Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh và yếu tố liên quan tại thành phố Cần Thơ năm 2020

vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021  
deformation?". J Am Soc Hypertens, 10 (9), pp.  
694-701.  
Complications  
and  
Cardiovascular  
Events  
Associated With Masked Hypertension and White-  
Coat Hypertension: Analysis From the Dallas Heart  
Study". Journal of the American College of  
Cardiology, 66 (20), pp. 2159-2169.  
7. Tientcheu D, Ayers C, Das SR, McGuire DK,  
de Lemos JA, Khera A, Kaplan N, Victor R,  
Vongpatanasin  
W
(2015) "Target Organ  
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH  
VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2020  
Nguyễn Minh Phương1, Lê Thị Kim Định2  
associated to quality of life among menopausal  
TÓM TẮT33  
women in Can Tho city. Subjects and research  
methods: A cross-sectional study was conducted on  
259 menopausal women (from 45-60 years) who have  
been permanent residence in Can Tho city from May  
to September 2020. The Women’s Health Questionaire  
(WHQ) was used to assess the quality of life among  
menopausal women. Results: The mean QOL score  
among menopausal women from 45-60 years was  
Đặt vấn đề: Mãn kinh là thời kỳ của sự rối loạn  
hoạt động nội tiết trong cơ thể gây ra nhiều biến đổi  
về thể chất và tâm thần, ảnh hưởng đến chất lượng  
cuộc sống của người phụ nữ. Mục tiêu: (1) Đánh giá  
chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh tại thành  
phố Cần Thơ năm 2020. (2) Tìm hiểu một số yếu tố  
liên quan đến chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn  
kinh tại thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương  
pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 259  
phụ nữ mãn kinh (từ 45-60 tuổi) có hộ khẩu thường  
trú tại thành phố Cần Thơ từ tháng 5 đến tháng 9  
năm 2020. Đánh giá chất lượng cuộc sống phụ nữ  
mãn kinh bằng bộ công cụ The Women’s Health  
Questionaire (WHQ). Kết quả: Trung bình điểm chất  
lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi là  
75,8 ± 9,0 điểm. Phụ nữ mãn kinh có chất lượng cuộc  
sống tốt chiếm 60,6%. Phân tích đa biến ghi nhận 3  
yếu tố thật sự liên quan đến chất lượng cuộc sống của  
phụ nữ mãn kinh (45-60 tuổi), trong đó, chất lượng  
cuộc sống của phụ nữ mãn kinh tốt hơn ở nhóm cư  
trú sống ở nông thôn, không mắc bệnh mãn tính và  
không tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh  
với p<0,05. Kết luận: chất lượng cuộc sống ở phụ nữ  
mãn kinh từ 45-60 tuổi chưa cao, hơn 1/3 phụ nữ  
mãn kinh có chất lượng cuộc sống chưa tốt. Cần tăng  
cường truyền thông can thiệp nâng cao chất lượng  
cuộc sống đối với phụ nữ mãn kinh.  
75,8  
± 9,0. The QOL with good level among  
menopausal women was accounted for 60,6%. There  
were three associated factors to QOL among  
menopausal women, in which, QOL was better for  
women in rural area, without chronic desiases and not  
approaching menopausal health care information (p  
<0,05). Conclusions: The quality of life among  
menopausal women is not high and more than one  
third of them poor QOL. Communication interventions  
of QOL should be strengthened for menopausal women.  
Keywords: menopausal women, quality of life,  
associated factors  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Mãn kinh là giai đoạn cuối cùng của kinh kỳ  
trong cuộc đời người phụ nữ, là một hiện tượng  
sinh lý tự nhiên, thường xảy ra ở phụ nữ lứa tuổi  
45-55; tuổi mãn kinh trung bình phụ nữ Việt  
Nam là 52 ± 3,27 [2]. Do điều kiện sống và việc  
chăm sóc sức khỏe được cải thiện nên tuổi thọ  
trung bình của người dân đã tăng. Tuổi thọ càng  
cao thời kỳ mãn kinh càng kéo dài. Như vậy  
người phụ nữ phải trải qua một phần ba cuộc  
đời trong tình trạng thiếu hụt estrogen, do đó,  
không thể tránh khỏi những rối loạn tiền mãn  
kinh, mãn kinh. Đây là thời kỳ biểu hiện ngừng  
kinh nguyệt vĩnh viễn một cách tự nhiên do  
buồng trứng không còn hoạt động, nồng độ các  
hormon giảm thấp. Sự biến đổi này kéo theo  
những thay đổi về tâm sinh lý và sức khỏe người  
phụ nữ [1], như rối loạn về vận mạch, bệnh lý  
niệu sinh dục và những bệnh lý lâu dài khác  
(loãng xương, các bệnh về tim mạch). Các rối  
loạn có thể xảy ra một cách êm đềm hay phối  
hợp nhiều rối loạn như bốc hỏa, vã mồ hôi đêm,  
rối loạn giấc ngủ, khô âm đạo, giảm ham muốn  
tình dục,…[9]. Chính các rối loạn này ảnh hưởng  
trực tiếp đến chất lượng cuộc sống (CLCS) cũng  
Từ khóa: mãn kinh, chất lượng cuộc sống, yếu tố  
liên quan  
SUMMARY  
THE QUALITY OF LIFE AND ASSOCIATED  
FACTORS AMONG MENOPAUSAL WOMEN  
IN CAN THO CITY, 2020  
Background: During menopausal period, there  
are a lot of fluctuation in hormone levels making  
various mental and physical disorders, affecting to  
quality of life (QOL) for women. Objectives: (1) To  
assess the quality of life among menopausal women in  
Can Tho city, 2020. (2) To define some factors  
1Trường Đại học Y dược Cần Thơ  
2Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ  
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Minh Phương  
Ngày nhận bài: 22.12.2020  
Ngày phản biện khoa học: 25.01.2021  
Ngày duyệt bài: 8.2.2021  
132  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021  
như hiệu quả lao động cũng như hạnh phúc gia Cần Thơ từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2020.  
