Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh và yếu tố liên quan tại thành phố Cần Thơ năm 2020
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021
deformation?". J Am Soc Hypertens, 10 (9), pp.
694-701.
Complications
and
Cardiovascular
Events
Associated With Masked Hypertension and White-
Coat Hypertension: Analysis From the Dallas Heart
Study". Journal of the American College of
Cardiology, 66 (20), pp. 2159-2169.
7. Tientcheu D, Ayers C, Das SR, McGuire DK,
de Lemos JA, Khera A, Kaplan N, Victor R,
Vongpatanasin
W
(2015) "Target Organ
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG Ở PHỤ NỮ MÃN KINH
VÀ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2020
Nguyễn Minh Phương1, Lê Thị Kim Định2
associated to quality of life among menopausal
TÓM TẮT33
women in Can Tho city. Subjects and research
methods: A cross-sectional study was conducted on
259 menopausal women (from 45-60 years) who have
been permanent residence in Can Tho city from May
to September 2020. The Women’s Health Questionaire
(WHQ) was used to assess the quality of life among
menopausal women. Results: The mean QOL score
among menopausal women from 45-60 years was
Đặt vấn đề: Mãn kinh là thời kỳ của sự rối loạn
hoạt động nội tiết trong cơ thể gây ra nhiều biến đổi
về thể chất và tâm thần, ảnh hưởng đến chất lượng
cuộc sống của người phụ nữ. Mục tiêu: (1) Đánh giá
chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh tại thành
phố Cần Thơ năm 2020. (2) Tìm hiểu một số yếu tố
liên quan đến chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn
kinh tại thành phố Cần Thơ. Đối tượng và phương
pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang 259
phụ nữ mãn kinh (từ 45-60 tuổi) có hộ khẩu thường
trú tại thành phố Cần Thơ từ tháng 5 đến tháng 9
năm 2020. Đánh giá chất lượng cuộc sống phụ nữ
mãn kinh bằng bộ công cụ The Women’s Health
Questionaire (WHQ). Kết quả: Trung bình điểm chất
lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi là
75,8 ± 9,0 điểm. Phụ nữ mãn kinh có chất lượng cuộc
sống tốt chiếm 60,6%. Phân tích đa biến ghi nhận 3
yếu tố thật sự liên quan đến chất lượng cuộc sống của
phụ nữ mãn kinh (45-60 tuổi), trong đó, chất lượng
cuộc sống của phụ nữ mãn kinh tốt hơn ở nhóm cư
trú sống ở nông thôn, không mắc bệnh mãn tính và
không tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh
với p<0,05. Kết luận: chất lượng cuộc sống ở phụ nữ
mãn kinh từ 45-60 tuổi chưa cao, hơn 1/3 phụ nữ
mãn kinh có chất lượng cuộc sống chưa tốt. Cần tăng
cường truyền thông can thiệp nâng cao chất lượng
cuộc sống đối với phụ nữ mãn kinh.
75,8
± 9,0. The QOL with good level among
menopausal women was accounted for 60,6%. There
were three associated factors to QOL among
menopausal women, in which, QOL was better for
women in rural area, without chronic desiases and not
approaching menopausal health care information (p
<0,05). Conclusions: The quality of life among
menopausal women is not high and more than one
third of them poor QOL. Communication interventions
of QOL should be strengthened for menopausal women.
