Du lịch sáng tạo và nghiên cứu áp dụng xây dựng sản phẩm du lịch làng nghề xứ Thanh

NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
DU LỊCH SÁNG TẠO VÀ NGHIÊN CỨU ÁP DỤNG XÂY DỰNG  
SẢN PHẨM DU LỊCH LÀNG NGHỀ XỨ THANH  
ThS. Vũ Thị Thủy1  
Tóm tắt: Du lịch sáng tạo là loại hình du lịch mới dựa trên những yếu tố bản sắc văn  
hóa của cư dân địa phương. Loại hình du lịch này không yêu cầu nhiều về cơ sở vật chất lại  
có tính bền vững cao. Bởi vậy, có thể nói đây là loại hình du lịch phù hợp với điều kiện ở tỉnh  
Thanh Hóa, hứa hẹn có nhiều ưu thế để phát triển. Trong những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã  
chú trọng đa dạng các loại hình sản phẩm du lịch khác nhau để đáp ứng nhu cầu của khách  
du lịch. Tuy nhiên, nhiều sản phẩm du lịch vẫn còn đơn điệu, thiếu hấp dẫn, chưa đáp ứng  
được nhu cầu của khách du lịch. Vì vậy, trong bài viết này, tác giả phân tích Swot về du lịch  
làng nghề xứ Thanh, với mục tiêu áp dụng các đặc điểm du lịch sáng tạo vào việc xây dựng  
sản phẩm du lịch làng nghề của Thanh Hóa trong thời gian tới.  
Từ khóa: Du lịch sáng tạo, loại hình sản phẩm du lịch, du lịch làng nghề.  
1. Du lịch sáng tạo  
Du lịch để chiêm ngưỡng những vẻ đẹp mới lạ hay khám phá những nền văn hóa mới  
- quan điểm ấy có thể đã rất phổ biến ở các thế kỉ trước nhưng giờ đây lại có phần nhàm chán  
và thiếu sự hấp dẫn. Ngày nay, để kéo con người ra khỏi nhà, rời bỏ bộ máy chơi game,  
chương trình ti vi yêu thích hay các hình thức giải trí nhàn dỗi khác để dành thời gian cho du  
lịch, nhiều khi cần tới một lý do thuyết phục hơn. Hiện nay, du khách càng mong đợi những  
chuyến du lịch có chiều sâu, để lại nhiều dấu ấn, không chỉ dừng lại ở việc chiêm ngưỡng  
cảnh quan hay các di sản văn hóa, UNESCO gọi đó là “xu hướng mới của du lịch” - du lịch  
sáng tạo.  
Du lịch sáng tạo là một loại hình du lịch văn hóa được khái quát là “hình thức du lịch  
liên quan đến phát triển cộng đồng theo hướng bền vững, khách du lịch không chỉ dừng lại ở  
những hoạt động chiêm ngưỡng, tham quan, ngắm nhìn như những hình thức du lịch trước  
đây, mà còn trực tiếp tham gia và hòa nhịp vào cuộc sống nơi đến, trải nghiệm với vai trò như  
là một thành viên của vùng đất thay vì chỉ đơn thuần là khách tham quan. Hình thức du lịch  
này nhấn mạnh tới sự kết nối, tương tác giữa khách du lịch và văn hóa, đặc biệt là với cộng  
đồng cư dân bản địa [7].  
Đối với du lịch sáng tạo, hoạt động của du khách mang đến nhiều sự trải nghiệm hơn  
thay vì chỉ đơn thuần là khoảng thời gian bỏ ra để thư giãn hay chiêm ngưỡng cảnh đẹp như  
trước đây. Mặc dù, được xem là một dạng thức của du lịch văn hóa nhưng không phải ngẫu  
nhiên, du lịch sáng tạo được đánh giá là “du lịch của thế hệ mới” và có sự khác biệt rõ ràng  
với các dạng thức du lịch văn hóa truyền thống trước đây.  
Du lịch văn hóa nhấn mạnh đến yếu tố “Quan sát”, “Thưởng ngoạn”, “Suy ngẫm” thì  
du lịch sáng tạo chú trọng vào “Trải nghiệm”, “Tham gia”, “Học hỏi”. Trong đó, đặc trưng  
1 Khoa Du lịch - Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa  
106  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
của du lịch sáng tạo là nâng cao nhận thức, học hỏi những kinh nghiệm sống mới mẻ, tiếp cận  
những tri thức độc đáo của cộng đồng cư dân bản địa. Du khách của du lịch sáng tạo là những  
người không bao giờ thấy thỏa mãn với việc đứng tại chỗ một cách bị động mà chiêm ngưỡng  
thế giới với lăng kính nhỏ hẹp, chủ quan. Họ khao khát trải nghiệm. Nếu muốn trải nghiệm về  
rượu, họ sẽ tới Pháp; nếu thích học nấu spaghetty họ sẽ tới Ý; nếu muốn tìm hiểu về Sumo họ  
sẽ tới Nhật…  
Ở khía cạnh phát triển bền vững, cả du lịch văn hóa và du lịch sáng tạo đều là những  
loại hình du lịch có trải nghiệm, song nếu như tài nguyên để khai thác và phát triển du lịch  
văn hóa có những yếu tố không tái tạo được, không bảo tồn được thì du lịch sáng tạo lại khai  
thác những giá trị văn hóa, tri thức, kinh nghiệm sống và làm việc của cư dân bản địa, một nền  
tảng tài nguyên vô cùng vững chắc, xong lại vận động biến đổi và không ngừng phát triển.  
