Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người cao tuổi

TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
tác dụng chống viêm dị ứng, và làm bền tế bào  
sciences, 15 (4), pp. 1295-1301.  
mast của cao đặc EZ trên thực nghiệm”, Tạp chí Y  
học Việt Nam, 445, tr 200-203.  
6. Peng W., Ming Q., Han P., (2014), “Anti-allergic  
rhinitis effect of caffeoxyl xanthiazonosid isolated  
from fruits of Xanthiumstrumarium L. in rodent  
animals”, Phytomedicine journal, 21 (6), pp. 824-829.  
7. Shiraishi M., Miyamoto A. (2016) “Antagonistic  
Effects of Gingko biloba and Sophora japonica on  
Cerebral Vasoconstriction in Response to  
Histamine, 5-Hydroxytryptamine, U46619 and  
Bradykinin”, The American journal of Chinese, 44  
(8), pp. 1607-1625.  
4. Nguyễn Mạnh Tuyển, Hà Vân Oanh, Phạm  
Thái Hà Văn, “Đánh giá độc tính cấp và bán  
trường diễn của viên nang hỗ trợ điều trị eczema”,  
Tạp chí Y học Việt Nam, 481 (1), tr. 51-56.  
5. Lu H. (2015), “Study on the isolation of active  
constituents  
in Lonicera japonica and  
the  
mechanism of their anti-upper respiratory tract  
infection action in children”, African health  
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT KẾT HỢP XƯƠNG NẸP KHÓA  
ĐIỀU TRỊ GÃY LIÊN MẤU CHUYỂN XƯƠNG ĐÙI Ở NGƯỜI CAO TUỔI  
Trần Hữu Hiếu1, Phan Trung Quyết2  
underwent ostomy with locking brace with the support  
TÓM TẮT55  
of C-arm at Nam Dinh Provincial General Hospital  
during the period from January 2019 to June 2020.  
Results: 62 treated patients all healed the first  
incision, the bones returned to the correct anatomical  
position. Long-term follow-up on 51/62 patients with  
very good and good results 39/51 patients (76.5%),  
average 9/51 patients (17.6%), poor 3/51 patients  
(5.9%). Conclusion: The surgical method combined  
with the locking brace is a surgical method with many  
advantages, with a solid bone structure that helps  
patients recover early motor function after fracture of  
the transverse transverse femur.  
Mục tiêu: Mô tả lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và  
đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương gãy liên  
mấu chuyển xương đùi bằng nẹp khóa tại bệnh viện  
đa khoa tỉnh Nam Định. Đối tượng và phương  
pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu và tiến  
cứu bệnh nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi được  
phẫu thuật kết hợp xương bằng nẹp khóa có sự hỗ trợ  
của C-arm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định trong  
thời gian từ tháng 01 năm 2019 đến tháng 06 năm  
2020. Kết quả: 62 bệnh nhân được điều trị đều liền  
vết mổ kỳ đầu, xương về đúng vị trí giải phẫu. Kết  
quả xa theo dõi trên 51/62 bệnh nhân với kết quả rất  
tốt và tốt 39/51 bệnh nhân (76,5%), trung bình 9/51  
bệnh nhân (17,6%), kém 3/51 bệnh nhân (5,9%).  
Kết luận: Phương pháp mổ kết hợp xương nẹp khóa  
là một phương pháp phẫu thuật có nhiều ưu điểm, kết  
xương vững chắc giúp bệnh nhân phục hồi chức năng  
vận động sớm sau gãy liên mấu chuyển xương đùi.  
Từ khóa: kết hợp xương, liên mấu chuyển, phẫu  
thuật.  
