Đề tài Nghiên cứu chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gò má cung tiếp

- 1 -  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Chấn thương hàm mặt nói chung, gãy xương hàm trên và gò má cung  
tiếp nói riêng là một tai nạn thường gặp trong thời chiến cũng như trong thời  
bình và ngày càng gia tăng, thường gặp nhất là do tai nạn giao thông, lao  
động hay tai nạn sinh hoạt.  
Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước gần đây cho thấy, gãy  
xương hàm trên (XHT) và gò má cung tiếp (GMCT) phổ biến trong gãy  
xương hàm mặt. Tanaka [1] nghiên cứu gãy xương hàm mặt trong 11 năm, từ  
1997 - 1989 cho thấy, 4 năm đầu (1987 - 1980), mỗi năm trung bình có 35,5  
người bị gãy xương hàm mặt, 4 năm giữa (1981 - 1985) trung bình mỗi năm  
có 57,2 người bị gãy xương hàm mặt và 3 năm cuối cùng, trung bình mỗi năm  
có 66,8 người bị gãy xương hàm mặt. Theo nghiên cứu của Rowe NL &  
Williams JL [2] cho kết quả là tỷ lệ gãy xương gò má cung tiếp tăng hơn  
300% trong thời gian từ 1960 - 1969. Theo Nguyễn Văn Thụ [3], tỷ lệ gãy  
xương hàm trên được ghi nhận tại viện Răng Hàm Mặt (1990) và trung tâm  
RHM thành phố Hồ Chí Minh (1993) là trên dưới 60,0% gãy xương hàm mặt,  
tỷ lệ này cao hơn so với những tổng kết trước đây. Gãy xương hàm trên  
thường kết hợp với xương gò má cung tiếp, tỷ lệ này tại viện RHM năm 1993  
và của trung tâm RHM năm 1992 là 54,7% so với các gãy xương hàm nói  
chung. Hoàng Ngọc Lan (2006) [4] khi đánh giá kết quả điều trị chấn thương  
tầng giữa mặt về phương diện khớp cắn, thấy tỷ lệ gãy xương hàm trên phối  
hợp với gãy xương gò má cung tiếp chiếm tỷ lệ cao nhất (42,2%).  
Hậu quả của gãy xương hàm trên và gò má cung tiếp không những ảnh  
hưởng tới chức năng, thẩm mỹ mà còn tác động xấu tới tâm lý bệnh nhân.  
Đặc biệt, do cấu trúc phức tạp, khối xương hàm trên và gò má cung tiếp liên  
quan nhiều đến chức năng hệ thống nhai [5], tham gia tích cực vào chức năng  
ăn nhai trên hai phương diện khớp cắn và khớp thái dương hàm. Nếu sau điều  
- 2 -  
trị gãy xương hàm trên, cung răng trên không ăn khớp với cung răng dưới, sẽ  
ảnh hưởng đến vận động của xương hàm dưới về tư thế chạm múi tối đa, đưa  
hàm sang bên và đưa hàm ra trước. Nếu việc điều trị gãy xương GMCT  
không tốt sẽ ảnh hưởng đến việc há miệng và đưa hàm sang bên hạn chế, làm  
giảm chức năng nhai, gây nên những di chứng lâu dài cho nạn nhân. Mặt  
khác, khối xương tầng giữa mặt dù ít cơ bám (ngoại trừ cơ chân bướm trong)  
nhưng việc điều trị nắn chỉnh khối xương này khó hơn nhiều so với xương  
hàm dưới, nhất là các trường hợp gãy vụn nhiều mảnh, gây nên những di  
chứng sai khớp cắn sau mổ. Đã có những trường hợp phải mở xương để đặt  
lại tương quan khớp cắn, gây khó khăn cho việc phục hồi khớp cắn bình  
thường.  
Trước đây, những nghiên cứu về chấn thương hàm mặt chủ yếu nghiên  
cứu về kỹ thuật và phục hồi giải phẫu, mà không nói đến phục hồi về chức  
năng nhai như thế nào. Trong những năm gần đây, đã có những nghiên cứu  
khảo sát về chức năng nhai, nhưng chỉ nghiên cứu những hoạt động bình  
thường của hệ thống nhai mà chưa ứng dụng nó cho việc đánh giá hiệu quả  
sau điều trị chấn thương hàm mặt. Có thể việc đánh giá có khó khăn và phức  
tạp. Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi đã đi sâu vào đề tài: “Nghiên  
cứu chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên Le  
Fort I, Le Fort II và gò má cung tiếp”, với các mục tiêu sau đây:  
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, khớp cắn, hình ảnh X-quang bệnh nhân sau  
điều trị phẫu thuật gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gò má  
cung tiếp.  
2. Đánh giá chức năng nhai tĩnh và động, về phương diện khớp cắn và  
khớp thái dương hàm trên 3 mặt phẳng: đứng dọc, đứng ngang và nằm  
ngang.  
- 3 -  
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN  
Hệ thống nhai còn được gọi dưới những tên khác: hệ thống hàm miệng,  
bộ máy nhai…Trong mối tương quan rộng về giải phẫu và chức năng, hệ  
thống nhai là một hệ thống đa thành phần, đa chức năng. Mối liên hệ giữa các  
thành phần của hệ thống nhai vốn rất phức tạp và cần được nhận thức một  
cách toàn diện [6], [7].  
