Nghiên cứu nồng độ Osteopontin huyết tương ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não không do nguyên nhân từ tim trong 7 ngày đầu

T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
NGHIÊN CỨU NỒNG ĐỘ OSTEOPONTIN HUYẾT TƯƠNG  
Ở BỆNH NHÂN ĐỘT QUỴ NHỒI MÁU NÃO  
KHÔNG DO NGUYÊN NHÂN TỪ TIM TRONG 7 NGÀY ĐẦU  
Nguyễn Văn Quốc1, Dương Văn Duy1  
Nguyễn Trung Kiên1, Trương Xuân Dương1  
Nguyễn Quang Huy1, Nguyễn Thái Sơn1, Đặng Phúc Đức2  
TÓM TẮT  
Mục tiêu: Khảo sát nồng độ sOPN (serum osteopontin) ở bệnh nhân (BN) đột quỵ nhồi máu  
não (ĐQNMN) không do nguyên nhân từ tim trong 7 ngày đầu. Đối tượng và phương pháp:  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 159 BN ĐQNMN không do nguyên nhân từ tim được điều trị  
tại Khoa Đột quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ 6/2020 - 01/2021, thời gian nhập viện < 7 ngày tính  
từ khi khởi phát và 49 người khỏe mạnh là nhóm chứng. Kết quả: Nồng độ sOPN trung bình  
của nhóm BN ĐQNMN là 63,34 32,07 ng/ml cao hơn so v ới nhóm chứng là 44,45 22,75  
ng/ml (p < 0,001). Phân tích hồi quy logistic cho thấy có mối tương quan giữa nồng độ sOPN  
với xác suất dự báo BN ĐQNMN (p < 0,001), tỷ lệ dự báo đúng là 79,3%. BN ĐQNMN có nồng  
độ sOPN 39,24 ng/ml cao gấp 4,5 (2,3 - 8,9) lần so v ới nhóm chứng. Ở BN ĐQNMN, giá trị  
trung bình nồng độ sOPN ở nhóm có mức độ lâm sàng nhẹ (NIHSS < 5) lúc nhập viện, mức độ  
hồi phục tốt khi ra viện (mRS ≤ 2) và ổ tổn thương trên CT, MRI nhỏ (ASPECT > 7) thấp hơn ở  
nhóm mức độ lâm sàng trung bình và nặng (NIHSS ≥ 5), mức độ hồi phục xấu khi ra viện (mRS  
> 2) và ổ tổn thương lớn (ASPECT ≤ 7) có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,033, 0,001 và <  
0,001. Tuy nhiên, khi phân tích logistic thì nồng độ sOPN chỉ có giá trị dự báo đối với mức độ  
hồi phục khi ra viện theo thang điểm mRS và mức độ tổn thương trên CT, MRI theo thang điểm  
ASPECT với giá trị p lần lượt là 0,008 và < 0,001, tỷ lệ dự báo đúng là 70,4% và 73,0%, tỷ suất  
chênh lần lượt là 1,014 (1,004 - 1,025) và 1,025 (1,013 - 1,037). Kết luận: Nồng độ sOPN của  
BN ĐQNMN cao hơn nhóm chứng. Ở BN ĐQNMN nồng độ sOPN ở BN có đ iểm NIHSS ≥ 5,  
mRS > 2 và ASPECT ≤ 7 cao hơn.  
* Từ khóa: Đột quỵ nhồi máu não; Osteopontin.  