Du lịch sáng tạo dễ bị nhầm lẫn với du lịch homestay hay du lịch trải  
nghiệm(experimental tourism). Có thể thấy, du lịch sáng tạo và du lịch homestay có rất nhiều  
điểm tương đồng, cả hai loại hình du lịch đều đề cao yếu tố tương tác với người dân bản địa,  
tuy nhiên, du lịch homestay nhấn mạnh vào phương thức trải nghiệm (“ba cùng”: cùng ăn,  
cùng ở, cùng sinh hoạt), còn du lịch sáng tạo nhấn mạnh vào kết quả của quá trình trải nghiệm  
và tương tác, đó là khám phá bản thân, có cơ hội tìm hiểu, học hỏi từ nền văn hóa bản địa. Du  
lịch sáng tạo và du lịch trải nghiệm cùng đề cao trải nghiệm và khuyến khích du khách thử  
thách bản thân. Tuy nhiên, du khách của du lịch trải nghiệm tìm kiếm kinh nghiệm ý nghĩa và  
đáng nhớ thông qua những trải nghiệm trực tiếp; với mục tiêu ấy, nhà cung cấp dịch vụ du  
lịch hướng du khách tới những hoạt động mang lại trải nghiệm, trong đó, việc tiếp xúc, học  
hỏi với cộng đồng cư dân địa phương chỉ là một khía cạnh nhỏ. Chất lượng, mức độ trải  
nghiệm của tour trải nghiệm là một kết quả được chia đều trách nhiệm cho cả 2 bên (cả nhà  
cung cấp dịch vụ và du khách). Du khách chi trả tiền và thời gian. Nhà cung cấp chịu trách  
nhiệm dựa trên những kinh nghiệm có được tạo điều kiện cho du khách có những trải nghiệm  
thú vị, đáng nhớ. Trong khi đó, du lịch sáng tạo “tô đậm” mối tương tác giữa du khách và  
cộng đồng địa phương hơn. Có thể điểm qua một số đặc điểm của du lịch sáng tạo như sau:  
Không phụ thuộc mùa vụ: du khách của du lịch sáng tạo đến với cộng đồng bản địa để  
học hỏi kinh nghiệm, trải nghiệm bản sắc vào nhiều thời điểm, vì vậy, tính mùa vụ nhìn chung  
không ảnh hưởng sâu sắc tới du lịch sáng tạo.  
Khắc phục tính cạnh tranh kém: du lịch sáng tạo nhấn mạnh tính “đặc trưng”, và tính  
đặc trưng là điều kiện tiên quyết, sống còn của du lịch sáng tạo. Tuy nhiên, đây là điểm mạnh  
của du lịch Việt Nam, nếu khai thác hiệu quả, bản sắc văn hóa của 54 dân tộc sẽ là nguồn tài  
nguyên dồi dào cho du lịch sáng tạo phát triển ở Việt Nam. Chính vì nhấn mạnh tính đặc  
trưng, nên sản phẩm du lịch sáng tạo khó lòng sao chép. Tài nguyên cho loại hình du lịch này  
chính là văn hóa bản địa vốn khó bị lặp lại. Không có vùng đất nào không có riêng cho mình  
những giá trị độc đáo trong nghệ thuật, thủ công, mỹ nghệ, nghi lễ… Sức hấp dẫn của nó phụ  
thuộc vào mức độ khác biệt. Có những khác biệt thú vị nổi tiếng thế giới, có những khác biệt  
có sự thu hút vừa phải. Đối với du lịch sáng tạo, vùng đất nào cũng có thể có điểm thú vị, trở  
thành nguyên liệu của du lịch sáng tạo nếu biết cách khai thác.  
107  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Không giới hạn lứa tuổi của du khách: Sự phát triển của khoa học công nghệ ở đầu thế  
kỷ 20 đã tạo nên một thế hệ mới cho du lịch. Đó là những người về hưu, họ là những người có  
đủ nguồn lực tài chính và quỹ thời gian để có thể du lịch, khám phá những vùng đất mới.  
Thời gian áp dụng linh hoạt: Thời gian lưu trú trung bình của khách trong nước là 2,5  
ngày, còn đối du khách nước ngoài lưu lại Việt Nam thường ngắn chỉ từ 3,5 ngày. Bên cạnh  
đó, điều kiện cơ sở hạ tầng lưu trú ở Việt Nam cũng khó cho phép du khách lưu lại lâu dài.  
Nhưng với đặc trưng của mình, du lịch sáng tạo vẫn có thể thực hiện được hết vai trò của nó,  
dù diễn ra trong 4 giờ hay 4 ngày.  
Tính bền vững cao: du lịch sáng tạo chủ yếu khai thác những giá trị văn hóa, tri thức,  
kinh nghiệm sống và phương thức mưu sinh của cư dân bản địa… Vì vậy, ở một khía cạnh  
nào đó, còn giúp lưu truyền và bảo lưu tốt hơn những giá trị văn hóa này.  
