Đấu tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1961-1965)

TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
ĐẤU TRANH BẢO VỆ CĂN CỨ ĐỊA CÁCH MẠNG Ở TRUNG TRUNG BỘ  
TRONG KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ (1961-1965)  
y Trần Thúy Hiền(*)  
Tóm tắt  
Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ được thành lập theo chủ trương của Đảng, nhằm đấu  
tranh với việc chính quyền Ngô Đình Diệm (do Mỹ hậu thuẫn) tăng cường các chiến dịch khủng bố  
phong trào cách mạng ở miền Nam sau khi Hiệp định Geneve được ký kết năm 1954. Các căn cứ này  
phần lớn được xây dựng ở những khu vực vùng núi có địa hình hiểm trở, điển hình như: Nước Oa, Nước  
Là, Sơn-Cẩm-Hà, miền Tây tỉnh Quảng Ngãi, Núi Bà, Vân Hòa. Kẻ địch (Quân đội Việt Nam Cộng hòa  
và quân Mỹ) đã tổ chức nhiều chiến dịch quân sự lớn nhằm tiêu diệt các căn cứ. Quân dân các căn cứ  
đã xây dựng thế trận, chiến đấu dũng cảm, làm thất bại nhiều cuộc tấn công lớn của địch, bảo vệ an  
toàn các cơ quan đầu não kháng chiến. Trên thực tế, sự tồn tại và đứng vững của các căn cứ địa đã  
góp phần quan trọng vào sự phát triển của phong trào cách mạng địa phương, đồng thời tạo cơ sở để  
Đảng vạch ra đường lối chiến lược cho cách mạng Việt Nam nhằm đánh bại chiến lược “Chiến tranh  
đặc biệt” của đế quốc Mỹ.  
Từ khóa: Cuộc kháng chiến chống Mỹ, căn cứ địa cách mạng, Trung Trung Bộ, cuộc tấn công quân  
sự, chiến lược “Chiến tranh đặc biệt”.  
1. Đặt vấn đề  
hàng ngàn đảng viên bị tù đày, hy sinh. Trong bối  
cảnh đó, việc xây dựng căn cứ địa cách mạng được  
đặt ra một cách cấp bách nhằm bảo tồn, giữ gìn  
lực lượng, bảo vệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của  
Đảng và quần chúng nòng cốt để tiến hành kháng  
chiến lâu dài. Xuất phát từ thực tiễn cách mạng,  
Bộ Chính trị xác định nhiệm vụ của cách mạng  
miền Nam lúc này là “để bảo vệ các cơ quan đầu  
não và che giấu cán bộ, cần xây dựng ở các địa  
phương những cơ sở an toàn và khu an toàn”[5,  
tr. 91]. Từ giữa năm 1958, Liên Khu ủy V đề ra  
chủ trương xây dựng Tây Nguyên và miền núi  
các tỉnh thành căn cứ địa cách mạng, xây dựng  
lực lượng vũ trang và nửa vũ trang ở miền núi để  
làm nhiệm vụ tự vệ, bảo vệ căn cứ, bảo vệ cán bộ  
[9, tr. 261]. Chủ trương của các cấp ủy Đảng đã  
kịp thời đáp ứng được yêu cầu thực tế của phong  
trào cách mạng ở Trung Trung Bộ, là cơ sở để các  
địa phương đẩy mạnh hoạt động xây dựng căn cứ  
địa, tiến hành cuộc kháng chiến lâu dài.  
Sau khi Hiệp định Genève được ký kết  
(21/7/1954), đế quốc Mỹ và chính quyền Ngô Đình  
Diệm tìm cách phá hoại Hiệp định, thi hành chính  
sách cai trị phát xít, tàn bạo nhằm thực hiện mục  
tiêu chống phá, tiêu diệt phong trào cách mạng,  
biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn  
cứ quân sự của đế quốc Mỹ, thực hiện chia cắt  
lâu dài Việt Nam. Song song với việc xây dựng,  
củng cố bộ máy chính quyền các cấp, phát triển  
lực lượng quân sự, Mỹ và chính quyền Ngô Đình  
Diệm tiến hành khủng bố dã man đối với những  
người yêu nước, tham gia kháng chiến cũ, thực  
hiện “tố Cộng” trên toàn miền Nam. Từ năm 1956,  
sau khi đánh phá ác liệt ở vùng đồng bằng Trung  
Trung Bộ, địch mở chiến dịch “Thượng du vận”  
tiến công lên miền núi với mục đích triệt tiêu tận  
gốc lực lượng kháng chiến và các căn cứ địa cách  
mạng ở miền núi như: Khu B1 (Quảng Nam), Trà  
Bồng (Quảng Ngãi), Vĩnh Thạnh (Bình Định), Sơn  
Hòa, Tây Đồng Xuân (Phú Yên). Sự đánh phá ác  
liệt của Mỹ và chính quyền Ngô Đình Diệm làm  
cho phong trào cách mạng ở đồng bằng và miền  
núi Trung Trung Bộ đứng trước nhiều khó khăn,  
tổn thất nặng nề. Nhiều tổ chức Đảng bị vỡ, một  
số cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh, huyện và  
2. Nội dung  
2.1. Sự ra đời của các căn cứ địa cách mạng  
ở Trung Trung Bộ  
Thực hiện chủ trương của các cấp ủy Đảng,  
các tỉnh Trung Trung Bộ đẩy mạnh việc củng cố,  
xây dựng các căn cứ địa cách mạng. Trong những  
năm 1960-1965, nhiều căn cứ địa cách mạng đã  
được hình thành, tiêu biểu như:  
(*) Trường Chính trị Thành phố Đà Nẵng.  