đình của phụ nữ giai đoạn trước, trong và sau  
mãn kinh.  
Tiêu chuẩn chọn vào: Phụ nữ mãn kinh từ  
45-60 tuổi (không có kinh ít nhất trong 12  
tháng) có hộ khẩu thường trú tại thành phố Cần  
Thơ (≥6 tháng) trong thời gian nghiên cứu và  
đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Tiêu chuẩn loại trừ: Những phụ nữ không  
còn minh mẫn để trả lời chính xác các câu hỏi  
được phỏng vấn hoặc hạn chế khả năng giao  
tiếp; bệnh lý nội, ngoại khoa tiến triển nặng; ung  
thư; bệnh lý về tâm thần, thiểu năng trí tuệ hoặc  
hạn chế nhận thức, năng lực, hành vi; phụ nữ  
dùng nội tiết tố thay thế; tiền sử cắt tử cung và  
phần phụ.  
Để đánh giá đầy đủ CLCS của phụ nữ mãn  
kinh, cần một bộ công cụ phải có đủ yếu tố hiện  
đại, tính ứng dụng, giá trị và khác với dân số  
chung. Hiện nay, có 5 bộ câu hỏi đáp ứng được  
các tiêu chuẩn trên là The Green Climacteric  
Scale (21 câu; 3 lĩnh vực vận mạch, tâm thần và  
thực thể), The Menopausal Symptom List (56  
câu; 4 lĩnh vực tâm thần, vận mạch, thực thể,  
sức khỏe), The Menopause Rating Scale (11 câu;  
3 lĩnh vực tâm thần, thực thể và triệu chứng cơ  
thể), The Utian Menopause Quality of Life Score  
(23 câu; 4 lĩnh vực nghề nghiệp, sức khỏe, tâm  
thần và tình dục); trong đó, The Women’s  
Health Questionaire (WHQ) là một bộ công cụ sử  
dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu nhằm  
đánh giá CLCS của phụ nữ trước và sau mãn  
kinh từ 45-65 tuổi. So với các bộ công cụ khác,  
WHQ có nhiều ưu điểm trong đánh giá CLCS phụ  
nữ mãn kinh như số câu hỏi phù hợp (23 câu),  
thời gian khảo sát ngắn (5-7 phút); đánh giá đầy  
đủ các khía cạnh (6 lĩnh vực: lo âu trầm cảm,  
sức khỏe, triệu chứng cơ thể, vận mạch, trí  
nhớ/tập trung, rối loạn giấc ngủ); đã được thử  
nghiệm chuẩn hóa với độ tin cậy cao (hệ số tin  
cậy các lĩnh vực từ 0,74-0,98); sử dụng đa quốc  
gia, đã dịch sang nhiều ngôn ngữ (27 ngôn ngữ,  
trong đó có Tiếng Việt) [5], [8]. Một số nghiên  
cứu đánh giá CLCS của nhóm phụ nữ mãn kinh  
40-60 tuổi như Phạm Thị Vân Như [7] (năm  
2013) tại Lâm Đồng có điểm trung bình CLCS  
phụ nữ mãn kinh là 62,9; Trần Thị Thanh Nhàn  
[6], Hoàng Thị Liên [4] nghiên cứu tại Huế năm  
2013 ghi nhận phụ nữ mãn kinh có CLCS tốt  
chiếm tỷ lệ lần lượt là 11,5% và 14%; tỷ lệ này  
ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Hòa (năm 2018)  
[3] tại Hải Phòng chiếm 41,9%. Kết quả các  
nghiên cứu cho thấy CLCS của phụ nữ mãn kinh  
(40-60 tuổi) không cao, dao động từ 11-40%.  