Không chú trọng cơ sở vật chất cao cấp: du lịch sáng tạo phát triển phụ thuộc vào giá  
trị cốt lõi của văn hóa, không dựa trực tiếp vào điều kiện cơ sở vật chất cao cấp, phức tạp.  
Hơn nữa, du khách của du lịch sáng tạo là những người không thích những điều “đại chúng”,  
đôi khi họ thích khám phá những nơi khách du lịch thông thường không hay lui tới, ở những  
nơi này, dấu ấn đầy tự nhiên của văn hóa bản địa quan trọng hơn những tòa nhà cao tầng hiện  
đại hay cơ sở lưu trú tiện nghi [9].  
Tóm lại, du lịch sáng tạo là một xu hướng mới, là nguyên liệu kết hợp với các loại  
hình du lịch đã phát triển như du lịch văn hóa, du lịch ẩm thực, du lịch làng nghề, du lịch trải  
nghiệm, du lịch cộng đồng để thúc đẩy đổi mới các sản phẩm du lịch, đem đến nhiều lợi ích  
cho du khách, tạo điều kiện để du khách tận hưởng được chiều sâu văn hóa và mang đến lợi  
ích kinh tế cho cộng đồng cư dân bản địa.  
2.Kinh nghiệm phát triển sản phẩm du lịch sáng tạo tiêu biểu tại Thái Lan và  
Nhật Bản  
Du lịch sáng tạo có khả năng mang lại sự tăng trưởng lớn về lợi nhuận, giải quyết  
nguồn lao động địa phương, hơn thế nữa, còn góp phần vào giữ gìn và bảo tồn bản sắc văn  
hóa. Quan điểm du lịch sáng tạo rất thích hợp để phát triển và khai thác du lịch làng nghề, du  
lịch ẩm thực, du lịch homestay. Điều này đã được minh chứng rõ ràng qua sự thành công của  
nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là Thái Lan.  
Thái Lan là điểm đến vô cùng hấp dẫn. Mặc dù trong thời gian gần đây, Thái Lan gặp  
nhiều bất ổn về chính trị, xong mức độ thu hút khách du lịch quốc tế đến Thái Lan vẫn rất  
đông. Ngành du lịch Thái Lan cũng rất quan tâm, chú trọng phát triển đến du lịch dựa trên khả  
năng khai thác sự độc đáo của lịch sử, khảo cổ, đa dạng dân tộc, truyền thống văn hóa và tự  
nhiên. Thái Lan luôn chủ động mang đến những trải nghiệm, những cái nhìn khác cho khách  
du lịch từ tài nguyên nhân văn tưởng chừng không có gì khác biệt. Quan trọng chưa chắc là  
bạn nắm giữ những tài nguyên hấp dẫn thế nào, mà quan trọng hơn cả là cách bạn biến chúng  
trở nên khác biệt.  
Đối với việc phát triển du lịch theo xu hướng sáng tạo, Thái Lan đã nhấn mạnh những  
đặc điểm cơ bản để làm rõ những lợi ích thuyết phục của dạng thức du lịch này:  
108  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
(1) Mang đến nhiều lợi ích cho du khách, tạo điều kiện để du khách tận hưởng được  
chiều sâu văn hóa của đất nước mình theo một cách mới mẻ, hấp dẫn nhằm phát  
triển du lịch Thái Lan.  
(2) Mang đến lợi ích kinh tế cho cộng đồng cư dân bản địa để họ có thể sinh sống  
và phát triển một cách độc lập, giảm thiểu sự chênh lệch giàu nghèo giữa các  
khu vực.  
Khi xây dựng mô hình du lịch sáng tạo ở địa phương nào, ngành du lịch Thái Lan đã  
phân tích và chỉ ra những thuận lợi và khó khăn, phát triển mô hình qua các buổi thảo luận  
đóng góp ý kiến để hoàn thiện. Cộng đồng cư dân địa phương cũng được khuyến khích tham  
gia đóng góp ý kiến và tham gia triển khai thực hiện để góp phần bảo vệ bản sắc văn hóa địa  
phương. Những ý tưởng, mô hình thành công được khuyến khích nhân rộng và phát triển ở  
các vùng lân cận. Cộng đồng địa phương chính là nền tảng cho việc tiếp thu, chia sẻ kinh  
nghiệm, tạo nên sự hấp dẫn thành công dựa trên khả năng sáng tạo vì sự phát triển bền vững.  
Đã có hơn 35.000 sản phẩm đăng kí với tư cách là sản phẩm của OTOP. Ngoài những  
tổ chức kinh doanh của OTOP, 70% sản phẩm OTOP được thiết lập bởi tổ chức kinh doanh  
của cộng đồng dân cư. Có 569 những sản phẩm 5* bao gồm:  
Bảng 1: Danh mục sản phẩm 5* của OTOP  
Thực phẩm  
263 sản phẩm  
122 sản phẩm  
85 sản phẩm  
37 sản phẩm  
33 sản phẩm  
29 sản phẩm  
46,23%  
21,45%  
14,84%  
6,51%  
5,8%  
Dệt  
Đồ trang trí  
Dược liệu  
Sản phẩm thủ công và đồ lưu niệm  
Đồ uống  
5,1%  
Tại Thái Lan, du khách có thể dễ dàng tham gia vào các hoạt động du lịch sáng tạo.  