Keywords: bone fusion, transverse trochanter,  
surgery.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Vùng liên mấu chuyển xương đùi là vùng giữa  
hai mấu chuyển lớn và nhỏ, hoàn toàn là xương  
xốp, tất cả các đường gãy xương nằm trong  
vùng liên mấu chuyển xuống 2,5 cm dưới mấu  
chuyển nhỏ và 5cm dưới mấu chuyển lớn được  
gọi là gãy liên mấu chuyển xương đùi. Đây là  
loại gãy xương khá phổ biến, chiếm 55% các loại  
gãy đầu trên xương đùi; hay xảy ra ở người cao  
tuổi, phụ nữ nhiều gấp 2-3 lần nam giới. Nguyên  
nhân là do loãng xương, có thể gây gãy xương  
chỉ do một chấn thương nhẹ như trượt chân ngã,  
tai nạn giao thông, tai nạn sinh hoạt. Trước đây,  
với gãy LMC xương đùi ở người cao tuổi chủ yếu  
được điều trị bảo tồn (như kéo nắn bó bột,  
xuyên đinh kéo liên tục...) gây nhiều biến chứng  
do bệnh nhân phải nằm lâu như: loét tì đè, viêm  
phổi, viêm đường tiết niệu ảnh hưởng đến sức  
khỏe và tính mạng, nhất là các bệnh nhân tuổi  
cao, sức khỏe yếu.  
SUMMARY  
EVALUATING THE SURGERY RESULTS  
LOCKED PLATE BONE TO TREAT FRACTURE  
OF THE FEMUR'S TRANSVERSE  
TROCHANTER FOR THE ELDERLY  
Objectives: Clinical description, diagnostic  
imaging and evaluation of the results of combined  
surgery of the transverse trochanteric fracture of the  
femur with a locking brace at the Nam Dinh province  
general  
hospital.  
Subjects  
and  
methods:  
Retrospective and prospective cross-sectional study of  
patients with transtrophal fibula fracture who  
1Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định  
2Bệnh viện Đa Khoa tỉnh Nam Định  
Chịu trách nhiệm chính: Trần Hữu Hiếu  
Ngày nhận bài: 16.3.2021  
Ngày phản biện khoa học: 11.5.2021  
Ngày duyệt bài: 19.5.2021  
Ngày nay, quan điểm điều trị gãy liên mấu  
chuyển xương đùi bằng phẫu thuật đã được  
thống nhất chấp nhận, nhằm phục hồi giải phẫu,  
tạo điều kiện cho liền xương sớm, bệnh nhân  
235  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
sớm ngồi dậy và phục hồi chức năng đi lại được, trong nghiên cứu.  
tránh các biến chứng do nằm lâu. Tuy nhiên vẫn  
còn nhiều ý kiến chưa thống nhất trong việc lựa  
chọn kỹ thuật phẫu thuật như kết hợp xương  
2.2.2. Nghiên cứu tiến cứu  
- Khám bệnh, chụp Xquang  
- Phân loại theo nhóm tuổi, giới, nguyên nhân  
hay thay khớp; loại phương tiện nào là thích hợp chấn thương, mức độ tổn thương (sử dụng phân  
dùng trong kết hợp xương.  
loại của AO/ASIF), bệnh lý khác kèm theo cần  
Tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định, gãy điều trị, loại nẹp vis sẽ sử dụng, ngày phẫu thuật.  
liên mấu chuyển xương đùi có nhiều lựa chọn kỹ  
thuật phẫu thuật như thay khớp hoặc kết hợp  
- Tham gia phẫu thuật.  