Tại Đồng bằng Sông cửu long, đặc biệt tại thành  
phố Cần Thơ ít nghiên cứu về CLCS của phụ nữ  
mãn kinh.  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt  
ngang.  
Cỡ mẫu:  
- Z: hệ số tin cậy; với độ tin cậy 95% thì Z1-  
α/2=1,96  
- p: tỷ lệ chất lượng cuộc sống đạt tốt ở phụ  
nữ mãn kinh. Chọn p=0,419 [3]  
- d: sai số cho phép. Chọn d=0,06.  
Thay vào công thức ta được n=259.  
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu theo  
phương pháp phân tầng  
Bước 1: Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 01 quận  
và 01 huyện nghiên cứu.  
Bước 2: Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 01  
phường/xã ở mỗi quận/huyện đã chọn ở bước 1.  
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên 1 hộ gia đình  
trong danh sách. Các hộ tiếp theo được chọn  
liền kề bên phải của hộ gia đình đã chọn.  
Bước 4: Chọn đối tượng phù hợp tiêu chuẩn  
chọn mẫu. Trường hợp có nhiều đối tượng thỏa  
tiêu chuẩn thì bốc thăm ngẫu nhiên chọn 1 đối  
tượng/hộ gia đình. Trường hợp, hộ gia đình  
không có đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu thì  
chọn hộ gia đình tiếp theo đến khi đủ 259 đối tượng.  
Nội dung nghiên cứu: Chất lượng cuộc  
sống phụ nữ mãn kinh: thang điểm trả lời của bộ  
câu hỏi WHQ dựa vào thang đo Likert (1- 4  
điểm) đánh giá CLCS của phụ nữ 45-65 tuổi trên  
6 lĩnh vực với 23 câu gồm lo âu/ trầm cảm (7  
câu); đánh giá sức khỏe (4 câu); triệu chứng cơ  
thể (5 câu); trí nhớ/ tập trung (3 câu); triệu  
chứng vận mạch (2 câu); vấn đề giấc ngủ (2  
câu). Điểm WHQ từ 23-92 điểm, dựa trên phân  
vị thứ 50 và 75, phân CLCS thành 3 mức độ là  
thấp (WHQ < 58 điểm), trung bình (58-74) và  
cao (WHQ > 74 điểm). Chia thành 2 nhóm là  
CLCS tốt (WHQ > 74 điểm) và CLCS chưa tốt  
(WHQ ≤ 74 điểm). Một số yếu tố liên quan đến  
Mục tiêu nghiên cứu:  
- Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ  
mãn kinh tại thành phố Cần Thơ năm 2020.  
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất  
lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh tại thành  
phố Cần Thơ.  
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU  
2.1 Đối tượng nghiên cứu. Phụ nữ mãn kinh  
từ 45-60 tuổi có hộ khẩu thường trú tại thành phố  
133  
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021  
CLCS: Đặc điểm dân số học, tình trạng dinh  
thông (THPT)  
≥Trunghọcphổthông  
Sống cùng chồng  
và con cái  
Khác  
Không có con  
1-2 con  
dưỡng, tiền sử bệnh, thói quen sinh hoạt.  
77  
29,7  
78,0  
Xử lý và phân tích số liệu: phần mền SPSS  
18.0. Mô tả số liệu bằng tỷ lệ (%), trung bình,  
độ lệch chuẩn. Xử lý yếu tố liên quan đến CLCS  
bằng phương pháp hồi qui logistic đa biến, sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.  
202  
Hôn  
nhân  
57  
31  
159  
69  
22,0  
12,0  
61,4  
26,6  
Số con  
> 2 con  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Đặc điểm chung  
Bảng 1. Đặc điểm về tuổi, dân tộc, kinh  
tế, địa dư  
Nghề nghiệp chủ yếu là buôn bán và nội trợ,  
chiếm 25,1% và 56,4%; thấp nhất là nông dân  
với 2,7%; 29,7% trình độ từ THPT trở lên; 12,4%  
còn độc thân; 12% phụ nữ không có con cái.  
