Đánh giá thực trạng và những yếu tố liên quan đến hoạt động phòng truyền thông giáo dục sức khỏe các trạm y tế tỉnh Bắc Ninh, năm 2011

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG YẾU TỐ LIÊN QUAN  
ĐẾN HOẠT ĐỘNG PHÒNG TRUYỀN THÔNG GIÁO DỤC SỨC KHỎE  
CÁC TRẠM Y TẾ TỈNH BẮC NINH, NĂM 2011  
BSCK I. Nguyễn Văn Lang  
Trung tâm Truyền thông GDSK Bắc Ninh.  
Tóm tắt nghiên cứu:  
Nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin về thực trạng và một số yếu tố liên quan  
đến hoạt động phòng Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) trên địa bàn tỉnh Bắc  
Ninh. Với mong muốn nâng cao chất lượng hoạt động phòng TTGDSK, nghiên cứu đưa  
ra những kiến nghị, đề xuất và giải pháp cho lãnh đạo Sở Y tế.  
Với phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định  
lượng và nghiên cứu định tính trên 100% (126/126) Trạm Y tế (TYT) trên địa bàn tỉnh  
trong thời gian từ tháng 7 – 10/2011. Kết quả nghiên cứu cho thấy thực trạng hoạt động  
phòng TTGDSK trên địa bàn tỉnh: 45% phòng TTGDSK không đạt về cơ sở vật chất và  
trang thiết bị, 87% không có mô hình, 97% không có giá treo tranh áp phích, 94% không  
đạt về tài liệu phục vụ công tác truyền thông, 43% không đạt về trang thiết bị tác nghiệp,  
22,2% hoạt động phòng truyền thông không đạt, 89% cán bộ phụ trách công tác  
TTGDSK có kiến thức đạt, …. Nghiên cứu cũng tìm ra mối liên quan giữa hoạt động  
phòng truyền thông với trang thiết bị tác nghiệp và kiến thức của cán bộ phụ trách công  
tác truyền thông.  
Từ khóa: Phòng truyền thông, trang thiết bị, mối liên quan  
1.Đặt vấn đề  
Truyền thông giáo dục sức khỏe (TTGDSK) là nhiệm vụ số 1 trong 10 nội dung  
chăm sóc sức khỏe ban đầu (CSSKBĐ) chính vì vậy Đảng, Nhà nước và ngành Y tế luôn  
coi trọng và khẳng định công tác TTGDSK là một phần không thể thiếu được trong sự  
nghiệp bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân (CSSKND).  
Đẩy mạnh hoạt động TTGDSK là rất cần thiết và là cách tiếp cận có hiệu quả cho  
chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Nhận thức được tầm quan trọng của công tác TTGDSK  
trong chiến lược chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khoẻ cho nhân dân nên chỉ sau khi tái  
lập tỉnh Uỷ ban nhân dân Tỉnh Bắc Ninh ký quyết định thành lập Trung tâm Tuyên  
truyền bảo vệ sức khoẻ thuộc Sở Y tế Bắc Ninh nay đổi tên thành Trung tâm TTGDSK  
tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 2003 đến nay, khi triển khai thực hiện Chỉ thị 06 và Thông tư 05  
của Thường vụ Tỉnh ủy Bắc Ninh về tăng cường củng cố Y tế cơ sở và quyết định 370  
của Bộ y tế về Chuẩn hóa Quốc gia về Y tế xã giai đoạn 2003-2010 tuy còn gặp nhiều  
khó khăn về nguồn lực, đặc biệt là cơ sở vật chất, trang bị kỹ thuật nhưng công tác  
TTGDSK đã được các cấp Ủy Đảng, Chính quyền quan tâm hơn và đem lại những hiệu  
quả ban đầu: 100% các TYT có phòng TTGDSK lồng ghép, 100% Trạm Y tế (TYT) có  
63  
cán bộ phụ trách công tác TTGDSK được tập huấn kỹ năng TT-GDSK, kiến thức chăm  
sóc sức khỏe thiết yếu của người dân đã được nâng lên,…..  
Từ thực tế trên chúng ta nhận thấy cần tiến hành nghiên cứu “Đánh giá thực  
trạng và những yếu tố liên quan đến hoạt động phòng Truyền thông giáo dục sức  
khỏe các Trạm Y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2011”. Để từ đó qua nghiên cứu, chúng tôi đưa  
ra những kiến nghị, đề xuất và giải pháp cho lãnh đạo Sở Y tế nhằm nâng cao hiệu quả  
cũng như chất lượng hoạt động phòng TT-GDSK. Đồng thời nghiên cứu sẽ là tiền đề cho  
các nghiên cứu chuyên sâu, là cơ sở để triển khai can thiệp nhằm nâng cao chất lượng  
công tác TT-GDSK các Trạm Y tế trên địa bàn tỉnh.  