Keywords: menopausal women, quality of life,
associated factors
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Mãn kinh là giai đoạn cuối cùng của kinh kỳ
trong cuộc đời người phụ nữ, là một hiện tượng
sinh lý tự nhiên, thường xảy ra ở phụ nữ lứa tuổi
45-55; tuổi mãn kinh trung bình phụ nữ Việt
chăm sóc sức khỏe được cải thiện nên tuổi thọ
trung bình của người dân đã tăng. Tuổi thọ càng
cao thời kỳ mãn kinh càng kéo dài. Như vậy
người phụ nữ phải trải qua một phần ba cuộc
đời trong tình trạng thiếu hụt estrogen, do đó,
không thể tránh khỏi những rối loạn tiền mãn
kinh, mãn kinh. Đây là thời kỳ biểu hiện ngừng
kinh nguyệt vĩnh viễn một cách tự nhiên do
buồng trứng không còn hoạt động, nồng độ các
hormon giảm thấp. Sự biến đổi này kéo theo
những thay đổi về tâm sinh lý và sức khỏe người
niệu sinh dục và những bệnh lý lâu dài khác
(loãng xương, các bệnh về tim mạch). Các rối
loạn có thể xảy ra một cách êm đềm hay phối
hợp nhiều rối loạn như bốc hỏa, vã mồ hôi đêm,
rối loạn giấc ngủ, khô âm đạo, giảm ham muốn
tình dục,…[9]. Chính các rối loạn này ảnh hưởng
trực tiếp đến chất lượng cuộc sống (CLCS) cũng
Từ khóa: mãn kinh, chất lượng cuộc sống, yếu tố
liên quan
SUMMARY
THE QUALITY OF LIFE AND ASSOCIATED
FACTORS AMONG MENOPAUSAL WOMEN
IN CAN THO CITY, 2020
Background: During menopausal period, there
are a lot of fluctuation in hormone levels making
various mental and physical disorders, affecting to
quality of life (QOL) for women. Objectives: (1) To
assess the quality of life among menopausal women in
Can Tho city, 2020. (2) To define some factors
1Trường Đại học Y dược Cần Thơ
2Bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ
Chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Minh Phương
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 22.12.2020
Ngày phản biện khoa học: 25.01.2021
Ngày duyệt bài: 8.2.2021
132
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021
như hiệu quả lao động cũng như hạnh phúc gia Cần Thơ từ tháng 5 đến tháng 9 năm 2020.
đình của phụ nữ giai đoạn trước, trong và sau
mãn kinh.
Tiêu chuẩn chọn vào: Phụ nữ mãn kinh từ
45-60 tuổi (không có kinh ít nhất trong 12
tháng) có hộ khẩu thường trú tại thành phố Cần
Thơ (≥6 tháng) trong thời gian nghiên cứu và
đồng ý tham gia nghiên cứu.
Tiêu chuẩn loại trừ: Những phụ nữ không
còn minh mẫn để trả lời chính xác các câu hỏi
được phỏng vấn hoặc hạn chế khả năng giao
tiếp; bệnh lý nội, ngoại khoa tiến triển nặng; ung
thư; bệnh lý về tâm thần, thiểu năng trí tuệ hoặc
hạn chế nhận thức, năng lực, hành vi; phụ nữ
dùng nội tiết tố thay thế; tiền sử cắt tử cung và
phần phụ.
Để đánh giá đầy đủ CLCS của phụ nữ mãn
kinh, cần một bộ công cụ phải có đủ yếu tố hiện
đại, tính ứng dụng, giá trị và khác với dân số
chung. Hiện nay, có 5 bộ câu hỏi đáp ứng được
các tiêu chuẩn trên là The Green Climacteric
Scale (21 câu; 3 lĩnh vực vận mạch, tâm thần và
thực thể), The Menopausal Symptom List (56
câu; 4 lĩnh vực tâm thần, vận mạch, thực thể,
sức khỏe), The Menopause Rating Scale (11 câu;
3 lĩnh vực tâm thần, thực thể và triệu chứng cơ
thể), The Utian Menopause Quality of Life Score
(23 câu; 4 lĩnh vực nghề nghiệp, sức khỏe, tâm
thần và tình dục); trong đó, The Women’s
Health Questionaire (WHQ) là một bộ công cụ sử
dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu nhằm
đánh giá CLCS của phụ nữ trước và sau mãn
kinh từ 45-65 tuổi. So với các bộ công cụ khác,
WHQ có nhiều ưu điểm trong đánh giá CLCS phụ
nữ mãn kinh như số câu hỏi phù hợp (23 câu),
thời gian khảo sát ngắn (5-7 phút); đánh giá đầy
đủ các khía cạnh (6 lĩnh vực: lo âu trầm cảm,
sức khỏe, triệu chứng cơ thể, vận mạch, trí
nhớ/tập trung, rối loạn giấc ngủ); đã được thử
nghiệm chuẩn hóa với độ tin cậy cao (hệ số tin
cậy các lĩnh vực từ 0,74-0,98); sử dụng đa quốc
gia, đã dịch sang nhiều ngôn ngữ (27 ngôn ngữ,
cứu đánh giá CLCS của nhóm phụ nữ mãn kinh
2013) tại Lâm Đồng có điểm trung bình CLCS
phụ nữ mãn kinh là 62,9; Trần Thị Thanh Nhàn
2013 ghi nhận phụ nữ mãn kinh có CLCS tốt
chiếm tỷ lệ lần lượt là 11,5% và 14%; tỷ lệ này
ở nghiên cứu của Nguyễn Thị Hòa (năm 2018)
nghiên cứu cho thấy CLCS của phụ nữ mãn kinh
(40-60 tuổi) không cao, dao động từ 11-40%.