41  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
Căn cứ Nước Oa (hay Vườn Cam) thuộc xã  
Trà Tân, huyện Bắc Trà My. Căn cứ Nước Oa  
nằm dưới chân dãy núi mẹ Hòn Bà. Phía trước là  
sông Trường và sông Nước Oa, tạo nên triền đất bãi  
bồi quanh co kéo dài và liên kết các thung lũng lớn  
nhỏ, cao thấp bên trong. Ẩn mình trong khu rừng  
già kín đáo, cách xa tụ điểm dân cư, phía Bắc là  
suối Tân, phía Đông là sông Nước Oa, phía Tây và  
phía Nam đều là rừng già. Căn cứ Nước Oa được  
xây dựng trên một ngọn đồi um tùm cây cối, xung  
quanh có rừng núi, sông suối bao bọc, che chở. Nơi  
đây vừa có thế công vừa có thế thủ, thuận lợi cho  
việc trú ẩn, cất giấu vũ khí, làm bàn đạp tiến công;  
nơi ém quân và di chuyển vào Nam ra Bắc. Đặc  
biệt, địa bàn này có thể tiếp cận với đồng bằng, khai  
thác nguồn lương thực, thực phẩm, thuốc men tại  
chỗ đáp ứng yêu cầu của các lực lượng bám trụ tại  
căn cứ, kể cả trong trường hợp bị bao vây, phong  
tỏa. Từ giữa năm 1960 đến năm 1973, Nước Oa  
trở thành nơi đứng chân của Khu ủy và Bộ Tư lệnh  
Quân khu V. Nơi đây cũng được xem là căn cứ địa  
đầu tiên của Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu V  
trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.  
Căn cứ Nước Là (Mật khu Đỗ Xá), thuộc  
xã Trà Mai, huyện Nam Trà My tỉnh Quảng Nam.  
Trung tâm của căn cứ là khu vực Tákpor, Nước  
Là, Ngok La. Khu vực này nằm dưới chân những  
ngọn núi cao như Hòn Bà ở phía Bắc có độ cao  
1.347 m, phía Tây - Tây Nam là núi Ngọc Linh cao  
2.598 m. Căn cứ trải rộng trên một địa bàn hiểm  
trở, dựa lưng vào Tây Nguyên, tiếp giáp với tỉnh  
Kon Tum, Gia Lai và miền núi Quảng Ngãi. Đây  
là địa bàn thuận tiện cho việc cơ động liên lạc giữa  
các tỉnh. Bên trong căn cứ có hệ thống sông suối  
chằng chịt, ngoài con sông chính là Sông Tranh  
còn có các sông phụ như sông Trường, Leng, Nước  
Xa, Nước Là, Nước Ta, Nước Pui, Nước Oa, Nước  
Vin… Địa điểm này cũng khá thuận lợi để các cơ  
quan của Khu ủy triển khai cơ sở làm việc và cũng  
là nơi cung cấp nguồn thực phẩm dồi dào cho các  
lực lượng tại căn cứ. Căn cứ Nước Là là nơi đứng  
chân của Liên Khu ủy - Ban Quân sự khu V từ năm  
1960 đến năm 1963.  
Phước, tỉnh Quảng Nam vào tháng 9/1962. Địa bàn  
này có một vị thế chiến lược hết sức quan trọng.  
Đây là một thung lũng, nhưng khá hiểm yếu, địch  
muốn tấn công phải vượt qua các con đường độc  
đạo, có đèo cao như đường 614 Tiên Phước - Phước  
Cẩm, qua dãy Núi Vú; Đường 615 Tam Kỳ - Phước  
Cẩm qua đèo Eo Gió; Thăng Bình - Phước Sơn phải  
vượt qua dãy Núi Ngang, hoặc phải qua dốc Xoài,  
Sông Khang lên Phước Hà. Căn cứ Sơn - Cẩm - Hà  
ra đời đã mở ra khả năng uy hiếp hệ thống phòng  
ngự của địch; nối thông với căn cứ Trà My, đồng  
thời tỏa ra vùng đồng bằng trung du của tỉnh như  
Hiệp Đức, Quế Sơn, Thăng Bình, Tam Kỳ… Sau  
khi Sơn - Cẩm - Hà được giải phóng và trở thành  
một căn cứ địa cách mạng có thế công thủ toàn  
diện, các cơ quan Tỉnh ủy, Tỉnh đội Quảng Nam  
đã chuyển về đứng chân tại đây để trực tiếp lãnh  
đạo, chỉ huy cuộc kháng chiến.  