2. Mục tiêu nghiên cứu  
Mục tiêu chung: Đánh giá thực trạng và những yếu tố liên quan đến hoạt động phòng  
Truyền thông giáo dục sức khỏe các Trạm Y tế tỉnh Bắc Ninh năm 2011  
Mục tiêu cụ thể:  
1. Mô tả thực trạng nguồn lực và cơ sở vật chất, trang thiết bị phòng TTGDSK  
các Trạm Y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2011.  
2. Tìm hiểu những yếu tố liên quan đến hoạt động phòng TTGDSK của các Trạm  
Y tế trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh năm 2011.  
3. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu:  
- 126 phòng truyền thông tại Trạm Y tế xã, phường, thị trấn  
- 126 cán bộ phụ trách công tác TTGDSK tại Trạm Y tế  
3.2.Thời gian nghiên cứu: từ tháng 7/2011 đến tháng 10/2011  
3.3.Địa điểm nghiên cứu: 126 xã, phường, thị trấn trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh.  
3.4.Phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích kết hợp nghiên cứu định  
lượng với nghiên cứu định tính.  
3.5. Phương pháp thu thập thông tin:  
- Thu thập số liệu trong nghiên cứu định lượng: qua bộ câu hỏi thiết kế sẵn  
- Phương pháp thu thâp số liệu định tính: Thảo luận nhóm (02 cuộc), phỏng vấn sâu  
(05 cuộc).  
3.6.Phương pháp xử lý số liệu:  
- Số liệu định lượng: Phân tích số liệu bằng phần mềm SPSS12.0 (Các chỉ số  
nghiên cứu được tính toán dưới dạng tần suất, tần số, tỷ lệ %, số trung bình)  
- Số liệu định tính: Trích dẫn nội dung phỏng vấn sâu qua băng ghi âm và ghi chép  
theo chủ đề phân tích.  
64  
3.7. Sai số và cách khống chế:  
Để đảm bảo giảm sai số trong nghiên cứu các thông tin trong biểu mẫu được kiểm tra  
kỹ ngay tại phòng truyền thông. Đối tượng nghiên cứu cung cấp thông tin được các nghiên  
cứu viên hướng dẫn trực tiếp ngay tại địa điểm nghiên cứu để đảm bảo các thông tin thu thật  
đầy đủ và đúng với mục tiêu của nghiên cứu. Các điều tra viên được tập huấn kỹ về bộ câu  
hỏi thu thập thông tin, được nghiên cứu kiểm tra chất lượng thu thập thông tin.  
4. Kết quả nghiên cứu và bàn luận  
6.1. Kết quả nghiên cứu định lượng  
6.1.1. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phòng Truyền thông:  
56,3% các TYT trên địa bàn tỉnh được xây dựng trước năm 2003. Tại TYT số  
lượng cán bộ công nhân viên chức làm việc từ 5-10 người (chiếm 97,5%) và số thôn/khu  
trên địa bàn mỗi xã là 1-5 thôn/khu (chiếm 58,7%).  
Là cơ sở y tế gần dân nhất, số lượng người dân đến khám chữa bệnh và sử dụng  
dịch vụ y tế tại TYT chủ yếu từ 10-20 lượt người/ngày (46,8%). Tuy nhiên số lượng  
người đến khám, chữa bệnh không đồng đều tại các địa phương: có 1,6% TYT có số lượt  
người đến khám chữa bệnh dưới 5 lượt người/ngày, tuy nhiên có 24,6% TYT có số lượt  
người đến trên 20 lượt người/ngày.  
Qua nghiên cứu cũng cho thấy tên phòng truyền thông của các TYT khác nhau,  
39,7% TYT đặt tên là Phòng Truyền thông, 38% đặt các tên khác như phòng Giao ban –  
Truyền thông, Phòng Khám bệnh, …. Số TYT đạt tên phòng Truyền thông - KCB - Tiêm  
chủng (4%), Phòng Tuyên truyền – KCB – Tiêm chủng (0,8%) chiếm tỷ lệ rất ít. Theo  
khuyến nghị của nhiều cán bộ phụ trách công tác TTGDSK thì phòng truyền thông nên  
lồng ghép với phòng Khám chữa bệnh – Tiêm chủng tuy nhiên số lượng TYT có tên  
theo khuyến nghị chỉ chiếm 4% còn lại là tên khác.  