A Study of Serum Osteopontin concentration in Patients with a  
Non-Cardiac Ischemic Stroke in the First 7 Days  
Summary  
Objectives: To investigate sOPN concentration in patients with non-cardiogenic ischemic  
stroke during the first 7 days. Subjects and methods: A cross-sectional descriptive study  
on 159 non-cardiac ischemic stroke patients were treated at the Stroke Department,  
Military Hospital 103 from June 2020 to January 2021, hospitalization time was less than  
1Học viện Quân y  
2Bệnh viện Quân y 103, Học viện Quân y  
Người phản hồi: Nguyễn Văn Quốc ([email protected])  
Ngày nhận bài: 22/3/2021  
Ngày bài báo được đăng: 24/5/2021  
89  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
7 days since onset, and 49 control groups were healthy individuals. Results: The average  
sOPN concentration of the ischemic stroke patient group was 63.34 32.07 ng/mL, which was  
higher than that of the control group at 44.45 22.75 ng/mL (p < 0.001); logistic regression  
analysis showed that there was a logistic correlation between the sOPN concentration and the  
probability of predicting the patient ischemic stroke with p < 0.001, the correct prediction rate  
was 79.3%. The sOPN concentration of ischemic stroke patients was 39.24 ng/mL, which was  
4.5 (2.3 - 8.9) times higher than those in the control group. In ischemic stroke patients, the  
average sOPN concentration of patients with mild clinical picture (NIHSS < 5) at admission,  
good outcomes at discharge (mRS ≤ 2), and small lesions on CT scan, MRI (ASPECT > 7) was  
lower than those with moderate and severe clinical degree (NIHSS ≥ 5), poor outcome  
discharge (mRS > 2), and large lesions (ASPECT ≤ 7), which had significance with p = 0.033,  
0.001 and < 0.001. However, when using logistic analysis, the sOPN concentration only had  
predictive value for the degree of the outcome at discharge according to the mRS scale and the  
level of injury on CT scan, MRI according to the ASPECT scale with p-value respectively 0.008  
and < 0.001, the correct prediction rate was 70.4% and 73.0%, the odds ratio was 1.014 (1.004 -  
1.025) and 1.025 (1.013 - 1.037). Conclusion: The sOPN concentration of ischemic stroke  
patients was higher than that of the control group who was healthy. Ischemic stroke patients  
with NIHSS ≥ 5, mRS > 2, and ASPECT ≤ 7 had higher sOPN concentration.  
* Keywords: Ischemic stroke; Osteopontin.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
trong quá trình sửa chữa hoại tử của tế  
bào hình sao và sự phục hồi những tế  
bào thần kinh [3].  
Đột quỵ là nguyên nhân hàng đầu dẫn  
đến tàn tật và t ử vong trên toàn thế giới.  
Cho đến nay, ĐQNMN là phổ biến nhất,  
OPN là một protein chất nền ngoại bào,  
chiếm 85% trong tất cả các cơn đột quỵ, hoạt động như một chất ức chế mạnh mẽ  
trong đó do chảy máu não chiếm 15% [1]. quá trình khoáng hóa mô mềm và do đó,  
Khi xảy ra ĐQNMN, ổ tổn thương sẽ tạo nó có thể ngăn chặn vôi hóa lạc chỗ của  
nên 3 vùng: vùng lõi hay trung tâm là ổ hệ m ạch ở in vivo. OPN c ũng là một  
nhồi máu (infarction), vùng nửa tối nửa cytokine hòa tan liên quan đến viêm và tái  
sáng (penumbra) và vùng xung quanh tạo mô. Trong các phản ứng viêm c ấp  
(surrounding). Tại vùng lõi, các tế bào tính và mạn tính, OPN xuất hiện cao ở cả  
chết theo 3 cách: Theo chương trình đại thực bào và tế bào lympho CD4+ và  
(apoptosis), hoại tử (necrosis) và thực đóng vai trò chức năng trong phản ứng  
bào (autophagy). Sau đó các tế bào thần Th1 sớm. Do t ất cả các đặc tính này,  
kinh đệm bắt đầu một phản ứng chữa OPN được cho là làm trầm trọng thêm  
lành vết thương. Quá trình này liên quan tình trạng viêm trong một số bệnh mạn tính,  
đến sự biến đổi của tế bào hình sao bao gồm cả xơ vữa động mạch. Thực tế,  
(astrocytes) và tiểu thần kinh đệm OPN đã được quan sát thấy trong các t ế  
(microglia) không hoạt động sang trạng bào cơ trơn trong các tổn thương xơ vữa  
thái kích hoạt của chúng trong vùng động mạch của con người, cũng như  
penumbra và surrounding [2]. Các nghiên trong các tế bào nội mô mạch máu và đại  
cứu gần đây chứng minh OPN có vai trò  
thực bào. Gần đây, mức độ OPN m ảng  
90  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
bám động mạch cảnh đã được tìm thấy là  
một yếu tố d ự báo cho các bệnh lý tim  
mạch ở người nói chung và ĐQNMN nói  
riêng [3, 4]. Do đó chúng tôi tiến hành  
nghiên cứu này nhằm: Khảo sát nồng độ  
sOPN ở BN ĐQNMN không do nguyên  
nhân từ tim trong 7 ngày đầu.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
* Thiết kế nghiên cứu: Mô t ả c ắt  
ngang, so sánh giữa 2 nhóm nghiên cứu.  