Căn cứ miền Tây tỉnh Quảng Ngãi: Từ sau  
thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Trà Bồng và miền  
Tây Quảng Ngãi đến cuối năm 1960, căn cứ địa  
miền Tây tỉnh Quảng Ngãi đã được hình thành với  
54 xã hoàn toàn giải phóng (bao gồm 19 xã thuộc  
các huyện Trà Bồng, 10 xã Sơn Tây, 8 xã Sơn Hà,  
13 xã Ba Tơ và 4 xã Minh Long). Đây là địa bàn  
có nhiều dãy núi cao hiểm trở như: Cà Đam (Trà  
Bồng), Đá Vách (Sơn Hà), Cao Muôn (Ba Tơ),  
tiếp giáp với các tỉnh Quảng Nam, Kon Tum, Bình  
Định, vừa có thế công, vừa có thế thủ, rất thuận  
lợi cho việc di chuyển lực lượng, tiếp nhận sự chỉ  
đạo của Khu ủy, do vậy nơi đây đã trở thành nơi  
đứng chân an toàn của cơ quan Tỉnh ủy và các cơ  
quan chuyên môn tỉnh Quảng Ngãi trong kháng  
chiến chống Mỹ.  
Căn cứ Núi Bà: Núi Bà là dãy núi cao nhất ở  
Bình Định, diện tích khoảng 90 km², địa hình hiểm  
trở, có thế công thủ toàn diện. Cùng với hệ thống  
rừng rậm, lòng núi có trên 30 hốc đá và hang động  
lớn đủ khả năng làm chỗ trú ẩn cho cả một tiểu  
đoàn, rất thuận lợi cho việc cất giấu lương thực,  
vũ khí. Địa thế Núi Bà vừa giáp với biển, vừa giáp  
với đồng bằng nên lực lượng cách mạng dễ dàng  
hoạt động và rút lui an toàn. Núi Bà là địa bàn rất  
thuận lợi cho việc xây dựng nơi đứng chân của các  
cơ quan lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến. Vì vậy, từ  
năm 1962, các cơ quan của tỉnh, lực lượng vũ trang  
Căn cứ Sơn - Cẩm - Hà: Ra đời sau thắng lợi  
của chiến dịch “Vượt sông Tiên”, giải phóng ba xã  
Phước Sơn, Phước Cẩm, Phước Hà của huyện Tiên  
42  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
của Bình Định về đóng ở đây cho đến khi kết thúc với lực lượng địa phương quân và sự yểm trợ của  
cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. phi pháo, thiết giáp mở các cuộc càn quét lớn mang  
Căn cứ Vân Hòa: Từ năm 1962, ba xã Sơn tên “Lam Sơn 7”,“Lam Sơn 8” và “Bình Châu” tấn  
Long, Sơn Định, Sơn Xuân (huyện Sơn Hòa, tỉnh công vào căn cứ Sơn - Cẩm - Hà (Quảng Nam).  
Phú Yên) được xây dựng thành căn cứ địa cách Trong năm 1965, mức độ đánh phá càng trở nên  
mạng Vân Hòa. Cao nguyên Vân Hòa là nơi sinh ác liệt. Vào tháng 4/1965, với sự hỗ trợ của máy  
sống của đồng bào các dân tộc, lại có nhiều gộp đá bay B.52 và pháo binh, địch tổ chức hai cuộc càn  
lớn, liên thông với tỉnh Gia Lai ở hướng Tây, tiếp quét cấp trung đoàn tấn công vào căn cứ Núi Bà,  
giáp với các huyện của tỉnh Phú Yên ở các hướng nơi đứng chân của Tỉnh ủy Bình Định. Hoạt động  
còn lại. Với thế công và thế thủ thuận lợi, căn cứ đánh phá của địch đã phá huỷ tài sản, mùa màng,  
Vân Hòa trở thành nơi đứng chân cho hầu hết các khiến cho đời sống của cán bộ, nhân dân các căn cứ  
cơ quan Đảng, chính quyền, mặt trận, quân sự, công trở nên hết sức khó khăn, thiếu thốn. Nạn đói, bệnh  
an, tài chính, giao liên… của tỉnh Phú Yên trong tật hoành hành khắp nơi. Do sự kiểm soát gắt gao  
suốt những năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của địch, hoạt động liên lạc, tiếp tế của đồng bào  
(Nguồn tư liệu điền dã của tác giả trong quá trình đối với cán bộ và các căn cứ rất hạn chế. Khi địch  
nghiên cứu).  