3.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống phụ  
nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi  
Tần số  
Tỷ  
Đặc điểm chung  
(n=259) lệ%  
45-54  
73  
186  
56,3 ± 4,6  
255  
4
28,2  
71,8  
Bảng 3. Mức độ chất lượng cuộc sống  
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi  
Nhóm  
55-60  
Trung bình  
Kinh  
tuổi  
Tần số  
(n=259)  
11  
Tỷ  
lệ%  
4,2  
35,1  
60,6  
Mức độ CLCS  
98,5  
1,5  
5,4  
94,6  
55,6  
44,4  
Dân  
tộc  
Kinh  
tế  
Khác  
Thấp  
Trung bình  
Cao  
Mức độ  
CLCS  
Nghèo/cận nghèo  
Không nghèo  
Thành thị  
Nông thôn  
14  
91  
157  
245  
144  
115  
Địa  
dư  
Trung bình (điểm)  
75,8 ± 9,0  
Điểm trung bình chất lượng cuộc sống phụ nữ  
mãn kinh là 75,8 ± 9,0; mức độ CLCS thấp, trung  
bình và cao lần lượt là 4,2%; 35,1% và 60,6%.  
Tuổi trung bình là 56,3 ± 4,6; tỷ lệ nhóm 45-  
54 và 55-60 là 28,2% và 71,8%; 98,5% dân tộc  
Kinh, tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo chiếm 5,4%;  
55,6% sống ở thành thị.  
Bảng 2. Đặc điểm về nghề nghiệp, học  
vấn, hôn nhân, số con  
Tần số  
(n=259)  
Tỷ lệ  
%
Đặc điểm chung  
Nông dân  
Công nhân  
Buôn bán  
7
8
65  
2,7  
3,1  
25,1  
Nghề  
nghiệp  
Công chức, viên  
chức (CCVC)  
Nghỉ hưu  
11  
4,2  
Biểu đồ 1. Phân loại chất lượng cuộc sống  
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi  
Chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh mức tốt  
chiếm 60,6%; chất lượng không tốt chiếm 39,4%.  
22  
146  
182  
8,5  
56,4  
70,3  
Nội trợ  
Học vấn < Trung học phổ  
3.3. Một số yếu tố liên quan chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi  
Bảng 4. Phân tích đa biến liên quan giữa phụ nữ mãn kinh có CLCS tốt và một số yếu tố  
Phân tích đơn biến  
OR (KTC 95%)  
Phân tích đa biến  
OR (KTC 95%)  
Yếu tố  
p
p
Tuổi (45-54/55-60)  
Địa dư (Nông thôn/thành thị)  
Tôn giáo (Có/không)  
1,475 (0,835-2,604)  
2,286 (1,359-3,844)  
0,590 (0,356-0,979)  
0,179  
0,002  
0,04  
1,347 (0,692-2,623)  
2,278 (1,262-4,11)  
0,74 (0,413-1,324)  
0,381  
0,006  
0,310  
Kinh tế (Nghèo, cận  
nghèo/không nghèo)  
1,180 (0,384-3,626)  
0,773  
1,486 (0,428-5,166)  
0,533  
Nghề nghiệp (Nội trợ/khác)  
Học vấn (≥THPT/<THPT)  
Con cái (Không con/có con)  
Hôn nhân (Sống cùng chồng và  
con/khác)  
1,440 (0,867-2,393)  
1,025 (0,594-1,770)  
1,208 (0,553-2,640)  
0,158  
0,928  
0,636  
0,854 (0,473-1,54)  
1,384 (0,717-2,671)  
1,951 (0,595-6,391)  
0,600  
0,333  
0,270  
1,053 (0,578-1,919)  
0,865  
1,05 (0,422-2,613)  
0,916  
134  
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021  
TCBP (Không/có)  
Béo bụng (Không/có)  
Bệnh mãn tính (Không/có)  
Thể dục (Có/không)  
1,921 (1,152-3,201)  
1,771 (1,070-2,930)  
2,513 (1,505-4,196) <0,001  
1,902 (1,138-3,180)  
1,322 (0,682-2,566)  
0,783 (0,450-1,363)  
0,012  
0,026  
1,563 (0,871-2,804)  
1,16 (0,624-2,158)  
1,843 (1,021-3,326)  
1,25 (0,668-2,34)  
0,135  
0,639  
0,043  
0,486  
0,014  
0,408  
0,386  
Tham gia sinh hoạt tập thể  
1,196 (0,547-2,615)  
1,135 (0,582-2,213)  
2,698 (1,497-4,864)  
0,654  
0,709  
0,001  
(Có/không)  
Uống sữa (Có/không)  
Tiếp cận thông tin chăm sóc  
sức khỏe mãn kinh(Không/có)  
3,126 (1,853-5,274) <0,001  
Phân tích đơn biến cho thấy có 7 yếu tố liên quan đến CLCS phụ nữ mãn kinh là địa dư, tôn giáo,  
TCBP, béo bụng, bệnh mãn tính, thể dục và tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh với  
p<0,05. Phân tích đa biến, ghi nhận 3 yếu tố thật sự liên quan đến CLCS của phụ nữ mãn kinh (45-  
60 tuổi) là địa dư, bệnh mãn tính và tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh với p<0,05.  
