SAR sẽ được giảm  
mẫn cảm.  
- Bệnh nhân không đồng ý tham gia nghiên cứu.  
2. Phương pháp  
Thời gian nghiên cứu: từ tháng 8/2019 đến  
tháng 9/2019.  
Địa điểm nghiên cứu: Trung tâm Dị ứng –  
Miễn dịch lâm sàng, Bệnh viện Bạch Mai.  
Tiêu chuẩn loại trừ  
Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang,  
- Bệnh nhân đang có tình trạng nặng hay cơn  
dị ứng cấp tính:  
tiến cứu.  
Cỡ mẫu: mẫu lâm sàng thuận tiện. Chúng  
tôi đã chọn được 192 bệnh nhân đưa vào  
nghiên cứu.  
+ Huyết áp < 90/60 mmHg, nhịp tim > 100 chu  
kì/phút khi nghỉ ngơi.  
+ Suy hô hấp: Thở nhanh > 20 chu kì/phút khi  
nghỉ ngơi, co kéo cơ hô hấp phụ, SpO2 < 94%.  
Nội dung nghiên cứu:  
- Lựa chọn bệnh nhân vào nghiên cứu theo  
các tiêu chuẩn đã đề ra.  
+ Ban mày đay toàn thân, phù quincke, đau  
bụng, co thắt đường thở.  
- Tiến hành test da: test lẩy da với SAR không  
pha loãng và test nội bì ở các độ pha loãng  
1:10, 1:100 và 1:1000. Test kích thích khi test  
da dương tính.  
- Bệnh nhân đang có tổn thương trên da tại  
các vị trí làm test.  
- Bệnh nhân đang dùng các thuốc điều trị dị  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
29  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
- Bệnh nhân được xác định là có dị ứng với  
SAR nếu sau khi sử dụng SAR có ít nhất một  
trong các biểu hiện: mày đay, phù quincke, đau  
bụng, tụt huyết áp, co thắt đường thở.  
đoán dị ứng với SAR nhưng vẫn có chỉ định  
dùng SAR.  
- Tính toán độ nhạy, độ đặc hiệu của test da, tỉ  
lệ thành công của giảm mẫn cảm.  
- Giảm mẫn cảm nếu bệnh nhân được chẩn  
Quy trình tiến hành nghiên cứu (Hình 1):  
Bệnh nhân có chỉ định tiêm SAR tại cơ sở tiêm phòng  
IDT (-),  
tiêm chưa  
đủ liều  
IDT (-),  
tiêm đủ liều  
dung nạp tốt  
IDT (-),  
tiêm đủ liều  
có phản ứng  
IDT (-),  
chưa tiêm  
Chưa làm IDT,  
chưa tiêm  
có phản ứng  
6 BN  
184 BN  
2 BN  
Test da*  
Test da*  
Test da*  
(+)  
(+) (-)  
28 BN  
0 BN 2 BN  
Test kích thích  
(-)  
7 BN  
(-)  
156 BN  
Giảm mẫn cảm (27 BN)  
Tiêm bình thường (165)  
Theo dõi sau dùng SAR đánh giá dị ứng nhanh  
Hình 1. Tóm tắt quy trình nghiên cứu  
* Thực hiện tại Trung tâm Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng, bao gồm test lẩy da với SAR nguyên  
chất, test nội bì với SAR ở 3 độ pha loãng: 1:10, 1:100 và 1:1000.  
IDT: test nội bì; BN: bệnh nhân  
Các bệnh nhân được khai thác tiền sử dị  
ứng, các bệnh lí dị ứng – miễn dịch, kết quả  
test da và tiêm phòng dại tại cơ sở ban đầu.  
Sau đó những BN này được làm test lẩy da  
với SAR nguyên chất, test nội bì ở 3 độ pha  
loãng 1:10, 1:100 và 1:1000. Các test này  
được thực hiện theo hướng dẫn của ENDA/  
EAACI 20157:  
kim lẩy chuyên dụng và đọc kết quả sau 20  
phút. Nếu vị trí lẩy chứng dương và SAR tạo  
thành sẩn có đường kính ≥ 3mm so với chứng  
âm thì kết luận test lẩy da dương tính với SAR.  
