Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện tỉnh Bến Tre, 2018

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
nhân viên y tế trong các sự cố y khoa Howell cho đối tượng xảy ra sự cố là người bệnh, 62.7% sự  
rằng chỉ 5% là nguyên nhân đến từ người bệnh. cố được báo cáo gây ra mức độ tổn thương nhẹ,  
Nguyên nhân môi trường chúng tôi nghiên cứu  
thấy nhóm này chiếm tỷ lệ 4,9% nguyên nhân  
gây ra sự cố và xếp hàng thứ 5, trong khi đó tác  
giả Nguyễn Thị Thu Hà là 9,7% và xếp hàng thứ  
3 [2]. Tác giả Gao X thì cho rằng điều này tùy  
thuộc vào môi trường của từng bệnh viện [7].  
Nhóm nguyên nhân khác chúng tôi có kết quả  
chiếm tỷ lệ 12,9%, tác giả Nguyễn Thị Thu Hà là  
4,8%, Lương Ngọc Khuê, Phạm Đức Mục chưa  
đưa ra nhận định này. Trong nghiên cứu của  
chúng tôi còn nhận định thấy có 8,2% sự cố được  
báo cáo không phân tích được nguyên nhân, việc  
này cũng đúng với nhận định của các tác giả  
Lương Ngọc Khuê, Phạm Đức Mục về sự phức tạp  
trong nguyên nhân gây ra sự cố sẽ ngày càng  
nhiều và sẽ cần được bổ sung trong các văn bản  
hướng dẫn về vấn đề này [2],[3],[4].  
58.4% sự cố xảy ra làm tăng nguồn lực phục vụ  
cho người bệnh, 60.8% nguyên nhân gây ra sự  
cố do nhóm nhân viên y tế.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Dương Minh Đức (2018), "Báo cáo sự cố y  
khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh viện  
Hữu Nghị Việt Đức năm 2018", Luận văn thạc sỹ.  
2. Nguyễn Thị Thu Hà (2019), "Thực trạng báo  
cáo sự cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại  
bệnh viện Việt Nam - Thụy Điển Uông Bí giai đoạn  
2013-2019". Luận văn thạc sỹ quản lý bệnh viện.  
3. Lương Ngọc Khuê (2014), "Tài liệu đào tạo liên  
tục an toàn người bệnh", Nhà xuất bản Y học.  
4. Phạm Đức Mục (2012), "Giảm thiểu sự cố y  
khoa trong các bệnh viện", Hội điều dưỡng Việt  
Nam. Website của Bộ y tế Việt Nam.  
5. Nguyễn Thị Thu (2017), "Nghiên cứu thực trạng  
báo cáo sự cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng  
tại các khoa lâm sàng tại bệnh viện Phụ Sản Hà  
Nội", Luận văn thạc sỹ.  
6. Lê Thanh Tùng (2019), "Thực trạng báo cáo sự  
cố y khoa và một số yếu tố ảnh hưởng tại Bệnh  
viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba Đồng Hới", Luận  
văn thạc sỹ.  
7. X. Gao et al (2019), "Implications from China  
patient safety incidents reporting system", Ther  
Clin Risk Manag. 15, tr. 259-267.  
8. T. Shimizu, Y. Tokuda (2012), "Pivot and  
cluster strategy: a preventive measure against  
diagnostic errors", Int J Gen Med. 5, tr. 917-21.  
V. KẾT LUẬN  
Đặc điểm của các sự cố y khoa được báo cáo  
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Thọ rất đa dạng  
với 365 sự cố y khoa được nhân viên y tế của  
bệnh viện báo cáo ghi nhận và phân tích: 56.7%  
xảy ra tại nhóm chuyên môn khối Nội, 36.2% sự  
cố xảy ra tại buồng điều trị, 8.5% sự cố xảy ra  
vào ngày Thứ Sáu hàng tuần, 21.6% sự cố xảy  
ra trong ngày vào thời gian từ 12-18h, 61.1%  
MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN THỰC HÀNH PHÒNG BỆNH  
VIÊM GAN B NGHỀ NGHIỆP CỦA ĐIỀU DƯỠNG LÂM SÀNG  
BỆNH VIỆN TỈNH BẾN TRE, 2018  
Nguyễn Ngọc Bích1, Nguyễn Thị Mỹ Khánh2, Nguyễn Thu Hà3  
định tính đã được thực hiện từ tháng 4 năm 2018 đến  
TÓM TẮT33  
tháng 8 năm 2018, qua phát vấn 420 điều dưỡng tại  
Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu. Đồng thời, có 03 cuộc  
phỏng vấn sâu lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo Phòng  
Điều dưỡng, lãnh đạo Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn và  
01 cuộc thảo luận nhóm cũng đã được tiến hành. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy 89,5% điều dưỡng có thực  
hành đúng từ 2/3 tiêu chí trong dự phòng phơi nhiễm  
viêm gan B nghề nghiệp. Nhóm điều dưỡng có kiến  
thức về bệnh viêm gan B nghề nghiệpkhông đạt có  
thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp không  
đúng gấp 2,3 lần so với nhóm có kiến thức đạt (p =  
0,007). Nhóm điều dưỡng có kiến thức phòng bệnh  
viêm gan B nghề nghiệpkhông đạt có thực hành  
phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp không đúng gấp  
4,3 lần so với nhóm có kiến thức đạt (p < 0,0001).  