mãn kinh có điểm trung bình là 62,9 ± 13,1; giá  
trị này ở nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nhàn là  
53,92 ± 11,98 [6]; nghiên cứu của Hoàng Thị  
Liên [4] là 55,39 ± 13,6; Nguyễn Thị Hòa [3] ghi  
nhận điểm trung bình CLCS là 65,4 ± 7,8. Nhìn  
chung, điểm trung bình CLCS ở nghiên cứu của  
chúng tôi cao hơn. Do thang đo đánh giá chất  
lượng cuộc sống của nghiên cứu chúng tôi là  
IV. BÀN LUẬN  
4.1. Đặc điểm chung. Tuổi trung bình ở  
nghiên cứu là 56,3 ± 4,6. The Women’s Health  
Questionaire là một bộ công cụ đo lường chất  
lượng cuộc sống cho phụ nữ trong độ tuổi 45-65  
và đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên  
cứu cắt ngang và nghiên cứu tiền cứu nhằm  
đánh giá chất lượng cuộc sống của phụ nữ  
The Women’s Health Questionaire với 23 câu  
quanh tuổi mãn kinh/mãn kinh. Tham khảo các y  
hỏi, trên 6 lĩnh vực. Trong khi đó, nghiên cứu  
văn về đánh giá chất lượng cuộc sống bằng công  
của Phạm Thị Vân Như sử dụng thang đo The  
cụ Women’ Health Questionair ở phụ nữ 45-65  
tuổi, bộ công cụ này phân tích các nhóm từ 45-  
54, 55-60 và 60-65 [8], do đó, để phù hợp với  
bộ công cụ, nghiên cứu phân thành 2 nhóm tuổi  
Utian Menopause Quality of Life Score (23 câu; 4  
lĩnh vực); Hoàng Thị Liên, Trần Thị Thanh Nhàn  
và Nguyễn Thị Hòa đánh giá trên thang đo WHO  
QoL – BREF (26 câu, 4 lĩnh vực). Như vậy, nhóm  
là 45-54, 55-60. Kết quả ghi nhận tỷ lệ nhóm 45-  
đối tượng 45-60 tuổi thật sự có nhiều thang đo  
54 và 55-60 lần lượt là 28,2% và 71,8%.  
đánh giá chất lượng cuộc sống, tuy nhiên, thực  
Trong 259 phụ nữ mãn kinh tham gia nghiên  
tế, thang đo của chúng tôi có nhiều ưu điểm hơn  
cứu; có hơn 1/2 đối tượng sống ở thành thị;  
và phù hợp hơn nếu đánh giá trên đối tượng là  
chiếm 55,6%; do đó, tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo  
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi. Mặc khác, các  
cũng chiếm tỷ lệ thấp là 5,4%. Do nghiên cứu  
thực hiện tại trên các hộ gia đình có hộ khẩu  
thường trú tại Cần Thơ nên đối tượng chủ yếu là  
dân tộc Kinh, chiếm 98,5% cũng như nghiên cứu  
nghiên cứu này đã thực hiện vài năm trước đây  
(từ năm 2013-2018), yếu tố thời gian cũng là  
một vấn đề quan trọng trong cải thiện chất  
lượng cuộc sống vì dịch vụ y tế cũng như các  
trên phụ nữ, nên đa số nghề nghiệp là nội trợ  
vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh  
chiếm 56,4%; buôn bán cũng là nghề mưu sinh  
sản ở nước ta ngày càng cải thiện.  
chủ yếu của phụ nữ (25,1%); tỷ lệ nông dân  
chiếm tỷ lệ thấp nhất (2,7%); trình độ học vấn  
từ THPT trở lên chiếm gần 1/3 các đối tượng với  
29,7%. Khảo sát tình trạng hôn nhân của đối  
Đánh giá mức độ chất lượng cuộc sống của  
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi cho thấy mức độ  
CLCS thấp, trung bình và cao lần lượt là 4,2%;  
35,1% và 60,6%. Phân loại CLCS thành 2 nhóm  
tượng, kết quả cho thấy, số phụ nữ đang sống  
là tốt và chưa tốt, trong đó, CLCS tốt chiếm  
cùng vợ chồng và con cái chiếm 78%; còn lại là  
60,6%. Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cho  
sống độc thân/góa/ly thân chiếm 22,0%; đa số  
thấy hơn 1/3 phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi có  
thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình có 1-2 con  
chất lượng cuộc sống chưa tốt (39,4%). Điều  
chiếm 61,4%; >2 con chiếm 26,6%; tỷ lệ không  
này có ý nghĩa quan trọng đối với việc chăm sóc  
sinh con chiếm khá cao (12,0%).  