Tại Đồng bằng Sông cửu long, đặc biệt tại thành
phố Cần Thơ ít nghiên cứu về CLCS của phụ nữ
mãn kinh.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt
ngang.
Cỡ mẫu:
- Z: hệ số tin cậy; với độ tin cậy 95% thì Z1-
α/2=1,96
- p: tỷ lệ chất lượng cuộc sống đạt tốt ở phụ
- d: sai số cho phép. Chọn d=0,06.
Thay vào công thức ta được n=259.
Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu theo
phương pháp phân tầng
Bước 1: Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 01 quận
và 01 huyện nghiên cứu.
Bước 2: Bốc thăm ngẫu nhiên chọn 01
phường/xã ở mỗi quận/huyện đã chọn ở bước 1.
Bước 3: Chọn ngẫu nhiên 1 hộ gia đình
trong danh sách. Các hộ tiếp theo được chọn
liền kề bên phải của hộ gia đình đã chọn.
Bước 4: Chọn đối tượng phù hợp tiêu chuẩn
chọn mẫu. Trường hợp có nhiều đối tượng thỏa
tiêu chuẩn thì bốc thăm ngẫu nhiên chọn 1 đối
tượng/hộ gia đình. Trường hợp, hộ gia đình
không có đối tượng thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu thì
chọn hộ gia đình tiếp theo đến khi đủ 259 đối tượng.
Nội dung nghiên cứu: Chất lượng cuộc
sống phụ nữ mãn kinh: thang điểm trả lời của bộ
câu hỏi WHQ dựa vào thang đo Likert (1- 4
điểm) đánh giá CLCS của phụ nữ 45-65 tuổi trên
6 lĩnh vực với 23 câu gồm lo âu/ trầm cảm (7
câu); đánh giá sức khỏe (4 câu); triệu chứng cơ
thể (5 câu); trí nhớ/ tập trung (3 câu); triệu
chứng vận mạch (2 câu); vấn đề giấc ngủ (2
câu). Điểm WHQ từ 23-92 điểm, dựa trên phân
vị thứ 50 và 75, phân CLCS thành 3 mức độ là
thấp (WHQ < 58 điểm), trung bình (58-74) và
cao (WHQ > 74 điểm). Chia thành 2 nhóm là
CLCS tốt (WHQ > 74 điểm) và CLCS chưa tốt
(WHQ ≤ 74 điểm). Một số yếu tố liên quan đến
Mục tiêu nghiên cứu:
- Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ
mãn kinh tại thành phố Cần Thơ năm 2020.
- Tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến chất
lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh tại thành
phố Cần Thơ.
II. ĐỐITƯỢNGVÀPHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU
2.1 Đối tượng nghiên cứu. Phụ nữ mãn kinh
từ 45-60 tuổi có hộ khẩu thường trú tại thành phố
133
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021
CLCS: Đặc điểm dân số học, tình trạng dinh
thông (THPT)
≥Trunghọcphổthông
Sống cùng chồng
và con cái
Khác
Không có con
1-2 con
dưỡng, tiền sử bệnh, thói quen sinh hoạt.
77
29,7
78,0
Xử lý và phân tích số liệu: phần mền SPSS
18.0. Mô tả số liệu bằng tỷ lệ (%), trung bình,
độ lệch chuẩn. Xử lý yếu tố liên quan đến CLCS
bằng phương pháp hồi qui logistic đa biến, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê với p<0,05.
202
Hôn
nhân
57
31
159
69
22,0
12,0
61,4
26,6
Số con
> 2 con
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung
Bảng 1. Đặc điểm về tuổi, dân tộc, kinh
tế, địa dư
Nghề nghiệp chủ yếu là buôn bán và nội trợ,
chiếm 25,1% và 56,4%; thấp nhất là nông dân
với 2,7%; 29,7% trình độ từ THPT trở lên; 12,4%
còn độc thân; 12% phụ nữ không có con cái.
3.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống phụ
nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi
Tần số
Tỷ
Đặc điểm chung
(n=259) lệ%
45-54
73
186
56,3 ± 4,6
255
4
28,2
71,8
Bảng 3. Mức độ chất lượng cuộc sống
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi
Nhóm
55-60
Trung bình
Kinh
tuổi
Tần số
(n=259)
11
Tỷ
lệ%
4,2
35,1
60,6
Mức độ CLCS
98,5
1,5
5,4
94,6
55,6
44,4
Dân
tộc
Kinh
tế
Khác
Thấp
Trung bình
Cao
Mức độ
CLCS
Nghèo/cận nghèo
Không nghèo
Thành thị
Nông thôn
14
91
157
245
144
115
Địa
dư
Trung bình (điểm)
75,8 ± 9,0
Điểm trung bình chất lượng cuộc sống phụ nữ
mãn kinh là 75,8 ± 9,0; mức độ CLCS thấp, trung
bình và cao lần lượt là 4,2%; 35,1% và 60,6%.