- Điều trị, theo dõi và hướng dẫn BN tập  
xương (đóng đinh nội tủy, nẹp DHS, nẹp uốn, luyện sau phẫu thuật để đánh giá kết quả gần,  
nẹp khóa) đối với các trường hợp gãy liên mấu biến chứng gần và kết quả xa.  
chuyển thuộc phân loại A2 hoặc A3, theo phân  
- Thu thập số liệu thực tế BN nằm trong đối  
loại của AO/ASIF. Mỗi kỹ thuật phẫu thuật đều tượng nghiên cứu.  
có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Nhưng  
- Chụp Xquang kiểm tra ngay sau mổ để lấy  
kết hợp xương bằng nẹp khóa có ưu điểm là các tài liệu đánh giá kết quả.  
vít được bắt cố định vào nẹp ở một góc cố định  
2.3. Đánh giá kết quả. Kết quả nghiên cứu  
mang lại sự vững chắc cho cấu trúc giải phẫu mà được đánh giá theo các tiêu chuẩn sau:  
không phụ thuộc vào lực ma sát giữa vít - nẹp -  
xương tạo nên sự vững chắc cho khối mấu  
chuyển. Chúng tôi tiến hành nghiên cứu này  
nhằm mô tả lâm sàng, chẩn đoán hình ảnh và  
*Đánh giá kết quả gần:  
- Lượng máu truyền, ngày nằm viện.  
- Tình trạng toàn thân, tại vết mổ.  
- Kết quả kết hợp xương (căn cứ trên phim  
đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương gãy Xquang):  
liên mấu chuyển xương đùi bằng nẹp khóa.  
+ Kết quả chỉnh trục xương, đặc biệt là góc  
cổ - thân xương đùi, xương di lệch thứ phát.  
Biến chứng:  
- Toàn thân: viêm phổi, viêm đường tiết niệu,  
suy kiệt, loét tỳ đè, tử vong trong tuần đầu, 3  
tháng đầu sau phẫu thuật…  
- Tại chỗ: chảy máu vết mổ, tụ dịch vết mổ,  
nhiễm khuẩn vết mổ, rò...  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
1. Đối tượng nghiên cứu. Gồm 62 bệnh  
nhân gãy liên mấu chuyển xương đùi được phẫu  
thuật kết hợp xương bằng nẹp khóa có sự hỗ trợ  
của C-arm tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định  
trong thời gian từ tháng 01 năm 2019 đến tháng  
06 năm 2020.  
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân từ 60  
tuổi trở lên, bị gãy kín liên mấu chuyển xương  
đùi, được phẫu thuật kết xương nẹp khóa có sự  
hỗ trợ của máy C-arm  
- Tuột, gãy, bật phương tiện kết hợp xương.  
- Không liền xương, khớp giả.  
*Đánh giá kết quả xa  
- Đánh giá kết quả liền xương.  
- Đánh giá mức độ phục hồi chức năng: theo  
phương pháp đánh giá của Merle d'Aubigné – Postel  
2.4. Phương pháp phân tích và xử lý số  
liệu. Các dữ liệu được thu thập theo mẫu bệnh  
án nghiên cứu, xử lý thống kê theo phần mềm  
SPSS 20.0  
- Tiêu chuẩn loại trừ:  
+ Gãy liên mấu chuyển xương đùi do bệnh lý.  
+ Bệnh nhân bị liệt không đi lại được trước  
khi gãy liên mấu chuyển xương đùi.  
+ Phẫu thuật không sử dụng nẹp khóa,  
không có sự hỗ trợ của C-arm  
+ Bệnh loãng xương độ 1,2.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
2.1. Thiết kế nghiên cứu. Nghiên cứu mô  
tả cắt ngang hồi cứu và tiến cứu.  
Dùng kiểm định t-test để so sánh 2 trị số trung  
bình; kiểm định χ2 so sánh 2 tỷ lệ phần trăm.  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Đặc điểm lâm sàng và chẩn đoán hình ảnh  
- Trong 62 BN, chúng tôi thấy nhóm tuổi từ  
80 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất (54,8%) và  
nhóm tuổi từ 70 - 79 chiếm vị trí thứ 2 (37,1%).  
Độ tuổi trung bình trong nghiên cứu là 80,3 ±  
7,95; tuổi thấp nhất là 62 tuổi, lớn nhất là 94 tuổi.  