Vị trí phòng truyền thông các TYT chủ yếu ở tầng 1, thuận tiện cho công tác  
TTGDSK cho người dân đến Khám chữa bệnh, sử dụng dịch vụ y tế. Tuy nhiên vẫn có  
6,3% (8 TYT) có phòng truyền thông ở tầng 2. Phòng Truyền thông chủ yếu được lồng  
ghép với phòng giao ban, phòng họp (34,9%), ngoài ra lồng ghép với các phòng khác  
chiếm 38% như phòng cấp cứu, phòng lưu bệnh nhân, phòng bán thuốc,…Việc lồng  
ghép phòng truyền thông tại các phòng khác gây ảnh hưởng không nhỏ tới hoạt động  
truyền thông của TYT. 8/126 phòng truyền thông lồng ghép phòng Giao ban, phòng  
được sử dụng chủ yếu khi giao ban, hội họp, và ít khi sử dụng cho hoạt đồng truyền  
thông thường xuyên (1 tháng sử dụng 1-2 lần).  
Do cơ sở hạ tầng nên diện tích phòng Truyền thông các TYT cũng khác nhau,  
không có sự đồng nhất. 6,3% các TYT có phòng Truyền thông nhỏ hơn 14m2, trong khi  
đó 69% TYT có diện tích >16 m2 (có lồng ghép chủ yếu với phòng giao ban, phòng  
hợp). Và chỉ có 24,7% TYT có diện tích theo Quyết định 2271/QĐBYT ngày 7/6/2002  
65  
của Bộ Y tế về ban hành tiêu chuẩn thiết kế Trạm y tế cơ sở - Tiêu chuẩn ngành là 14 m2  
-16 m2.). Tuy nhiên để phù hợp với tình hình thực tế hiện nay về sử dụng phòng truyền  
thông cho hoạt động truyền thông và lồng ghép với phòng KCB và tiêm chủng thì hiện  
nay diện tích phòng truyền thông theo quyết định 2271/QĐBYT ngày 7/6/2002 của Bộ Y  
tế thì chưa thực sự phù hợp với nhu cầu thực tế tại địa phương.  
Trang thiết bị phòng Truyền thông của các TYT chưa đồng nhất về số lượng. Tỷ  
lệ TYT có tủ đựng tài liệu (67,5%), giá để tài liệu và sách ( 51,6%), ghế ngồi (94,4%)  
chiếm tỷ lệ cao. Tuy nhiên một số trang thiết bị lại chiếm tỷ lệ rất thấp như mô hình  
(31%), giá treo tranh áp phích (23%),…Đặc biệt sắp xếp tranh ảnh tại phòng truyền  
thông còn chưa khoa học (50%), khó nhìn, không theo chủ đề về các chương trình. Tài  
liệu truyền thông tại phòng truyền thông (tờ rơi, tranh lật/tranh gấp, sách báo liên quan  
đến sức khỏe,..) để trên giá tài liệu dễ nhìn, dễ thấy rất ít, có nhiều tài liệu để trong tủ  
khóa, cất trong tủ kín,…gây khó khăn cho việc tiếp cận thông tin của người dân khi đến  
phòng truyền thông.  
Đạt  
45%  
55%  
Không đạt  
Biểu đồ 1. Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ phòng TT-GDSK  
Qua biểu đồ chúng ta có thể nhận thấy tỷ lệ phòng truyền thông có sở sở vật chất  
và trang thiết bị thiết yếu cơ bản không đạt chiếm tỷ lệ cao (55%). Đây là tỷ lệ mà nghiên  
cứu thực hiện chỉ đánh giá phòng truyền thông đạt 50% số trang thiết bị cơ bản của  
phòng truyền thông. Qua kết quả đã cho chúng ta thấy cơ sở vật chất và trang thiết bị  
phục vụ hoạt động truyền thông còn rất thiếu, chưa thể đáp ứng được so với nhau cầu  
CSSK nhân dân.  
Tỷ lệ tài liệu phục vụ công tác truyền thông cũng không đồng đều. Pano và áp phích  
là tài liệu truyền thông không thể thiếu trong phòng truyền thông. Tuy nhiên không có TYT  
nào có tỷ lệ pano đạt (đạt 50% số pano cần thiết) và chỉ có 18,3% TYT có tỷ lệ áp phích đạt  
yêu cầu. Còn lại các loại tài liệu truyền thông khác như tờ rơi/tờ bướm (67,5%), tranh  
lật/tranh tư vấn (65,1%), sách mỏng/sách nhỏ (68,3%),…  
Chỉ có 2,4% có pano về Chăm sóc sức khỏe sinh sản và cải thiện tình trạng dinh  
dưỡng trẻ em và Vệ sinh an toàn thực phẩm, 15.9% có áp phích về Vệ sinh môi trường,  
11,1% áp phích về Dân số và kế hoạch hóa gia đình,…..  