* Cỡ mẫu nghiên cứu: 159 BN ĐQNMN  
và nhóm chứng 49 người khỏe mạnh có  
tuổi và giới tương đương với nhóm bệnh.  
- Khám lâm sàng tại thời điểm BN vào  
viện đánh giá các yếu tố nguy cơ, đánh  
giá ý th ức bằng thang điểm GCS, đánh  
giá mức độ lâm sàng bằng thang điểm  
NIHSS. Thời điểm BN ra vi ện đánh giá  
mức độ hồi phục bằng thang điểm mRS.  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu  
159 BN ĐQNMN không do nguyên  
nhân từ tim được điều trị t ại Khoa Đột  
quỵ, Bệnh viện Quân y 103 từ 6/2020 -  
01/2021.  
- Hình ảnh học: Đánh giá đặc điểm tổn  
thương nhu mô não sớm bằng thang  
điểm ASPECTS trên phim CT và/hoặc  
MRI sọ não.  
* Tiêu chuẩn lựa chọn:  
Tiêu chuẩn chẩn đoán đột qụy dựa  
vào định nghĩa của WHO (1970), có đầy  
đủ 4 tiêu chuẩn: Bệnh xảy ra đột ngột, có  
tổn thương chức năng của não, triệu  
chứng tồn tại > 24 giờ hoặc tử vong,  
không do nguyên nhân nào khác ngoài  
nguyên nhân mạch máu. Tiêu chuẩn chẩn  
đoán cận lâm sàng ĐQNMN, tất cả các  
BN được chụp CT và/hoặc MRI để loại  
trừ chảy máu não và chẩn đoán xác định  
ĐQNMN. Tiêu chuẩn về thời gian: BN  
được lấy mẫu bệnh phẩm sOPN < 7 ngày  
tính từ khi khởi phát.  
- Xét nghiệm OPN bằng máy ELISA  
Model Multiskan FC (hãng Thermo  
Scientific/Thermo Fisher Sicetific, Seri No  
357-910681T) tại Khoa Y h  
ọc Quân  
binh chủng, Học viện Quân y với kít xét  
nghiệm là R&D systems, Minneapolis, MN.  
3. Xử lý số liệu  
Đối với các biến định tính, tính tần số  
và tỷ lệ phần trăm. Đối với các biến định  
lượng, tính giá trị trung bình (mean), độ  
lệch chuẩn (SD). Kiểm định so sánh giữa  
các tỷ lệ bằng test Chi bình phương (χ2),  
so sánh 2 giá trị trung bình giữa các  
biến độc lập bằng test phi tham số  
Mann-Whitney. Xây dựng đường cong  
ROC để tính AUC, điểm cut-off, Se và Sp.  
Phân tích hồi quy logistic để xác định xác  
suất dự báo và tỷ lệ dự báo đúng. Giá trị  
Tiêu chuẩn chọn nhóm chứng: Những  
người được thăm khám xác định là khỏe  
mạnh có cùng độ tuổi và gi ới tính v ới  
nhóm bệnh.  
* Tiêu chuẩn loại trừ: BN b ệnh lý tim  
mạch, các bệnh lý rối loạn đông chảy  
máu, mắc các bệnh ác tính, tiền sử bị đột  
quỵ não hoặc các bệnh thần kinh trung  
ương khác và những BN không đồng ý p < 0,05 được coi có ý ngh ĩa thống kê.  
tham gia nghiên cứu.  
Xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS 22.0.  
91  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Kết quả nghiên cứu về tuổi, giới của 159 BN ĐQNMN so với 49 người nhóm chứng.  