Nghiên cứu khuyến nghị tăng cường kiến thức về  
bệnh cũng như kiến thức về cách phòng bệnh viêm  
gan B nghề nghiệp cho điều dưỡng lâm sàng tại bệnh  
viện, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện các  
Viêm gan B nghề nghiệp là một bệnh tiềm ẩn nguy  
cơ đe doạ sức khoẻ nhân viên y tế, đặc biệt là điều  
dưỡng do thường xuyên tiếp xúc với máu, dịch của  
người bệnh nhiễm vi rút viêm gan B. Nghiên cứu tìm  
hiểu một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng  
bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm  
sàng tại Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre.  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp  
1Trường Đại học Y tế công cộng  
2Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu Bến Tre  
3Viện Sức khoẻ nghề nghiệp và Môi trường  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Ngọc Bích  
Ngày nhận bài: 9.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 18.5.2021  
137  
       
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
quy trình kỹ thuật trong chăm sóc người bệnh, đảm  
nhiễm, nguy cơ nhiễm khuẩn sau khi bị tổn  
thương do kim tiêm là 23%-62% đối với HBV  
(6,7). Tỷ lệ NVYT nhiễm HBV mạn tính trong  
nghiên cứu tại miền Bắc của Khúc Xuyền là  
13,1% (8) nghiên cứu của Nguyễn Quang Tập  
tại Hải Phòng là 14,8% (9), miền Trung của Viên  
Chinh Chiến là 17,6%, ở miền Nam tại Bệnh viện  
Nhân dân Gia Định là 39%. Tỷ lệ nhiễm cao nhất  
ở nhóm y tá/ĐD là 61,9%, bác sĩ 17,5%, hộ lý  
và y công chiếm 9,5%.  
bảo tốt các nguyên tắc trong phòng ngừa chuẩn và  
nhiễm khuẩn bệnh viện.  
Từ khoá: viêm gan B, bệnh nghề nghiệp, yếu tố  
liên quan, điều dưỡng, bệnh viện  
SUMMARY  
FACTORS RELATED TO PRACTICE TOWARD  
OCCUPATIONAL HEPATITIS B  
PREVENTIONOF CLINICAL NURSES IN  
NGUYEN DINH CHIEU HOSPITAL, 2018  
Occupational hepatitis B is one of the most  
common occupational risks for health workers,  
especially nurses as they regularly exposed to blood  
and other contaminants from patients. This study  
aimed to investigate factors related to prevention  
practice among clinical nurses at Nguyen Dinh Chieu,  
Ben Tre. The cross sectional study using quantitative  
and qualitative methods was implemented from April  
to August 2018. 420 nurses completed self  
administered questionnaire. 3 indept interviews and  
one focus group discussion was also conducted.  
Results show that 89.5% of nurses had adequate  
practices on prevention of occupational hepatitis B.  
Nurses with inadequate knowledge about the disease  
were 2.3 more likely practice inadequately compared  
to the others. Nurses with inadequate knowledge on  
prevention were 2.3 more likely practice inadequately  
compared to the others.The differences were  
statistically significant. It was recommended that the  
hospital board should strengthen knowledge on  
hepatitis B as well as on how to prevent the disease.  
Supervision should also be implemented.  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu  
thực trạng thực hành phòng bệnh VGBNN của  
ĐD tại các khoa lâm sàng trong bệnh viện và  
một số yếu tố liên quan.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1. Đối tượng nghiên cứu:  
- Điều dưỡng viên hiện đang công tác tại các  
khoa lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu  
Bến Tre.  
- Lãnh đạo bệnh viện, lãnh đạo phòng Điều  
dưỡng, Lãnh đạo khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn.  
2.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu:  
- Thời gian: Từ tháng 04/2018 đến tháng  
08/2018.  
- Địa điểm: Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu,  
Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.  
2.3. Phương pháp nghiên cứu:  
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứumô tả cắt  
ngang có phân tích, kết hợp định lượng và định tính.  
2.4. Mẫu và phương pháp chọn mẫu:  
2.4.1. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định lượng:  
Lấy mẫu toàn bộ, toàn bộ điều dưỡng các khoa  
lâm sàng Bệnh viện Nguyễn Đình Chiểu đủ tiêu  
chuẩn lựa chọn và đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Thực tế đối tượng nghiên cứu là 420 người.  
2.4.2. Cỡ mẫu cho nghiên cứu định tính:  
Chọn mẫu có chủ đích các đối tượng phỏng  
vấn sâu. Đó là những người quản lý bệnh viện,  
quản lý điều dưỡng và quản lý công tác kiểm  
soát nhiễm khuẩn của bệnh viện.  
Số lượng các cuộc phỏng vấn sâu trong  
nghiên cứu được thực hiện như sau:  
Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo bệnh viện.  
Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo phòng Điều dưỡng.  
Phỏng vấn sâu 01 lãnh đạo khoa Kiểm soát  
nhiễm khuẩn.  