1.1. GIẢI PHẪU CHỨC NĂNG CỦA HỆ THỐNG NHAI  
1.1.1. Đặc điểm thành phần xương của hệ thống nhai  
1.1.1.1. Sọ và khối xương mặt  
Hình 1.1: Hình sọ thẳng [8]  
Có hai thành phần chính về xương tạo nên hệ thống nhai: sọ và xương  
hàm dưới. Sọ là phần cố định, gồm sọ não và sọ mặt. Sọ mặt gồm có 13  
xương (trừ xương hàm dưới), tạo nên khối xương hàm trên liên quan nhiều  
đến chức năng của hệ thống nhai.  
- 4 -  
Tầng giữa khối xương mặt có cấu trúc đặc thù, chống lại các lực tác  
động theo hướng thẳng đứng phát sinh trong quá trình ăn nhai, khối xương  
này được tăng cường bởi sáu trụ thẳng (mỗi bên ba trụ) thuộc răng nanh,  
xương gò má và chân xương bướm. Các trụ này có tác dụng truyền các lực  
theo phương đứng thẳng, tiếp nhận từ cung răng để phân phối tới nền sọ.  
Các lực do hoạt động nhai của  
các cung răng trên có khuynh hướng  
đi theo các trụ nâng đỡ cho đến khi  
chúng yếu dần và tan biến. Các răng  
cửa, răng hàm nhỏ và chân ngoài  
răng hàm lớn dẫn truyền lực nhai  
Hình 1.2: Hướng lực tác dụng từ răng  
theo thành ngoài của sọ mặt và vòm  
truyền qua khối xương mặt  
sọ. Các chân trong truyền lực nhai  
lên nền sọ [9]  
theo thành trong và vòm miệng cứng  
[7].  
1.1.1.2. Xương hàm dưới  
Xương hàm dưới là phần di động của hệ thống nhai, mang và vận động  
cung răng dưới. Về cấu trúc, xương hàm dưới có một số điểm đáng chú ý sau  
đây: ống răng dưới chạy từ lỗ ống răng dưới, ở mặt trong cành lên đến lỗ cằm,  
để dây thần kinh và mạch máu đi qua. Lỗ ống răng dưới nằm ở vùng ít di  
động nhất trong quá trình há ngậm miệng thông thường, vì vậy có tác dụng  
bảo vệ đối với thần kinh và mạch máu, tránh những xoắn vặn quá mức.  
Ở vùng răng hàm lớn, cung của mỏm ổ răng hẹp hơn so với thân xương  
hàm. Điều này làm cho hướng trục răng hàm lớn hàm dưới nghiêng từ ngoài  
vào trong và từ dưới lên trên, đồng thời cho phép các răng hàm lớn hàm dưới  
ăn khớp với các răng hàm lớn hàm trên theo hướng thuận lợi về mặt chức  
năng và tạo một khoang - khoang răng hàm lớn - cho các cấu trúc nền lưỡi,  
các cơ trên móng và các tuyến nước bọt.  
- 5 -  
1.1.2. Các cơ nhai  
Cơ nhai là những cơ có nguyên ủy hoặc bám tận ở xương hàm dưới và  
góp phần vào vận động hàm dưới. Bất kỳ hoạt động riêng lẻ nào của hàm  
dưới cũng là kết quả của sự tích hợp chặt chẽ và phối hợp cao độ của nhiều cơ  
hàm. Ngược lại, mỗi cơ hàm có thể tham gia vào nhiều động tác khác nhau.  
Trong các vận động đối xứng, các cơ cùng tên ở hai bên tham gia. Trong các  
vận động không đối xứng, có sự tham gia của cơ đối vận.  
1.1.2.1. Các cơ nâng hàm  
Các cơ cắn và chân bướm trong tạo thành một cơ cấu treo giữ góc hàm.  
Cơ cắn bám ở mặt ngoài, cơ chân bướm trong bám ở mặt trong góc hàm. Cả  
hai cơ tạo một lực tương tự nhau đối với xương hàm. Tác động đồng vận khi  
được huy động làm hai cơ này giữ vai trò cơ bản trong động tác đóng hàm, cố  
định hàm dưới trong tư thế sang bên. Hướng các sợi cơ của cả hai cơ (cơ cắn  
và cơ chân bướm trong) gần như thẳng góc với mặt phẳng nhai khi hàm ở tư  
thế há.  
Cơ cắn  
Ngoài tác dụng chính là đóng hàm, hai lớp của cơ cắn có khả năng tác  
động với mức độ khác nhau đối với việc mở miệng. Tùy thuộc vào việc lớp  
nào tác động, hoàn toàn hay một phần, lần lượt liên quan đến mức độ há, làm  
cho động tác há miệng là một động tác trơn tru.  
Cơ chân bướm trong  
Do sự xắp xếp ở hai phía của góc hàm, cơ cắn và cơ chân bướm trong  
tạo thành một cặp cơ nâng hàm ở mỗi bên. Vì vậy, cơ chân bướm trong còn  
được gọi là “cơ cắn trong”.  
Chức năng chính của cơ chân bướm trong là nâng và định vị hàm dưới  
trong vị trí sang bên. Cơ hoạt động mạnh trong động tác đưa hàm thẳng ra  
trước nhưng kém hơn trong động tác há và ra trước. Trong động tác đưa hàm  
ra trước bên, cơ này hoạt động trội hơn cơ thái dương.  