Tuổi trung bình của nhóm bệnh là 66,04 12,849, nhóm chứng là 64,94 12,522;  
không có sự khác biệt về tuổi giữa hai nhóm nghiên cứu (p = 0,530). Nhóm bệnh nam  
giới chiếm 64,8%, nữ chiếm 35,2%, nhóm chứng nam chiếm 61,2%, tỷ lệ giới tính giữa  
2 nhóm nghiên cứu là như nhau với p = 0,734.  
1. Đặc điểm của bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não  
Bảng 1: Đặc điểm đột quỵ nhồi máu não.  
Đặc điểm  
Tuổi ≥ 70  
Số lượng (n)  
Tỷ lệ (%)  
39,6  
64,8  
51,6  
11,9  
26,4  
15,7  
29,6  
34,0  
74,2  
25,8  
39,6  
60,4  
72,3  
27,7  
71,7  
28,3  
63  
103  
82  
Nam giới  
Tăng huyết áp  
Đái tháo đường  
Rối loạn lipid  
Béo phì  
19  
Các yếu tố nguy cơ  
42  
25  
Hút thuốc lá  
Uống rượu bia  
47  
54  
15  
118  
41  
GCS  
< 15  
< 5  
63  
NIHSS  
mRS  
≥ 15  
≤ 2  
96  
Các thang điểm  
115  
44  
> 2  
> 7  
114  
45  
ASPECT  
≤ 7  
Tuổi BN ĐQNMN: < 45 tuổi (7,5%), < 70 tuổi (60,4%); tỷ lệ nam/nữ là 1,84/1.  
Trong các yếu tố nguy cơ, tăng huyết áp thường gặp nhất (51,6%).  
Lúc nhập viện giá trị trung bình của các thang điểm: GCS là 14,41 1,308 điểm,  
NIHSS là 7,47 5,797 điểm và ASPECT là 8,05 1,395 điểm. Lúc ra viện, giá trị trung  
bình của thang điểm mRS là 2,19 1,338 điểm.  
2. Nồng độ sOPN giữa 2 nhóm nghiên cứu  
Nồng độ sOPN trung bình của nhóm BN ĐQNMN là 63,34 32,07 ng/ml, của nhóm  
chứng là 44,45 22,75 ng/ml (p < 0,001).  
92  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
Biểu đồ 1: Phân bố nồng độ sOPN giữa 2 nhóm nghiên cứu.  
Phân tích hồi quy logistic cho thấy có mối tương quan giữa nồng độ sOPN với xác  
suất dự báo BN ĐQNMN có ý nghĩa thống kê (p < 0,001), tỷ lệ dự báo đúng là 79,3%.  
Tỷ suất chênh giữa BN ĐQNMN so với nhóm chứng khi nồng độ sOPN t ăng lên 1  
ng/ml là OR = 1,031; 95%CI: 1,014 - 1,049.  
Biểu đồ 2: Đường cong ROC của sOPN giữa 2 nhóm nghiên cứu.  
Dựa vào biểu đồ ROC của nồng độ sOPN gi ữa 2 nhóm nghiên cứu xác định  
AUC = 66,7% (p < 0,001). V  
ới điểm MaxJ = 0,329, xác định được điểm cut-off  
của nồng độ sOPN là 39,24 ng/ml, tại đây Se = 79,9%, Sp = 53,1%. Từ điểm cut-off,  
93  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
tính được tỷ suất chênh của nồng độ sOPN giữa 2 nhóm nghiên cứu là OR (95%CI)  
= 4,5 (2,3 - 8,9) (p < 0,001); nhưvậy ở nhóm BN ĐQNMN có nồng độ sOPN 39,24 ng/ml  
cao gấp 4,5 lần so với nhóm chứng.  
3. Mối liên quan giữa nồng độ sOPN với thời gian lấy mẫu  
Biểu đồ 3: Phân bố nồng độ sOPN theo thời gian lấy mẫu.  
Phân tích Anova nhận thấy không có mối liên quan giữa nồng độ sOPN v ới thời  
gian lấy mẫu (p > 0,05). Tiến hành chia 2 nhóm: Nhóm lấy mẫu từ ngày thứ 1 - 5 và  
nhóm lấy mẫu từ ngày thứ 6 - 7. Kết quả giá trị trung bình nồng độ sOPN ở nhóm 1 - 5 ngày  
là 61,74 32,05 ng/ml,ở nhóm 6 - 7 ngày là 70,51 32,54 ng/ml, giá tịrp = 0,094 không có  
ý nghĩa thống kê.  