- Nguyên nhân gãy LMC xương đùi gặp nhiều  
nhất do tai nạn sinh hoạt (85,5%), tiếp theo là  
tai nạn giao thông (12,9%) và tai nạn lao động  
(1,6%).  
2.2. Thu thập số liệu nghiên cứu  
2.2.1. Nghiên cứu hồi cứu  
- Thu thập hồ sơ bệnh án, những tài liệu lưu  
trữ của BN nằm trong đối tượng nghiên cứu.  
- Các bước tiến hành nghiên cứu: hồi cứu hồ  
sơ bệnh án của BN theo đối tượng nghiên cứu;  
thực hiện kiểm tra kết quả bằng mời khám lại,  
khám theo hẹn.  
- Khám lâm sàng những BN đã được lựa chọn  
236  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
Bảng 1. Phân loại gãy LMC dựa theo pháp gây tê tủy sống chiếm tỷ lệ 95,2%. Có 3  
trường hợp phải gây mê nội khí quản (2 BN bệnh  
phổi mãn tính và 1 BN gù vẹo cột sống).  
- Phương tiện kết hợp xương: dùng nẹp vít  
khóa. Loại nẹp hay dùng nhất có 6 lỗ vít (dùng  
cho 56/62 BN chiếm 90,3%).  
hình ảnh X quang (n=62)  
Loại gãy  
n
0
2
8
13  
7
10  
8
6
8
62  
%
0
6,5  
12,9  
21,0  
11,3  
16,1  
12.9  
9,7  
A1.1  
A1  
A2  
A3  
A1.2  
A1.3  
A2.1  
A2.2  
A2.3  
A3.1  
A3.2  
A3.3  
2.1 Kết quả gần  
- Tại chỗ vết mổ: 100% BN đều có tình trạng  
vết mổ khô, liền da kỳ đầu, không có BN nào bị  
nhiễm trùng vết mổ hoặc còn dịch.  
- Toàn thân: Có 3 BN bị viêm phổi, 1 BN viêm  
đường tiết niệu được hội chẩn điều trị ổn định,  
có 1 BN huyết khối tĩnh mạch sâu , không có BN  
nào loét do tỳ đè hoặc chảy máu sau mổ.  
- Trục xương: kiểm tra hình ảnh X quang sau  
mổ thấy các nẹp, vis ở vị trí đạt yêu cầu; xương  
được cố định tốt, đúng vị trí giải phẫu  
- Thời gian nằm viện trung bình của bệnh  
nhân là 7,8 ± 2,3 (4-18) ngày.  
12,9  
100.0  
Tổng  
Loại gãy xương chủ yếu là loại A2, A3 (52/62  
BN chiếm 83,9 %), điều này cũng phù hợp với  
tiêu chuẩn lựa chọn BN, vì BN trong nghiên cứu  
của chúng tôi là người cao tuổi, loãng xương với  
các mức độ khác nhau nên khi gãy xương  
thường là gãy không vững, có nhiều mảnh rời.  
Bảng 2. Phân loại mức độ loãng xương  
theo Singh(n=62)  
2.2. Kết quả xa  
- Có 54/62 BN đủ thời gian theo dõi xa sau  
mổ 6 tháng, kết quả kiểm tra cho thấy 3/54  
trường hợp đã tử vong. Tổng số BN đủ điều kiện  
đánh giá xa là 51 BN. Thời gian theo dõi xa  
trung bình là 9,3±2,7 tháng(ngắn nhất 6 tháng,  
dài nhất 20 tháng)  
Độ loãng xương  
n
0
0
%
0
0
22,6  
40,3  
30,6  
6,5  
100  
1
2
3
4
5
14  
25  
19  
4
- Có 12/51 BN (23,6%) đi lại bình thường,  
không đau; 23/51BN (45,1 %) sinh hoạt bình  
thường, thi thoảng đau khi gắng sức; 2/51 BN  
(3.9 %) không đi lại được. Số còn lại đi lại cần  
có sự hỗ trợ ở các mức độ khác nhau.  