- 6 -  
Hình 1.3: Cơ chân bướm trong và cơ chân bướm ngoài [9]  
Cơ thái dương  
Về mặt chức năng, cơ thái dương có tác  
dụng như hai cơ, phần trước như một cơ  
nâng, phần sau tác động như một cơ lui sau  
khi một bên co. Thông thường, phần trước  
của cơ co sớm hơn một chút so với các  
phần còn lại. Nếu cả hai cơ tác động toàn  
bộ và từ các sợi cơ phía trước đến các sợi  
cơ phía sau, hướng của lực kéo tổng hợp sẽ  
nâng hàm dưới một cách đều đặn. Do  
hướng co cơ, các răng hàm dưới có xu  
Hình 1.4: Cơ thái dương [9]  
hướng được đưa đến lồng múi tối đa. Cơ thái dương là cơ nhạy cảm nhất với  
các cản trở cắn khớp.  
1.1.2.2. Các cơ hạ hàm  
Các cơ này tác động trong động tác há, gồm: hai cơ chân bướm ngoài,  
hai cơ nhị thân, các cơ trên móng khác.  
Cơ chân bướm ngoài  
Hướng chính của các cơ chân bướm ngoài là từ trước ra sau, từ trong ra  
ngoài và từ dưới lên trên. Khi co, có tác dụng đưa hàm ra trước, xuống dưới  
- 7 -  
và sang bên (khi chỉ một bên co). Thân cơ chân bướm ngoài được cơ chân  
bướm trong phủ ở phần trước phía ngoài.  
Cơ nhị thân  
Cơ nhị thân là thành phần của các cơ trên móng, gồm một thân sau và  
một thân trước. Thân sau bám vào rãnh cơ nhị thân ở xương chũm, thân trước  
bám vào hố cơ nhị thân ở mặt sau bờ dưới cành ngang xương hàm dưới. Nhìn  
chung, cơ tạo nên một cung cong lõm lên trên, hướng từ sau ra trước và từ  
ngoài vào trong. Gân trung gian của cơ được cột vào xương móng bởi các sợi  
của cơ hoặc chui qua gân cơ trên móng. Chỉ có thân trước của cơ nhị thân  
tham gia hạ hàm.  
Các cơ trên móng khác  
Các cơ trên móng khác gồm có cơ hàm móng và cằm móng. Các cơ  
trên móng, khi tựa vào xương móng có tác dụng làm hạ hàm. Ngược lại, khi  
tựa vào xương hàm, có tác dụng nâng xương móng lên.  
Tác dụng tổng hợp của hai cơ chân bướm ngoài (ra trước), các thân  
trước cơ nhị thân và các cơ trên móng khác (về phía sau - dưới) làm xoay  
xương hàm dưới quanh một “trục” động (movable axis), trục này đi qua vùng  
lỗ hàm trong quá trình há - đóng tự do. Tuy vậy, nếu phần sau cơ thái dương  
và thân sau cơ nhị thân cùng tác động để kéo xương hàm ra sau, sẽ diễn ra  
động tác há - lui sau. Lúc này, các cơ dưới móng cũng tham gia trong động  
tác này để cố định xương móng.  
1.2. KHỚP CẮN VÀ CÁC QUAN NIỆM VỀ “KHỚP CẮN”  
1.2.1. Sơ lược lịch sử nghiên cứu khớp cắn [10]  
Vào những năm 1850 - 1930 là thời kỳ hình thành những khái niệm cơ  
bản về khớp cắn. Các quan niệm thô sơ về khớp cắn xuất hiện, những nghiên  
cứu đầu tiên về hình thái và động học khớp cắn ra đời. Trong giai đoạn này,  
các quan niệm về khớp cắn chủ yếu mang nặng tính chất cơ học - hình thái  
- 8 -  
học. Tuy những cố gắng nghiên cứu trong thời kỳ này chủ yếu là về quan hệ  
giữa hai hàm, những quan niệm đầu tiên về sinh lý khớp cắn đã xuất hiện.  
- Năm 50 của thế kỷ XIX, W.G. Bollwill đã phát hiện ra tam giác đều có  
chiều dài 10cm từ mỗi tâm lồi cầu đến điểm răng cửa.  
- Năm 1886, F.H. Balkwill đã chứng minh rằng xương hàm dưới quay  
quanh một trục qua hai lồi cầu trong các vận động mở và đóng hàm dưới, các  
lồi cầu dịch chuyển ra trước và xuống dưới trong vận động ra trước và toàn bộ  
hàm dưới di chuyển trong vận động sang bên.  
- Năm 1890, F.G. Von Spee mô tả chuyển động trượt của hàm dưới và  
đường cong Spee [11].  
Giai đoạn 1930 - 1980 là thời kỳ phát triển rực rỡ về lý luận và phương  
pháp thực hành khớp cắn. Trong giai đoạn này, phát hiện hai trường phái  
quan trọng còn ảnh hưởng đến khớp cắn ngày nay, đó là quan niệm về khớp  
cắn lý tưởng và khớp cắn tối ưu. Từ sau chiến tranh thế giới thứ II, cắn khớp  
học có sự phát triển vượt bậc. Nhiều vấn đề về phương pháp nghiên cứu đã  
được giải quyết: Posselt (1957) nghiên cứu vận động biên của điểm răng cửa  
trên mặt phẳng dọc giữa.  
Giai đoạn 1980 đến nay là giai đoạn nhận thức lại và đánh giá lại các  
quan niệm về khớp cắn, mà quan điểm thắng thế là khớp cắn phù hợp với  
chức năng, tôn trọng các đặc trưng cá thể trong quá trình chẩn đoán, điều trị,  
theo dõi khớp cắn.  