Với tư cách là đất nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, khách du lịch đặc biệt là đối tượng  
khách ở các nước phương Tây sẽ được trải nghiệm công việc trồng lúa, công việc của cư dân  
nông nghiệp châu Á. Những du khách đam mê với ẩm thực Thái Lan không thể chối từ được  
các hoạt động dạy nấu món ăn Thái Lan từ những đầu bếp chuyên nghiệp. Tùy từng sở thích  
mỗi người mà họ có thể chọn cho mình tour trồng lúa, nấu món ăn Thái, múa điệu truyền  
thống Thái Lan, hay học dệt vải...[6].  
Du lịch sáng tạo tại Thái Lan không chú trọng phát triển các khách sạn, nhà hàng lộng  
lẫy cao cấp, những khu vui chơi giải trí hiện đại nhộn nhịp. Tâm điểm của xu hướng này là  
những giá trị văn hóa cốt lõi của cư dân địa phương. Chính vì thế, du lịch sáng tạo có thể phát  
triển ở rất nhiều nơi, kể cả khi điều kiện kinh tế địa phương chưa thực sự phát triển vững  
chắc, xong sẽ thành công nếu nó chứa đựng những giá trị văn hóa độc đáo, hứa hẹn mang đến  
cho du khách những trải nghiệm thú vị.  
Hay du lịch vùng Yufuin, Nhật Bản đạt được những thành công vượt bậc trong phát  
triển du lịch nhờ sự thay đổi quan điểm quy hoạch và phát triển du lịch của chính quyền địa  
phương. Yufuin nằm ở đảo Kyushu Nhật Bản. Cho đến giữa những thập niên 40 của thế kỷ  
109  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
trước, Yufuin chỉ là một khu suối nước nóng nhỏ và hoang sơ. Năm 1955, thị trấn Yufuin và  
một số làng của Yunohira đã tạo thành thị trấn mới Yufuin. Đến nay, Yufuin đã có diện tích  
128km2 (so với 1.584m2 diện tích trước đây), dân số là 11.400.000 người. Ngày nay, Yufuin  
trở thành khu du lịch tắm suối nước nóng lớn thứ hai của Nhật Bản với số lượng khách du lịch  
rất lớn. Loại hình cơ sở lưu trú chủ yếu ở Yufuin không phải là những khách sạn sang trọng  
hiện đại mà là các Ryokan- kiểu nhà Nhật ở với tắm khoáng nóng. Onsen Ryokan được thấy  
với nhiều kích thước khác nhau ở khu nghỉ dưỡng khoáng nóng và các Ryokan chỉ có tối đa  
14 phòng, giá lưu trú từ 6.000 đến 60.000 yên.  
Nếu như trước đây quy hoạch du lịch được triển khai từ cấp trung ương tới địa phương  
thì giờ đây được thay thế bởi quan điểm quy hoạch: địa phương chủ động xây dựng kế hoạch,  
đệ trình chính quyền trung ương phê duyệt và hỗ trợ thực hiện. Kết quả là chỉ một khu vực  
rộng 128km2 với dân số 11.400.000 người, nhưng vùng này đón 3,864 triệu lượt khách trong  
năm 2011 (trong đó du khách nữ chiếm 70%, khách quen chiếm 60%, tần suất khách đi du  
lịch 10 lần chiếm 10%).  
Tại đây, họ khôi phục các ngành nghề truyền thống, tạo ra các sản phẩm lưu niệm  
mang phong cách Yufunin theo nguyên tắc “Ba mẫu một sản phẩm”, không chỉ sản xuất các  
sản phẩm lưu niệm mà còn sản xuất các sản phẩm cho cuộc sống hàng ngày như: bánh kẹo,  
khăn mặt, sữa tắm… Chính điều này đã tạo nên thương hiệu vùng. Đồng thời, họ cho du  
khách trải nghiệm thực tế cuộc sống người dân Yufuin thông qua các chương trình du lịch rất  
cụ thể và rõ ràng để kéo dài thời gian lưu trú của khách du lịch cũng như tăng sự hấp dẫn của  
điểm đến như:  
+ 1-3 ngày: Du lịch tham quan ngắm cảnh thuần túy, tạo điều kiện lưu trú dài hơn với  
cộng đồng.  
+ 1-3 tuần: Không gọi là du lịch mà là lưu trú, thưởng thức các món ăn địa phương, tự  
nấu ăn, du khách có điều kiện tìm hiểu phong tục tập quán, cách thức sinh hoạt của cộng  
đồng, tham gia các hoạt động văn hóa văn nghệ.  
+ 1-3 tháng: lưu trú ngắn hạn, tham gia các hoạt động sản xuất cùng với cộng đồng.  
+ 1 năm: trở thành cư dân, nhập cư, có chế độ khuyến khích, giảm bớt các thủ tục  
nhập cư.  