- Test nội bì: Tiêm trong da bằng kim 0,5  
mm x 16 mm khoảng 0,02-0,05 ml SAR ở 3  
độ pha loãng 1:10, 1:100 và 1:1000, cùng với  
chứng âm (NaCl 0,9%) vào da mặt trước cẳng  
tay, đảm bảo tạo thành các sẩn đường kính  
khoảng 3-5 mm, các vị trí cách nhau ít nhất  
3 cm. Khoanh tròn theo chu vi của sẩn và ghi  
lại đường kính ban đầu. Đọc kết quả sau 20  
- Test lẩy da: Nhỏ dị nguyên là SAR nguyên  
chất, chứng dương (histamin 1 mg/ml) và  
chứng âm (NaCl 0,9%) lên da vùng mặt trước  
cẳng tay, cách nhau ít nhất 3 cm. Lẩy da bằng  
30  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
phút, đo lại đường kính sẩn và so sánh với  
đường kính ban đầu. Nếu đường kính chứng  
âm không tăng lên, đường kính sẩn ở vị trí  
SAR ≥3 mm so với đường kính ban đầu thì kết  
luận dương tính ở nồng độ tương ứng.  
trên máy tính sử dụng phần mềm thống kê y  
học SPSS 20.0.  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Nghiên cứu tuân thủ chặt chẽ đạo đức y  
học. Người bệnh được giải thích chi tiết về sự  
cần thiết, lợi ích, nguy cơ của test da, test kích  
thích và sử dụng huyết thanh kháng dại SAR,  
có thể từ chối tham gia nghiên cứu bất kì lúc  
nào. Người bệnh đồng ý tham gia nghiên cứu  
sẽ được theo dõi chặt chẽ trong và sau làm  
test, ở điều kiện sẵn sàng cấp cứu phản vệ.  
Nếu bệnh nhân dị ứng với huyết thanh kháng  
dại SAR, các lựa chọn thay thế như huyết  
thanh nguồn gốc từ người hay huyết thanh  
ngựa siêu tinh chế phân đoạn F(ab’)2 sẽ được  
ưu tiên. Trong trường hợp bắt buộc phải giảm  
mẫn cảm, phác đồ được xây dựng cá nhân  
hóa tối đa cho từng bệnh nhân nhằm hạn chế  
các nguy cơ có thể xảy ra.  
Trong trường hợp test da âm tính, BN sẽ  
được dùng SAR theo hướng dẫn của WHO  
(thấm và tiêm tối đa có thể về mặt giải phẫu  
vào vùng xung quanh và miệng vết thương,  
phần còn lại tiêm bắp). Các BN có test da  
dương tính sẽ được test kích thích bằng cách  
tiêm theo phương pháp Besredka: tiêm bắp  
0,1 ml, theo dõi trong 30 phút, nếu không có  
phản ứng tiêm bắp tiếp 0,25 ml, theo dõi trong  
30 phút. Nếu không có phản ứng, BN được  
dùng SAR theo hướng dẫn WHO. Nếu tiêm  
thử theo phương pháp Besredka xuất hiện các  
phản ứng quá mẫn (ban mày đay, phù quincke,  
đau bụng, tụt huyết áp, rale rít ở phổi), BN sẽ  
được tiến hành giảm mẫn cảm nhanh. Phác  
đồ giảm mẫn cảm được tối ưu hóa cho từng  
bệnh nhân dựa trên nồng độ test da dương  
tính, mức độ phản ứng dị ứng đã xảy ra, liều  
cần tiêm. Nguyên tắc giảm mẫn cảm là tăng  
dần liều dùng cho bệnh nhân sau mỗi khoảng  
thời gian nhất định. Các BN đã tiêm ở tuyến  
trước và có phản ứng quá mẫn sẽ được giảm  
mẫn cảm mà không phụ thuộc kết quả test da.  
III. KẾT QUẢ  
1. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu  
Nghiên cứu có 192 bệnh nhân bao gồm  
184 bệnh nhân đã làm test nội bì cho kết quả  
dương tính với SAR tại các cơ sở tiêm phòng  
dại, 6 bệnh nhân có test âm tính đã tiêm một  
phần liều huyết thanh SAR và xuất hiện phản  
ứng quá mẫn (4 bệnh nhân bị mày đay được  
điều trị bằng kháng histamin H1 thế hệ 1, 1  
bệnh nhân phản vệ độ 2 và 1 bệnh nhân phản  
vệ độ 3 được điều trị bằng adrenalin, kháng  
histamin H1 thế hệ 1 và corticoid tĩnh mạch),  
và 2 trường hợp có tiền sử phản vệ nguy kịch  
với kháng sinh.Những bệnh nhân được dùng  
thuốc kháng histamin H1 thế hệ 1 đều được  
chờ đủ 24 giờ trước khi làm lại test da.  