Keywords: Hepatitis B, occupational disease,  
factor, nurse, hospital  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Viêm gan vi rút là một nhóm bệnh truyền  
nhiễm rất phổ biến và nguy hiểm. Trong đó,  
viêm gan B (VGB) đã và đang là vấn đề y tế  
nghiêm trọng có tính chất toàn cầu. Bệnh  
nghiêm trọng vì ngoài tính chất lây nhiễm cao  
trong cộng đồng, bệnh còn để lại những biến  
chứng và hậu quả nặng nề (1)  
Viêm gan vi rút B là một trong những bệnh  
được công nhận là bệnh nghề nghiệp được bảo  
hiểmở Việt Nam (2)Điều dưỡng (ĐD) bệnh viện  
khi tiếp xúc với người bệnh (NB) có nguy cơ bị  
tổn thương do vật sắc nhọn hay văng dính máu,  
dịch. Các yếu tố nguy cơ có thể gây tổn thương  
da trong bệnh viện như: Kim tiêm dưới da, mảnh  
thủy tinh, mũi khâu, kim bướm, mũi khoan,... (3)  
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có tới 50% các  
mũi tiêm ở các nước đang phát triển là không an  
toàn. Các tác nhân gây bệnh qua đường máu  
cũng góp phần gây bệnh ở nhân viên y tế  
(NVYT). Ước tính 39% ca nhiễm HBV là do tai  
nạn nghề nghiệp (TNNN) (4,5). Trong các số  
NVYT không được điều trị dự phòng sau phơi  
Dựa vào kết quả thu được từ nghiên cứu định  
lượng, đã chọn ra 10 điều dưỡng có số điểm  
kiến thứcchung về VGBNN thấp nhất, đảm bảo  
cân đối về cơ cấu tuổi, trình độ chuyên môn và  
thâm niên công tác tại bệnh viện.  
2.5. Phương pháp thu thập số liệu:  
2.5.1. Công cụ thu thập số liệu định  
138  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
lượng. Sử dụng bộ câu hỏi tự điền được thiết kế không đúng <2 điểm.  
sẵn, phát vấn cho các điều dưỡng làm việc tại  
các khoa lâm sàng  
- Đánh giá thực hành xử trí chung đúng khi bị  
tai nạn nghề nghiệp: Xử trí đúng khi bị tai nạn  
do vật sắc nhọn hoặc khi bị văng bắn máu dịch  
Đánh giá thực hành:  
Nghiên cứu tiến hành đánh giá chung về thực hoặc xử trí đúng cả hai tai nạn khi bị cả hai tai  
hành dự phòng phơi nhiễm và xử trí khi bị TNNN. nạn nghề nghiệp (do vật sắc nhọn và dính/văng  
*Đánh giá dự phòng phơi nhiễm với các yếu bắn máu, dịch).  
tố nguy cơ (chung cho tất cả các ĐTNC)  
2.5.2. Công cụ thu thập chủ đề định  
- Phần thực hành có các câu hỏi từ C42 đến C53. tính. Nghiên cứu viên xây dựng bộ câu hỏi theo  
Mỗi câu tương ứng với một số điểm nhất định, dựa chủ đề nghiên cứu gồm:  
vào phần trả lời của ĐTNC, theo thang điểm để tính  
điểm và đánh giá đúng hay không đúng.  
- 03 hướng dẫn phỏng vấn sâu: 01 lãnh đạo  
bệnh viện, 01 lãnh đạo phòng Điều dưỡng, 01  
- Điểm tối đa cho phần đánh giá thực hành là trưởng khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn  
12 điểm. Nếu ĐTNC thực hành đúng trên 2/3 các  
- 01 hướng dẫn thảo luận nhóm (10 ĐD của  
tiêu chí thì được coi là thực hành đúng, điểm 10 khoa lâm sàng) được chọn chủ đích  
đúng > 9 điểm, không đúng < 9 điểm.  
2.6. Các biến số nghiên cứu  
2.6.1. Biến số nghiên cứu định lượng  
- Nhóm biến số mô tả thực hành:  
+ Nhóm thực hành dự phòng phơi nhiễm  
+ Nhóm thực hành xử trí khi bị tai nạn nghề  
* Đánh giá thực hành xử trí khi bị TNNN:  
- Phần thực hành xử trí khi bị tai nạn do vật  
sắc nhọn. Mỗi câu hỏi tương ứng với một số  
điểm nhất định. Điểm tối đa cho phần đánh giá  
thực hành là 5 điểm. Thực hành đúng > 4 điểm, nghiệp.  
không đúng < 4 điểm.  
- Nhóm biến số về yếu tố cá nhân của đối  
- Phần thực hành xử trí khi bị văng bắn, dính tượng nghiên cứu: Tuổi, giới tính, thâm niên  
máu dịch. Mỗi câu hỏi tương ứng với một số công tác, trình độ chuyên môn.  
điểm nhất định. Điểm tối đa cho phần đánh giá  
- Kiến thức với thực hành phòng bệnh  
thực hành là 2 điểm. Thực hành đúng: 2 điểm, VGBNN.  
