Đánh giá tác dụng phụ khi điều trị dự phòng nôn, buồn nôn bằng Dexamethason 8mg và Ondasetron 4mg trong gây tê tủy sống bằng Bupivacain và Morphin trong mổ lấy thai
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021
ĐÁNH GIÁ TÁC DỤNG PHỤ KHI ĐIỀU TRỊ DỰ PHÒNG NÔN, BUỒN NÔN
BẰNG DEXAMETHASON 8MG VÀ ONDASETRON 4MG TRONG GÂY TÊ
TỦY SỐNG BẰNG BUPIVACAIN VÀ MORPHIN TRONG MỔ LẤY THAI
Phạm Thị Anh Tú*, Công Quyết Thắng**, Lưu Quang Thùy***
between 20-30% in group 1 (control group) was
TÓM TẮT17
3.1%, significantly lower than group 2 (group using 2
Mục tiêu: Đánh giá tác dụng phụ khi điều trị dự
drugs) was 8.6%. This rate was lower than in some
phòng nôn, buồn nôn bằng dexamethasone 8mg và
other studies. Conclusions: We should apply
ondansetron 4mg trong gây tê tủy sống bằng
dexamethasone and ondansetron to prevent vomiting,
bupivacain và morphin sulphat để mổ lấy thai thực
nausea for patients with spinal anesthesia because of
hiện tại bệnh viện phụ sản Hải Phòng trong thời gian
being more effective and getting low side effect rate.
từ tháng 10/2018 đến tháng 2/2019. Phương pháp
Key words: dexamethasone, ondansetron, spinal
nghiên cứu: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tiến
anesthesia.
cứu có so sánh. Nhóm đối chứng (nhóm 1): sử dụng
thuốc chống nôn bằng dexamethasone 8mg và nhóm
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
nghiên cứu (nhóm 2): có sử dụng phối hợp thuốc
Gây tê tủy sống là một phương pháp vô cảm
chống nôn dexamethasone 8mg và ondansetron 4mg.
thường được áp dụng phổ biến cả trên thế giới
và Việt Nam để mổ lấy thai. Nhiều nghiên cứu
cho thấy việc tác dụng hiệp đồng trong gây tê
tủy sống bằng hỗn hợp thuốc tê bupivacain kết
hợp với morphin hiện đang được sử dụng phổ
biến do hiệu quả kéo dài thời gian giảm đau.
Nhưng lại có tác dụng không mong muốn là gây
ức chế hô hấp và gây buồn nôn, nôn, ngứa, an
thần sâu, bí đái. theo khuyến cáo điều trị của
chương trình ERAS cần phải dùng thuốc dự
phòng nôn và buồn nôn sau mổ là điều trị bắt
buộc cho bệnh nhân mổ [1]. Từ khi khám phá
được vùng nhận cảm hóa học CTZ ở sàn não
thất IV, các chất trung gian hóa học đồng vận
dẫn truyền cảm giác nôn, tại vùng này tới trung
tâm nôn ở hành não đã cắt nghĩa được phần nào
cơ chế tác dụng phòng nôn của dexamethasone,
ondansetron [2]. Hiện nay, trên thế giới cũng
như ở Việt Nam có nhiều thuốc chống nôn mới
đã được nghiên cứu và sử dụng riêng lẻ hoặc
phối hợp. Cũng đã có một số nghiên cứu đề
phòng nôn và buồn nôn khi phối hợp dexamethasone
và ondansetron trong mổ nội soi ổ bụng, tai mũi
họng, mổ chi dưới [3],[4]. Các nghiên cứu này
đều cho thấy hiệu quả khi dùng các thuốc trên
trong dự phòng nôn và buồn nôn. Nhưng chúng
ta đều biết khi kết hợp 2 thuốc thì có thể làm
tăng các tác dụng phụ lên. Trong mổ lấy thai ở
Việt Nam chúng tôi chưa tìm thấy báo cáo nào
về vấn đề này. Chính vì vậy chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài: “Đánh giá tác dụng phụ của
điều trị dự phòng nôn, buồn nôn bằng
dexamethasone 8mg và ondansetron 4mg trong
gây tê tủy sống bằng bupivacain và morphin
sulphat để mổ lấy thai”
Kết quả nghiên cứu: Các kỹ thuật trên không ảnh
hưởng tới huyết động và hô hấp của sản phụ. Tỷ lệ
tụt huyết áp HATB từ 20-30% trong nhóm 1 (nhóm
đơn độc) là 3,1% thấp hơn có ý nghĩa so với nhóm 2
(nhóm dùng phối hợp 2 thuốc) là 8,6% Nhưng tỉ lệ
này thấp hơn so với một số nghiên cứu khác. Kết
luận: Nên sử dụng dexamethasone và ondansetron
để dự phòng nôn, buồn nôn cho bệnh nhân vì hiệu
quả cao và tỉ lệ tác dụng phụ xảy ra thấp.