66  
Phòng TTGDSK không đạt về tài liệu phục vụ phòng truyền thông chiếm tỷ lệ cao  
(94%). Đây là tỷ lệ phản ánh thực trạng các phòng truyền thông hiện nay khi số lượng,  
chất lượng các tài liệu truyền thông còn chưa phòng phú, chưa đáp ứng được nhu cầu.  
Bảng 1. Tỷ lệ có các trang thiết bị tác nghiệp ở phòng Truyền thông  
Có  
Thiết bị  
Tần số  
75  
Tỷ lệ (%)  
59,5  
57,9  
99,2  
89,7  
98,4  
14,3  
100  
Máy tính bàn  
Máy in Laser  
73  
Máy điện thoại bàn  
125  
113  
124  
18  
Bàn, ghế tư vấn  
Ghế ngồi truyền thông trực tiếp  
Kệ đựng tài liệu truyền thông  
Ti vi từ21”- 32”  
126  
124  
0
Đầu CD  
98,4  
0
Máy ảnh kỹ thuật số  
Mê ga phôn (Loa cầm tay)  
Tăng âm, loa nén, micro  
Tủ hút ẩm bảo quản thiết bị  
Đài Cassette 2 cửa băng, ổ đĩa CD, USB  
Bảng viết di động  
4
3,2  
122  
1
96,8  
0,8  
57  
45,2  
21,4  
27  
Đạt  
43%  
57%  
Không đạt  
Biểu đồ 2. Trang thiết bị tác nghiệp ở phòng Truyền thông  
Tỷ lệ TYT đạt có trên 50% số trang thiết bị tác nghiệp phục vụ phòng truyền  
thông không đạt chiếm 43%. Một số trang thiết bị thiết yếu tại TYT đã được cung cấp  
khá đầy đủ do sự quan tâm đầu tư của các cấp các ngành, chiếm tỷ lệ cao như bộ truyền  
thông ti vi (100%), tăng âm/loa nén (96,8%), đầu CD (98,4%). Qua quá trình thu thập số  
liệu nghiên cứu cũng đã nhận thấy tỷ lệ có do sự cấp phát không hợp lý từ các đơn vị  
tuyến trên khi cấp phát không tìm hiểu nhu cầu tại các TYT dẫn tới việc cấp phát trang  
thiết bị chồng chéo, sử dụng không hiệu quả: 210 tivi/126 TYT, 158 đầu CD/126 TYT  
trong đó có 49,2% TYT có 2 tivi, 6,3% TYT có 3 ti vi, và 1,6% TYT có 4 tivi, 24,6%  
67  
TYT có 2 đầu CD,…..). Đặc biệt chất lượng trang thiết bị này đã xuống cấp 16/210 ti vi  
đã hỏng, 16/158 đầu CD đã hỏng không sử dụng được,….  
Những trang thiết bị tác nghiệp công tác TTGDSK tại TYT đã được Bộ Y tế phê  
duyệt theo quyết định Quyết định số 2420/QĐ – BYT ngày 07/07/2010 của Bộ Y tế về  
việc ban hành Danh mục trang thiết bị và phương tiện làm việc của các Trung tâm  
TTGDSK tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương và phòng TTGDSK các cấp từ tỉnh đến  
xã, phường, thị trấn thì hiện nay đạt hơn 50% số trang thiết bị theo yêu câu thì chỉ có  
57%, điều đó đã cho thấy trang thiết bị tác nghiệp phục vụ hoạt động truyền thông tại các  
TYT là vấn đề cần được quan tâm hơn nữa.  
22,2%  
Đạt  
Không đạt  
77,8%  
Biểu đồ 3. Nhận xét hoạt động phòng TT-GDSK  
Tỷ lệ hoạt động phòng truyền thông tại các TYT đạt khá cao (77,8%). Tuy nhiên  
vẫn còn một số TYT hoạt động không hiệu quả (22,2%).  