4. Mối liên quan giữa nồng độ sOPN với đặc điểm đột quỵ nhồi máu não  
Bảng 2: Mối liên quan giữa sOPN với đặc điểm ĐQNMN.  
Nồng độ sOPN  
Đặc điểm  
p
n
SD  
≥ 70  
< 70  
Nam  
Nữ  
63  
96  
68,19 34,64  
60,16 30,32  
60,37 28,14  
68,80 38,33  
65,01 35,48  
61,56 28,50  
Tuổi  
0,062  
0,320  
0,793  
103  
56  
Giới  
Có  
82  
Tăng huyết áp  
Không  
77  
94  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
Nồng độ sOPN  
Đặc điểm  
p
n
SD  
Có  
Không  
Có  
19  
140  
42  
66,50 34,67  
0,970  
62,91 32,00  
Đái tháo đường  
Rối loạn lipid  
Béo phì  
59,46 26,92  
0,551  
64,73 33,94  
Không  
Có  
117  
25  
55,10 35,09  
0,020  
64,88 31,58  
Không  
Có  
134  
47  
60,84 27,63  
0,709  
64,39 34,04  
Hút thuốc lá  
Uống bia rượu  
GCS  
Không  
Có  
112  
54  
66,83 33,93  
0,336  
61,83 31,35  
Không  
15  
104  
118  
41  
62,58 32,68  
0,493  
65,52 31,22  
< 15  
< 5  
63  
59,42 33,83  
0,033  
65,91 31,05  
NIHSS  
≥ 5  
96  
≤ 2  
115  
44  
58,98 32,26  
0,001  
74,73 29,59  
mRS  
> 2  
> 7  
114  
45  
56,06 23,94  
< 0,001  
81,78 42,12  
ASPECT  
≤ 7  
Như vậy, giá trị trung bình nồng độ sOPN ở nhóm có mức độ lâm sàng nhẹ (NIHSS < 5)  
lúc nhập viện, mức độ hồi phục tốt khi ra viện (mRS ≤ 2) và ổ tổn thương trên CT, MRI  
nhỏ (ASPECT > 7) thấp hơn ở nhóm mức độ lâm sàng trung bình và nặng  
(NIHSS ≥ 5), m ức độ h ồi phục xấu khi ra viện (mRS > 2) và ổ t ổn thương lớn  
(ASPECT ≤ 7) (p < 0,05). Ở người béo phì, nồng độ sOPN c ũng thấp hơn người có  
cân nặng bình thường.  
Tuy nhiên, khi phân tích logistic thì nồng độ sOPN chỉ có giá trị dự báo đối với mức  
độ hồi phục khi ra viện theo thang điểm mRS và mức độ tổn thương trên CT, MRI theo  
thang điểm ASPECT với giá trị p l ần lượt là 0,008 và < 0,001, tỷ lệ dự báo đúng là  
70,4% và 73,0%, tỷ suất chênh lần lượt là 1,014 (1,004 - 1,025) và 1,025 (1,013 - 1,037).  
Biểu đồ 4: Đường cong ROC giữa sOPN với các thang điểm đột quỵ.  
95  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
Dựa vào đường cong ROC của nồng mô bằng cách thu nạp các tế bào viêm có  
độ sOPN v ới thang điểm NIHSS ở BN hại vào vị trí tổn thương và làm tăng khả  
ĐQNMN thấy, AUC = 60,0% (p = 0,033). năng sống sót của chúng. Những phát  
Với chỉ số MaxJ = 0,259, xác định được hiện gần đây cho thấy OPN không ch ỉ  
điểm cut-off của nồng độ sOPN là 49,64 tham gia vào việc thúc đẩy tổn thương  
ng/ml, tại đây Se = 65,6%, Sp = 60,3% và mô mà còn trong các cơ chế sửa chữa/tái  
nồng độ sOPN ≥ 49,54 ng/ml ở nhóm BN tạo, chủ y ếu được kích hoạt bởi phản  
ĐQNMN có mức độ lâm sàng vừa và ứng viêm. Hai vai trò rõ ràng trái ngược  
nặng (NIHSS ≥ 5) cao gấp 2,9 (1,5 - 5,6) nhau này một phần liên quan đến sự biểu  
lần ở nhóm mức độ lâm sàng nhẹ (NIHSS hiện của các vùng chức năng khác nhau  
< 5) (p = 0,002).  
trong phân tử OPN [5] .  