thực hiện khủng bố ác liệt ở đồng bằng, địa bàn  
Sự hình thành và phát triển của các căn cứ miền núi trở thành nơi trú chân an toàn của cán bộ,  
địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đã khiến cho đảng viên, chiến sĩ. Tuy nhiên, lúc địch tập trung  
đối phương không khỏi lo ngại khi chúng nhận lực lượng đánh mạnh lên miền núi thì số cán bộ của  
thấy rằng: “Những vùng căn cứ địa này đã dần Đảng từ đồng bằng lên hoạt động phải tản đi nhiều  
hình thành được thế liên hoàn, hỗ trợ nhau, nhất nơi hoặc phải tạm ẩn nấp sâu hơn trong rừng thẳm,  
là về phía Tây và Bắc Quốc lộ 19, Đông và Bắc núi cao. Nhiều cán bộ lãnh đạo chủ chốt của tỉnh,  
Quốc lộ số 14”. Địch cũng thừa nhận: “Tình hình huyện bị tù đày, hy sinh. Sự lãnh đạo của tổ chức  
hoạt động của Việt cộng ở vùng căn cứ địa Cao Đảng đối với nhân dân vì thế phần nào cũng gặp  
Nguyên và Miền Tây các tỉnh Trung Nguyên với khó khăn. Thực tế này đã được Đảng chỉ rõ trong  
sự lấn dần vùng cận sơn đang tạo ra một uy thế đe Báo cáo về tình hình miền núi Liên khu V: “Chi bộ  
doạ an ninh đối với toàn bộ vùng đồng bằng Trung lúc bình thường lãnh đạo được quần chúng, nhưng  
Phần” [10, tr.10].  
2.2. Xây dựng thế trận và chiến đấu bảo vệ trí nắm địch tình, giao thông liên lạc không chặt,  
căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ không kịp thời giữ vững tinh thần quần chúng, lãnh  
lúc địch khủng bố, càn quét sinh ra lúng túng; bố  
Để thực hiện mục tiêu triệt phá tận gốc cơ đạo quần chúng đấu tranh, công tác binh địch vận  
quan đầu não kháng chiến và lực lượng cách mạng, hầu như chưa có” [3, tr. 23].  
song song với việc đẩy mạnh các chiến dịch tâm  
Trong bối cảnh đó, vượt qua những thử thách  
lý chiến, rải truyền đơn chiêu dụ cán bộ, nhân dân; khắc nghiệt của chiến tranh, quân dân ở các căn  
thực hiện bao vây, phong tỏa về kinh tế đối với các cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ đã tích cực,  
căn cứ địa; Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng hoà chủ động tổ chức bố phòng, chiến đấu bảo vệ căn  
tiến hành tập trung đánh phá bằng hoạt động quân cứ một cách hiệu quả.  
sự. Từ năm 1960 đến 1965, địch liên tục tiến hành  
Xây dựng lực lượng vũ trang là một trong  
nhiều cuộc càn quét với quy mô lớn tấn công vào những nhiệm vụ căn bản nhằm đảm bảo sức mạnh  
các căn cứ địa cách mạng. Trong cuộc tấn công vào chiến đấu bảo vệ căn cứ địa. Trong năm 1964,  
căn cứ Nước Là vào cuối tháng 2/1961, địch huy Trung ương tăng cường cho Khu V bốn tiểu đoàn  
động 01 tiểu đoàn lính với sự yểm trợ của trực thăng bộ binh 304, 40, 93, 97, Tiểu đoàn 303 súng máy  
thực hiện đổ quân, bao vây đánh phá cơ quan, tiêu phòng không 12 ly 7 và 2 tiểu đoàn quân bổ sung  
diệt lực lượng kháng chiến ở đây. Từ tháng 2/1963 là 305, 306. Bên cạnh đó, khối lực lượng vũ trang  
đến tháng 10/1963, quân Mỹ - Việt Nam Cộng hoà địa phương các tỉnh Trung Trung Bộ được xây dựng  
liên tiếp huy động lực lượng cấp sư đoàn phối hợp đến cấp tiểu đoàn. Năm 1965, thực hiện sự chỉ đạo  
43  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
của Quân khu về xây dựng bộ đội chủ lực, bộ đội và “Lam Sơn 8” tấn công vào căn cứ Sơn - Cẩm -  
địa phương và dân quân du kích, các tỉnh Quảng Hà, được sự chỉ đạo trực tiếp của Tỉnh ủy Quảng  
Đà, Quảng Ngãi, Bình Định mỗi tỉnh có hai tiểu Nam, Huyện ủy Tiên Phước, các trung đội, tiểu  
đoàn tập trung, các huyện có một đến hai đại đội. đội của Tiểu đoàn 70 lực lượng vũ trang tỉnh trực  
lực lượng vũ trang Khu V lúc này đã có 37.000 tiếp xuống tận các xã, thôn để kèm cặp lực lượng  
quân chủ lực, 21.000 quân địa phương, 95.000 du du kích. Phong trào du kích chiến tranh được phát  
kích [9, tr. 325], lực lượng này trải rộng khắp các động rộng rãi trong quân dân. Lực lượng vũ trang  
địa bàn căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ. và du kích vận dụng linh hoạt các hình thức tác  
Từ năm 1961, địch mở những cuộc hành quân chiến như tập kích, bắn tỉa…, lừa dụ địch vào các  
càn quét quy mô lớn đánh vào các căn cứ địa cách hầm chông, bẫy đá để tiêu hao, tiêu diệt khiến cho  
mạng ở miền núi Trung Trung Bộ. Với tinh thần chúng hoang mang, chùn bước khi tổ chức các cuộc  
quyết tâm bảo vệ căn cứ, quân và dân các căn cứ càn quét vào căn cứ địa.  