6.1.2. Nguồn nhân lực hoạt động phòng Truyền thông  
Nghiên cứu cho thấy: độ tuổi của cán bộ phụ trách công tác truyền thông chủ yếu từ  
41-55 tuổi (73,8%), độ tuổi trung bình 46 tuổi. Cán bộ phụ trách công tác truyền thông tại  
các TYT chủ yếu là nam giới (70,6%), nữ giới chiếm tỷ lệ ít (29,4%). Trình độ học vấn  
của cán bộ phụ trách công tác TTGDSK tương đối cao, 56,4% cán bộ có trình độ Trung  
cấp Y/Dược, 34,1% có trình độ cao đẳng/đại học và 7,1% có trình độ trên đại học. Thời  
gian công tác tại TYT của cán bộ phụ trách công tác TTGDSK chủ yếu từ 10-20 năm  
(50,8%), trên 20 năm chiếm 40,4%, một số ít làm việc dưới 5 năm (3,2%). Hoạt động  
TTGDSK được ngành Y tế quan tâm từ khi tái lập tỉnh, đến nay 26,2% cán bộ phụ trách  
công tác TTGDSK được 5-10 năm, 33,3% làm được 10-20 năm và 3,2% cán bộ làm được  
trên 20 năm trong lĩnh vực TTGDSK. Cán bộ phụ trách công tác TTGDSK các TYT phần  
lớn là kiêm nhiệm (96,8%) và đã được tập huấn kỹ năng TTGDSK (96,8%).  
68  
11,1%  
Đạt  
88,9%  
Không đạt  
Biểu đồ 4. Nhận xét kiến thức cơ bản về TTGDSK của cán bộ phụ trách công  
tác TTGDSK các TYT  
Biểu đồ cho thấy tỷ lệ cán bộ phụ trách công tác TTGDSK đạt kiến thức cơ bản về kỹ  
năng TT-GDSK rất cao (88,9%). Cán bộ phụ trách công tác TTGDSK đã hiểu được vai  
trò của công tác truyền thông, mục đích của TTGDSK, hành vi, các loại hình và kỹ năng  
truyền thông trực tiếp hiệu quả,…Tuy nhiên cán bộ phụ trách công tác TTGDSK vẫn còn  
thiếu một số kiến thức cơ bản chủ yếu như quá trình thay đổi hành vi, chỉ có 0,8% cán bộ  
phụ trách công tác TTGDSK hiểu được quá trình thay đổi hành vi sức khỏe.  
28%  
72%  
Đạt  
Không đạt  
Biểu đồ 5. Nhận xét hoạt động của cán bộ phụ trách công tác TTGDSK  
tại phòng TTGDSK  
Tỷ lệ cán bộ phụ trách công tác truyền thông hoạt động tại phòng truyền thông đạt  
72%, không đạt 28%. 96,8% cán bộ thực hiện truyền thông tại phòng truyền thông với  
các hình thức chủ yếu là tư vấn sức khỏe (95,2%), thảo luận nhóm sức khỏe (67,5%).  
Cán bộ thực hiện truyền thông chủ yếu khi có nhu cầu (46%) và trên 5 lần/tuần (21,4%).  
Tuy nhiên có 30,2% cán bộ phụ trách công tác TTGDSK thực hiện truyền thông tại  
phòng truyền thông dưới 5 lần/tuần.  
69  
6.1.3. Các yếu tố liên quan đến hoạt động phòng truyền thông  
Bảng 2. Mối liên quan giữa cơ sở vật chất, trang thiết bị và hoạt động phòng TTGDSK  
Cơ sở vật chất và  
trang thiết bị  
Hoạt động Hoạt động  
Tổng  
OR, p  
đạt  
57  
41  
98  
không đạt  
Đạt  
Không đạt  
Tổng  
12  
16  
28  
69  
57  
OR = 1,85  
2 = 2,06  
p > 0,05  
126  
Phân tích không cho thấy mối liên quan giữa cơ sở vật chất và hoạt động của phòng  
TTGDSK (p>0,05). Do nghiên cứu tập trung đưa ra được thực trạng cơ sở vật chất phòng  
truyền thông, hoạt động truyền thông tại phòng truyền thông chỉ được đánh giá qua một số  
tiêu chí tại TYT nên có thể chưa đánh giá hết được thực trạng hoạt động phòng truyền  
thông tại TYT. Sự khác biệt này có thể thay đổi nếu thực hiện đánh giá hoạt động phòng  
truyền thông với nhiểu chỉ tiêu liên quan và mẫu nghiên cứu lớn hơn.  
Bảng 3. Mối liên quan giữa tài liệu và hoạt động phòng TTGDSK  
Hoạt động  
không đạt  
Tài liệu  
Hoạt động đạt  
Tổng  
OR, p  
Đạt  
Không đạt  
Tổng  
7
1
8
OR = 2,08  
2 = 0,47  
p > 0,05  
91  
98  
27  
28  
118  
126  
Kết quả phân tích không cho thấy mối liên quan giữa tài liệu TTGDSK và hoạt  
động phòng TTGDSK (p>0.05). Tài liệu truyền thông là một trong những phương tiện để  
thực hiện cũng như để góp phần thành công trong việc TTGDSK. Nghiên cứu cũng cho  
thấy thực trạng tài liệu truyền thông phục vụ hoạt động tại phòng truyền thông. Mối liên  
quan giữa tài liệu truyền thông và hoạt động phòng truyền thông có thể thay đổi nếu thực  
hiện đánh giá hoạt động phòng truyền thông với nhiểu chỉ tiêu liên quan và mẫu nghiên  
cứu lớn hơn.  