Bảng 4. Đánh giá biên độ vận động khớp  
háng(n = 51)  
6
Tổng  
62  
Trong tổng số 62 BN nghiên cứu, có 14 BN  
(22,6%) bị loãng xương độ 3 và 4 BN (6.5%)  
được xếp loại loãng xương độ 6 theo phân loại  
của Signh; BN bị loãng xương rất nặng (độ 1, 2)  
không nằm trong đối tượng nghiên cứu  
Bảng 3. Bệnh lý mạn tính kèm theo  
Các bệnh lý kèm theo  
Tiểu đường  
Biên độ vận động khớp  
Số  
BN  
Tỷ lệ  
(%)  
háng  
Bình thường và gần bình  
thường, gấp háng > 900  
Hạn chế gấp còn 800- 900  
Hạn chế gấp còn 600 - 800  
Hạn chế gấp còn 400- 600  
Gấp háng dưới 400  
Tổng  
n
16  
19  
14  
8
%
17  
33,3  
25,8  
30,6  
22,6  
12,9  
20  
6
5
3
51  
39,2  
11,8  
9,8  
5,9  
100  
Tim mạch  
Hô hấp  
Bệnh khác  
- Các BN nghiên cứu đều là người cao tuổi,  
có không ít BN có một hoặc nhiều bệnh nội khoa  
mạn tính kèm theo như bệnh tim mạch, bệnh  
tiểu đường, bệnh hô hấp, gút...  
2. Kết quả điều trị  
- Phương pháp vô cảm: Trong 62 BN nghiên  
cứu thì 59/62 BN được vô cảm bằng phương  
- Tình trạng ngắn chi: Sau phẫu thuật, có  
39/51 BN (76.5%) phục hồi chiều dài chi về bình  
thường, không ngắn hoặc ngắn chi dưới 1cm. Có  
10/51 BN (19,6%) ngắn chi từ 1-2 cm. Có 2  
trường hợp ngắn chi >3cm.  
Bảng 5. Kết quả xa theo loại gãy LMC (n = 51)  
Phân loại gãy  
Loại A2  
Kết quả  
Loại A1  
Loại A3  
Tổng  
n
6
2
0
%
n
9
%
n
3
4
5
%
Rất tốt  
Tốt  
Trung bình  
33,3  
9,5  
0
50,0  
71,4  
44.4  
16.7  
19.1  
55,6  
18  
21  
9
15  
4
237  
vietnam medical journal n01 - june - 2021  
Kém  
Tổng  
p
0
8
0
1
24  
33,3  
2
19  
66,7  
3
51  
0.205  
So sánh giữa các nhóm thấy tỷ lệ tốt và rất gian nằm viện trung bình là 7,8±2,3 ngày. Có 32  
tốt ở nhóm A1 đạt cao hơn cả (100%), tiếp đến BN nằm viện dưới 7 ngày (51,6%), có 27/62 BN  
ở nhóm A2 (95.7%) và nhóm A3 (66.7%). Song nằm viện từ 7-15 ngày. Có 3 BN nằm viện trên  
vì số liệu từng nhóm ít nên khi so sánh thống kê 15 ngày. Những trường hợp phải nằm lâu là do  
χ2 thì chưa có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các bệnh lý nội khoa kèm theo và thương tổn phối  
nhóm (p>0,05).  
hợp nặng nề cần phải được điều trị ổn định.  
Khả năng đi lại sau mổ: kiểm tra kết quả xa  
2.3. Kết quả chung. Dựa vào kết quả khám  
lâm sàng, X quang và thang điểm của Merle - từ sau điều trị 6 tháng đến 20 tháng được 51  
d'Aubigné - Postel, chúng tôi có bảng phân loại BN. Trên lâm sàng thấy 18/51 BN (35,3%) đi lại  
đánh giá kết quả xa như sau:  
bình thường, 15/51 BN (29,4%) đi lại tập tễnh,  
đau khi gắng sức; 11/51 BN (21,6%) đi lại phải  
dùng nạng, thường phải dùng thuốc giảm đau;  
có 7 BN đi lại khó khăn hoặc không đi lại được.  