Tất cả BN dùng SAR đều được theo dõi sát  
trong ít nhất 3 giờ sau khi tiêm và ghi lại phản  
ứng dị ứng nếu xảy ra. Các thông tin thu được  
sẽ được đưa vào phân tích, tính toán độ nhạy,  
độ đặc hiệu của mỗi test, kết quả của phương  
pháp giảm mẫn cảm.  
3. Xử lí số liệu  
Số liệu được xử lí theo thuật toán thống kê  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
31  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 2. Đặc điểm bệnh nhân nghiên cứu  
Không dị ứng SAR  
(n = 162)  
Dị ứng SAR  
(n =31)  
Đặc điểm  
Tuổi trung bình (năm)  
Tỉ lệ nam/nữ (%)  
40,73 ± 16,83  
46,0/54,0  
44,52 ± 9,68  
58,1/41,9  
p = 0,087  
p = 0,217  
Số bệnh nhân có tiền sử dị  
ứng thuốc (%)  
6 (3,7%)  
7 (4,3%)  
1 (3,2%)  
Tỉ lệ bệnh nhân có tiền sử  
bệnh lí dị ứng  
0
Trong nghiên cứu của chúng tôi, có 31 bệnh nhân (16,15%) được chẩn đoán xác định quá mẫn  
nhanh với SAR, đặc biệt, ghi nhận 2 trường hợp sốc phản vệ với SAR. Không có sự khác biệt có ý  
nghĩa thống kê về giới tính, độ tuổi trung bình, tiền sử bệnh lí dị ứng hay tiền sử dị ứng thuốc giữa  
nhóm dị ứng và không dị ứng với huyết thanh kháng dại SAR (Bảng 2).  
2. Kết quả test da với huyết thanh kháng dại SAR.  
Trong số 184 bệnh nhân có test nội bì dương tính ở cơ sở tiêm phòng, có 28 bệnh nhân (15,2%)  
có test nội bì dương tính ở cùng nồng độ 1:100 khi tiến hành tại Trung tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm  
sàng Bệnh viện Bạch Mai.  
Bảng 3. Giá trị chẩn đoán của test nội bì ở các độ pha loãng (Phần kết quả)  
IDT  
1:10  
Se (%)  
87,1  
Sp (%)  
89,4  
NPV (%)  
97,3  
PPV (%)  
61,4  
AC  
89,1  
92,7  
89,1  
1:100  
1:1000  
80,6  
95,0  
96,2  
75,8  
38,7  
98,8  
89,3  
85,7  
IDT: intradermal test, test nội bì; Se: sensitivity: độ nhạy; Sp: specifity: độ đặc hiệu  
NPV: negative predictive value, giá trị tiên lượng phản ứng âm tính  
PPV: positive predictive value, giá trị tiên lượng phản ứng dương tính  
Ac: accuracy: độ chính xác  
Chỉ có 1 trường hợp test lẩy da dương tính trong tổng số 192 bệnh nhân được làm test, đây là  
bệnh nhân đã được tiêm một phần SAR ở cơ sở tiêm phòng và có biểu hiện mày đay. Bệnh nhân  
này sau đó được làm test nội bì có kết quả dương tính ở độ pha loãng 1/10, âm tính ở độ pha loãng  
1:100 và 1:1000.Độ nhạy, độ đặc hiệu, giá trị phản ứng âm tính, dương tính của test nội bì ở các độ  
pha loãng 1:10, 1:100 và 1:1000 được mô tả trong Bảng 3.  
32  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
3. Kết quả giảm mẫn cảm  
Bảng 4. Các trường hợp có phản ứng trong giảm mẫn cảm (Phần kết quả)  
Nồng độ tối đa  
có IDT (-)  
Kết cục GMC  
(về dị ứng)  
Bệnh nhân Phản ứng Thời điểm  
Điều trị  
BN 1  
BN 2  
BN 3  
BN 4  
Tụt huyết áp, Sau giảm  
ban mày đay mẫn cảm 1  
1/100.000 Adrenalin truyền TM  
liên tục.  
Thất bại  
(đã xảy ra sốc PV)  
toàn thân  
giờ  
Ổn định sau 2 ngày.  