2.6.2. Các chủ đề nghiên cứu định tính:  
STT  
Chủ đề nghiên cứu  
Đối tượng  
Các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp  
Đánh giá việc cung cấp phương tiện bảo hộ lao động cho nhân  
viên y tế  
Lãnh đạo bệnh viện, lãnh  
đạo phòng Điều dưỡng,  
lãnh đạo khoa Kiểm soát  
nhiễm khuẩn và điều  
1
Đánh giá việc tập huấn- đào tạo kiến thức về phòng bệnh viêm  
2
3
gan B nghề nghiệp  
dưỡng viên ở các khoa  
Đánh giá việc kiểm tra, giám sát các hoạt động phòng phơi nhiễm  
2.7. Phương pháp phân tích số liệu  
2.7.1. Số liệu định lượng  
tích, tổng hợp theo chủ đề. NCV lựa chọn các  
câu trích dẫn phù hợp với các chủ đề để tìm ra  
- Quản lý số liệu: Sau khi thu thập, phiếu những thông tin trả lời cho các câu hỏi chính  
điều tra được kiểm tra đầy đủ trước khi NCV tiến trong nghiên cứu và từ đó làm sáng tỏ mục tiêu  
hành làm sạch, mã hóa và nhập số liệu bằng nghiên cứu.  
phần mềm EpiData 3.1. Xử lý số liệu bằng phần  
mềm SPSS 18.0.  
- Phân tích số liệu: Kết quả phân tích được  
chia làm 2 phần:  
+ Phần miêu tả những bảng, biểu thể hiện  
tần số của các biến nghiên cứu.  
+ Phần phân tích: Sử dụng kiểm định Khi  
bình phương, tỷ suất chênh (OR) để xác định  
các yếu tố liên quan đến kiến thức, thực hành  
phòng bệnh VGBNNcủa ĐD lâm sàng.  
2.7.2.Số liệu định tính. Số liệu định tính  
sau khi thu thập dưới dạng những ghi chép  
trong sổ sách và băng ghi âm. Tiến hành gỡ  
băng phỏng vấn, mã hóa bảng gỡ băng, phân  
2.8. Đạo đức nghiên cứu. Tuân thủ quy  
trình xét duyệt của Hội đồng Đạo đức - Trường  
Đại học Y tế Công cộng, được Hội đồng đạo đức  
trong nghiên cứu y sinh học Trường Đại học Y tế  
công cộng thông qua trước khi tiến hành triển  
khai tại bệnh viện (Quyết định số 301/2018/  
YTCC-HD3 ngày 26 tháng 4 năm 2018 về việc  
chấp thuận các vấn đề đạo đức y sinh học).  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Bảng 3. 1.Đặc điểmcá nhân của đối  
tượng nghiên cứu (N = 420)  
Nội dung  
Tần số Tỷ lệ (%)  
Trình độ chuyên môn  
139  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Có 99,3% ĐD đã được xét nghiệm HbsAg và  
có 66,9% ĐD đã tiêm đủ 3 mũi vắc xin VGB.  
Bảng 3.2. Thực hành phòng bệnh viêm  
gan B nghề nghiệp (N = 420)  
Sau đại học  
Đại học  
Cao đẳng  
Trung học  
Thâm niên công tác  
< 5 năm  
0
78  
64  
278  
0
18,6  
15,2  
66,2  
Thực hành phòng  
bệnh VGBNN  
Đúng  
Tỷ lệ  
(%)  
89,5  
10,5  
100  
Tần số  
144  
129  
147  
34,3  
30,7  
35,0  
376  
44  
6-10 năm  
> 11 năm  
Không đúng  
Tổng  
420  
Công việc đang làm  
Kết quả đánh giá thực hành dự phòng bệnh  
VGBNN trong quá trình làm việc đa sốĐD thực  
hiện tốt các biện pháp dự phòng (89,5%), tuy  
nhiên vẫn còn 10,5% ĐD thực hành không đúng.  
Thực hành xử trí khi bị tai nạn nghề  
nghiệp:  
Tiêm, truyền  
Lấy bệnh phẩm  
(máu, dịch)  
Cho NB uống thuốc  
Làm thủ thuật  
Cọ rửa dụng cụ  
Xét nghiệm  
359  
85,5  
78,3  
329  
327  
364  
299  
121  
51  
77,9  
86,7  
71,2  
28,8  
12,1  
Bảng 3.3. ĐD bị tổn thương do vật sắc  
nhọn 6 tháng gần đây (N = 420)  
Khác  
Thực hành  
Biết về nguy cơ phơi nhiễm và mắc bệnh  
VGB của NVYT  
Tai nạn nghề  
Có  
Không  
n
nghiệp  
n
%
%
Đã biết  
Chưa biết  
Xét nghiệm HBsAg  
Có xét nghiệm  
Chưa xét nghiệm  
Lịch sử tiêm ngừa vắc xin VGB  
Đã tiêm ngừa đủ  
Chưa tiêm ngừa đủ  
404  
16  
96,2  
3,8  
Tổn thương do vật  
sắc nhọn  
28  
6,7 392 93,3  
Do dính/ văng bắn  
máu, dịch  
417  
3
99,3  
0,7  
53  
12,6 367 87,4  
Trong 6 tháng trước thời điểm nghiên cứu,  
ĐD bị tổn thương do vật sắc nhọn là 28 (6,7%),  
do dính/văng bắn máu,dịch của NB là 53  
(12,6%) với tổng số 67 điều dưỡng bị ít nhất  
một loại tổn thương  
Bảng 3.4. Thực hành xử trí của ĐD khi bị  
TNNN (n=67)  
281  
139  
66,9  
33,1  
Gần 2/3 ĐD có trình độ chuyên môn là trung  
học, tỷ lệ 66,2%, còn lại là cao đẳng và đại học  
chiếm tỷ lệ 33,8%, không có ĐD trình độ sau đại  
học làm công tác lâm sàng.  