Từ khóa: dexamethasone, ondansetron, gây tê
tủy sống
SUMMARY
EVALUATE THE SIDE EFFECTS OF
POSTOPERATIVE NAUSEA AND VOMITING
PREVENTION BY DEXAMETHASONE 8MG AND
ONDASETRON 4MG IN SPINAL ANESTHESIA
BY BUPIVACAINE AND MORPHINE
Objective: To evaluate the side effects of
postoperative nausea and vomiting prevention by
dexamethasone 8mg and ondansetron 4mg in spinal
anesthesia with bupivacaine and morphine sulphate
for cesarean section performed at Hai Phong
Obstetrics Hospital from October 2018 to February
2019. Method: prospective randomized controlled
trial interventional study. Control group (group 1):
using antiemetics with dexamethasone 8mg, and
intervention group (group 2): using a combination of
antiemetics
with
dexamethasone
8mg
and
ondansetron 4mg. Results: These techniques did not
affect to the patients' hemodynamics and respiration.
The rate of decreasing mean arterial pressure (MAP)
*Bệnh viện phụ sản Hải Phòng,
**Đại học Y Hà Nội,
***Bệnh viện Việt Đức
Chịu trách nhiệm chính: Phạm Thị Anh Tú
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 23.12.2020
Ngày phản biện khoa học: 28.01.2021
Ngày duyệt bài: 3.2.2021
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu
69
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Sản phụ có tinh thần bệnh nhân sẽ tương ứng với một lần bắt thăm,
tỉnh táo. Tình trạng sức khỏe ASA I, II. Sản phụ bắt được thăm nào thì xếp vào nhóm đó và thực
được chỉ định mổ lấy thai chủ động. Có chỉ định hiện đúng theo phương pháp đó. Mỗi nhóm
với GTTS. Không sử dụng thuốc chống nôn hoặc được tiến hành nghiên cứu và thu thập số liệu
các thuốc có thể gây tăng tỷ lệ nôn, buồn nôn như nhau.
trước mổ. Đồng ý tham gia nghiên cứu
Tiêu chí đánh giá: Ngoài các tiêu chí chung
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sản phụ có khó khăn về tuổi, giới, cân nặng, loại hình phẫu thuật.
trong giao tiếp, mắc bệnh động kinh hay tâm Chúng tôi đánh giá các tác dụng lên tuần hoàn
thần, tiền sử hay hiện tại nghiện ma túy. Có và hô hấp. Tiêu chí đánh giá rối loạn tuần hoàn:
chống chỉ định gây tê tủy sống hoặc không thực nhịp chậm <50 nhịp/phút, huyết áp tụt > 20%
hiện được kỹ thuật gây tê. Có triệu chứng nôn so với huyết áp nền. Tiêu chí đánh giá rối loạn
và buồn nôn trước mổ. Các trường hợp có tai hô hấp: thở chậm < 10 nhịp/phút và hoặc SpO2
biến, biến chứng của mổ như chảy máu nhiều, < 90%.
tụt huyết áp nặng, suy hô hấp…Sản phụ dị ứng
với các thành phần của thuốc bupivacain,
morphin sulphat, ondansetron và dexamethasone.
Sản phụ không đồng ý tham gia nghiên cứu.
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu. Đề
tài thực hiện tại khoa Gây mê hồi sức Bệnh viện
Phụ Sản Hải Phòng. Tiến hành từ tháng 10/2018
đến tháng 2/2019.