1.2.2. Định nghĩa khớp cắn  
Trong nha khoa danh từ khớp cắn được dùng để chỉ sự chạm các răng  
trên và dưới ở các thời điểm, khi thực hiện chức năng sinh lý như ngậm, cắn,  
hay không sinh lý như nghiến răng… Nhưng theo nghĩa rộng, khớp cắn còn  
được dùng để chỉ mọi yếu tố liên quan khác ngoài răng tham gia vào sự phát  
triển, hình thành, ổn định bộ máy nhai với việc sử dụng răng theo tập quán cử  
động.  
- 9 -  
Trong thực hành nha khoa, khớp cắn được định nghĩa đơn giản là sự  
chạm các răng, không đáp ứng được trong các lĩnh vực chuyên khoa khác  
nhau để giải quyết các vấn đề như: sự tái phát trong chỉnh nha, không ổn định  
của hàm giả, sang chấn nha chu, xắp xếp lại các răng, sự chạm răng sai, lệch  
vị trí hàm [12].  
1.2.3. Một số quan niệm về khớp cắn  
Hoạt động của hệ thống nhai con người không chỉ tuân thủ những qui  
luật sinh học - sinh lý, hình thái - chức năng mà còn là sự đan xen phức tạp và  
nhạy cảm với trạng thái tinh thần - tâm lý, các yếu tố cảm xúc - tâm linh của  
mỗi người trong môi trường xã hội.  
Ngày nay, quan niệm khớp cắn không chỉ giới hạn vào việc nghiên cứu  
các răng khớp với nhau như thế nào, mà phải bao gồm toàn bộ các yếu tố  
thuộc về cấu trúc và chức năng của hệ thống nhai. Vì mục đích này, khớp cắn  
được chia thành 3 nhóm: khớp cắn lý tưởng, khớp cắn sinh lý và khớp cắn  
không sinh lý. Sự phân biệt về mặt lâm sàng của ba nhóm này cần được hiểu  
rõ, để làm cơ sở cho việc nhận xét, phát hiện các thay đổi bất thường và bệnh  
lý.  
1.2.3.1. Khớp cắn lý tưởng: Khớp cắn lý tưởng là khớp cắn có tương quan  
răng - răng đúng với mô tả lý thuyết, có quan hệ giải phẫu và chức năng hài  
hòa với những cấu trúc khác của hệ thống nhai trong tình trạng lý tưởng.  
1.2.3.2. Khớp cắn sinh lý: Trên thực tế, chỉ có một số ít người có khớp cắn lý  
tưởng, hầu hết có một khớp cắn “xấu” về một phương diện nào đó, nhưng có  
chức năng tốt. Ở đa số người, khả năng thích ứng cao để những lệch lạc so  
với lý tưởng vẫn có thể là bình thường, ổn định và hài hòa.  
Tiêu chuẩn của khớp cắn sinh lý chức năng:  
- Các thành phần của hệ thống nhai hài hòa về hình thái và chức năng,  
góp phần ổn định khớp cắn; không có sự di lệch hoặc trồi răng, không có lung  
- 10 -  
lay răng, không có sự dày khoảng dây chằng nha chu, răng không mòn bất  
thường hay bị nhạy cảm ngà…  
- Không có những dấu hiệu thay đổi của hệ thống nhai. Hàm dưới thực  
hiện chức năng một cách thoải mái, không đau, không khó chịu.  
- Hàm dưới vận động dễ dàng, trơn tru (có nghĩa rằng không có cản trở  
cắn khớp trong các vận động trượt của hàm dưới). Ở “trung tâm” hàm dưới  
được tự do tìm đến hoặc được hướng dẫn đến lồng múi tối đa.  
- Không có sự than phiền về thiếu sức nhai (do mất răng), không bị mỏi  
cơ, không đau khớp thái dương hàm.  
- Khớp cắn sinh lý cũng thỏa đáng về mặt thẩm mỹ đối với bệnh nhân.  
Như vậy, một người có khớp cắn sinh lý chức năng thì không có nhu  
cầu điều trị.  
1.2.3.3. Khớp cắn không sinh lý: Hầu hết mọi người đều có khớp cắn lệch lạc  
so với khớp cắn lý tưởng. Tuy vậy, đa số vẫn có khả năng thích ứng với sự  
lệch lạc và thực hiện chức năng tốt, không bị những dấu hiệu hay triệu chứng  
nào của loạn năng chức năng nhai. Những dấu hiệu loạn năng bộ máy nhai  
chủ yếu thể hiện trên ba thành phần: hệ thống thần kinh - cơ, các khớp thái  
dương hàm, răng và cấu trúc nâng đỡ.  
1.2.3.4. Khớp cắn thăng bằng: “Khớp cắn thăng bằng”, cả về sự phát triển  
quan niệm lẫn ứng dụng thực hành là một trang bi tráng nhất trong lịch sử cắn  
khớp học nói riêng và nha khoa phục hồi nói chung.  
Khớp cắn thăng bằng là khớp cắn có sự tiếp xúc đều và đồng thời ở tất  
cả mặt chức năng của hai hàm và trong mọi vận động trượt của hàm dưới.  
Trong khớp cắn thăng bằng, có sự tiếp xúc đồng thời bên làm việc và bên  
không làm việc trong các vận động sang bên và ra trước.  
1.3. KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐỘNG VÀ VỊ TRÍ CỦA HÀM DƯỚI  
Hàm dưới cử động để phối hợp với hàm trên, hai cung răng chạm nhau  
tạo thành khớp cắn. Động tác này rất phong phú và thay đổi. Giới hạn cử  
- 11 -  
động bởi sự đối lập của hệ thống thần kinh - cơ, dây chằng, ổ chảo xương thái  
dương và các múi răng. Các giới hạn này tạo thành một khuôn cử động hình  
nón, trong đó các cử động chức năng diễn ra với nhiều giới hạn.  