ĐD có thâm niên công tác trong ngành y tế <5  
năm là 34,3%, từ 6 năm trở lên chiếm 65,7%.  
Thâm niên thấp nhất là 1 năm và cao nhất là 40  
năm, thâm niên trung bình là 10±7,8 năm.  
Công việc được thực hiện trong quá trình làm  
việc có ảnh hưởng đến mức độ phơi nhiễm với  
yếu tố gây bệnh. Trên 70% ĐD phải thường  
xuyên thực hiện các công việc tiếp xúc với vật  
sắc nhọn hay máu, dịch của NB.  
Thực hành xử trí của ĐD  
khi bị TNNN  
Đúng  
Tần  
Tỷ lệ  
(%)  
64,2  
35,8  
số  
43  
24  
Không đúng  
Kết quả đánh giá thực hành xử trí TNNN của  
67 ĐD (là những người bị ít nhất một TNNN: Bị  
tai nạn do vật sắc nhọn hoặc dính/ văng, bắn  
máu, dịch của NB hay bị cả hai tai nạn trên), tỷ  
lệ ĐD xử trí đúng là 64,2% và 35,8% ĐD xử trí  
không đúng.  
Bảng 3.5. Mối liên quan giữa nhóm tuổi và thực hành phòng bệnh VGBNN (N = 420)  
Thực hành phòng bệnh VGBNN  
OR  
Không đúng  
Đúng  
p
Biến độc lập  
20-29  
(CI 95%)  
n
%
12,4  
8,8  
n
169  
207  
%
87,6  
91,2  
24  
20  
1,5  
(0,8-2,7)  
Nhóm tuổi  
0,14  
> 30  
Không tìm thấy mối liên quan giữa nhóm tuổi và thực hành phòng bệnh VGB có ý nghĩa thống kê  
với p = 0,14. Tỷ lệ thực hành phòng bệnh VGBNN ở nhóm tuổi 20-29 không đạt gấp1,5 lần so với ĐD  
ở nhóm tuổi > 30.  
Bảng 3.6. Mối liên quan giữa giới tính và thực hành phòng bệnh VGBNN (N = 420)  
Thực hành phòng bệnh VGBNN  
OR  
(CI 95%)  
Không đúng  
Đúng  
p
Biến độc lập  
n
%
n
%
140  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Nam  
Nữ  
11  
33  
12,8  
9,9  
75  
301  
87,2  
90,1  
1,3  
(0,6-2,8)  
Giới tính  
0,27  
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính với thực hành phòng bệnh VGBNN với p  
= 0,27. Nhóm ĐDnam thực hành phòng bệnh VGBNN không đúnggấp1,3 lần so với nhóm ĐDnữ.  
Bảng 3. 7. Mối liên quan giữa thâm niên công tác và thực hành phòng bệnh VGBNN (N  
= 420)  
Thực hành phòng bệnh VGBNN  
OR  
Biến độc lập  
Không đúng  
Đúng  
p
(CI 95%)  
n
%
13,9  
8,7  
n
%
< 5 năm  
> 5 năm  
20  
24  
124  
252  
86,1  
91,3  
Thâm niên công  
tác  
1,7  
(0,9-3,2)  
0,07  
Không có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa thâm niên công tác với thực hành phòng bệnh  
VGBNN với p = 0,07. Nhóm ĐD có thâm niên công tác < 5 năm thì thực hành về phòng bệnh VGB  
không đúnggấp 1,7 lần so với nhóm ĐD có thâm niên công tác>5 năm.  
Bảng 3. 8. Mối liên quan giữa trình độ chuyên môn và thực hành phòng bệnh VGBNN  
(N = 420)  
Thực hành phòng bệnh VGBNN  
Không đúng Đúng  
OR  
(CI  
p
Biến độc lập  
95%)  
1,4  
(0,7 -2,6)  
n
%
12,7  
9,4  
n
124  
252  
%
87,3  
90,6  
Đại học, Cao đẳng  
Trung học  
18  
26  
Trình độ  
chuyên môn  
0,18  
Không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữatrình độ chuyên môn và thực hành phòng  
bệnh VGBNNvới p = 0,18. Nhóm ĐD có trình độ đại học – cao đẳng có thực hành phòng bệnh VGB  
không đúng gấp1,4 lần so với nhómĐD có trình độ trung học.  