2.3 Phương pháp nghiên cứu. Thử
nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên tiến cứu có so
sánh. Chọn ngẫu nhiên theo phương pháp bốc
thăm, chia làm hai nhóm bằng nhau với nhóm
đối chứng (nhóm1: sử dụng thuốc chống nôn
bằng dexamethasone 8mg) và nhóm nghiên cứu
(nhóm 2: có sử dụng phối hợp thuốc chống nôn
dexamethasone 8mg và ondansetron 4mg). Mỗi
Các thời điểm đánh giá:
Ký
hiệu
Ký
hiệu
Thời điểm
Thời điểm
Trước khi gây
tê
Ngay sau khi
gây tê
Sau khi gây tê
5 phút
Sau khi gây tê
10 phút
Sau khi gây tê
30 phút
Kết thúc cuộc
mổ
H0
H30
HKT
Hs2
Hs6
H1
H5
Sau mổ 2 giờ
H10
Sau mổ 6 giờ
Sau khi gây tê
H15
Hs24 Sau mổ 24 giờ
15 phút
2.4 Xử lý số liệu: Số liệu thu thập được mã
hóa, nhập vào máy tính và xử lý theo chương
trình SPSS 12.0 và phần mềm Microsoft Excel 2007.
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung của 2 nhóm nghiên cứu
SD
4,5
3,8
5,0
4,4
6,5
7,6
2,5
3,2
p
> 0,05
> 0,05
> 0,05
> 0,05
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa giữa 2 nhóm về các đặc điểm nhân trắc học
3.2 Mức độ vô cảm
Bảng 3.2. Thời gian vô cảm
Chỉ số
Nhóm NC
Tần số
Trung bình
SD
p
Thời gian
Thời gian onset
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
32
58
32
58
32
58
4,66
4,33
36,44
37,40
89,52
88,65
0,75
1,14
9,23
7,84
17,21
18,72
>0,05
>0,05
>0,05
(phút)
Thời gian mổ
(phút)
Thời gian vô cảm
(phút)
Nhận xét: Không có sự khác biệt giữa 2 nhóm về mức độ vô cảm với p > 0,05
70
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021
3.3 Đánh giá tác dụng phụ trên tuần hoàn, hô hấp
Bảng 3.3. Tần số tim ở các thời điểm
Chỉ số
Nhóm NC
Tần số
Trung bình
SD
p
Tần số tim
Nhóm 1
32
58
32
58
32
58
32
58
32
58
32
58
32
58
32
58
32
58
91,9
89,6
91,4
88,8
91,2
87,8
88,3
87,2
87,5
86,1
86,1
85,5
83,0
81,8
82,7
81,0
80,3
80,3
>0,05
11,4
8,3
11,7
8,6
11,5
8,3
9,2
7,6
9,3
7,1
8,9
6,9
6,7
6,3
5,7
5,8
5,7
5,9
Thời điểm H1
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
>0,05
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Nhóm 1
Nhóm 2
Thời điểm H5
Thời điểm H10
Thời điểm H15
Thời điểm H30
Thời điểm kt
Thời điểm S2
Thời điểm S6
Thời điểm S24
p*
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm ở các thời điểm
Biểu đồ 3.1. Diễn biến chỉ số HATB ở các thời điểm
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự giao động huyết áp trung bình của 2
nhóm tại các thời điểm
Biểu đồ 3.2. Diễn biến tần số thở (A) và SpO2 (B) ở các thời điểm
Nhận xét: Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự biến đổi tần số thở và SpO2 của 2
nhóm nghiên cứu.
71
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021
Bảng 3.4. Tỷ lệ sản phụ bị giảm chỉ số HATB
Tổng (n = 90)
Nhóm 1 (n = 32)
Tần số
Nhóm 2 (n = 58)
Mức độ
Tần số
Tỷ lệ %
53,3
38,9
6,7
Tỷ lệ %
56,3
Tần số
Tỷ lệ %
50,0
Dưới 10%
10% - 20%
20% - 30%
Trên 30%
48
35
6
18
12
1
29
23
5
37,5
39,7
3,1*
8,6*
1
1,1
1
1,7
Ghi chú: * là giá trị xác định mức ý nghĩa thông kê theo chiquare-test
Nhận xét: Có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức độ tụt huyết áp từ 20 – 30% ở 2 nhóm. Ở
các mức độ tụt huyết áp khác không thấy có sự khác biệt ở 2 nhóm.
khác nhau ở cả 2 nhóm nghiên cứu ngay từ
trước khi gây tê, tuy nhiên đó chỉ là sự dao động
ngẫu nhiên và vẫn trong giới hạn bình thường.