địa đã kiên cường bám trụ, chủ động, sáng tạo, tích  
Tháng 4/1963, để bảo vệ Mật khu Đỗ Xá (còn  
cực chiến đấu đập tan nhiều cuộc càn quét của địch. gọi là Căn cứ Nước Là), bộ đội địa phương và du  
Ngày 28/2/1961, phát hiện cơ quan Khu uỷ V kích Trà Bồng phối hợp với quân chủ lực của Khu  
đang đóng ở Nước Là, đối phương huy động một V cùng với quân dân các địa bàn lân cận tổ chức  
tiểu đoàn với sự yểm trợ của trực thăng thực hiện đổ chiến đấu liên tục bao vây và tấn công địch,“tiêu  
quân, bao vây, đánh phá cơ quan, tiêu diệt lực lượng diệt 600 quân, bắn rơi và làm hỏng 20 trực thăng,  
kháng chiến ở Nước Là nhưng chúng bị tổn thất địch phải vội vã rút quân” [6, tr. 111].  
nặng, buộc phải bỏ dỡ cuộc hành quân [8, tr. 89].  
Ác liệt và dai dẳng hơn cả là cuộc chiến đấu  
Tháng 2/1962, được tin địch chuẩn bị hành của quân dân Sơn - Cẩm - Hà chống lại cuộc càn  
quân đánh lên Căn cứ Vân Hòa (Phú Yên), lực “Bình Châu” kéo dài suốt từ tháng 7/1963 đến  
lượng vũ trang bảo vệ căn cứ đã tổ chức đánh ngăn tháng 10/1963. Trong thời gian này, địch liên tục  
chặn các đại đội lính địch càn quét trên Đường số huy động hàng chục xe GMC chở quân lính cùng  
6, Ma Lào, Hố Thẩm, Hòn Chai, Đá Líp. Kết quả là với sự yểm trợ của M113 tổ chức nhiều cuộc tiến  
117 tên địch đã bị tiêu diệt, Căn cứ Vân Hòa được công, tập trung đánh vào Tiên Phong, nơi đứng  
bảo vệ an toàn. Tháng 9/1962, nắm được ý đồ địch chân của cơ quan Tỉnh ủy Quảng Nam. Bộ đội địa  
sẽ sử dụng chiến thuật “trực thăng vận” đổ quân phương tỉnh và du kích chặn đánh quyết liệt, địch  
xuống căn cứ Nà Niêu, Trà Bồng (Quảng Ngãi), bị tổn thất nặng nề. Để đối phó với tình hình, địch  
các lực lượng trụ bám tại đây đã chủ động chuẩn chuyển sang tập trung quân hình thành các chiến  
bị sẵn sàng một hệ thống công sự bao quanh khu đoàn, đưa thêm lực lượng Sư đoàn 2 Việt Nam  
vực dự kiến địch đổ quân, tổ chức chặn đánh địch Cộng hòa lên càn trở lại Tiên Sơn, Tiên Cẩm, Tiên  
không cho chúng đổ quân. Trong trận đánh này, Phong; đổ quân đóng một số chốt điểm tại Tiên  
các lực lượng bảo vệ căn cứ đã bắn rơi 12 máy bay Sơn; kéo 10 tiểu đoàn địch từ Tam Kỳ lên đóng rải  
lên thẳng, tiêu diệt và làm bị thương 70 quân, đẩy rác ở các xã Tiên Sơn, Tiên Cẩm, Tiên Phong, Tiên  
chúng ra khỏi hành lang căn cứ địa, bảo vệ được Mỹ và một số xã của huyện Tam Kỳ, Thăng Bình.  
cơ quan lãnh đạo của Khu V [6, tr. 109].  
Cuộc đấu tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng lần  
Trong năm 1963, địch tiếp tục đẩy mạnh hoạt này được thực hiện trên cả ba mũi giáp công. Thực  
động đánh phá. Tuy nhiên, với kinh nghiệm chiến hiện kế hoạch phối hợp của Tỉnh đội và Huyện đội,  
đấu của các năm 1961-1962, quân dân căn cứ địa trong khi lực lượng vũ trang tỉnh đánh vào các ấp  
Trung Trung Bộ tiếp tục tiến lên đánh bại hầu hết chiến lược ở Tiên Sơn, thôn 4 Tiên Cẩm, Gò Bụp,  
các cuộc càn quét quy mô lớn của địch tấn công vào Tiên Phong, bộ đội huyện, du kích các xã nhân cơ  
các căn cứ, gây cho địch nhiều thương vong, bảo hội này đã đẩy mạnh tấn công, giải phóng các xã  
vệ an toàn cho các cơ quan đầu não kháng chiến.  