Không những thế, họ còn đem đến cho du khách những trải nghiệm thú vị thông qua  
các lễ hội địa phương như “Lễ hội BBQ”, “Lễ hội hò hét” cùng với trải nghiệm hấp dẫn, khi  
du khách thực sự được hòa mình vào không khí lễ hội của người dân Yufuin, là một phần  
không thể thiếu trong không khí lễ hội.  
Từ hai mô hình nghiên cứu về sản phẩm du lịch sáng tạo tại Thái Lan và Nhật Bản có  
thể thấy rằng, sản phẩm du lịch sáng tạo không phát triển đơn lẻ mà nó kết hợp các loại hình  
du lịch khác phát triển, đem lại sự đổi mới sản phẩm cho các loại hình du lịch. Bài học cho  
sản phẩm du lịch sáng tạo ở Việt Nam là luôn nhấn mạnh vào kết quả của quá trình trải  
nghiệm và tương tác, đó là khám phá bản thân, có cơ hội tìm hiểu, học hỏi từ nền văn hóa bản  
địa. Đặc biệt, nhấn mạnh tới sự kết nối, tương tác giữa khách du lịch và cộng đồng cư dân bản  
110  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
địa. Bên cạnh đó, người dân bản địa chính là nhân vật chính cho sự phát triển sản phẩm du  
lịch sáng tạo.  
3. Khả năng ứng dụng du lịch sáng tạo vào xây dựng sản phẩm du lịch làng nghề  
tại Thanh Hóa  
Áp dụng thực tiễn đó ở Thanh Hóa, du lịch sáng tạo có thể là một bước đi khá phù hợp  
đối với phát triển du lịch văn hóa, nhất là du lịch làng nghề, du lịch ẩm thực… Quan điểm du  
lịch sáng tạo như các nước Thái Lan, Nhật Bản đã và đang áp dụng không phải là điều quá  
khó để ứng dụng. Trong nội dung bài viết, chúng tôi đưa ra một số giải pháp trong việc ứng  
dụng du lịch sáng tạo vào phát triển du lịch làng nghề ở Thanh Hóa, từ đó triển khai vào phát  
triển cùng với các loại hình du lịch khác như du lịch ẩm thực, du lịch lễ hội…  
Hiện nay, Thanh Hóa có 219 làng nghề, trong đó có 103 làng nghề truyền thống, cụ thể:  
Bảng 2: Làng nghề truyền thống ở Thanh Hoá  
Nghề  
Tổng số  
Số làng nghề hoạt động  
TT  
Tổng số  
103  
22  
20  
4
67  
13  
12  
2
1
2
Nghề dệt  
Nghề đan lát  
3
Nghề khâu nón lá  
Nghề mộc  
4
4
3
5
Nghề gốm  
5
2
6
Nghề đá  
4
3
7
Nghề kim khí  
Chế biến lương thực, thực phẩm  
Nghề làm nước mắm  
Nghề làm muối  
Nghề khác  
4
3
8
17  
4
13  
4
9
10  
11  
5
3
14  
9
Nguồn: Sở Công thươngThanh Hóa [2].  
Như vậy, ở bảng trên cho thấy số lượng các làng nghề truyền thống ở Thanh Hóa  
đã tăng trong những năm gần đây. Nhiều làng nghề tiêu biểu tiếp tục mở rộng quy mô  
như nghề chiếu cói, nghề mây tre đan Hoằng Thịnh, nghề rèn Tất Tác, nhưng cũng có  
những làng nghề thu hẹp, thậm chí bị mai một như làng nghề tơ tằm, dệt nhiễu Hồng  
Đô, làng nghề chạm khắc đá Nhuệ Thôn, nghề gốm Đông Hương, dệt thổ cẩm…  
Bên cạnh đó, nhiều làng nghề mới được du nhập và hình thành. Tổng số làng nghề  
được thành lập mới là 106 làng nghề. Cụ thể:  
1- Nghề mây giang đan và mây tre đan: 51 làng  
2- Thuê ren, thêu màu, thêu móc: 36 làng  
3- Nghề xe lõi cói, đan thảm cói: 5 làng  
4- Dâu tằm tơ: 4 làng  
5- Nứa cuốn, thủ công mỹ nghệ từ dừa, vỏ sò, ốc, hến, bẹ chuối: 9 làng  
6- Đá mỹ nghệ (đồ trang sức bằng đá): 1 làng  
111  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Việc các làng nghề mới phát triển nhanh hơn làng nghề truyền thống cho thấy  
Thanh Hóa đã rất chú ý tới việc phát triển làng nghề mới. Ở một số nơi, không gian của  
làng nghề không còn ở phạm vi làng mà đã phát triển thành cụm làng hay xã nghề như ở  
các huyện Nga Sơn, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Hậu Lộc… Sự phát triển làng nghề nhanh  
chóng cho thấy các phương hướng và giải pháp phát triển làng nghề là phù hợp, tiềm năng  
của tỉnh được khơi dậy và phát huy một cách có hiệu quả.  