Biểu đồ 4B biểu diễn đường cong  
Ở BN t ổn thương não do ĐQNMN  
ROC của nồng độ sOPN theo thang điểm cũng liên quan đến tăng biểu hiện OPN,  
mRS cho kết quả AUC = 70,4%, p < được quan sát chủ yếu ở thực bào trung  
0,001; với MaxJ = 0,415, xác định được tính và đại thực bào được tìm thấy trong  
điểm cut-off của nồng độ sOPN là 50,10 vùng nhồi máu và quanh tổn thương. Sự  
ng/ml, Se = 84,1%, Sp = 57,4% và ở biểu hiện của OPN song song với quá  
những BN ra vi ện hồi phục tốt (mRS ≤ 2) trình thời gian thâm nhập của đại thực  
thì nồng độ sOPN ≥ 50,10 ng/ml cao gấp bào vào vùng nhồi máu và sự biểu hiện  
7,1 (2,9 - 17,3) lần so với BN ra viện hồi của CD44 (một thụ thể OPN). Ngoài ra,  
phục xấu (mRS > 2) với p < 0,001.  
các mẫu biểu hiện tế bào hình sao của  
một thụ thể khác đối với OPN, Integrarin  
aVb3, song song với quá trình điều hòa  
OPN theo thời gian trong ĐQNMN. Ellison  
và CS khẳng định OPN là một chất hóa trị  
có tác dụng thu nhận các t ế bào vi mô,  
đại thực bào và tế bào hình sao để hỗ trợ  
hình thành sẹo thần kinh đệm sau tổn  
thương do ĐQNMN [6] .  
So với thang điểm ASPECT, đường  
cong ROC của nồng độ sOPN (biểu đồ  
4C) cho kết quả AUC = 71,1 (p < 0,001);  
với MaxJ = 0,375 xác định được điểm  
cut-off của nồng độ sOPN là 49,64 ng/ml,  
Se = 82,2%, Sp = 55,3% và ở những BN  
có tổn thương trên phim CT, MRI s ọ não  
mức độ nhỏ (ASPECT > 7) thì nồng độ  
sOPN ≥ 49,64 ng/ml cao gấp 5,7 (2,4 -  
So sánh giá trị trung bình nồng độ  
13,4) lần so v ới BN mức độ tổn thương sOPN giữa 2 nhóm nghiên cứu cho thấy  
lớn (ASPECT ≤ 7) (p < 0,001).  
nhóm BN ĐQNMN có nồng độ trung bình  
cao hơn nhóm chứng. Phân tích hồi quy  
logistic cũng cho kết quả t ương tự có ý  
nghĩa thống kê. Nghiên cứu của Jing và  
CS (2013) ở 377 BN ĐQNMN cấp trong  
vòng 24 giờ đầu và 551 người thuộc  
nhóm chứng, tiến hành đo nồng độ huyết  
thanh của OPN toàn chuỗi (full length  
OPN) và OPN phân cắt thrombin  
BÀN LUẬN  
OPN là một loại protein thể dịch, biểu  
hiện nhiều chức năng và ngày càng thu  
hút sự chú ý vì vai trò của nó trong sinh lý  
bệnh của một số bệnh viêm, thoái hóa, tự  
miễn dịch và ung thư. Một số nghiên cứu  
đã chỉ ra OPN góp phần làm tổn thương  
96  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
(thrombin-cleaved OPN) ở 2 nhóm ELISA chúng tôi cho thấy không có sự khác biệt  
có ý nghĩa thống kê giữa giá trị trung bình  
nồng độ sOPN gi ữa các ngày lấy bệnh  
phẩm, mặc dù ghi nhận ở ngày thứ 6  
nồng độ sOPN cao h ơn so v ới các ngày  
trước đó. Có sự khác biệt này là do  
nghiên cứu của Carbone là nghiên cứu  
theo dõi dọc, các mẫu bệnh phẩm được  
thu thập ở các thời điểm khác nhau trên  
cùng 1 BN, còn nghiên cứu của chúng tôi  
là nghiên cứu cắt ngang, mỗi BN chỉ lấy  
mẫu bệnh phẩm 1 l ần, hơn nữa cỡ mẫu  
cũng là một hạn chế khi chia ra so sánh  
trong 7 ngày.  