Khả năng đi lại kém do tuổi cao cơ lực kém, bất  
động lâu ngày tập luyện không thường xuyên do  
không có ai chăm sóc, tình trạng loãng xương  
tiến triển nặng, các bệnh mãn tính diễn biến…  
Đánh giá biên độ vận động khớp háng: Có  
17/51 BN (33.3%) có biên độ vận động khớp  
háng bình thường, gấp háng lớn hơn 90 độ. Có  
26/51 BN biên độ vận động khớp háng hạn chế  
nhẹ và vừa. Hạn chế vận động gấp háng nặng  
được ghi nhận có 8 BN (15,7%). Biên độ vận  
động khớp háng cũng như khả năng đi lại phụ  
thuộc vào nhều yếu tố như đã nêu trên.  
Ngắn chân sau phẫu thuật:Trong nghiên cứu  
của chúng tôi có 39/51 BN (76.5%) phục hồi  
chiều dài chi về bình thường, không ngắn hoặc  
ngắn chi dưới 1cm. Có 10/51 BN (19,6%) ngắn  
chi từ 1-2cm. Có 2 trường hợp ngắn chi >3cm, là  
2 BN loãng xương độ 3, gãy loại A2-3 và A3-2 đi  
lại sớm sau mổ.  
Kết quả xa theo dõi trên 51/62 bệnh nhân  
với kết quả rất tốt và tốt 39/51 bệnh nhân  
(76,5%), trung bình 9/51 bệnh nhân (17,6%),  
kém 3/51 bệnh nhân (5,9%). So sánh với một số  
công trình nghiên cứu về điều trị gãy LMC xương  
đùi của các tác giả:  
Mai Châu Thu (2004)[2] điều trị 54 BN gãy LMC  
xương đùi bằng KHX nẹp góc AO 1300 có sử dụng  
màn tăng sáng và bàn mổ chỉnh hình, kết quả rất  
tốt và tốt 82,4%; trung bình 14,7%; kém 2,9%  
Trần Quang Toản(2008)[3], điều trị 45 BN gãy  
LMC xương đùi bằng phương pháp kết xương nẹp  
DHS không sử dụng màn tăng sáng và bàn mổ  
chỉnh hình, kết quả chung rất tốt và tốt 88,5%;  
trung bình 11,5%; không có kết quả kém.  
Bảng 6. Kết quả chung (n = 51)  
Phân loại kết quả  
Số BN  
Tỷ lệ (%)  
35,3  
Rất tốt  
Tốt  
18  
21  
9
3
51  
41,2  
Trung bình  
Kém  
17,6  
5.9  
100  
Tổng  
IV. BÀN LUẬN  
Tỉ lệ BN nữ gãy LMC xương đùi cao hơn BN  
nam do đặc điểm mức độ loãng xương ở BN nữ  
cao tuổi nặng nề hơn BN nam, bên cạnh đó tuổi  
thọ trung bình của nữ giới cũng cao hơn nam  
giới. Trong nghiên cứu này, tuổi trung bình tại  
thời điểm phẫu thuật là 80,3 ± 7.95 (độ tuổi  
thấp nhất là 62 tuổi - cao nhất là 94 tuổi), BN  
nam có 23 BN chiếm 37,1% trong khi có 39 BN  
nữ (62,9%). Kết quả này cũng phù hợp với đa số  
nghiên cứu [1], [4], [5], [6].  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, nguyên  
nhân gãy LMC do TNSH là thường gặp nhất  
(85,8%). Cơ chế chấn thương thường gặp nhất  
là ngã đập vùng mông xuống nền cứng (nền  
nhà, bậc thềm, sân giếng, nền nhà vệ sinh...).  