Bảng 3.9. Mối liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng bệnh VGBNN (N = 420)  
Thực hành phòng bệnh VGBNN  
OR  
(CI 95%)  
Kiến thức  
Không đúng  
n
Đúng  
p
%
n
%
1. Kiến thức về bệnh VGB (N = 420)  
Không đạt  
Đạt  
29  
15  
14,6  
6,8  
170  
206  
85,4  
93,2  
2,3  
(1,2-4,5)  
0,007  
< 0,0001  
0,1  
2. Kiến thức về phòng bệnh VGBNN (N = 420)  
Không đạt  
Đạt  
27  
17  
20,9  
5,8  
102  
274  
79,1  
94,2  
4,3  
(2,2-8,1)  
3. Kiến thức về xử trí sau phơi nhiễm (N = 420)  
Không đạt  
Đạt  
13  
31  
8,1  
12,0  
148  
228  
91,9  
88,0  
0,6  
(0,3-1,3)  
Bảng 3.9 cho thấy có mối liên quancó ý nghĩa không đủ sử dụng do nhân viên khoa sử dụng  
thống kê giữa kiến thức về bệnh VGBNN với thực không đúng cách. Năm 2017, Bộ Y tế có ban  
hành phòng bệnh VGBNN với p=0,007. Nhóm có hành Quyết định 3916 hướng dẫn thực hành vệ  
kiến thức về bệnh VGBNN không đạt thì thực sinh tay trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh:  
hành phòng bệnh VGBNN không đúng gấp 2,3 Không phải lúc nào NVYT cũng mang găng, khẩu  
lần so với nhóm có kiến thức đạt.  
trang để thực hiện các thủ thuật.  
Có sự khác biệt giữa kiến thức về phòng bệnh  
“Hiện tại BV cung cấp bảo hộ lao động cho  
VGBNN với thực hành phòng bệnh VGBNN. NVYT về số lượng và chất lượng đầy đủ. Qua  
Nhóm có kiến thức không đạt thì thực hành khảo sát thực tế thì các khoa thiếu sử dụng là do  
phòng bệnh VGBNN không đúng gấp 4,3 lần so sử dụng không đúng mục đích khi thực hiện một  
với nhóm kiến thức đạt, sự khác biệt này có ý số kỹ thuật thì không cần phải sử dụng găng hay  
nghĩa thống kêvới p<0,0001.  
khẩu trang” (PVS2-PĐD)  
Kết quả nghiên cứu cho thấy không có mối  
“ Việc trang bị bảo hộ lao động cho NVYT  
liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức về của bệnh viện theo tôi là tốt. Tuy nhiên người sử  
xử trí sau phơi nhiễm với thực hành phòng bệnh dụng bảo hộ thì không biết sử dụng đúng mục  
VGBNN với p= 0,1.  
đích để tiết kiệm và hiệu quả” (PVS3-KSNK).  
Tuy nhiên, việc phản ánh phương tiện BHLĐ  
Kết quả nghiên cứu định tính không thấy có  
141  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
ảnh hưởng của việc trang bị bảo hộ lao động tới giữa kiến thức hiểu biết về bệnh và phòng bệnh  
thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp VGBNN của ĐD tham gia nghiên cứu với thực  
của điều dưỡng.  
hành phòng bệnh VGBNN, kết quả cho thấy có  
Kiến thức chuyên đề về các bệnh nghề sự khác biệt giữa kiến thức về bệnh VGBNN với  
nghiệp chưa được bệnh viện triển khai đào tạo, thực hành phòng bệnh VGBNN. Nhóm có kiến  
mà chỉ tập huấn kiến thức phòng ngừa chung.  
thức không đạt thì thực hành phòng bệnh  
“Mỗi năm, chúng tôi đều được bệnh viện cho VGBNN không đúng gấp 2,3 lần so với nhóm  
đi dự các lớp tập huấn chuyên môn, như kiểm kiến thức đạt. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống  
soát nhiễm khuẩn, nhưng chỉ phòng ngừa chung kê (p= 0,007).Có sự khác biệt có ý nghĩa thống  
thôi, những kiến thức cập nhật kiến thức về viêm kê giữa kiến thức về phòng bệnh VGBNN với  
HIV hay VGB thì không có” (TLN).  
thực hành phòng bệnh VGBNN. Nhóm có kiến  
“Để phòng bệnh riêng cho VGB thì không có thức không đạt thì thực hành phòng bệnh  
mà nằm chung trong chương trình phòng ngừa VGBNN không đúng gấp 4,3 lần so với nhóm  
lây nhiễm chung. Tập huấn kết hợp vừa HIV, kiến thức đạt (p=0,0001).Điều này hoàn toàn  
VGB, các đường lây truyền khác như đường hô phù hợp cả trên lý thuyết và thực hành khi ĐD  
hấp thì lồng ghép vô” (PVS1-BLĐ).  
Theo kinh nghiệm của bản thân, tôi thấy ĐD hiểm của bệnh, nắm vững cơ chế lây truyền, các  
nào có kiến thức tốt thì thực hành tốt hơn (TLN). biểu hiện của bệnh hoặc các bước xử trí khi bị  
có kiến thức về bệnh VGB, biết được mối nguy  
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy việc TNNN thì tiếp xúc trực tiếp với NB lúc thực hiện  
đào tạo, tập huấn không chuyên sâu ảnh hưởng nhiệm vụ, điều dưỡng sẽ dự phòng với các yếu  
đến khả năng xử lý của điều dưỡng khi phơi tố nguy cơ và hạn chế phơi nhiễm với bệnh VGB  
nhiễm với vật sắc nhọn và thực hành phòng tốt hơn so với những người chưa nắm vững kiến  
chống bệnh viêm gan B.  
thức về bệnh. Kết quả nghiên cứu này tương tự  
Nhân lực để kiểm tra, giám sát hoạt động như các nghiên cứu trước đây (12, 13, 14)  
chuyên môn vẫn còn thiếu, chủ yếu là kết hợp  
V. KẾT LUẬN  
với khoa. Hoạt động kiểm tra, giám sát chủ yếu  
Có mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh  
mang tính nhắc nhở, chưa thật sự răn đe.  
và kiến thức về bệnh viêm gan B nghề nghiệp.  