Vì thế, tần số thở trung bình của các sản phụ tại
IV. BÀN LUẬN
4.1 Tần số tim sau khi tiêm thuốc tê vào
tủy sống. Tần số tim trước khi gây tê và sau khi
gây tê đều tăng nhẹ và dần trở về bình thường
từng thời điểm sau gây tê cũng khác nhau giữa
tại các thời điểm H6 và H24. So với thời điểm H0
các nhóm nhưng không khác biệt có ý nghĩa
, tần số tim tăng cao từ thời điểm H1, sau đó có
thống kê. Đặc biệt, tần số thở tại các thời điểm
xu hướng giảm dần từ thời điểm H5, thời điểm
sau khi gây tê đều giảm so với trước khi gây tê.
H10, thời điểm H15 và có xu hướng trở về bình
Trong cùng một nhóm, giá trị SpO2 trung bình
thường từ các thời điểm H30 và HKT. Tuy vậy,
sau khi gây tê có xu hướng giảm tại các thời
sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê với p >
điểm H5 cho đến H10 nhưng đều ở ngưỡng trên
0,05. Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho kết
98%, sau đó SpO2 lại tiếp tục tăng trở lại và
quả tương đồng với một số nghiên cứu khác, cụ
ngang bằng với thời điểm trước gây tê. Không có
thể là nghiên cứu của Nguyễn Đức Lam trong
sự khác biệt giữa 2 nhóm nghiên cứu. Một số
GTTS và GTTS phối hợp GTNMC để mổ lấy thai
nghiên cứu khác cũng cho kết quả tương tự như
cho sản phụ tiền sản giật cũng chỉ ra tần số tim
trong nghiên cứu hiệu quả giảm đau trong
của các bệnh nhân có xu hướng giảm sau khi
chuyển dạ của phương pháp GTNMC do và
gây tê, và bắt đầu giảm mạnh ở thời điểm H5, tỷ
không do bệnh nhân tự điều khiển của Đỗ Văn
lệ sản phụ có nhịp tim giảm trên 20% ở nhóm
Lợi hay kết quả của Trần Văn Quang tần số thở
GTTS là 20% và 16,67% ở nhóm GTTS kết hợp
giảm sau gây tê nhưng đều trong giới hạn bình
GTNMC trong mổ lấy thai [5]; tác giả Đỗ Văn Lợi
cũng chỉ ra, trong GTTS để mổ đẻ thì nhịp tim
sản phụ giảm nhiều do phải dùng liều thuốc tê
thường [6], [8].
4.4 Tụt huyết áp. Tỷ lệ sản phụ có HATB
giảm từ 20-30% trong nghiên cứu của chúng tôi
cho thấy, ở nhóm 1 là 3,1% và ở nhóm 2 là
8,6%. Khác biệt có ý nghĩa thống kê với p <
cao hơn [6].
4.2 Thay đổi huyết áp. Kết quả nghiên cứu
của chúng tôi cho thấy sự thay đổi huyết áp
0,05. Nhưng số lượng bệnh nhân tụt huyết áp ở
trung bình ở cả hai nhóm nghiên cứu khác nhau
mức này khá thấp. Theo nghiên cứu của Nguyễn
không có ý nghĩa thống kê. Tại các thời điểm
Đức Lam thì tỷ lệ tụt huyết áp trên 30% so với
sau khi gây tê thường thì huyết áp sẽ giảm nhẹ
mức huyết áp nền ở nhóm GTTS là khá cao với
(giảm < 20%) so với trước khi gây tê, do sản
21,67% khi tiến hành GTTS với GTNMC ở những
phụ hết đau bởi tác dụng của thuốc tê và sản
đối tượng thai phụ tiền sản giật [5]. Theo Công
phụ bình tĩnh hơn so với trước khi GTTS kết hợp
Quyết Thắng nghiên cứu gây tê trên 57 bệnh
với tác dụng ức chế giao cảm làm giảm lượng
nhân bằng pethidine có 13 bệnh nhân bị giảm
catecholamin gây tụt huyết áp của thuốc tê.