Điều này phản ánh đúng thực tế vì người cao  
tuổi (≥60) đều có loãng xương tuổi già, chỉ cần  
một lực chấn thương nhẹ cũng đã có thể gây  
gãy xương. Mấu chuyển xương đùi là một vùng  
xương xốp, là nơi thay đổi về hình thể nên khi có  
loãng xương thì đây là một điểm yếu dễ xảy ra  
gãy xương.  
Sau mổ, kết quả gần cho thấy, khi ra viện tất  
cả 62 BN đều có tình trạng vết mổ khô, không  
có BN nào bị nhiễm trùng vết mổ hoặc còn dịch.  
Không có BN nào tử vong trong thời gian nằm  
viện; có 3 BN bị viêm phổi, 1 BN viêm đường tiết  
niệu đã được hội chẩn, điều trị ổn định trước khi  
ra viện. Không có trường hợp nào bị loét do tỳ  
đè hoặc chảy máu sau mổ.  
So sánh với kết quả nghiên cứu với các tác  
giả trước, nhận thấy kết quả thu được trong điều  
trị gãy vùng LMC xương đùi bằng kết xương nẹp  
Trong nghiên cứu của chúng tôi, BN nằm viện  
ngắn nhất là 4 ngày, dài nhất là 18 ngày, thời  
238  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 503 - THÁ NG 6 - SỐ 1 - 2021  
khóa tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Nam Định là kết quả tốt.  
một kết quả tốt, rất đáng khích lệ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
So sánh giữa các nhóm thấy tỷ lệ tốt và rất  
1. Nguyễn Đắc Nghĩa (2006), Lựa chọn kỹ thuật  
tốt ở nhóm A1 đạt cao hơn cả (100%), tiếp đến  
ở nhóm A2 (95.7%) và nhóm A3 (66.7%). Song  
vì số liệu từng nhóm ít nên khi so sánh thống kê  
χ2 thì chưa có sự khác biệt có ý nghĩa giữa các  
nhóm (p>0,205).  
Kết quả xa còn phụ thuộc vào các yếu tố như  
vận động sau mổ, sự hợp tác tuân thủ chế độ  
tập tại nhà cũng như điều kiện sức khỏe và độ  
tuổi của bệnh nhân có ảnh hưởng lớn đến kết  
quả điều trị.  
điều trị gãy đầu trên xương đùi ở người cao tuổi -  
xem lại y văn, Tạp chí Y Dược học lâm sàng 108,  
Số đặc biệt, 114-118.  
2. Mai Châu Thu (2004), Đánh giá kết quả điều trị  
phẫu thuật gãy vùng mấu chuyển xương đùi người  
lớn bằng nẹp gập góc liền khối tại bệnh viện Xanh  
pôn 2002-2004. Luận văn Bác sỹ chuyên khoa II,  
Học viện Quân y.  
3. Trần Quang Toản (2008), Đánh giá kết quả điều  
trị phẫu thuật gãy vùng mấu chuyển xương đùi  
người lớn bằng kết xương nẹp DHS tại bệnh viện  
Xanh pôn. Luận văn Thạc sỹ Y học, Học viện Quân y.  
4. Lindskog D.M, Baumgaertner M.R (2004),  
Unstable Intertrochanteric hip Fractures in the  
Elderly, J. Am Acad Orthop Surg, 12, 179-190.  
5. Nikunj Maru, Kishor Sayani (2013), Unstable  
Intertrochanteric Fractures In High Risk Elderly  
V. KẾT LUẬN  
Phương pháp kết hợp xương gãy liên mấu  
chuyển xương đùi bằng nẹp khóa là phương  
pháp kết xương vững chắc cho phép vận động  
và phục hồi chức năng sớm tránh được các biến  
chứng do bệnh nhân nằm lâu.  