1.3.1. Vận động biên của điểm răng cửa ghi trên mặt phẳng dọc giữa  
Vận động biên của điểm răng cửa ghi trên mặt phẳng dọc giữa được  
Posselt mô tả lần đầu tiên năm 1957 [13]. Ông đã dùng bút ghi lên giấy, bút  
chì được cố định vào vùng răng cửa dưới, ghi trên một bản ghi đặt trên mặt  
phẳng đứng dọc, nghĩa là song song với mặt phẳng dọc giữa. Sơ đồ Posselt  
được mô tả theo từng đoạn như sau:  
1.3.1.1. Đoạn há - lui sau  
Nếu thầy thuốc (hoặc bệnh nhân) giữ hàm dưới ra sau và hướng dẫn  
thực hiện động tác mở - đóng, khi đó một vận động bản lề (VĐBL) có thể  
được thực hiện, điểm răng cửa vạch đoạn S - B (đoạn này dài khoảng 16-  
20mm) [7].  
Vận động bản lề là vận động mở -  
đóng hàm dưới, được thực hiện chỉ  
khi có sự hướng dẫn: Hàm dưới  
được giữ ra sau, các cơ hàm ở trạng  
thái thư giãn, nghĩa là một vận động  
mở - đóng hàm dưới do hướng dẫn,  
không có sự tham gia của các cơ,  
Hình 1.5:  
biên độ được xác định bởi dây chằng  
Trong VĐ xoay bản lề của hàm dưới [14]  
khớp thái dương hàm.  
Vận động bản lề được thực hiện một cách có ý thức hoặc có hướng dẫn.  
VĐBL được xác định trên người Việt là khoảng 17 - 23mm (trung bình 19,98  
± 2,84mm) [15].  
Từ vị trí mà lồi cầu thực hiện được vận động bản lề, hàm dưới có thể  
thực hiện các động tác há, ngậm, sang bên, ra trước. Như vậy, đây là tư thế  
- 12 -  
chức năng nhất của hàm dưới. Vị trí mà lồi cầu thực hiện được VĐBL được  
gọi là vị trí tương quan trung tâm, vị trí bản lề, vị trí lui sau. Do vị trí và  
đường VĐBL được quyết định bởi dây chằng và các cấu trúc khác của khớp  
thái dương hàm (TDH), nó còn được gọi là vị trí dây chằng, vị trí dây chằng  
hướng dẫn [7]. Thuật ngữ được dùng nhiều nhất để chỉ vị trí này của lồi cầu  
và của hàm dưới là tương quan trung tâm. Như vậy, tương quan trung tâm là  
một tương quan hàm - sọ, hay gần hơn là tương quan giữa lồi cầu xương hàm  
dưới và hõm khớp thái dương qua trung gian đĩa khớp.  
Từ điểm B (điểm tận cùng của đường vận động bản lề), nếu cố gắng  
tiếp tục động tác há, điểm răng cửa vạch đoạn BH, điểm H là điểm kết thúc  
vận động há - lui sau (điểm há tối đa). Tại điểm H, các vận động theo chiều  
ngang của hàm dưới bị giới hạn, điểm há tối đa là chung cho các vận động há  
miệng đến tối đa.  
Khi điểm răng cửa vạch đoạn BH,  
lồi cầu rời hõm khớp, dịch chuyển ra  
trước và xuống dưới, tại điểm H (há tối  
đa), lồi cầu ở trước lồi khớp. Trục quay  
của vận động hàm dưới cũng rời lồi cầu,  
di chuyển xuống dưới và ra trước, nằm  
gần phía dưới lỗ hàm. Như vậy, toàn bộ  
Hình 1.6: Pha thứ hai của đoạn  
há-lui sau (đoạn B-H) [14]  
đoạn SH gồm đường đi của điểm răng  
cửa trong vận động từ vị trí tiếp xúc lui sau (điểm S) đến há tối đa (điểm H) là  
một đường cong gồm hai pha với cung trên (SB) và cung dưới (BH) cong lõm  
ra sau với một điểm uốn lõm ra trước ở B. Đoạn BH thường dài hơn đoạn SB.  
Điểm uốn B là do dây chằng không tiếp tục căng thêm nữa, lồi cầu rời khỏi  
hõm khớp, dịch chuyển ra trước và xuống dưới.  
1.3.1.2. Đoạn đóng - ra trước và trượt từ tiếp xúc lui sau đến ra trước tối đa  
- 13 -  
Từ điểm há tối đa, nếu hàm  
dưới thực hiện động tác đóng - ra  
trước cho đến khi răng dưới chạm  
răng trên, điểm răng cửa vạch cung  
HT. Điểm T là điểm tiếp xúc ra  
trước tối đa. Điểm này ở 10 - 12mm  
trước điểm tiếp xúc lui sau (S). Cung  
HT là một cung lõm về phía sau,  
không phân đoạn. Trong quá trình  
Hình 1.7: Đoạn đóng ra trước của đoạn  
răng cửa [7]  
đóng ra trước, lồi cầu ở trước lồi khớp. Đoạn gấp khúc ST được quyết định  
bởi quan hệ giữa mặt nhai và bờ cắn của hai cung răng. Đó là đoạn từ tiếp xúc  
lui sau đến tiếp xúc ra trước tối đa.Trên đoạn này có thể thấy: đầu tiên là một  
đoạn ngắn SL lên trên và ra trước, điểm L là vị trí lồng múi tối đa (LMTĐ).  