với kít Calbiochem cho kết quả không có  
sự khác biệt về giá trị trung bình nồng độ  
OPN toàn chuỗi giữa 2 nhóm (78,9 12,5  
ng/ml với 75,7 12,7 ng/ml, p = 0,745),  
tuy nhiên trung bình nồng độ thrombin-  
cleaved OPN ở nhóm ĐQTMT cao hơn  
so với nhóm chứng có ý nghĩa thống kê  
(176,7  
54,1 ng/ml với 135,2  
67,8  
ng/ml, p = 0.003) [7] Augello và CS  
(2018) tiến hành đo nồng độ sOPN b ằng  
kỹ thuật Luminex MagPix ở 24 BN  
ĐQNMN (thời gian lấy máu ngoại vi là  
22,9 4,5 giờ tính từ lúc khởi phát) và  
nhóm chứng là 26 người khỏe mạnh, kết  
quả cho thấy nồng độ sOPN ở BN  
ĐQNMN cao hơn nhóm chứng có ý nghĩa  
thống kê v ới p = 0,02 (69,31 (27,68 -  
108,27) pg/ml so với 43,16 (20,37 -  
58,67) pg/ml). Phân tích đường cong  
ROC tại điểm cut-off nồng độ sOPN là  
75,99 pg/ml cho AUC = 69,07%, Se =  
50%, Sp = 96,15% [8]. Như v ậy, giá trị  
trung bình nồng độ sOPN ở nghiên cứu  
của chúng tôi so với các tác giả trên là  
khác nhau, có sự khác biệt này là do kỹ  
thuật đo và b ộ kít xét nghi ệm cũng như  
đối tượng nghiên cứu khác nhau. Tuy  
nhiên, nghiên cứu của chúng tôi cho kết  
quả tương tự nghiên cứu của các tác giả  
trên ở nhóm BN ĐQNMN có nồng độ  
sOPN cao hơn có ý nghĩa thống kê so với  
nhóm chứng là những người khỏe mạnh.  
Nghiên cứu của Mendioroz và CS  
(2011) tiến hành đo nồng độ sOPN ở 178  
BN bị tắc động mạch não giữa nhập viện  
trong vòng 3 giờ đầu sau khởi phát, thời  
điểm lấy máu trước khi điều trị rtPA và so  
sánh nhóm chứng là 40 người khỏe  
mạnh. Kết quả, mức OPN ở BN đột quỵ  
không khác với mức OPN của nhóm  
chứng (16,65 ng/ml so với 17,83 ng/ml,  
p = 0,404). Tuy nhiên, mức OPN đã tăng  
lên ở những BN có tiên l ượng xấu hơn  
sau 3 tháng (19,96 ng/ml so với 15,48  
ng/ml, p = 0,040). Trong mô hình hồi quy  
logistic, mức OPN > 27,22 ng/ml được  
tìm thấy là một yếu tố độc lập cho kết quả  
xấu (OR = 5,01; 95%CI: 1,60 - 15,72,  
p = 0,006) sau khi điều chỉnh các yếu tố  
gây nhiễu tiềm năng. BN có mức OPN  
cao hơn trước khi dùng rtPA cho thấy tiên  
lượng xấu hơn so với BN có mức OPN  
thấp hơn [4]. Nghiên cứu của Carbone và  
CS (2015) cho thấy có m ối tương quan  
thuận giữa nồng độ sOPN ở ngày thứ 7  
với thể tích ổ tổn thương trên CT tại thời  
điểm ngày thứ 7 và ngày thứ 90 với p lần  
lượt là 0,008 và 0,020 [9].  
Nghiên cứu của Carbone và CS (2015)  
theo dõi 90 BN ĐQNMN lần đầu, lấy máu  
xét nghiệm tại thời điểm nhập viện và  
ngày thứ 1, 7 và 90 kể từ khi kh ởi phát.  