Patients  
Treated  
With  
Primary  
Bipolar  
Hemiarthroplasty: Retrospective Case Series,  
Gujarat Medical Journal, 68(2).  
6. Erik N. Kubiak E. F., Eric S. and Kenneth A.  
(2006), The Evolution of Locked Plates, J. Bone  
Joint Surg, 88, 189-200.  
Đặc biệt đối với các bệnh nhân cao tuổi, có  
bệnh lý nội khoa kèm theo cần điều trị tích cực  
các bệnh nội khoa cũng như hướng dẫn bệnh  
nhân, người nhà tập phục hổi chức năng để đạt  
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG CỦA 612 BỆNH NHÂN  
XUẤT TINH MÁU TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI  
Trần Phước Duy Bảo1, Lê Quốc Hưng2, Nguyễn Hoài Bắc2  
nmol/L). Từ khóa: Xuất tinh máu, yếu tố nguy cơ  
xuất tinh ra máu.  
TÓM TẮT56  
Để nhận biết các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng  
của tình trạng xuất tinh máu ở nam giới, chúng tôi tiến  
hành nghiên cứu trên 612 bệnh nhân nam bị xuất tinh  
máu. Kết quả cho thấy tuổi trung bình của các bệnh  
nhân trong nghiên cứu là 39,42 ± 11,67tuổi. Tỉ lệ bệnh  
nhân có tiền sử sử dụng rượu bia trong những lần xuất  
tinh có máu chiếm 22,45%, tỉ lệ bệnh nhân ghi nhận có  
thói quen kìm hãm hay gián đoạn quan hệ khi xuất tinh  
chiếm 16,25%. Tỉ lệ bệnh nhân làm PCR lao dương tính  
chiếm 1,27%. Tỉ lệ bệnh nhân có tPSA tăng chiếm  
1,92%. Tỉ lệ nuôi cấy dương tính chiếm 8,94%. Nồng  
độ testosterone ở những bệnh nhân này khá thấp so  
với lứa tuổi, trong đó có 26,01% bệnh nhân có giá trị  
testosterone giảm (<12,1nmol/L), 23,7% bệnh nhân có  
giá trị testosterone trong giới hạn thấp (12,1-15  
SUMMARY  
CLINICAL AND SUBCLINICAL  
CHARACTERISTICS OF 612 PATIENTS  
WITH HEMATOSPERMIA AT HANOI  
MEDICAL UNIVERSITY HOSPITAL  
To identify the clinical and subclinical features of  
hemospermia in men, we conducted a study on 612  
male patients with hemospermia. The results showed  
that the average age of the patients in the study was  
39.42 ± 11.67 years. Proportion of patients with a  
history of alcohol use in blood-occupied ejaculations  
22.45%, the proportion of patients reporting a habit  
of delaying or interrupting when ejaculation is  
occupied 16.25%. The proportion of patients with  
positive PCR test for tuberculosis accounted for  
1.27%. The proportion of patients with tPSA increased  
by 1.92%. The positive culture rate accounts for  
8.94%. The testosterone levels in these patients were  
quite low for age, of which 26.01% had decreased  
testosterone values (<12.1nmol/L), and 23.7% had  
low testosterone values 12.1- 15 nmol/L).  
1Bệnh viện Đa khoa khu vực Thủ Đức  
2Trường Đại học Y Hà Nội  
Chịu trách nhiệm chính: Trần Phước Duy Bảo  
Ngày nhận bài: 17.3.2021  
Keywords: Hematospermia, hematospermia risk  
factors.  
Ngày phản biện khoa học: 10.5.2021  
Ngày duyệt bài: 19.5.2021  
239  
pdf 5 trang yennguyen 17740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá kết quả phẫu thuật kết hợp xương nẹp khóa điều trị gãy liên mấu chuyển xương đùi ở người cao tuổi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_ket_qua_phau_thuat_ket_hop_xuong_nep_khoa_dieu_tri.pdf