Tại vị trí này có sự tiếp xúc tối đa giữa các răng trên và dưới, đó là tư thế cắn  
khít nhất giữa hai hàm và tạo nên sự ổn định cơ học nhất đối với xương hàm  
dưới. Tư thế này thường được gọi là khớp cắn trung tâm (còn được gọi bằng  
nhiều thuật ngữ khác: vị trí lồng múi, vị trí răng, vị trí trung tâm tập nhiễm, vị  
trí trung tâm thông thường).  
Độ dài trung bình của đoạn SL  
trên người châu Âu theo Posselt là  
1,25 ± 1mm. Ở người trẻ, vị trí lồng  
múi nằm ở 0,72 ± 0,43mm trước  
điểm tiếp xúc lui sau (chiếm 95% số  
Hình 1.8  
người có chức năng nhai bình  
Đoạn SL: Điểm răng cửa từ vị trí tiếp  
thường, ở 5% số người có khớp cắn  
xúc lui sau (S) trượt một đoạn ngắn lên  
sinh lý còn lại, tư thế lồng múi trùng  
trên và ra trước, đến vị trí lồng múi tối đa  
với tư thế tiếp xúc lui sau) [15].  
(L)[7]  
- 14 -  
Đoạn từ L đến T thường là một đoạn  
gấp khúc lõm lên trên, trong đó D là điểm  
cắn đối đầu giữa các răng cửa. Mô tả trên  
đây về đoạn ST đề cập đến những trường  
hợp thường gặp của bộ răng có quan hệ  
giữa hai hàm bình thường. Đoạn ST là  
đoạn vận động tiếp xúc, đồng thời cũng là  
vận động biên của hàm dưới không thể  
đóng thêm nữa khi các răng tiếp xúc nhau.  
1.3.1.4. Vị trí nghỉ  
Hình 1.9: Đoạn LT [7]  
Trên sơ đồ Posselt, người ta thường mô tả vị trí nghỉ của hàm dưới. Khi  
điểm răng cửa ở vị trí nghỉ (điểm N) hàm dưới được “treo” một lỏng lẻo, sự  
tác động của hệ thống cơ hàm đối với hàm dưới ở mức thấp. Vị trí nghỉ của  
hàm dưới, cũng như các vị trí nghỉ khác của cơ thể, có sự khác biệt nhất định  
ngay cả trên cùng một người (thí dụ rõ rệt nhất là sự khác biệt vị trí nghỉ của  
hàm dưới khi ngủ và khi thức, khi ngủ thường có độ mở lớn hơn).  
Hình 1.10: Sơ đồ Posselt [7]  
S: Vị trí tiếp xúc lui sau; L: Vị trí LMTĐ; D: Vị trí đối đầu các răng cửa; T:  
Vị trí tiếp xúc ra trước tối đa; H: Điểm há tối đa; B: Điểm tận cùng của đoạn  
vận động bản lề; N: Vị trí nghỉ  
Điểm N trên người châu Âu, theo Posselt, thường ở độ mở khoảng 1-  
4mm (2,5 ± 1,5mm) dưới vị trí lồng múi, một số tác giả còn cho những giá trị  
- 15 -  
lớn hơn tới 7 - 10mm. Trên người Việt, vị trí nghỉ dưới vị trí lồng múi khoảng  
1,3 - 3,2mm (trung bình: 2,24 ± 0,93mm) [15]. Nếu một người ngồi hoặc  
đứng, hàm dưới ở tư thế nghỉ và được yêu cầu há miệng, điểm răng cửa sẽ  
vạch đường S. Trong vận động há miệng này, lồi cầu di chuyển ra trước và  
xuống dưới với tâm quay gần với trục D tức gần lỗ hàm, đó là vận động há  
miệng tự do.  
Từ tư thế nghỉ nếu yêu cầu đụng nhẹ răng trở lại, trong điều kiện hệ  
thống nhai lành mạnh, điểm tiếp xúc đầu tiên từ tư thế nghỉ và của những vận  
động tự do thông thường khác là vị trí lồng múi tối đa. Tiếp xúc đầu tiên này  
cũng có thể diễn ra ở một nơi nào đó gần với vị trí lồng múi tối đa. Vị trí tiếp  
xúc đầu tiên phụ thuộc vào cân bằng cơ của tiếp xúc cắn khớp, nên vị trí đó  
được gọi là vị trí cơ hay vị trí trung tâm. Tư thế nghỉ thường là tư thế bắt đầu  
và là điểm kết thúc của các vận động tự do của hàm dưới.  
1.3.2. Vận động biên của điểm răng cửa ghi nhận trên mặt phẳng ngang  
và mặt phẳng đứng ngang.  
Trong vận động sang bên, người ta qui ước phía hàm dưới di chuyển  
tới gọi là bên làm việc và lồi cầu bên đó gọi là lồi cầu làm việc; bên đối diện  
tương ứng là bên không làm việc và lồi cầu không làm việc. Về mặt động học,  
người ta chia vận động sang bên của hàm dưới thành: vận động sang bên li  
tâm và vận động sang bên hướng tâm.  