Mặc dù, có số lượng lớn về các làng nghề truyền thống và sự đa dạng về các ngành  
nghề khác nhau, nhưng du lịch làng nghề xứ Thanh chưa được chú trọng khai thác và còn  
nhiều hạn chế về sản phẩm cho du khách lựa chọn. Hiện nay, các làng nghề xứ Thanh được  
khai thác phục vụ phát triển du lịch qua hai hình thức sau:  
+ Một là, làng nghề là điểm dừng chân ngắn kết hợp trong một hành trình tour. Đối  
với hình thức này, thời lượng tham quan chỉ kéo dài vài giờ đồng hồ, hoạt động chủ yếu là  
mua sắm đồ lưu niệm.  
+ Hai là, chương trình được tổ chức chuyên biệt để tham quan và tìm hiểu về làng  
nghề. Thời gian thực hiện tour này thường nửa ngày hoặc cả ngày. Sở Văn hóa, Thể Thao và  
Du lịch Thanh Hóa hiện đã xây dựng các tour du lịch làng nghề. Tuy nhiên, việc khai thác còn  
nhỏ lẻ, hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng vốn có.  
Bảng 3: Phân tích SWOT đối với khai thác làng nghề truyền thống nhằm phát triển  
du lịch tại Thanh Hóa  
Điểm mạnh - Strengths  
Điểm yếu - Weaknesses  
- Làng nghề truyền thống ở Thanh - Công tác quản lý làng nghề còn nhiều chồng  
Hóa đa dạng về loại hình phong phú chéo. Thiếu liên kết cũng như chia sẻ trách nhiệm  
về sản phẩm.  
và lợi nhuận giữa doanh nghiệp lữ hành và người  
- Làng nghề truyền thống là di sản văn dân làng nghề.  
hóa phi vật thể có khả năng khai thác - Vấn đề phát triển du lịch cộng đồng còn chưa  
và phục vụ du lịch cao, phối hợp nhiều được chú trọng. Sự tham gia vào hoạt động du lịch  
loại hình du lịch: tham quan, văn hóa của dân cư sở tại còn chưa nhiều.  
cộng đồng, làng nghề…  
- Cơ sở hạ tầng thấp kém, cơ sở vật chất kĩ thuật  
- Thanh Hóa là tỉnh gần Hà Nội - trung còn nhiều bất cập.  
tâm du lịch tạo ra sự liên kết thúc đẩy - Sản phẩm du lịch chưa đặc sắc, thiếu tính hấp  
phát triển kinh tế của cả vùng.  
dẫn. Giá thành sản phẩm chưa cao. Chất lượng  
chưa cạnh tranh, thiếu các hàng hóa lưu niệm  
đặc trưng.  
- Các chương trình du lịch thiếu tính sáng tạo,  
thuần túy là tham quan.  
- Người dân còn thiếu kiến thức chung về văn hóa,  
hạn chế trình độ nghiệp vụ, chưa có khả năng giao  
tiếp ngoại ngữ.  
- Công tác xúc tiến quảng bá chưa được đầu tư.  
Thiếu các sự kiện đặc biệt mang tính hấp dẫn  
du khách.  
112  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
Cơ hội - Opporturnities  
Thách thức - Threats  
- Du lịch đã trở thành một trong ba mũi - Các làng nghề đang đối mặt với ô nhiễm môi  
nhọn phát triển kinh tế được Đảng và trường nghiêm trọng. Đây là thách thức trong quá  
Nhà nước quan tâm.  
trình phát triển bền vững, đặc biệt là phát triển  
- Việt Nam gia nhập WTO tạo điều làng nghề gắn với du lịch.  
kiện thuận lợi cho xuất khẩu sản phẩm. - Thiếu thốn nguyên liệu sản xuất, thị trường xuất  
khẩu bị thu hẹp.  
- Đảm bảo sự tương quan giữa phát triển làng  
nghề mang lại lợi ích kinh tế và bảo tồn văn hóa  
truyền thống.  
Khai thác du lịch làng nghề hiện nay đang còn hoang phí về tài nguyên, manh mún,  
không chuyên nghiệp, không đem lại được lợi ích rõ ràng. Bởi thế, hoạt động du lịch có thể  
sinh ra nhiều hệ lụy, ảnh hưởng, bóp méo không gian văn hóa làng nghề.  
Đã đến lúc làm mới du lịch để du lịch làng nghề không bị rơi vào tình trạng như hiện  
nay. Đối chiếu với quan điểm du lịch sáng tạo đã phân tích ở trên, về mặt giá trị cốt lõi của  
làng nghề, chúng ta hoàn toàn có thể đáp ứng và khai thác được những điểm hấp dẫn của làng  
nghề để thu hút khách du lịch. Đến với làng nghề, du khách không chỉ tìm hiểu về kĩ thuật  
làm nghề, sản phẩm thủ công, mà còn bị hấp dẫn bởi đời sống của cư dân địa phương khi họ  
lưu trú. Đồng thời, cư dân địa phương với tư cách là chủ nhà, sẽ giới thiệu cho du khách  
những thói quen hằng ngày, cũng như những phong tục tập quán hấp dẫn của địa phương.  
Để làm rõ hơn, chúng tôi muốn phác thảo một chương trình du lịch sáng tạo chuyên  
biệt dành cho một làng nghề cụ thể, như làng nghề đúc đồng Trà Đông.  