Ban mày đay  
Bước 9  
1/10.000  
1/10.000  
1/10.000  
Kháng histamine.  
Không phải dừng  
GMC  
Thành công  
(Không có thêm  
phản ứng dị ứng)  
Ban mày đay,  
buồn nôn  
Bước 8  
Kháng histamine.  
Không phải dừng  
GMC  
Thành công  
Đau đầu, đau Bước 12  
bụng nhẹ  
Tự cải thiện sau 30  
phút  
Thành công  
GMC: giảm mẫn cảm  
IDT: test nội bì  
BN: Bệnh nhân  
Có 27 bệnh nhân được giảm mẫn cảm, trong đó có 6 trường hợp do đã tiêm một phần liều và  
có biểu hiện dị ứng ở cơ sở tiêm phòng, 21 bệnh nhân do xuất hiện phản ứng dị ứng khi thử thách  
theo phương pháp Besredka (chủ yếu là ban mày đay). Thời gian giảm mẫn cảm trung bình là 4 giờ  
45 phút, với trung bình 19,85 ± 2,71 bước. Kết cục giảm mẫn cảm có 1 bệnh thất bại khi xảy ra sốc  
phản vệ sau khi kết thúc giảm mẫn cảm 1 giờ, 3 bệnh nhân xảy ra phản ứng dị ứng nhẹ trong quá  
trình giảm mẫn cảm nhưng vẫn hoàn thành giảm mẫn cảm, 23 bệnh nhân hoàn thành giảm mẫn  
cảm mà không có phản ứng dị ứng nào. Các trường hợp có phản ứng khi giảm mẫn cảm được mô  
tả chi tiết trong Bảng 4.  
IV. BÀN LUẬN  
là lí do tỉ lệ bệnh nhân dị ứng nhanh với huyết  
thanh kháng dại SAR của chúng tôi (16,15%)  
cao hơn nhiều so với tỉ lệ chung mà WHO  
đưa ra (tỉ lệ phản vệ ở tất cả mức độ khoảng  
1/150.000 lần tiêm).8  
Nhóm bệnh nhân được đưa vào nghiên cứu  
của chúng tôi bao gồm các bệnh nhân đã làm  
test nội bì với huyết thanh kháng dại SAR tại  
tuyến dưới cho kết quả dương tính, hoặc đã  
tiêm ở tuyến dưới và xuất hiện phản ứng dị  
ứng, hoặc có tiền sử dị ứng nặng nề. Những  
bệnh nhân này được xếp vào nhóm có nguy cơ  
dị ứng cao hơn so với quần thể dân số chung  
và không đại diện cho quần thể bệnh nhân có  
chỉ định tiêm huyết thanh kháng dại. Đó cũng  
Các trường hợp phản vệ nặng với huyết  
thanh kháng dại nguồn gốc từ ngựa rất hiếm  
gặp trên y văn thế giới, nhưng trong nghiên cứu  
của chúng tôi đã gặp 2 trường hợp (biểu hiện  
tụt huyết áp, ban mày đay toàn thân).  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
33  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Do các trường hợp bệnh nhân đã làm test  
da dương tính đều được chuyển đến Trung  
tâm Dị ứng – Miễn dịch lâm sàng ngay trong  
ngày, thời gian giữa 2 lần test da là rất ngắn  
nên sẽ không đủ thời gian để tạo mẫn cảm mới  
trong trường hợp kết quả ở cơ sở tiêm phòng  
là dương tính giả.  
tiến hành nghiên cứu ở cả 3 độ pha loãng 1:10,  
1:100, 1:1000.  
Độ nhạy và độ đặc hiệu của test nội bì với  
huyết thanh kháng dại ở độ pha loãng 1:10  
trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu lần lượt  
là 87,1% và 89,4%. Kết quả của chúng tôi có  
sự khác biệt với kết quả trong nghiên cứu của  
Sudarshan, khi độ nhạy và độ đặc hiệu lần lượt  
là 41,9% và 73,9%.4 Có khác biệt này có thể  
là do đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là  
các bệnh nhân được xếp vào nhóm có nguy cơ  
cao hơn, trong khi Sudarshan chọn tất cả các  
bệnh nhân có phơi nhiễm độ 3 đến tiêm phòng  
(N=2008 bệnh nhân).  