Việc ghi lại vận động của hàm dưới được Gysi thực hiện lần đầu tiên  
năm 1910. Đồ hình này được gọi tên đầy đủ là “Đồ hình cung Gothic của  
Gysi” (Gothic arch, Gysi tracing). Đồ hình Gysi được ghi trong miệng  
(phương pháp cổ điển của Gysi), ngoài miệng bằng các phương tiện ghi vận  
động của hàm dưới, hoặc bằng các phương tiện có vi tính hỗ trợ. Đồ hình  
Gysi có dạng hình thoi, các cạnh là những đoạn cong nhẹ lõm về phía sau, các  
góc trước và sau tù, các góc phải và trái nhọn. Nếu lấy tư thế tiếp xúc lui sau  
- 16 -  
là điểm bắt đầu và hàm dưới vận động tiếp xúc lần lượt sang phải, ra trước,  
sang trái và trở về điểm ban đầu thì các góc của đồ hình Gysi là:  
- Điểm tiếp xúc lui sau  
(1)  
- Điểm tiếp xúc sang phải tối đa (2)  
- Điểm tiếp xúc ra trước tối đa (3)  
- Điểm tiếp xúc sang trái tối đa (4)  
Hình 1.11  
Hình 1.12  
Các thông số của vận động hàm dưới  
trên mặt phẳng ngang [7]  
Đồ hình Gysi có dạng hình thoi [7]  
Sự dịch chuyển hàm dưới sang bên gọi là vận động Bennett. Lồi cầu  
bên làm việc xoay nhẹ theo trục L và dịch chuyển nhẹ ra ngoài, từ L1 - L2.  
Vận động Bennett được đánh giá bằng khoảng cách L1 - L2, thường dưới  
1,5mm (Lundeen, 1978) nhưng có thể đạt 3mm (Guichet, 1969). Trong vận  
động sang bên, lồi cầu bên làm việc dịch chuyển ra ngoài, có thể kết hợp ra  
sau hoặc ra trước. Lồi cầu bên không làm việc dịch chuyển ra trước, xuống  
dưới và vào trong, vạch đoạn K1 - K2, đoạn này tạo một góc B với mặt phẳng  
đứng dọc khi chiếu trên mặt phẳng ngang, góc này gọi là góc Bennett hay là  
độ nghiêng bên lồi cầu. Vận động sang bên có thể gồm hai phần: lập tức và  
tăng tiến (immediatee side shift, progressive side shift).  
Có một mối liên hệ giữa góc Bennett với vận động Bennett. Hướng vận  
động của Bennett phụ thuộc vào cấu trúc khớp thái dương hàm, hướng dẫn  
của răng và sự co của cơ chân bướm ngoài. Thời gian diễn ra vận động  
Bennett có sự khác biệt lớn giữa các cá thể, nếu vận động sang bên diễn ra  
- 17 -  
sớm, nó được gọi là vận động sang bên lập tức. Nếu vận động sang bên diễn  
ra dần dần, nó được gọi là vận động sang bên tăng tiến.  
Như vậy đồ hình Gysi thể hiện vận động biên của hàm dưới trên mặt  
phẳng ngang (sang bên và ra trước) có tiếp xúc. Tuy là những vận động tiếp  
xúc nhưng các răng không đóng vai trò hướng dẫn. Các vận động ghi lại trên  
đồ hình thể hiện tiềm năng của cơ và khớp thái dương hàm, hơn là ghi lại các  
hoạt động chức năng. Các vận động tiếp xúc khác, bao gồm các vận động  
chức năng nằm trong phạm vi đồ hình Gysi. Người ta cũng có thể thu được đồ  
hình Gysi ở các độ mở khác nhau của hàm dưới, nghĩa là khi các răng không  
có tiếp xúc.  
1.3.3. Chu trình nhai  
Các tác giả phân tích sự nhai thành các giai đoạn khác nhau. Theo  
Jawkelson gồm: cắt/cắn; nhai/ nghiền; nuốt. Theo Scott gồm: cắt/ cắn; làm  
dập; nhai/ nghiền. Theo Mongini (1986) thì khi hàm dưới nhai thức ăn,  
chuyển động của răng cửa có thể theo một trong bốn loại chu trình sau:  
Loại 1: Chuyển động há ngậm miệng theo một đường cong lõm đối xứng qua  
đường giữa.  
Hình 1.13: Chu trình nhai [14]  
Loại 2: Chuyển động há miệng gần như thẳng đứng, ngậm miệng cong lõm.  
Loại 3: Chuyển động há ngậm miệng cân xứng qua đường giữa.  
Loại 4: Chuyển động há ngậm miệng chỉ xảy ra một bên hoặc cả hai bên  
không cân xứng.  
Theo J. Algren thì chu trình nhai gồm 5 giai đoạn:  
- 18 -  
Giai đoạn 1 (giai đoạn chuẩn bị): Há miệng nhanh, hơi lệch về bên không  
làm việc, tiếp đến là ngậm miệng nhanh.  
Giai đoạn 2 (chạm viên thức ăn): Thức ăn được tập trung về mặt nhai, răng  
chạm thức ăn, những thụ thể quanh răng sẽ cảm nhận được mật độ và độ cứng  
của viên thức ăn, truyền cảm giác về thần kinh trung ương, giúp điều khiển sự  
co cơ nhai.  
Hình 1.14: Các giai đoạn của chu trình nhai [14]  
Giai đoạn 3 (làm nát thức ăn): Bằng co thắt đẳng trương và đẳng trường  
(đẳng cự) của cơ nhai để nghiền thức ăn.  
Giai đoạn 4 (nghiền thức ăn): Các răng tiếp xúc với nhau, cơ nhai chủ yếu  
bằng co thắt đẳng trường để nghiền nát thức ăn.  
Giai đoạn 5 (tiếp xúc giữa các răng): Xuất hiện khi viên thức ăn đã nhuyễn  
và ngấm đều nước bọt.  
Để nhai nhuyễn một viên thức ăn cần đến khoảng 15 chu trình nhai như  
trên Neill và Howell [16] cho thấy rằng trên bình diện thẳng, đứng dọc gần  
phân nửa số người có cú mở (opening stroke) trước cú đóng (closing stroke).  