Tiên Phong, Tiên Sơn, Tiên Cẩm. Quân Việt Nam  
Tháng 2/1963, trong cuộc chiến đấu chống Cộng hòa bị tổn thất, buộc chúng phải rút lui. Cùng  
lại các cuộc càn quét lớn mang tên “Lam Sơn 7” lúc này, phong trào du kích chiến tranh phát triển  
44  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
mạnh mẽ, du kích các xã quần bám đánh địch, tham của phong trào du kích chiến tranh đã góp phần  
gia chống càn, liên tục quấy rối địch. Hỗ trợ cho tiêu hao một bộ phận sinh địch, hạn chế sự đánh  
hoạt động quân sự của lực lượng vũ trang, phong phá của chúng đối với các căn cứ địa.  
trào đấu tranh chính trị của nhân dân diễn ra dưới  
Cùng với thắng lợi của chiến tranh du kích,  
nhiều hình thức. Nhân dân Tiên Sơn, Tiên Cẩm trong năm 1964 và 1965, lực lượng vũ trang chính  
vừa phối hợp với du kích và bộ đội phá rào thép quy cũng lập nên nhiều chiến công tiêu biểu trong  
gai, lấp chiến hào của địch, vừa xây dựng vừa đấu cuộc chiến đấu bảo vệ căn cứ địa. Tháng 4/1964, lực  
tranh đòi địch bồi thường lúa, nhà cửa bị đốt, bồi lượng an ninh vũ trang của tỉnh Quảng Ngãi và căn  
thường nhân mạng những người bị chết do bom cứ Trà Bồng phối hợp với các đơn vị vũ trang Khu  
đạn, đòi chồng con bị bắt lính trở về… Đến cuối V tổ chức phục kích đánh bại cuộc hành quân càn  
tháng 10/1963, các mũi đấu tranh của lực lượng quét của địch mang tên “Chiến dịch Quyết thắng  
vũ trang và quần chúng đã làm phá sản chiến dịch 202” đánh vào căn cứ Nước Là, bảo vệ an toàn cho  
“Bình Châu” của địch, bảo vệ vững chắc căn cứ phần lớn các cơ quan, kho tàng, các cơ sở sản xuất,  
Sơn - Cẩm - Hà [8, tr. 91].  
đường dây, trạm trại trong căn cứ. Cũng trong tháng  
Trong điều kiện quân đội Việt Nam Cộng hòa 4/1964, các lực lượng trụ bám đã bẻ gãy cuộc càn  
dưới sự chỉ huy của cố vấn Mỹ, tiến hành đánh phá quét của địch tấn công vào Căn cứ Núi Bà, tiêu diệt  
ngày càng ác liệt, việc đẩy mạnh phong trào du kích 50 tên, bắn rơi 7 máy bay trực thăng, thu nhiều vũ  
chiến tranh trở thành yêu cầu tất yếu, góp phần quan khí trang bị chiến tranh.  
trọng vào hoạt động chiến đấu bảo vệ các căn cứ  
Trên cơ sở những thắng lợi và kinh nghiệm  
địa ở Trung Trung Bộ. Lực lượng du kích các địa chiến đấu, trong năm 1965, các lực lượng trụ bám  
phương không ngừng được củng cố và tăng cường. tiếp tục đánh bại các cuộc hành quân “tìm diệt” tấn  
Mỗi thôn thành lập 1 trung đội dân quân, xã có 1 công vào căn cứ địa ở Trung Trung Bộ.  
đến 2 trung đội du kích. Hệ thống làng chiến đấu  
Ngày 14/12/1965, địch mở cuộc càn lớn với  
được chú trọng xây dựng vững chắc. Cuối 1965, trên 1.200 lính thủy đánh bộ Mỹ tấn công vào Căn  
Quảng Đà có 107 thôn và 5 xã xây dựng làng chiến cứ Sơn - Cẩm - Hà. Tuy nhiên, khi vào đây, đi đến  
đấu, huy động 49.350 công của quần chúng tham đâu chúng cũng vấp phải hầm chông, bãi mìn do  
gia phát triển 229 tuyến chiến đấu dài 3.727 m và nhân dân và du kích cài đặt. Lực lượng du kích các  
nhiều bờ rào, chông thò, cạm bẫy [7, tr. 50]. Quảng xã Tiên Sơn, Tiên Cẩm lúc ẩn, lúc hiện liên tục bắn  
Ngãi cũng xây dựng 294 thôn chiến đấu, đào được tỉa, phục kích, tập kích làm chết và bị thương hàng  
gần 20 km địa đạo và 710 km giao thông hào, 845 chục quân địch. Sau 3 ngày bị tiêu hao lực lượng,  
công sự chiến đấu, 26.547 hầm chống tăng [1, tr. chiều ngày 17/12/1965, địch kéo xuống Cẩm Khê.  