Bảng 4. Mối liên quan giữa trang thiết bị tác nghiệp và hoạt động phòng TTGDSK  
Trang thiết bị tác  
nghiệp  
Hoạt động  
đạt  
Hoạt động  
không đạt  
Tổng  
OR, p  
Đạt  
Không đạt  
Tổng  
61  
37  
98  
11  
17  
28  
72  
54  
OR = 2,55  
2 = 4,69  
p < 0,05  
126  
Kết quả phân tích cho thấy có mối liên quan giữa trang thiết bị tác nghiệp và hoạt  
động phòng truyền thông. Những TYT trang thiết bị không đạt thì có nguy cơ hoạt động  
phòng TT-GDSK không đạt gấp 2,55 lần so với TYT có trang thiết bị đạt. Sự khác biệt  
này có ý nghĩa thống kê (p<0,05). Chình vì vậy, chúng ta cần quan tâm tới trang thiết bị  
70  
tác nghiệp phục vụ hoạt động phòng truyền thông để tăng cường hiệu quả hoạt động  
phòng truyền thông các TYT.  
Bảng 5. Mối liên quan giữa kiến thức cán bộ phụ trách công tác truyền thông  
và hoạt động phòng TTGDSK  
Hoạt động  
đạt  
Hoạt động  
không đạt  
Kiến thức  
Tổng  
OR, p  
Đạt  
Không đạt  
Tổng  
88  
3
24  
11  
35  
112  
14  
OR = 13,44  
2 = 20,05  
p < 0,05  
91  
126  
Có mối liên quan giữa kiến thức và hoạt động phòng TTGDSK của cán bộ phụ  
trách công tác TTGDSK. Những Cán bộ phụ trách công tác TTGDSK có kiến thức  
không đạt thì hoạt động phòng TTGDSK không đạt gấp 13,44 lần so với người cán bộ  
phụ trách công tác TTGDSK có kiến thức đạt. Sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê  
(p<0.05). Cán bộ truyền thông có kiến thức và kỹ năng về TTGDSK sẽ có hoạt động  
truyền thông tốt, chính vì vậy chúng ta cần quan tâm hơn nữa về đào tạo kỹ năng chuyên  
sâu về TTGDSK cho cán bộ phụ trách công tác TT-GDSK để nâng cao hiệu quả hoạt  
động phòng truyền thông.  
6.2. Kết quả nghiên cứu định tính  
Theo đánh giá của một số cán bộ phụ trách công tác truyền thông tại TYT trên địa  
bàn tỉnh thì hiện nay cơ sở vật chất (phòng truyền thông) nhiều TYT đã xuống cấp, có  
TYT là nhà cấp 4, có TYT thì phòng truyền thông ở trên tầng 2 lồng ghép với phòng  
giao ban. Diện tích phòng quá nhỏ hẹp “Trạm tôi cũng chỉ có 12m2 mà lại là nhà cấp 4,  
như vậy thì làm sao mà truyên thông được,…”(Nam, CB TYT– Tx. Từ Sơn). Về trang  
thiết bị của hệ thống truyền thông chủ yếu là đã hỏng, do được cấp phát từ lâu, nhiều khi  
đã hỏng ngay từ khi mới cấp phát“Mà về trang thiết bị thì tôi cũng nói thật là trang thiết  
bị cấp nhưng có dùng được đâu. Mới cấp bộ tăng âm, vidio, ti vi và loa thì dùng được  
mỗi cái ti vi, còn lại hỏng từ lúc nào rồi nên ảnh hưởng rất nhiều đến công tác tuyên  
truyền,..” “trang thiết bị thì tồi tệ lắm, có mà thành “Cục sắt han” như TV thì đã đổi  
màu và được cất vào trong kho từ lâu rồi” (Nam – CB TYT huyện Tiên Du).  