Nghề đúc đồng cổ truyền làng Chè (Trà Đông) xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh  
Thanh Hóa đã được công nhận là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia năm 2018. Nghề đúc  
đồng ở đây đã có lịch sử cả nghìn năm và được bảo tồn, duy trì, phát huy cho tới ngày nay.  
Dưới bàn tay khéo léo và tài hoa, các nghệ nhân đã khôi phục những sản phẩm truyền thống  
như đúc trống đồng, chiêng đồng, đúc tượng đồng, đồ thờ, lư hương, con giống... và đỉnh cao  
nhất là nghệ thuật đúc trống đồng Đông Sơn với những hoa văn, chi tiết tinh xảo theo đúng  
hoa văn kiểu dáng xưa. Hiện nay, số cơ sở duy trì, phát triển nghề đúc đồng ở làng nghề Trà  
Đông là hơn 130 hộ. Các cơ sở này giải quyết công ăn việc làm thường xuyên cho gần 400 lao  
động. Hàng năm, làng nghề Trà Đông cho xuất xưởng rất nhiều sản phẩm đúc đồng phong  
phú về hình thức, đa dạng về chủng loại, được tiêu thụ trong nước và xuất khẩu đi nước ngoài  
như: Đồ mỹ nghệ, đồ tế khí, đồ phụ tùng máy móc công nghệ, đồ lưu niệm... đủ để phục vụ  
cho mọi nhu cầu của nhân dân, đặc biệt là phục vụ các công trình tôn giáo như đền, chùa và  
các sản phẩm đặc thù khác.  
Chương trình du lịch sáng tạo ở làng đúc đồng Trà Đông có thể chia ra làm 2 loại:  
chương trình nửa ngày và một ngày, nâng cao tính kết hợp linh hoạt cho chương trình. Hoạt  
động cốt lõi, cố định bao gồm: tham quan tìm hiểu về làng nghề đúc đồng, hướng dẫn viên có  
113  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
thể là những nghệ nhân bản địa - người hiểu nhất về mảnh đất, văn hóa và con người nơi đây.  
Du khách chiêm ngưỡng trống đồng cổ, nghe kể về những câu chuyện xung quanh làng đúc  
đồng, giải thích ý nghĩa của một số các hoa văn tiêu biểu, tham quan và nghe giới thiệu về các  
công đoạn làm tranh, và phần hấp dẫn nhất là tự tay điêu khắc, hay thậm chí là tham gia vào  
những công đoạn làm trống đồng như tạo khuôn, chỉnh sửa, làm bóng… Kết hợp xen kẽ  
những hoạt động tìm hiểu về làng đúc đồng, du khách còn có cơ hội tham quan một số di tích  
văn hóa, danh lam thắng cảnh xung quanh khu vực làng nghề như cụm di tích đền thờ Lê Văn  
Hưu được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1990. Không chỉ vậy, du khách còn  
có thể tham gia bữa cơm cùng gia đình với những món ăn đặc sản của vùng, tham gia vào các  
trò chơi dân gian địa phương.  
Như vậy có thể thấy, cần phải sáng tạo hơn trong việc xây dựng các chương trình du  
lịch hấp dẫn du khách, khai thác tính đặc thù riêng biệt của mỗi làng nghề để du khách tìm hiểu  
và trải nghiệm thực tế kĩ thuật truyền thống của mỗi làng, có thể kết hợp các trò chơi dân gian,  
các hoạt động trình diễn nghệ thuật truyền thống, thưởng thức ẩm thực địa phương… để tăng độ  
hấp dẫn. Những công đoạn kĩ thuật công phu cần đòi hỏi bàn tay nghệ nhân khéo léo, phải làm  
nổi bật để du khách tham quan, ngưỡng mộ và kính phục. Những công đoạn kĩ thuật không quá  
phức tạp được thiết kế, điều chỉnh để thu hút sự tham gia trải nghiệm của du khách.  
Trên đây là một vài gợi ý cho xu hướng phát triển làng nghề theo hướng sáng tạo, mô  
hình này hoàn toàn có thể áp dụng cho các làng nghề khác và các loại hình du lịch khác ở  
Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, để những mô hình đó có thể phát  
triển và thực sự mang lại nguồn lợi cho cư dân địa phương thì ngoài điều kiện tự thân là  
những giá trị văn hóa của bản thân làng nghề thì cần xét tới sự tương quan giữa phát triển làng  
nghề mang lại lợi ích kinh tế và bảo tồn văn hóa truyền thống. Mỗi làng nghề truyền thống để  
hấp dẫn du khách cần xây dựng hệ thống sản phẩm thủ công mỹ nghệ mang tính đặc trưng, cá  
biệt hóa, thường xuyên cải tiến mẫu mã sản phẩm áp dụng công nghệ tiên tiến, song song với  
bảo tồn các công nghệ cổ truyền.  
Bên cạnh đó cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền, xúc tiến quảng bá cho làng nghề.  
Nhiều làng nghề chứa giá trị văn hóa tiềm ẩn nhưng chưa được du khách biết đến. Nhiều làng  
nghề dù đã mở cửa đón khách du lịch, được khách du lịch biết đến nhưng lượng khách đến cũng  
vô cùng khiêm tốn. Nên cần tổ chức các phiên chợ làng nghề, vừa bán sản phẩm, vừa kinh  
doanh ẩm thực truyền thống, xây dựng hệ thống xúc tiến phù hợp để quảng bá hình ảnh làng  
nghề, xây dựng và bảo hộ thương hiệu sản phẩm đặc trưng của mỗi làng nghề truyền thống.  