230]. Các thôn xã chiến đấu được xây dựng vững Lúc này, Trung đoàn Ba Gia và Tiểu đoàn 70 đã dựa  
mạnh đã phát huy tác dụng tốt trong việc chống lại vào địa hình quanh co, vực thẳm, tổ chức bao vây,  
các hoạt động lùng sục, càn quét của địch vào căn phục kích, tiêu diệt 450 quân địch, bắn rơi 3 máy  
cứ địa. Bên cạnh đó, du kích tại các căn cứ địa ở bay. Đây là lần đầu tiên trên chiến trường Quảng  
Trung Trung Bộ còn sử dụng nhiều phương thức Nam, cuộc hành quân “tìm diệt” với quy mô cấp  
đánh giặc hết sức phong phú sáng tạo. Ở Phú Yên, tiểu đoàn của địch đã hoàn toàn thất bại [2, tr. 128].  
du kích An Xuân dùng cả ong vò vẽ đánh giặc. Du Căn cứ Sơn - Cẩm - Hà vẫn đứng vững.  
kích Hòa Xuân dùng súng giả chặn tàu địch thu vũ  
khí. Du kích Đồng Xuân tháo ốc đường ray sau đó  
3. Một số nhận xét  
Từ quá trình ra đời, hoạt động xây dựng thế  
kéo đường ray cho tàu địch đổ… Du kích huyện trận và chiến đấu bảo vệ các căn cứ địa ở Trung  
Hiên (Quảng Nam) chế tạo dàn thò liên hoàn làm Trung Bộ, có thể rút ra một số nhận xét sau đây:  
chết một lúc hàng chục tên địch. Trong năm 1965,  
Thứ nhất, các căn cứ địa ra đời chủ yếu tập  
lực lượng vũ trang và du kích các xã căn cứ miền trung ở địa bàn miền núi. Sự tồn tại và đứng vững  
núi tỉnh Quảng Đà đã đánh 25 trận, tiêu diệt hàng của các căn cứ đã tạo nên thế bao vây, uy hiếp đối  
trăm quân địch [7, tr. 50]. Sự phát triển mạnh mẽ với các cơ quan đầu não của địch ở đồng bằng, vì  
45  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
vậy chúng coi việc đối phó với các căn cứ trở thành mà lực lượng cách mạng không ngừng được bảo  
“vấn đề cấp thiết trước mắt cần phải tiến hành một tồn và xây dựng, hoạt động chiến tranh du kích phát  
cách khẩn trương gấp rút hơn bao giờ hết” [10, tr. triển. Sự ra đời, phát triển của các căn cứ địa cách  
30]. Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã tập trung lực mạng và thực tiễn chiến trường miền Nam trong  
lượng với quy mô lớn để đánh vào các căn cứ địa đó có vùng Trung Trung Bộ là cơ sở quan trọng để  
cách mạng. Thế nhưng, chẳng những địch không Đảng xác định con đường tiến lên của cách mạng  
tiêu diệt được lực lượng ở các căn cứ mà chúng còn miền Nam, đó là: “có khởi nghĩa bộ phận, lập căn  
bị tổn thất nặng nề. Hoạt động chiến đấu của lực cứ địa, có chiến tranh du kích rồi tiến lên tổng khởi  
lượng vũ trang và nhân dân các căn cứ miền núi nghĩa”[4, tr. 31].  
không những đã góp phần tiêu hao đáng kể một bộ  
phận sinh lực địch mà còn khiến chúng phải co cụm  
4. Kết luận  
Cũng với sự ra đời, phát triển và hoạt động  
về đồng bằng, tạo điều kiện cho lực lượng vũ trang của các căn cứ địa ở Trung Trung Bộ trong cuộc  
xây dựng bàn đạp để mở rộng căn cứ về đồng bằng. kháng chiến chống Mỹ là cuộc chiến đấu ác liệt để  
Thứ hai, các căn cứ địa cách mạng trở thành bảo vệ các căn cứ này trong những năm 1961-1965.  
nơi đứng chân an toàn cho các cơ quan lãnh đạo, Cuộc chiến đấu bảo vệ các căn cứ địa diễn ra với sự  
chỉ huy kháng chiến ở Khu V và các địa phương phối hợp của lực lượng ba thứ quân trên lĩnh vực  
đồng thời là nơi xây dựng và phát triển tiềm lực quân sự là chủ yếu, lần lượt làm thất bại âm mưu  
cách mạng của địa phương. Trong kháng chiến của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, đây là một cơ sở  
chống Mỹ, cơ quan Khu ủy V và Bộ Tư lệnh Quân để làm thất bại chiến lược ‘Chiến tranh đặc biệt’  
khu V chủ yếu đứng chân hoạt ở Nước Là, Nước (196-1965) của Mỹ ở Trung Trung Bộ.  