sức khỏe sinh sản, vì nghiên cứu cho thấy hiện  
4.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống phụ  
nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi. Trung bình điểm  
chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh 45-  
60 tuổi là 75,8 ± 9,0 điểm. Phạm Thị Vân Như  
[7] đánh giá chất lượng cuộc sống phụ nữ sau  
tại trong cộng đồng phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi,  
cụ thể là tại thành phố Cần Thơ, cứ 3 người  
thuộc nhóm đối tượng này thì có ít nhất 1 người  
có chất lượng cuộc sống chưa tốt. Tuy nhiên,  
135  
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021  
thực trạng này vẫn có thể được xem là khả quan bệnh mãn tính, trong đó, mắc bệnh mãn tính có  
hơn so với các địa phương khác. Tỷ lệ chất CLCS kém hơn 2,22 lần so với không mắc bệnh  
lượng cuộc sống tốt ở nghiên cứu của chúng tôi (KTC 95% 1,4-3,54) với p=0,001 [6]. Tình trạng  
cao hơn nhiều so với các nghiên cứu của tác giả bệnh tật ảnh hưởng xấu đến CLCS của phụ nữ  
khác. Hoàng Thị Liên (năm 2013) [4] và Trần mãn kinh cũng được ghi nhận ở nhiều nghiên  
Thị Thanh Nhàn [6] (năm 2016) nghiên cứu tại cứu trước đây[9].  
Huế, chất lượng cuộc sống tốt ở phụ nữ mãn  
Nhóm không tiếp cận thông tin chăm sóc sức  
kinh 50-60 tuổi tương ứng 14% và 11,5%. khỏe mãn kinh có tỷ lệ CLCS tốt cao hơn nhóm  
Nguyễn Thị Hòa (năm 2018)[3], chất lượng cuộc còn lại 2,698 (KTC 95% 1,497-4,864) với  
sống tốt của phụ nữ mãn kinh tại Hải Phòng p=0,001. Qua quá trình khảo sát ghi nhận, lý do  
chiếm 41,9%. Như đã lý giải ở trên, thang đo đối tượng tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe  
CLCS có sự khác biệt; đặc điểm của đối tượng mãn kinh vì chịu ảnh hưởng nhiều bởi các triệu  
nghiên cứu khác nhau từng vùng địa phương chứng của mãn kinh hoặc các vấn đề sức khỏe  
cũng như tác động của yếu tố thời gian nên tình khác. Do đó, trong quá trình tìm đến các dịch vụ  
trạng CLCS ở nghiên cứu không giống nhau.  
y tế, được các cán bộ y tế tư vấn rõ hơn về  
4.3. Một số yếu tố liên quan đến chất nguyên nhân cũng như các thông tin liên quan  
lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh từ 45-60 chăm sóc sức khỏe thời kỳ mãn kinh. Điều này  
tuổi. Phân tích đơn biến cho thấy có 7 yếu tố cho thấy nhiều phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi đối  
liên quan đến CLCS phụ nữ mãn kinh là địa dư, mặt với vấn đề rối loạn do mãn kinh và nhu cầu  
tôn giáo, TCBP, béo bụng, bệnh mãn tính, thể tiếp cận thông tin về chăm sóc sức khỏe mãn  
dục và tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe kinh khá cao. Để CLCS của phụ nữ càng được  
mãn kinh với p<0,05. Trong đó, nhóm phụ nữ nâng cao hơn, ngành y tế cần xem xét ưu tiên  
mãn kinh có CLCS tốt hơn ở nhóm sống ở vùng giải pháp truyền thông chăm sóc sức khỏe về  
nông thôn; không tôn giáo; không TCBP; không mãn kinh cho phụ nữ trước, trong và sau mãn  
béo bụng; không bệnh mãn tính; có tập thể dục; kinh (40-65 tuổi), để họ có kiến thức, kỹ năng  
không tiếp cận với thông tin chăm sóc sức khỏe phòng các rối loạn thời kỳ trước mãn kinh và biết  
mãn kinh. Áp dụng phương pháp phân tích hồi cách xử trí giảm các triệu chứng do rối loạn sau  
quy đa biến để loại trừ các biến số không thật sự mãn kinh.  