HAĐM giảm dưới 10% chiếm tỷ lệ 22,8% [9].
Nhưng sau đó nhờ có truyền dịch bù khối lượng
tuần hoàn và dùng thuốc co mạch khi sản phụ
V. KẾT LUẬN
bị tụt huyết áp mà chỉ số huyết áp của các sản
- Các kỹ thuật trên không ảnh hưởng tới
phụ lại tăng dần tới mức ổn định rồi duy trì ổn
huyết động và hô hấp của sản phụ mà ngược lại,
định cho tới cuối cuộc mổ. Kết quả này tương tự
có tác dụng ổn định huyết động và hô hấp cho
với kết quả của Nguyễn Hoàng Ngọc (phối hợp
sản phụ.
bupivacain với fentanyl) [7].
- Tỷ lệ tụt huyết áp HATB từ 20-30% trong
nhóm 1 là 3,1% và ở nhóm 2 là 8,6%. Khác biệt
có ý nghĩa thống kê giữa 2 nhóm nhưng tỉ lệ này
thấp hơn so với một số nghiên cứu khác.
4.3 Thay đổi về tần số thở và độ bão hòa
oxy (SpO2). Kết quả nghiên cứu của chúng tôi
thể hiện tần số thở của các sản phụ là có sự
72
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021
học, Đại học Y Hà Nội.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
6. Đỗ Văn Lợi (2017), Nghiên cứu hiệu quả giảm
đau trong chuyển dạ của phƣơng pháp gây tê
ngoài màng cứng do và không do bệnh nhân tự
điều khiển. Luận án tiến sĩ y học, Đại học y Hà Nội.
7. Nguyễn Hoàng Ngọc (2010), Đánh giá hiệu
quả của sự phối hợp bupivacain liều thấp với
morphin không có chất bảo quản trong gây tê tủy
sống để mổ lấy thai và giảm đau sau mổ, Luận
văn Chuyên khoa cấp II, chuyên ngành GMHS,
Trường Đại học Y Hà Nội 2010.
1. Công Quyết Thắng (2017), ERAS: Enhanced
Recovery After Surgery- Tăng cường hồi phục sau
phẫu thuật và vai trò của người làm Gây mê Hồi
sức. Hội Gây mê Hồi sức Việt Nam (VSA).
2. Bộ Y Tế (2002), “Dexamethasone”. Dược Thư
Quốc Gia Việt Nam, 356-357.
3. Nguyễn Đình Long (2011), So sánh tác dụng
dự phòng và điều trị nôn và buồn nôn của
ondansetron với dexamethasone sau mổ nội soi
phụ khoa. Luận văn Thạc sĩ. Đại học y Hà Nội.
4. Đỗ Thanh Hòa (2012), Nghiên cứu tác dụng dự
phòng buồn nôn và nôn của dexamethasone đơn
thuần hoặc kết hợp với ondansetron sau gây tê tủy
sống trong phẫu thuật chi dưới. Y học thực hành, 841.
5. Nguyễn Đức Lam (2013), Đánh giá hiệu quả
của phương pháp gây tê tủy sống và gây tê tủy
sống – ngoài màng cứng phối hợp để mổ lấy thai
ở bệnh nhân tiền sản giật nặng. Luận án tiến sĩ y
8. Trần Văn Quang, Bùi Ích Kim (2011), Đánh
giá hiệu quả giảm đau trong chuyển dạ đẻ bằng
gây tê ngoài màng cứng levobupivacain phối hợp
với fentanyl ở các nồng độ và liều lượng khác
nhau. Luận văn thạc sĩ y học, Đại học Y Hà Nội.
9. Watcha, M.F., P.F. White (1992), Postoperative
nausea and vomiting. Its etiology, treatment, and
prevention. Anesthesiology, 77(1): 162-84.