Độ gấp của đường thẳng đứng dọc thường hướng lên trên và ra sau, phản ảnh  
yếu tố quay tròn trong mở hàm dưới. Tính chất của thức ăn ảnh hưởng đến  
cách nhai [17],[18]. Độ dài của động tác mở phụ thuộc vào kích thước và độ  
rắn của viên thức ăn. Khi thức ăn mềm ra, mức độ ngang và dọc của chuyển  
động hàm giảm đi [19],[20].  
- 19 -  
Độ rắn của thức ăn cũng có tác động lên số lần nhai cần thiết trước khi  
khởi xướng một động tác nuốt. Thức ăn càng rắn thì số lần nhai càng cần  
nhiều hơn. Mỗi một chu kỳ nhai có độ dài vào khoảng 70ms và chạm răng  
răng (tooth contact) khoảng 200ms [21].  
1.4. ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, X-QUANG VÀ KHỚP CẮN GÃY  
XƯƠNG HÀM TRÊN LEFORT I, II VÀ GÒ MÁ CUNG TIẾP  
Gãy xương hàm trên ngày nay thường kèm theo gãy xương gò má cung  
tiếp. Do lực gây chấn thương lớn nên thường gãy dập nát không điển hình.  
Tuy nhiên, để dễ sắp xếp, người ta vẫn sử dụng cách phân loại của Le Fort.  
Gãy Le Fort là loại gãy khối xương mặt, bao gồm gãy xương hàm trên và các  
cấu trúc giải phẫu xung quanh. Le Fort là phẫu thuật viên người Pháp, tên đầy  
đủ là Rene Le Fort (1869 - 1951). Các đường gãy Le Fort I, II, III có được là  
do ông làm thực nghiệm trên tử thi. Trong nghiên cứu chúng tôi chỉ để cập  
đến gãy xương hàm trên kiểu Le Fort I và Le Fort II. Hai kiểu gãy này được  
mô tả như sau:  
1.4.1. Gãy xương hàm trên kiểu Le Fort I.  
Thân xương bị gãy tách rời ngay  
trên mỏm khẩu cái, ở dưới chỗ tiếp  
khớp của xương gò má. Đường gãy  
ngang này sẽ làm xương hàm trên bị  
di động. Có thể có một đường gãy  
phụ, chạy theo dọc giữa mỏm khẩu  
cái, lúc này sẽ thấy tụ máu lấm tấm ở  
Hình 1.15: Sơ đồ đường gãy Le Fort I  
[22]  
vòm miệng. Gãy xương hàm trên kiểu Le Fort I có thể ở 1 bên, cần phân biệt  
gãy Le Fort I với gãy huyệt ổ răng. Gãy huyệt ổ răng không lan tới đường  
giữa của vòm khẩu cái.  
1.4.2. Gãy xương hàm trên kiểu Le Fort II  
- 20 -  
Mẫu hình của kiểu gãy này  
giống như một kim tự tháp, mà đỉnh  
tháp nằm ở khớp trán mũi. Biểu hiện  
lâm sàng là phù nề quanh hố mắt cả  
hai bên, đôi khi có tụ máu lấm tấm ở  
màng tiếp hợp. Có thể có hiện tượng  
tê bì ở vùng chi phối của dây thần  
kinh dưới ổ mắt. Có thể thấy khớp cắn  
Hình 1.16: Sơ đồ đường gãy Le Fort II  
[22]  
sai, hở khớp cắn cửa, sờ thấy khấc bậc thang ở vùng bờ dưới ổ mắt, ở khớp  
trán mũi.  
Trên sơ đồ gãy Le Fort, đường gãy bắt đầu ở một điểm yếu của tháp  
mũi, ngay phía dưới hoặc ngay tại đường nối khớp trán mũi. Ở hai bên, đường  
gãy đều chạy qua mỏm trán của xương hàm trên, qua bờ dưới ổ mắt, lan qua  
cả xoang hàm trên. Gãy Le Fort II thường kèm theo gãy một hoặc cả hai  
xương gò má.  
1.4.3. Phân loại gãy xương gò má cung tiếp  
Để phân loại gãy xương gò má cung tiếp, nhiều tác giả đã đưa ra nhiều  
ý kiến khác nhau. Cách phân loại của Knight và North [23], Ellis [24] thì dựa  
vào giải phẫu đường gãy trên phim X-quang thông thường (phim Blondeau,  
Water, Hirtz), đơn giản, dễ áp dụng và bất kỳ bệnh viện nào cũng chụp được.  
Phân loại của Manson [25] có ưu điểm là qua phim CT.Scanner dễ đánh giá  
các tổn thương phối hợp kèm theo, nhất là tình trạng sọ não, hốc mắt, từ đó có  
phương án xử trí sớm. Để dễ nghiên cứu về hình thái gãy xương gò má cung  
tiếp tại Việt Nam, các tác giả thường áp dụng cả ba phương pháp phân loại  
của Knight & North, Ellis, Manson. Đây là những cách phân loại vừa hiện  
đại, vừa dễ áp dụng ở các cơ sở Y tế của nước ta.  
1.4.4. Gãy phức hợp xương gò má - hàm trên  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 128 trang yennguyen 21200 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Đề tài Nghiên cứu chức năng nhai trên bệnh nhân sau điều trị gãy xương hàm trên Le Fort I, Le Fort II và gò má cung tiếp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfde_tai_nghien_cuu_chuc_nang_nhai_tren_benh_nhan_sau_dieu_tri.pdf