Khi phân tích về tuổi, giới, tiền sử bệnh lí dị  
ứng (hen phế quản, viêm mũi dị ứng, viêm da  
cơ địa, viêm kết mạc mùa xuân), tiền sử dị ứng  
thuốc trước đây giữa 2 nhóm dị ứng và không  
dị ứng với SAR, chúng tôi không nhận thấy mối  
liên quan nào. Các yếu tố này không có ý nghĩa  
thống kê cho tiên lượng dị ứng với huyết thanh  
kháng dại SAR trong nhóm bệnh nhân nghiên  
cứu của chúng tôi – một quần thể có nguy cơ  
cao hơn thông thường.  
So với test nội bì ở độ pha loãng 1:10, test  
nội bì ở độ pha loãng 1:100 có độ nhạy thấp hơn  
nhưng độ đặc hiệu cao hơn; tỉ lệ dương tính giả  
cũng thấp hơn đáng kể (24,2% so với 38,6%, p  
< 0,01). Kết quả này của chúng tôi có sự khác  
biệt lớn với nghiên cứu của Tantawichien và  
cộng sự tiến hành trên dân số Thái Lan với sản  
phẩm huyết thanh kháng dại tinh chế nguồn  
gốc từ ngựa do Pháp sản xuất.5 Trong nghiên  
cứu của Tantawichien, không có bệnh nhân nào  
trong số 150 bệnh nhân có test da dương tính  
có phản ứng phản vệ với huyết thanh kháng dại  
mà họ sử dụng. Rõ ràng, có sự khác biệt trong  
tỉ lệ dị ứng giữa huyết thanh kháng dại tinh chế  
SAR và sản phẩm từ viện Pasteur Paris.  
Trong dị ứng học, test lẩy da là một xét  
nghiệm cần phải làm trước khi chỉ định test nội  
bì, do nguy cơ gây phản vệ và dương tính giả ở  
test nội bì cao hơn so với test lẩy da.9 Tuy nhiên  
với huyết thanh kháng dại SAR, nghiên cứu của  
chúng tôi cho thấy test lẩy da không có ý nghĩa  
trong tiên lượng dị ứng, do đó, có thể không cần  
làm test lẩy da trước khi làm test nội bì.  
Việc chọn lựa nồng độ làm test mẫn cảm trên  
da là tùy thuộc vào nhà sản xuất hay từng quốc  
gia mà không có bất kì một bằng chứng khoa  
học hay nghiên cứu thực nghiệm nào để dựa  
vào, có thể dẫn đến kết quả test không phản  
ánh chính xác tình trạng dị ứng.10 Tuy nhiên từ  
trước đến nay, các nghiên cứu tiến hành test  
da với huyết thanh kháng dại có nguồn gốc từ  
ngựa như đã đề cập phía trên đều không tập  
trung đến nồng độ không kích ứng. Việc hầu  
hết các nghiên cứu này được thực hiện bởi  
các tác giả ở lĩnh vực y tế dự phòng, y tế công  
cộng, bệnh truyền nhiễm hay dược sĩ, ở các  
nước mà chuyên ngành Dị ứng chưa thực sự  
được chú trọng vào thời điểm đó có thể là một  
nguyên nhân mấu chốt. Đó là lí do chúng tôi  
Đặc biệt, test nội bì ở độ pha loãng 1:100  
được khuyến cáo là test mẫn cảm trong hướng  
dẫn sử dụng của Huyết thanh kháng dại tinh  
chế SAR. Do đó đây cũng là nồng độ được tiến  
hành tại các cơ sở tiêm phòng khi test da với  
huyết thanh kháng dại tinh chế SAR. Lí do đa  
số bệnh nhân được chuyển đến Trung tâm Dị  
ứng - Miễn dịch lâm sàng là do có test nội bì  
dương tính (184 bệnh nhân). Tuy nhiên khi thực  
hiện lại test nội bì ở cùng độ pha loãng 1:100 tại  
Trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng, trong  
số 184 bệnh nhân này chỉ có 28 bệnh nhân có  
34  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
kết quả dương tính, chiếm 15,2%. Sự khác biệt  
rất lớn này có thể do các nguyên nhân sau:  
được giảm mẫn cảm với độ pha loãng ban đầu  
1/1.000.000, phác đồ 25 bước tiêm trong thời  
gian 6 giờ. Tuy nhiên, 1 giờ sau khi hoàn thành  
giảm mẫn cảm, bệnh nhân xuất hiện khó thở,  
huyết áp 90/60 mmHg (trước giảm mẫn cảm là  
130/80 mmHg). Bệnh nhân sau đó đã phải nhập  
viện điều trị nội trú. Xét về mặt Dị ứng học, đây  
là một trường hợp thất bại do bệnh nhân xảy ra  
sốc sau khi giảm mẫn cảm; nhưng nếu xét về  
khía cạnh dự phòng bệnh dại, bệnh nhân đã  
thành công khi dùng đủ liều huyết thanh.  