“Điều dưỡng trưởng khoa tôi hàng ngày kiểm  
Có mối liên quan giữa thực hành phòng bệnh  
tra tất cả các buồng bệnh, nhắc nhở các anh chị  
và kiến thức phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp.  
phụ trách phòng, nhắc nhở tại chổ hoặc báo lên  
Các yếu tố quản lý có ảnh hưởng tới thực  
giao ban khoa hàng ngày” (TLN)  
hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệplà:  
“Do nhân lực khoa KSNK hạn chế nên kiểm  
Đào tạo, tập huấn và kiểm tra, giám sát.  
Nghiên cứu khuyến nghị đối với bệnh viện  
xây dựng kế hoạch và tổ chức các lớp tập huấn  
tra cũng không được thường xuyên. Giám sát  
trên tinh thần nhắc nhở cho nhân viên tuân thủ”  
(PVS3-KSNK).  
cho tất cả điều dưỡng nhằm nâng cao nhận thức  
“Điều dưỡng trưởng chủ yếu nhắc thôi,  
về bệnh viêm gan B nghề nghiệp và dự phòng  
trường hợp ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh  
phơi nhiễm.  
mới được báo cáo lên cấp trên”(TLN).  
“Lịch kiểm tra là định kỳ, nên một số khoa có  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
sự chuẩn bị trước. Nhiều khi tôi xuống kiểm tra  
việc phân loại rác khoa thực hiện có đúng không  
thì lại không thấy rác, hỏi lại thì khoa dọn dẹp  
hết rồi“(PVS-K.KSNK).  
Kết quả nghiên cứu định tính cho thấy công  
táckiểm tra, giám sát có ảnh hưởng đến thực  
hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của  
điều dưỡng.  
1. Viện Vệ sinh dịch tễ (1995), Tình hình viêm gan  
vi rút trên toàn thế giới và ở Việt Nam. Những đề  
nghị về chiến lược tiêm phòng vắc xin viêm gan B  
tại Việt Nam, Báo cáo của Viện Vệ sinh dich tễ  
2. Bộ Y tế (2016), Quy định về bệnh nghề nghiệp  
được hưởng bảo hiểm xã hội, Thông tư số  
15/2016/TT-BYT ngày 15/5/2016"  
3. Vũ Bằng (2015), Bệnh viêm g an vi rút nghề  
nghiệp,  
website://  
moh.gov.vn/  
pcbenhnghenghiep/ pages/ tintuc.aspx? CateID =  
9&ItemID =848, truy cập ngày 18/01/2018"  
IV. BÀN LUẬN  
4.WHO (2010), The best practices for injections and  
related procedures toolkit, March 2010, Geneva  
5. Pruss Rapitil E Ustun A, Hutin Y (2003),  
Khi phân tích đơn biến, không tìm thấy mối  
liên quan giữa các yếu tố cá nhân của ĐD với  
thực hành phòng bệnh VGBNN có ý nghĩa thống  
kê (p>0,05).  
Introduction  
and  
methods:  
asessing  
the  
envvironment burden of disease at national and  
local level, Geneva, WHO.  
Nghiên cứu đã phân tích về mối liên quan  
6. WHO (2010), The best practices for injections and  
142  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
related procedures toolkit, March 2010, Geneva  
nguy hiểm (vi rút viêm gan B), Đề tài Khoa học  
Công nghệ cấp Bộ, 1999"  
9. Nguyễn Quang Tập và Phạm Trung Kiên  
(2007), Xác định tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan B,  
HBsAg, Anti-HBS, HbeAg của cán bộ y tế tại một  
số bệnh viện Thành phố Hải Phòng, Tạp chí Y học  
Thực hành số 12/2007, tr. 32-35  
7.  
WHO  
http:www.WHO.int/injection_safety/en".  
WHO (2003), Injection  
(2003),  
Injection  
Safety,  
Safety,  
http:www.WHO.int/injection_safety/en".  
8. Khúc Xuyền (1999), Điều tra cơ bản thực trạng  
sức khỏe người lao động tiếp xúc với vi sinh vật  
TÁC DỤNG ĐIỀU TRỊ ĐAU THẮT LƯNG DO THOÁI HÓA CỘT SỐNG  
BẰNG XÔNG HƠI THUỐC KẾT HỢP HOÀN CHỈ THỐNG  
Nguyễn Vinh Quốc*, Vũ Văn Thái*  
by the 92.5% rate of good and effective results after  
TÓM TẮT34  
the treatment; the VAS score reduced from 6.33  
(before the treatment) to 2.03 after the study; the  
Schober index raised from 2.25 cm to 3. 67 cm after  
the treatment; the ODI score raised from 5.1 to 12.83  
after the treatment, difference is statistically  
significant. Conclusion: the treating method using  
on-site herbal sauna with “Hoan Chi Thong” show  
pleasing outcome during low back pain degenerative  
spine medication.  