Kết quả cho thấy nồng độ OPN tăng  
cao ở ngày th ứ 7 có ý ngh ĩa thống kê  
(p < 0,001) [9]. Tuy nhiên, nghiên cứu của  
97  
T¹p chÝ y - d−îc häc qu©n sù sè 5-2021  
2. Grotta JC, et al. Stroke: Pathophysiology,  
diagnosis, and management. Elsevier. Philadelphia.  
PA 2016.  
KẾT LUẬN  
Giá trị trung bình nồng độ sOPN ở BN  
ĐQNMN cao hơn ở người khỏe mạnh  
(63,34 32,07 ng/ml so với 44,45 22,75  
ng/ml) với p < 0,001. Phân tích hồi quy  
logistic cho kết quả nồng độ sOPN có giá  
trị dự báo ở BN ĐQNMN với p < 0,001, tỷ  
lệ dự báo đúng 79,3%.  
3. Lok Zoe Shin Yee and Lyle Alicia N.  
Osteopontin in vascular disease. Arteriosclerosis,  
Thrombosis, and Vascular Biology 2019;  
39(4):613-622.  
4. Mendioroz M, Fernández-Cadenas I,  
Rosell A, et al. Osteopontin predicts long-term  
Giá trị trung bình nồng độ sOPN ở functional outcome among ischemic stroke  
patients. J Neurol 2011; 258(3):486-493.  
nhóm lúc nhập viện cao có mức độ lâm  
sàng nặng NIHSS ≥ 5 cao hơn lâm sàng  
nhẹ NIHSS < 5 (65,91 31,05 ng/ml so  
với 59,42 33,83 ng/ml) với p = 0,033;  
khi ra viện mức độ hồi phục xấu mRS > 2  
cao hơn hồi phục tốt mRS ≤ 2 (74,73  
29,59 ng/ml so với 58,98 32,26 ng/ml)  
với p = 0,001 và ổ t ổn thương trên CT,  
MRI lớn ASPEC ≤ 7 cao hơn tổn thương  
nhỏ ASPECT > 7 (81,78 42,12 ng/ml so  
với 56,06 23,94 ng/ml) với p < 0,001.  
Tuy nhiên, khi phân tích logistic thấy nồng  
độ sOPN chỉ có giá trị d ự báo đối với  
thang điểm mRS và ASPECT với lần lượt  
p = 0,008 và < 0,001, tỷ lệ dự báo đúng  
70,4% và 73,0%.  
5. Cappellano G, Vecchio D, Magistrelli L,  
et al. The Yin-Yang of osteopontin in nervous  
system diseases: Damage versus repair. Neural  
Regen Res 2021; 16(6):1131-1137.  
6. Ellison JA, Barone FC, and Feuerstein  
GZ. Matrix remodeling after stroke. De novo  
expression of matrix proteins and integrin  
receptors. Ann N Y Acad Sci 1999; 890:204-222.  
7. Jing M, Li B, Hou X, et al. OPN gene  
polymorphism and the serum OPN levels  
confer the susceptibility and prognosis of  
ischemic stroke in Chinese patients. Cell  
Physiol Biochem 2013; 32(6):1798-1807.  
8. Augello CJ, Noll JM, Distel TJ, et al.  
Identification of novel blood biomarker panels  
to detect ischemic stroke in patients and their  
responsiveness to therapeutic intervention.  
Brain Res 2018; 1698:161-169.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Lindsay MP, Norrving B, Sacco RL, et  
al. World Stroke Organization (WSO): Global  
stroke fact sheet 2019. Int J Stroke 2019;  
14(8):806-817.  
9. Carbone F, Vuilleumier N, Burger F, et al.  
Serum osteopontin levels are upregulated and  
predict disability after an ischaemic stroke.  
Eur J Clin Invest 2015; 45(6):579-586.  
98  
pdf 10 trang yennguyen 19800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu nồng độ Osteopontin huyết tương ở bệnh nhân đột quỵ nhồi máu não không do nguyên nhân từ tim trong 7 ngày đầu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_nong_do_osteopontin_huyet_tuong_o_benh_nhan_dot_q.pdf