- Có sự khác biệt trong cách thức tiến hành  
test nội bì khi các cơ sở tiêm phòng thường  
không có chứng âm và không được đào tạo  
chuyên sâu về kĩ thuật làm test nội bì, dễ gây  
nên các phản ứng kích ứng da khi thực hiện test.  
- Chưa có sự thống nhất trong nhận định  
kết quả dương tính ở các tuyến cơ sở và tại  
trung tâm Dị ứng - Miễn dịch lâm sàng. Thực  
tế cho thấy, trong số 184 bệnh nhân có test  
da dương tính tại cơ sở tiêm phòng chỉ có 25  
bệnh nhân thực sự có dị ứng nhanh với SAR,  
tỉ lệ dương tính giả của test nội bì ở các cơ sở  
này lên đến 86,4%.  
Với những kết quả này, có thể thấy đây là một  
phương pháp hiệu quả và khả thi nhất để dùng  
huyết thanh kháng dại tinh chế SAR cho bệnh  
nhân bị dị ứng, trong bối cảnh các sản phẩm  
huyết thanh kháng dại nguồn gốc từ người hay  
huyết thanh kháng dại nguồn gốc từ ngựa phân  
đoạn F(ab’)2 rất khó mua được ở nước ta.  
Với kết quả này, test nội bì với huyết thanh  
kháng dại tinh chế SAR được làm lâu nay tại  
các cơ sở tiêm phòng theo hướng dẫn của nhà  
sản xuất IVAC thực sự có rất ít ý nghĩa trong  
dự đoán phản ứng quá mẫn nhanh. Kết hợp  
với việc không dự đoán được mức độ nghiêm  
trọng của phản ứng dị ứng nhanh, khi không  
thể chuẩn hóa và đảm bảo kĩ thuật test chính  
xác, ý nghĩa thực tiễn và sự cần thiết của test  
da với huyết thanh SAR ở cơ sở tiêm phòng  
cần phải được đánh giá kĩ hơn.  
V. KẾT LUẬN  
Tỉ lệ dị ứng với huyết thanh kháng dại tinh  
chế SAR trong nhóm bệnh nhân nghiên cứu có  
nguy cơ cao của chúng tôi là 16,15%, và không  
đại diện cho quần thể bệnh nhân thông thường.  
Đã có 2 trường hợp sốc phản vệ với SAR. Trong  
184 bệnh nhân có test nội bì dương tính ở cơ  
sở tiêm phòng, có 28 bệnh nhân có test nội bì  
dương tính khi thực hiện lại ở Trung tâm Dị ứng  
– Miễn dịch lâm sàng. Test nội bì ở độ pha loãng  
1:10 có giá trị tiên đoán của phản ứng âm tính  
cao nhất (97,3%). Test nội bì ở độ pha loãng  
1:100 có độ chính xác cao nhất (92,7%). Giảm  
mẫn cảm có thể thực hiện khi bệnh nhân bị dị  
ứng với SAR để hạn chế tối đa các phản ứng dị  
ứng nghiêm trọng (tỉ lệ thành công 96,3%). Có  
một trường hợp sốc phản vệ sau giảm mẫn cảm  
đã được cấp cứu và ổn định.  
Khi tiến hành test nội bì ở độ pha loãng  
1:1000, chỉ có 14 trường hợp dương tính,  
chiếm 7,29% tổng số bệnh nhân làm test. Trong  
đó, có 9 bệnh nhân dương tính nhẹ và 5 bệnh  
nhân dương tính vừa hoặc mạnh.  
Có thể thấy theo nồng độ huyết thanh làm  
test giảm dần, độ nhạy của test nội bì cũng  
giảm dần. Ngược lại, độ đặc hiệu của các test  
lại tăng lên và đều ở mức cao.  