ảnh hưởng đến CLCS của phụ nữ mãn kinh, kết  
V. KẾT LUẬN  
quả ghi nhận còn 3/7 yếu tố thật sự liên quan là  
Trung bình điểm chất lượng cuộc sống của  
nơi cư trú, tình trạng bệnh mãn tính, tình hình  
tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh.  
phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi là 75,8 ± 9,0 điểm;  
tỷ lệ chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh mức  
Trong đó, nhóm phụ nữ sống ở nông thôn có  
tốt chiếm 60,6%. Phân tích hồi quy đa biến ghi  
CLCS tốt hơn nhóm sống ở thành thị 2,278 (KTC  
nhận 3 yếu tố thật sự liên quan đến CLCS của  
phụ nữ mãn kinh, trong đó, nhóm phụ nữ sống  
95% 1,262-4,11) lần với p=0,006. Thực tế,  
nhóm phụ nữ sống ở nông thôn có môi trường  
ở nông thôn có CLCS tốt hơn nhóm sống ở thành  
yên tĩnh và ít ồn ào, áp lực hơn so với phụ nữ  
thị 2,278 (KTC 95% 1,262-4,11) lần với p =  
0,006; phụ nữ mắc bệnh mãn tính có nguy cơ  
CLCS kém hơn nhóm không mắc bệnh 1,843  
(KTC 95% 1,021-3,326) lần với p=0,043; nhóm  
không tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn  
thành thị. Phụ nữ mắc bệnh mãn tính có nguy cơ  
CLCS kém hơn nhóm không mắc bệnh 1,843  
(KTC 95% 1,021-3,326) lần với p=0,043. Khi  
phụ nữ không mắc bệnh thì trạng thái sức khỏe  
cũng như tinh thần tốt hơn so với nhóm mắc  
kinh có tỷ lệ CLCS tốt cao hơn nhóm còn lại  
bệnh. Khi mắc các bệnh mãn tính, người bệnh  
2,698 (KTC 95% 1,497-4,864) với p=0,001.  
phải điều trị và cần sự can thiệp y tế hàng ngày  
và kéo dài suốt đời. Thời gian bệnh càng kéo  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
dài, uống thuốc điều trị lâu ngày cũng gây các  
tác dụng phụ không mong muốn, kèm thêm các  
biến chứng do bệnh mang lại, ảnh hưởng đến  
thể trạng của người bệnh, tăng sự mệt mỏi, lo  
âu, thậm chí trầm cảm. Chính điều này gây giảm  
sút chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh.  
Kết quả phù hợp với một số nghiên cứu khác.  
Trần Thị Thanh Nhàn ghi nhận yếu tố liên quan  
đến chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh là  
1. Bộ môn Phụ sản Trường Đai học Y Dược Huế  
(2007), Sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.  
2. Phạm Minh Đức và cộng sự (2004), Nghiên  
cứu thực trạng sức khỏe sinh sản của phụ nữ Việt  
Nam mãn kinh và đề xuất các giải pháp can thiệp  
nhằm nâng cao chất lượng sống của phụ nữ lứa  
tuổi này, Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà  
Nước, Bộ Khoa học-Công nghệ, Hà Nội, tr.53.  
3. Nguyễn Thị Hòa (2018), “Đánh giá chất lượng  
cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh tại huyện Kiến Thụy,  
136  
     
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021  
Hải Phòng”, Tạp chí nghiên cứu khoa học, tập 2  
7. Phạm Thị Vân Như (2016), “Đánh giá chất  
lượng cuộc sống của phụ nữ sau mãn kinh và các  
yếu tố liên quan tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm  
Đồng”, Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh, Tập  
20 (1), tr. 241-246.  
(1), tr. 62-66  
4. Hoàng Thị Liên, Lương Thanh Bảo Yến, Võ  
Văn Thắng (2014), “Chất lượng cuộc sống và  
các yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh tại thành  
phố Huế”, Tạp chí y tế công cộng, số 6, tr.33-37.  
5. Trịnh Hoài Ngọc (2013), Hiệu quả của đi bộ và  
tư vấn về rối loạn quanh mãn kinh tại bệnh viện  
Từ Dũ, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Đại học  
Y dược Hồ Chí Minh.  
8. Hunter MS (2000), "The Women's Health  
Questionnaire  
(WHQ):  
the  
development,  
standardization and application of a measure of  
mid-aged women's emotional and physical health".  
Quality of Life Res, 9, 733-738.  
6. Trần Thị Thanh Nhàn (2016), “Nghiên cứu chất  
lương cuộc sống và yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn  
kinh thành phố Huế”, Tạp chí y tế công cộng, Tập  
6 (42), tr. 42-47.  
9. Sudhaa Shama, Neha Mahajan (2015),  
“Menopausal symptoms and its effect on quality of  
life in urban versus rural women: A cross-sectional  
study”, Journal Midlife Health, Vol 6 (1); pp. 16-20.  
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ PHÂN LOẠI BỆNH  
TĂNG SẢN THƯỢNG THẬN BẨM SINH THỂ THIẾU 21-HYDROXYLASE  
Vũ Chí Dũng*,**, Trần Huy Thịnh*, Trần Vân Khánh*  
xuất hiện ở bệnh nhân thể mất muối với tỉ lệ ở nam là  
TÓM TẮT34  
91,8%, ở nữ là 78,6%.  
Tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21-  
Từ khóa: Tăng sản thượng thận bẩm sinh, 21  
hydroxylase là bệnh gây nên do đột biến gen  
Hydroxylase, Đặc điểm lâm sàng, thể bệnh  
CYP21A2 làm mất hoặc thiếu hụt enzym 21-  
hydroxylase, một enzym then chốt tham gia vào quá  
SUMMARY  
trình tổng hợp cortisol, dẫn đến hậu quả là không  
CLINICAL CHARACTERISTICS AND  
tổng hợp hoặc giảm tổng hợp cortisol, tăng tổng hợp  
CLASSIFICATION OF 21-HYDROXYLASE  
DEFICIENT – CONGENITAL ADRENAL  
HYPERPLASIA  
testosterone đưa đến hình ảnh lâm sàng suy thượng  
thận cấp, nam hóa đơn thuần ở trẻ gái và dậy thì sớm  
ở trẻ trai. Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng và  
được phân loại thành 3 thể bệnh chính: mất muối,  
nam hóa đơn thuần, không cổ điển. Việc phân loại thể  
bệnh và theo dõi đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân  
tăng sản thượng thận bẩm sinh có ý nghĩa quan trọng  
trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nghiên cứu thực  
hiện với mục tiêu: Xác định tỉ lệ các thể bệnh và đặc  
điểm lâm sàng của bệnh nhân tăng sản thượng thận  
bẩm sinh do thiếu hụt enzym 21-hydroxylase. 209  
bệnh nhân được phân tích và đánh giá đặc điểm lâm  
sàng tại Bệnh viện Nhi Trung Ương. Kết quả cho thấy,  
đã phát hiện được 77% bệnh nhân thể mất muối,  
21% thể nam hóa đơn thuần chiếm và 2% mắc thể  
không cổ điển. Bệnh nhân thể mất muối và thể không  
cổ điển được chẩn đoán sớm hơn (32 ngày và 18,5  
ngày) so với bệnh nhân thể nam hóa đơn thuần (1590  
ngày) (p<0.001). Thể bệnh mất muối có tỉ lệ nam/nữ  
gần tương đương nhau (nam 46,6% và nữ 54,4%).  
Thể nam hóa đơn thuần có tỉ lệ bệnh nhân nữ cao  
hơn (81,8% nữ và 18,2% nam). Mơ hồ giới tính ở  
bệnh nhân nữ ở cả ba thể mất muối, nam hóa đơn  
thuần và không cổ điển là tương đương nhau (lần lượt  
96%, 97%, và 100%). Cơn suy thượng thận cấp chỉ  
21-hydroxylase deficient  
– congenital adrenal  
hyperplasiais a disease caused by a mutation in the  
CYP21A2 gene, resulting loss of function of the 21-  
hydroxylase enzyme, a key enzyme involved in the  
synthesis of cortisol, resulting in reduced cortisol  
synthesis, increased testosterone synthesis which lead  
to the clinical manifestations of acute adrenal failure,  
virilizing in girls and early puberty in boys. The disease  
vary in term of clinical manifestations and is classified  
into three major disease categories: salt wasting,  
simple virilizing, and non-classical. Classification of  
disease and clinical characteristics in patients with  
congenital adrenal hyperplasia is important in the  
diagnosis and treatment of the disease. Objective: To  
determine the incidence and clinical characteristics of  
patients with congenital hyperplasia due to 21-  
hydroxylase deficiency. 209 patients admited to the  
National Children Hospital were analyzed and  
evaluated clinically. Results showed that 77% of  
patients were classified as salt wasting, 21% as simple  
virilizing and 2% as non-classical. Patients in the salt  
wasting and non-classical group were diagnosed  
earlier (32 days and 18.5 days) than those in the  
simple virilizing group (1590 days) (p <0.001). The  
proportion of males / females were nearly equal in salt  
wasting group (46.6% males and 54.4% females).  
Simple virilizing group has a higher proportion of  
female patients (81.8% female and 18.2% male). The  
incident of gender ambiguity in female patients in all  
three categories of salt loss, male and female, were  
similar (96%, 97%, and 100%, respectively). Acute  
*Trường Đại học Y Hà Nội  
**Bệnh viện Nhi Trung ương  
Chịu trách nhiệm chính: Trần Vân Khánh  
Ngày nhận bài: 14.12.2020  
Ngày phản biện khoa học: 25.01.2021  
Ngày duyệt bài: 8.2.2021  
137  
           
pdf 6 trang yennguyen 17820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh và yếu tố liên quan tại thành phố Cần Thơ năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_chat_luong_cuoc_song_o_phu_nu_man_kinh_va_yeu_to_li.pdf