Và hơn thế nữa, vấn đề khó khăn nhất lại là con người. Có đến hơn hai trăm làng nghề  
ở Thanh Hóa, nhưng chưa có làng nghề được tổ chức tập huấn kỹ năng du lịch một cách bài  
bản. Không phải ngẫu nhiên mà lí thuyết du lịch sáng tạo lại quan niệm nhân vật chính làm  
cho du lịch phát triển là người dân bản địa. Không một ai có thể hiểu rõ làng nghề hơn con  
người sinh ra ở mảnh đất ấy. Cũng chính họ với lối sống phong tục, thói quen sinh hoạt, làm  
việc, chính là những tài nguyên làm đẹp cho điểm đến làng nghề, mang tới sức hấp dẫn cho  
114  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
du khách. Và chính họ, nếu nhận thức đầy đủ về lợi ích cũng như giá trị khác biệt về quê  
hương mình sẽ là những người tích cực và hiệu quả nhất để giữ gìn và bảo tồn văn hóa.  
Sự lôi cuốn từ con người vừa dễ mà lại vừa khó. Sự thân thiện, thái độ hiếu khách,  
không khí ấm cúng của gia đình… mà du khách nước ngoài đặc biệt quan tâm như một biểu  
hiện của chỉ số hạnh phúc, đó là những điều người Việt luôn tự hào, nay còn vẹn nguyên?  
Liệu chúng ta có thể làm được như Nhật Bản, truyền tải thông điệp đầy ấn tượng. Thử hỏi tiếp  
xúc với những cư dân như thế, có du khách nào không sẵn lòng bắt tay cùng làm việc, cùng  
học nghề, cùng ăn mâm cơm, và trở thành người nhà, để có được niềm hạnh phúc giản dị  
không tiền bạc nào có thể mang lại. Trên tất cả, đó là văn hóa trong du lịch, là tình cảm chân  
thành mà người dân địa phương biểu lộ để đón tiếp người phương xa. Văn hóa du lịch không  
phải là một dịch vụ mà là ánh sáng lấp lánh trong mọi dịch vụ du lịch được cung cấp. Có lẽ,  
đó là triết lý căn bản nhất để lý giải cho việc du khách mong muốn trở lại điểm dừng chân ấy  
không chỉ lần thứ hai, thứ ba, mà nghĩ về nơi ấy như một chốn mong về.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Bộ Công nghiệp, Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (1996), Kỷ yếu  
Hội thảo quốc tế về bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống Việt Nam, Hà Nội.  
[2]. Sở Công thương Thanh Hóa (2016), Báo cáo tổng kết đề tài khoa học nghiên cứu  
xây dựng tiêu chí làng nghề TTCN, tiêu chí nghệ nhân nghề của Thanh Hóa.  
[3]. Đỗ Quang Dũng (2005), Về tiêu chí xác định làng nghề, tạp chí Giáo dục Lý luận.  
[4]. Mai Thế Hởn (chủ biên) (2003), Phát triển làng nghề truyền thống trong quá trình  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[5]. Nguyễn Thị Anh Thư (2004), Giải pháp khuyến khích phát triển xuất khẩu của  
làng nghề phục vụ phát triển bền vững, tạp chí Nghiên cứu kinh tế.  
[6]. Rossitza Ohridska-Olson and Stanislav Ivanov (2010), Creative Tourism Business  
Model and its Application in Bulgaria.  
[7]. Richards, G,c Raymond .C (2000), Creative Tourism. ATLAS news.  
[8]. Richards, G,J Wilson. Eds (2007), Tourism, Creativity and development.  
Routledge.  
CREATIVE TOURISM AND ITS APPLICATION IN BUILDING CRAFT  
TOURISM PRODUCTS IN THANH LAND  
Vu Thi Thuy, M.A  
Abstract: Creative tourism is a new type of tourism based on the cultural identity of local  
residents. It is highly sustainable. Therefore, creative tourism is suitable for conditions in  
Thanh Hoa province. Over the years, Thanh Hoa province has focused on a variety of  
different types of tourism products to meet the needs of tourists. However, many tourism  
115  
NGHIÊN CỨU - TRAO ĐỔI  
products are still monotonous and unattractive. Therefore, this paper presents Swot analysis  
on craft village tourism in Thanh land with the aim of applying creative tourism to build craft  
tourism products in the coming time.  
Key words: creative tourism, type of tourism products, craft village tourism.  
Người phản biện: TS. Vũ Văn Tuyến (ngày nhận bài 18/12/2018; ngày gửi phản biện 18/12/2018;  
ngày duyệt đăng 05/01/2019).  
116  
pdf 11 trang yennguyen 15/04/2022 3640
Bạn đang xem tài liệu "Du lịch sáng tạo và nghiên cứu áp dụng xây dựng sản phẩm du lịch làng nghề xứ Thanh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdu_lich_sang_tao_va_nghien_cuu_ap_dung_xay_dung_san_pham_du.pdf