Tỉ lệ thành công của phương pháp giảm  
mẫn cảm nhanh với huyết thanh kháng dại tinh  
chế SAR là 96,30%. Trường hợp thất bại duy  
nhất là bệnh nhân Trần Văn P., nam, 42 tuổi.  
BN có test nội bì ở độ pha loãng 1:100.000 cho  
kết quả dương tính 1+. Bệnh nhân sau đó đã  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Shelke PV, Rachh PR. Equine Rabies  
Immunoglobulin: A Review.  
J Drug Deliv  
Ther. 2019;9(4-s):730-735. doi:10.22270/jddt.  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
35  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
v9i4-s.3388  
1995;21(3):660-662.  
2. Wilde H, Chomchey P, Prakongsri S,  
Puyaratabandhu P, Chutivongse S. Adverse  
effects of equine rabies immune globulin.  
Vaccine. 1989;7(1):10-11. doi:10.1016/0264-  
410X(89)90003-0  
6.WHO.WHOExpertConsultationonRabies,  
Third Report. World Health Organization; 2018.  
7. Brockow K, Garvey LH, Aberer W, et  
al. Skin test concentrations for systemically  
administered drugs - an ENDA/EAACI Drug  
Allergy Interest Group position paper. Allergy.  
2013;68(6):702-712. doi:10.1111/all.12142  
3. Sunitha AM. Post Exposure Passive  
Immunization with Purified Equine Rabies  
Immunoglobilin  
– Is Skin Sensitivity Test  
8. WHO. WHO Expert Consultation on  
Rabies: Second Report. Geneva: World Health  
Organization; 2013.  
Needed? Int J Sci Res Publ. 2015;5(5).  
4. Sudarshan MK, Ashwath Narayana DH,  
Ravish HS. Is the skin sensitivity test required for  
administering equine rabies immunoglobulin?  
Natl Med J India. 2011;24(2):80-82.  
9. Nguyễn Văn Đoàn. Một Số Kĩ Thuật Trong  
Chẩn Đoán Bệnh Dị Ứng và Tự Miễn. Nhà Xuất  
bản Y Học; 2018.  
5. Tantawichien T, Benjavongkulchai M,  
Wilde H, et al. Value of skin testing for predicting  
reactions to equine rabies immune globulin.  
Clin Infect Dis Off Publ Infect Dis Soc Am.  
10. The Current Practice of Skin Testing for  
Antibiotics in Korean Hospitals. Korean J Intern  
Med. doi:10.3904/kjim.2010.25.2.207  
Summary  
THE VALUE OF SKIN TESTS AND RAPID DESENSITIZATION WITH  
EQUINE RABIES IMMUNOGLOBULIN "SAR"  
This study evaluates the value of skin tests and clinical outcomes of patients desensitized with  
SAR – an equine rabies immunoglobulin (ERIG) manufactured in Vietnam. One hundred ninety-two  
patients who had positive results to skin tests or immediate hypersensitivity reactions (IHRs) with  
partial dose SAR at several preventive medicine institutes/centers; SAR intradermal test in 3 levels  
of dilution (1:10, 1:100, 1:1000) were performed with the negative control. The procedures followed  
ENDA/EAACI 2015 guideline. If the results were positive, SAR would be injected as a provocation  
method. Desensitization, then, was conducted if patients had any allergic reactions. Others were  
administered SAR normally under tight observations. Among 184 patients who had positive test  
results at other preventive medicine institutes, only 15.6% had the same results as at The Center of  
allergology and clinical immunology of Bach Mai Hospital. The negative predictive value of 3 dilutions  
mentioned are 97.3%, 96.2% and 89.3%, respectively. Twenty-seven patients were performed  
desensitizations. Twenty-six were successful and 1 undergone anaphylaxis (hypotension, urticaria,  
dyspnea). The latter was treated with continuous adrenaline infusion and stabilized after two days  
without any sequelae. The IHRs rate of SAR is significantly higher than other ERIGs. We recommend  
that patients administered SAR require strict controls. The skin test should be standardized to improve  
diagnosis value. Desensitization is an effective therapy for patients at high risk of anaphylaxis.  
Keywords: hypersensitivity ERIG, SAR, skin test with ERIG, desensitization ERIG.  
36  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
pdf 9 trang yennguyen 22720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Giá trị của test da và kết quả giảm mẫn cảm nhanh với huyết thanh kháng dại tinh chế SAR", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgia_tri_cua_test_da_va_ket_qua_giam_man_cam_nhanh_voi_huyet.pdf