Cũng theo đánh giá của cán bộ phụ trách công tác TTGDSK thì hoạt động phòng  
truyền thông các TYT chưa thực sự hiệu quả, nhiều khi chỉ là hình thức và phòng cũng  
chỉ là để cho đầy đủ các phòng ban cần có của một TYT “Do cơ sở vật chất như vậy thì  
làm sao mà hoạt động tốt được”, “Hoạt động phòng truyền thông thực ra chưa phát huy  
được, chỉ là hình thức mà thôi. Phòng bé quá nên treo tranh ảnh làm sao được. Hoạt  
động chủ yếu là tư vấn tại đấy” “Phòng truyền thông lồng ghép với phòng tiêm nên chỉ  
sử dụng chủ yếu là ngày tiêm chủng” (Nữ, TYT huyện Tiên Du)  
Để hoạt động truyền thông có hiệu quả, cần khắc phục được những yếu tố ảnh  
hưởng đến hoạt động của phòng truyền thông “Chúng ta cần phải đầu tư cơ sở hạ tầng  
71  
và trang thiết bị phục vụ phòng truyền thông. Đặc biệt là bộ loa, âm thanh đến truyền  
thông và phải có chế độ ưu tiên cho cán bộ phụ trách truyền thông”(Nam, TYT Tx. Từ  
Sơn), quan tâm hơn nữa tới cán bộ phụ trách công tác truyền thông “Cán bộ phụ trách  
công tác truyền thông cần được đào tạo thường xuyên, kiêm nhiệm ít việc đi và dành  
nhiều thời gian cho công tác truyền thông”, “Cán bộ cần được đào tạo, vì ở TYT mỗi  
người làm một mảng nên truyền thông trong lĩnh vực của mình. Vậy thì phải đào tạo hết,  
đào tạo thường xuyên về TTGDSK mới được” ( Nữ, TYT huyện Tiên Du) và cũng theo  
đánh giá của người dân khi đến sử dụng các dịch vụ Y tế tại TYT, cần quan tâm hơn nữa  
tới nguồn nhân lực cho hoạt động truyền thông “BS phải nhiệt tình, hỏi thăm bệnh nhân  
thì mọi người mới muốn đến chứ” (Nam, 45 tuổi), “Mở rộng phòng và trang trí hấp dẫn,  
có quạt điện, bàn ghế nhiều hơn nữa để đủ cho nhiều người ngồi nghe và đợi khám”  
(Nam, 75 tuổi), “TYT phải tuyên truyền nhiều về phòng thì mọi người mới biết được.  
Chứ nhiều lúc sách báo ở đây, mọi người có dám cầm lên mà đọc đâu, tưởng là sách vở  
của BS” (Nữ 36 tuổi) .  
5. Kết luận  
5.1.Thực trạng về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nguồn lực phục vụ hoạt động phòng  
truyền thông.  
Cơ sở vật chất phòng truyền thông các TYT trên địa bàn tỉnh còn nhiều bất cập,  
chưa đồng. Phần lớn các TYT được xây dựng trước năm 2003 (56,3%) Có đến 8/126  
TYT có phòng truyền thông ở trên tầng 2. Với diện tích còn hạn chế, nhiều TYT có diện  
tích quá nhỏ dưới 14m2 nên hoạt động truyền thông còn rất hạn chế. 45% phòng truyền  
thông không đạt về cơ sở vật chất.  
Tài liệu và trang thiết bị hoạt động phòng truyền thông chưa hợp lý. Mặc dù 100%  
các TYT có TV, có TYT có đến 4 chiếc TV để sử dụng tuy nhiên lại không có chiếc nào  
để ở phòng truyền thông. 98,4% TYT có đầu CD, 96,8% có bộ tăng âm, loa nén, micro.  
Một số trang thiết bị rất cần lại hầu như không có ở tất cả các TYT như máy ảnh (0%), tủ  
hút ẩm bảo quản trang thiết bị (0,85), bảng viết di động (21,4%),…Chính vì vậy mà trang  
thiết bị phục vụ phòng truyền thông đạt trên 50% số lượng theo yêu cầu chỉ chiếm 57%.  
Đội ngũ cán bộ phụ trách công tác truyền thông trình độ ngày càng được nâng  
cao, những kiến thức cơ bản về truyền thông được nắm rõ thể hiện qua tỷ lệ cán bộ có  
những hiểu biết cơ bản về kỹ năng TTGDSK chiếm đến 88,9%. Hoạt động truyền thông  
của cán bộ phụ trách công tác truyền thông cũng ngày được nâng cao khi có 72% thực  
hiện truyền thông tại phòng truyền thông đạt.  
5.2.Các yếu tố liên quan đến hoạt động phòng TTGDSK các TYT trên địa bàn tỉnh.  
Kết quả phân tích không tìm được mối liên quan giữa cơ sở vật chất và tài liệu  
phục vụ công tác truyền thông với hoạt động phòng truyền thông.  