Mục tiêu: đánh giá tác dụng giảm đau và cải  
thiện vận động cột sống bằng xông hơi thuốc kết hợp  
Hoàn chỉ thống trên bệnh nhân đau thắt lưng do thoái  
hóa cột sống thể hàn thấp. Đối tượng và phương  
pháp nghiên cứu: 40 bệnh nhân tuổi trên 30, được  
chẩn đoán đau thắt lưng do thoái hóa cột sống, phù  
hợp chứng Yêu thống thể hàn thấp theo Y học cổ  
truyền, không phân biệt giới tính, nghề nghiệp, tình  
nguyện tham gia nghiên cứu. Được điều trị bằng uống  
Hoàn chỉ thống kết hợp xông hơi thuốc cục bộ vùng  
cột sống thắt lưng trong 15 ngày, so sánh kết quả  
trước và sau điều trị. Kết quả: 92,5% đạt hiệu quả  
tốt và khá sau điều trị; điểm VAS giảm từ 6,33 (điểm)  
trước điều trị xuống còn 2,03 (điểm) sau điều trị; chỉ  
số Schober tăng từ 2,25 (cm) trước điều trị lên 3,67  
(cm) sau điều trị; điểm ODI trung bình tăng từ 5,1  
(điểm) trước điều trị lên 12,83 (điểm) sau điều trị,  
khác biệt có ý nghĩa thống kê. Kết luận: xông hơi  
thuốc kết hợp Hoàn chỉ thống hiệu quả tốt trong điều  
trị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống.  
Keywords: On-site herbal sauna, Hoan chi thong,  
low back pain.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Đau thắt lưng do thoái hóa cột sống (THCS)  
là bệnh lý phổ biến, thường gặp trên lâm sàng,  
có xu hướng tăng cao trong xã hội hiện đại [1],  
[2], [3]. Bệnh gặp ở mọi lứa tuổi, giới tính, tầng  
lớp xã hội và nghề nghiệp lao động với biểu hiện  
lâm sàng cơ bản là đau [1], [2], [3], [4]... Đau  
thắt lưng do THCS gây ảnh hưởng không tốt tới  
khả năng lao động, sinh hoạt của người bệnh  
hoặc để lại các di chứng nặng nề, tạo gánh nặng  
cho bản thân người bệnh, cho gia đình và xã hội  
nếu không được điều trị [1], [4]. Do vậy, lựa  
chọn phương án điều trị hiệu quả bệnh lý này  
với thời gian và chi phí hợp lý, duy trì ổn định  
chức năng cột sống, hạn chế tái phát là vấn đề  
cần thiết, có ý nghĩa về khoa học y học cũng  
như ý nghĩa sâu sắc về mặt xã hội.  
Từ khóa: Xông hơi thuốc, Hoàn chỉ thống, đau  
thắt lưng.  
SUMMARY  
THE EFFECT ON TREATING LOW BACK  
PAIN DEGENERATIVE SPINE OF ON-SITE  
HERBAL SAUNA COMBINED WITH  
“HOAN CHI THONG”  
Objective: to evaluate the pain-relieved effect  
and improvement in lumbar spine’s motor function of  
on-site herbal sauna combined with “Hoan Chi Thong”  
on patients. Subjects and methods: 40 volunteered  
patients aged over 30, diagnosed with low back pain  
degenerative spine, consistent with wind cold  
Theo Y học cổ truyền (YHCT), đau thắt lưng  
do THCS được mô tả thuộc phạm trù “chứng tý”  
với bệnh danh yêu thống...[1], [2], [3]. Có nhiều  
dampness by traditional medicine, regardless of phương pháp điều trị bệnh lý này mang lại hiệu  
gender or occupation, were participated in the study.  
Researchers combined using on-site herbal sauna  
with “Hoan Chi Thong” in 15 days, comparing the  
results before and after treatment. Result: indicated  
quả tốt trong đó có dùng thuốc kết hợp với các  
kỹ thuật điều trị không dùng thuốc [3], [5], [6]...  
Hoàn chỉ thống là thuốc do Viện YHCT Quân  
đội sản xuất có tác dụng chống viêm giảm đau,  
đã được chứng minh hiệu quả điều trị đối với  
một số bệnh lý xương khớp [6], [7]... Xông hơi  
thuốc YHCT là phương pháp kết hợp giữa tác  
dụng điều trị của bài thuốc YHCT và tác dụng  
của nhiệt hơi, thường được áp dụng để điều trị  
các chứng đau xương khớp [5], [8]. Nghiên cứu  
*Viện Y học cổ truyền Quân đội  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Vinh Quốc  
Ngày nhận bài: 16.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 12.5.2021  
Ngày duyệt bài: 21.5.2021  
143  
pdf 7 trang yennguyen 21760 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số yếu tố liên quan đến thực hành phòng bệnh viêm gan B nghề nghiệp của điều dưỡng lâm sàng bệnh viện tỉnh Bến Tre, 2018", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_yeu_to_lien_quan_den_thuc_hanh_phong_benh_viem_gan_b.pdf