BỆNH CƠ KHÁNG SRP
NHỮNG TRƯỜNG HỢP ĐẦU TIÊN TẠI VIỆT NAM
Phan Hoàng Phương Khanh*, Phan Đặng Anh Thư**, Nguyễn Hữu Công*
with anti-signal recognition particle (SRP) antibody.
This disease has never been mentioned in the medical
TÓM TẮT18
Bệnh cơ kháng SRP là thể bệnh cơ hoại tử qua
reports in Vietnam. In this paper, the clinical,
laboratory and therapeutic characteristics of three
cases with anti-SRP myopathy are described. All the
cases had typical clinical features and serum positive
for anti-SRP antibody. Two cases had appropriate
histopathological changes and the other had atypical
changes. One patient responded well to Rituximab,
trung gian miễn dịch liên kết với kháng thể kháng SRP
(anti-signal recognition particle). Đây là một bệnh
chưa từng được nhắc tới trong các báo cáo y khoa ở
nước ta. Chúng tôi mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận
lâm sàng và đáp ứng điều trị của 3 trường hợp bệnh
cơ kháng SRP. Cả 3 trường hợp đều có lâm sàng điển
hình và xét nghiệm kháng thể kháng SRP dương tính,
trong đó 2 trường hợp có biến đổi mô bệnh học phù
hợp và 1 trường hợp không điển hình. Một trong số ba
bệnh nhân có đáp ứng tốt với điều trị Rituximab, 1
bệnh nhân đáp ứng hạn chế với điều trị 2 thuốc ức
chế miễn dịch phối hợp, 1 bệnh nhân không đáp ứng
với Rituximab và dung nạp kém với thuốc ức chế miễn
dịch. Chúng tôi lưu ý tới vai trò quan trọng của xét
nghiệm kháng thể trong chẩn đoán, và những khó
khăn trong điều trị bệnh cơ kháng SRP, một thể bệnh
cơ còn rất mới ở Việt Nam.
one had
immunosuppressants, and the third did not respond to
rituximab and had poor tolerance to
a limited response to two combined
immunosuppressants. The important role of antibody
testing for diagnosis and the problems with treatment
for this very newly known anti-SRP myopathy in
Vietnam should be emphasized.
Keywords: anti-SRP myopathy, anti-signal
recognition particle (SRP) antibody, immune mediated
necrotizing myopathy.
Từ khoá: bệnh cơ kháng SRP, kháng thể kháng
SRP, bệnh cơ hoại tử qua trung gian miễn dịch
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Nhóm bệnh viêm cơ tự miễn gồm nhiều thể
bệnh, trong đó có bệnh cơ hoại tử qua trung
gian miễn dịch (immune mediated necrotizing
myopathy - IMNM). Thể bệnh này mới được
nhắc đến trong khoảng hơn một thập kỷ nay,
nhưng là một trong các thể bệnh viêm cơ tự
miễn hay gặp. Trên thế giới trước đây và tại Việt
Nam hiện nay, IMNM dễ bị chẩn đoán nhầm với
các thể viêm cơ tự miễn khác. Có hai kháng thể
phổ biến nhất liên quan tới IMNM là kháng SRP
(anti-signal recognition particle) và kháng
SUMMARY
ANTI-SRP MYOPATHY - THE FIRST CASES
IN VIETNAM
Anti-SRP myopathy is the subtype of immune
mediated necrotizing myopathy which is associated
*Bệnh viện chuyên khoa Ngoại Thần kinh Quốc tế
**Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
Chịu trách nhiệm chính: Phan Hoàng Phương Khanh
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 22.12.2020
Ngày phản biện khoa học: 29.01.2021
Ngày duyệt bài: 4.2.2021
HMGCR
(anti-3-hydroxyl-3
methylglutaryl-
coenzyme A reductase )(2,5). Trong thời gian vừa
73
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá tác dụng phụ khi điều trị dự phòng nôn, buồn nôn bằng Dexamethason 8mg và Ondasetron 4mg trong gây tê tủy sống bằng Bupivacain và Morphin trong mổ lấy thai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_tac_dung_phu_khi_dieu_tri_du_phong_non_buon_non_ban.pdf