Tuổi trung bình là 56,3 ± 4,6; tỷ lệ nhóm 45-
54 và 55-60 là 28,2% và 71,8%; 98,5% dân tộc
Kinh, tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo chiếm 5,4%;
55,6% sống ở thành thị.
Bảng 2. Đặc điểm về nghề nghiệp, học
vấn, hôn nhân, số con
Tần số
(n=259)
Tỷ lệ
%
Đặc điểm chung
Nông dân
Công nhân
Buôn bán
7
8
65
2,7
3,1
25,1
Nghề
nghiệp
Công chức, viên
chức (CCVC)
Nghỉ hưu
11
4,2
Biểu đồ 1. Phân loại chất lượng cuộc sống
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi
Chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh mức tốt
chiếm 60,6%; chất lượng không tốt chiếm 39,4%.
22
146
182
8,5
56,4
70,3
Nội trợ
Học vấn < Trung học phổ
3.3. Một số yếu tố liên quan chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi
Bảng 4. Phân tích đa biến liên quan giữa phụ nữ mãn kinh có CLCS tốt và một số yếu tố
Phân tích đơn biến
OR (KTC 95%)
Phân tích đa biến
OR (KTC 95%)
Yếu tố
p
p
Tuổi (45-54/55-60)
Địa dư (Nông thôn/thành thị)
Tôn giáo (Có/không)
1,475 (0,835-2,604)
2,286 (1,359-3,844)
0,590 (0,356-0,979)
0,179
0,002
0,04
1,347 (0,692-2,623)
2,278 (1,262-4,11)
0,74 (0,413-1,324)
0,381
0,006
0,310
Kinh tế (Nghèo, cận
nghèo/không nghèo)
1,180 (0,384-3,626)
0,773
1,486 (0,428-5,166)
0,533
Nghề nghiệp (Nội trợ/khác)
Học vấn (≥THPT/<THPT)
Con cái (Không con/có con)
Hôn nhân (Sống cùng chồng và
con/khác)
1,440 (0,867-2,393)
1,025 (0,594-1,770)
1,208 (0,553-2,640)
0,158
0,928
0,636
0,854 (0,473-1,54)
1,384 (0,717-2,671)
1,951 (0,595-6,391)
0,600
0,333
0,270
1,053 (0,578-1,919)
0,865
1,05 (0,422-2,613)
0,916
134
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021
TCBP (Không/có)
Béo bụng (Không/có)
Bệnh mãn tính (Không/có)
Thể dục (Có/không)
1,921 (1,152-3,201)
1,771 (1,070-2,930)
2,513 (1,505-4,196) <0,001
1,902 (1,138-3,180)
1,322 (0,682-2,566)
0,783 (0,450-1,363)
0,012
0,026
1,563 (0,871-2,804)
1,16 (0,624-2,158)
1,843 (1,021-3,326)
1,25 (0,668-2,34)
0,135
0,639
0,043
0,486
0,014
0,408
0,386
Tham gia sinh hoạt tập thể
1,196 (0,547-2,615)
1,135 (0,582-2,213)
2,698 (1,497-4,864)
0,654
0,709
0,001
(Có/không)
Uống sữa (Có/không)
Tiếp cận thông tin chăm sóc
sức khỏe mãn kinh(Không/có)
3,126 (1,853-5,274) <0,001
Phân tích đơn biến cho thấy có 7 yếu tố liên quan đến CLCS phụ nữ mãn kinh là địa dư, tôn giáo,
TCBP, béo bụng, bệnh mãn tính, thể dục và tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh với
p<0,05. Phân tích đa biến, ghi nhận 3 yếu tố thật sự liên quan đến CLCS của phụ nữ mãn kinh (45-
60 tuổi) là địa dư, bệnh mãn tính và tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh với p<0,05.