72  
Nghiên cứu đã chỉ ra mối liên quan giữa trang thiết bị tác nghiệp và hoạt động  
phòng truyền thông. Những TYT trang thiết bị không đạt thì có nguy cơ hoạt động phòng  
TT-GDSK không đạt gấp 2,55 lần so với TYT có trang thiết bị đạt. Có mối liên quan  
giữa kiến thức và hoạt động phòng TT-GDSK của cán bộ phụ trách công tác TT-GDSK.  
Những Cán bộ phụ trách công tác TT-GDSK có kiến thức không đạt thì hoạt động phòng  
TT-GDSK không đạt gấp 13,44 lần so với người cán bộ phụ trách công tác TT-GDSK có  
kiến thức đạt.  
6. Kiến nghị  
6.1. Nhóm giải pháp về cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ phòng truyền thông  
Tăng nguồn kinh phí hoạt động chuyên môn theo quyết định 3526/2004/QĐ-BYT  
của Bộ trưởng Bộ Y tế ký ngày 6/10/2004 (đảm bảo 1,5 - 2% ngân sách y tế hàng năm cho  
hoạt động của hệ thống truyền thông GDSK) để có nguồn kinh phí chi hoạt động các TYT.  
Đầu tư trang thiết bị cho công tác TTGDSK thực hiện theo Quyết định số 2420/QĐ –  
BYT ngày 07/07/2010 của Bộ Y tế về việc ban hành Danh mục trang thiết bị và phương tiện  
làm việc của các đơn vị tuyến huyện, xã.  
Xây dựng qui chuẩn phòng truyền thông điểm TYT về diện tích, tên, vị trí, trang  
thiết bị cũng như việc sắp xếp các tài liệu truyền thông trong phòng truyền thông để các đơn  
vị khác học tập, nhân rộng.  
6.2. Nhóm giải pháp về chuyên môn với nguồn nhân lực  
Tăng cường tập huấn chuyên môn về truyền thông giáo dục sức khỏe cho cán bộ phụ  
trách công tác TT-GDSK từ tỉnh xuống cơ cở và đội truyền thông viên từ tỉnh tới cơ sở.  
Tổ chức tham quan học tập các TYT có phòng truyền thông hoạt động hiệu quả.  
Tài liệu tham khảo  
1. Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh (1997). Quyết định số 87/UN ngày 28/03/1997, Về  
việc thành lập Trung tâm tuyên truyền Bảo vệ sức khỏe thuộc Sở Y tế Bắc Ninh.  
Bắc Ninh.  
2. Đặng Khải Hoàn (2010), Huy động cộng đòng truyền thông giáo dục ở miền núi  
phía Bắc, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội. tr9-15.  
3. Bộ Y tế – Bộ Quốc phòng – Học viện Quân y (1999), Đánh giá 20 năm thực hiện  
chăm sóc sức khoẻ ban đầu ở Việt nam, Hà Nội.  
4. Bộ Y tế (2002), Quyết định số 370/ QĐ - BYT ban hành hướng dẫn Chuẩn Quốc  
gia về y tế xã giai đoạn 2001- 2010 năm 2002, Hà Nội.  
5. BộY tế (2004), Quyết định số 3526 / 2004/ QĐ - BYT về việc phê duyệt chương  
trình hành động truyền thông Giáo dục sức khoẻ đến năm 2010, Hà Nội.  
6. Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 46-NQ/TW về công tác bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ  
nhân dân trong tình hình mớ, Hà Nội.  
73  
7. Bộ Y tế (2002), Quyết định 2271/QĐBYT ngày 7/6/2002 của Bộ y tế về ban hành  
tiêu chuẩn thiết kế Trạm y tế cơ sở - Tiêu chuẩn ngành, Hà Nội.  
8. Sở Y tế tỉnh Bắc Ninh (2005), Công văn số 585/SYT-GDSK ngày 25/05/2005 về  
việc xây dựng Chương trình hành động TT-GDSK đến năm 2010, Bắc Ninh.  
9. Bộ Y tế (2010), Quyết định số 2419/QĐ – BYT ngày 07/07/2010 về việc ban hành  
Tiêu chuẩn, định mức trong xây dựng trụ sở làm việc Trung tâm truyền thông  
GDSK tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội.  
10. Bộ Y tế (2010), Quyết định số 2419/QĐ – BYT ngày 07/07/2010 của Bộ Y tế về  
việc ban hành Danh mục trang thiết bị và phương tiện làm việc của các Trung tâm  
truyền thông GDSK tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương, Hà Nội.  
74  
pdf 12 trang yennguyen 11880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá thực trạng và những yếu tố liên quan đến hoạt động phòng truyền thông giáo dục sức khỏe các trạm y tế tỉnh Bắc Ninh, năm 2011", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_thuc_trang_va_nhung_yeu_to_lien_quan_den_hoat_dong.pdf