Oa. Căn cứ Sơn - Cẩm - Hà là nơi đứng chân của  
Sự tồn tại vững chắc của các căn cứ địa ở  
Tỉnh ủy Quảng Nam. Ban chỉ đạo tiền phương và Trung Trung Bộ đã đáp ứng được yêu cầu của cuộc  
các cơ quan Tỉnh ủy Bình Định đóng cơ quan ở các kháng chiến tại địa phương, tạo nên thế trận chiến  
Căn cứ Núi Bà. Tỉnh ủy Phú Yên đứng chân ở Căn tranh nhân dân rộng khắp nhằm làm thất bại các  
cứ Vân Hòa. Lực lượng vũ trang Quân khu V và hoạt động đánh phá của địch, bảo vệ an toàn nơi  
các địa phương ra đời và được tổ chức huấn luyện đứng chân của các cơ lãnh đạo, chỉ huy kháng chiến  
tại các căn cứ. Bên cạnh hoạt động chiến đấu, các của các tỉnh và Khu V trong thời kỳ kháng chiến  
căn cứ còn chủ động sản xuất tự cấp, tự túc, thực chống Mỹ cứu nước. Đây cũng là cơ sở để khẳng  
hiện nghĩa vụ của hậu phương tại chỗ đối với cuộc định đường lối đúng đắn của Đảng về xây dựng căn  
kháng chiến tại địa bàn.  
cứ địa cách mạng miền Nam. Từ đó, góp phần tạo  
Thứ ba, sự tồn tại và đứng vững của các căn thế và lực mới cho một giai đoạn chiến đấu mới,  
cứ địa cách mạng nói trên góp phần thúc đẩy phong giai đoạn đánh thắng chiến lược “Chiến tranh cục  
trào cách mạng Khu V. Chính nhờ có các căn cứ địa bộ ” (1965-1968) của đế quốc Mỹ./.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1999), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi (1945-  
1975), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2]. Ban Chỉ huy quân sự huyện Tiên Phước (1999), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân Huyện  
Tiên Phước (1945-1975), Ban Chỉ huy quân sự huyện Tiên Phước xuất bản.  
[3]. Báo cáo bổ sung về tình hình miền núi Liên khu V, Tài liệu lưu tại Viện Lịch sử Đảng, Kí hiệu  
K5/13.7.  
[4]. Lê Duẩn (1985), Thư vào Nam, NXB Sự thật, Hà Nội.  
[5]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Đảng Toàn tập, Tập 20, Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[6]. Đảng ủy - Ban chỉ huy quân sự huyện Trà Bồng (2010), Lịch sử lực lượng vũ trang nhân dân  
huyện Trà Bồng (1945 - 2010), NXB Quân đội Nhân dân.  
[7]. Đặc khu ủy Quảng Đà (1965), Báo cáo tình hình địch và hoạt động của ta trong năm 1965,  
Tài liệu lưu tại Ban Tuyên giáo Thành ủy Đà Nẵng, kí hiệu 39 - III.  
46  
TRÖÔØNG ÑAÏI HOÏC ÑOÀNG THAÙP  
Tap chí Khoa hoc so 36 (02-2019)  
[8]. Trần Thuý Hiền (2015), Căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ  
(1954-1975), Luận án tiến sĩ Lịch sử Đại học Sư phạm Huế.  
[9]. Hội đồng biên soạn lịch sử Nam Trung Bộ kháng chiến (1995), Nam Trung Bộ kháng chiến  
1945 - 1975, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[10]. Tài liệu về vấn đề đối phó với mật khu VC ở Trung cao nguyên Trung phần, TTLTQGII, Kí  
hiệu hồ sơ: PTT 15234.  
THE STRUGGLE TO PROTECT THE REVOLUTIONARY MILITARY BASES  
IN THE MID – CENTRAL REGION IN THE ANTI – AMERICAN WAR (1960-1965)  
Summary  
The revolutionary military bases in the coastal provinces of the Mid-Central Region were established  
under the Party’s policy in order to deal with increasing terrorist campaigns launched by the US-supported  
government of Ngo Dinh Diem against revolutionary cadres in South of Vietnam after the 1954 Geneva  
Agreements were signed. These bases built mostly in mountainous, difficult areas include typically  
Nuoc Oa, Nuoc La, Son-Cam-Ha, West Quang Ngai Province, Nui Ba, and Van Hoa. The enemies (i.e.  
Republic Vietnam and US Armies) launched intensive military offensives in order to destroy those  
evolutionary bases. However, the local people and the revolutionary army bravely fought back and  
defeated the large-scale military operations, successfully protected the headquarters of the resistance  
war. In fact, the bases’ establishment and resilience significantly contributed to the development of the  
revolutionary movement in the local region. It also helped the Party develop Vietnam’s revolutionary  
strategy to defeat that of the US imperialists’ “Attrition War”.  
Keywords: Anti-American War; revolutionary military base; the mid-central region; military  
offensive; “Attrition War” strategy.  
Ngày nhận bài: 16/10/2018; Ngày nhận lại: 22/01/2019; Ngày duyệt đăng: 22/02/2019.  
47  
pdf 7 trang yennguyen 12220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đấu tranh bảo vệ căn cứ địa cách mạng ở Trung Trung Bộ trong kháng chiến chống Mỹ (1961-1965)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdau_tranh_bao_ve_can_cu_dia_cach_mang_o_trung_trung_bo_trong.pdf