mãn kinh có điểm trung bình là 62,9 ± 13,1; giá
trị này ở nghiên cứu của Trần Thị Thanh Nhàn là
nhận điểm trung bình CLCS là 65,4 ± 7,8. Nhìn
chung, điểm trung bình CLCS ở nghiên cứu của
chúng tôi cao hơn. Do thang đo đánh giá chất
lượng cuộc sống của nghiên cứu chúng tôi là
IV. BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung. Tuổi trung bình ở
nghiên cứu là 56,3 ± 4,6. The Women’s Health
Questionaire là một bộ công cụ đo lường chất
lượng cuộc sống cho phụ nữ trong độ tuổi 45-65
và đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên
cứu cắt ngang và nghiên cứu tiền cứu nhằm
đánh giá chất lượng cuộc sống của phụ nữ
The Women’s Health Questionaire với 23 câu
quanh tuổi mãn kinh/mãn kinh. Tham khảo các y
hỏi, trên 6 lĩnh vực. Trong khi đó, nghiên cứu
văn về đánh giá chất lượng cuộc sống bằng công
của Phạm Thị Vân Như sử dụng thang đo The
cụ Women’ Health Questionair ở phụ nữ 45-65
tuổi, bộ công cụ này phân tích các nhóm từ 45-
bộ công cụ, nghiên cứu phân thành 2 nhóm tuổi
Utian Menopause Quality of Life Score (23 câu; 4
lĩnh vực); Hoàng Thị Liên, Trần Thị Thanh Nhàn
và Nguyễn Thị Hòa đánh giá trên thang đo WHO
QoL – BREF (26 câu, 4 lĩnh vực). Như vậy, nhóm
là 45-54, 55-60. Kết quả ghi nhận tỷ lệ nhóm 45-
đối tượng 45-60 tuổi thật sự có nhiều thang đo
54 và 55-60 lần lượt là 28,2% và 71,8%.
đánh giá chất lượng cuộc sống, tuy nhiên, thực
Trong 259 phụ nữ mãn kinh tham gia nghiên
tế, thang đo của chúng tôi có nhiều ưu điểm hơn
cứu; có hơn 1/2 đối tượng sống ở thành thị;
và phù hợp hơn nếu đánh giá trên đối tượng là
chiếm 55,6%; do đó, tỷ lệ hộ nghèo/cận nghèo
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi. Mặc khác, các
cũng chiếm tỷ lệ thấp là 5,4%. Do nghiên cứu
thực hiện tại trên các hộ gia đình có hộ khẩu
thường trú tại Cần Thơ nên đối tượng chủ yếu là
dân tộc Kinh, chiếm 98,5% cũng như nghiên cứu
nghiên cứu này đã thực hiện vài năm trước đây
(từ năm 2013-2018), yếu tố thời gian cũng là
một vấn đề quan trọng trong cải thiện chất
lượng cuộc sống vì dịch vụ y tế cũng như các
trên phụ nữ, nên đa số nghề nghiệp là nội trợ
vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe sinh
chiếm 56,4%; buôn bán cũng là nghề mưu sinh
sản ở nước ta ngày càng cải thiện.
chủ yếu của phụ nữ (25,1%); tỷ lệ nông dân
chiếm tỷ lệ thấp nhất (2,7%); trình độ học vấn
từ THPT trở lên chiếm gần 1/3 các đối tượng với
29,7%. Khảo sát tình trạng hôn nhân của đối
Đánh giá mức độ chất lượng cuộc sống của
phụ nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi cho thấy mức độ
CLCS thấp, trung bình và cao lần lượt là 4,2%;
35,1% và 60,6%. Phân loại CLCS thành 2 nhóm
tượng, kết quả cho thấy, số phụ nữ đang sống
là tốt và chưa tốt, trong đó, CLCS tốt chiếm
cùng vợ chồng và con cái chiếm 78%; còn lại là
60,6%. Như vậy, nghiên cứu của chúng tôi cho
sống độc thân/góa/ly thân chiếm 22,0%; đa số
thấy hơn 1/3 phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi có
thực hiện tốt kế hoạch hóa gia đình có 1-2 con
chất lượng cuộc sống chưa tốt (39,4%). Điều
chiếm 61,4%; >2 con chiếm 26,6%; tỷ lệ không
này có ý nghĩa quan trọng đối với việc chăm sóc
sinh con chiếm khá cao (12,0%).
sức khỏe sinh sản, vì nghiên cứu cho thấy hiện
4.2. Đánh giá chất lượng cuộc sống phụ
nữ mãn kinh từ 45-60 tuổi. Trung bình điểm
chất lượng cuộc sống của phụ nữ mãn kinh 45-
60 tuổi là 75,8 ± 9,0 điểm. Phạm Thị Vân Như
tại trong cộng đồng phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi,
cụ thể là tại thành phố Cần Thơ, cứ 3 người
thuộc nhóm đối tượng này thì có ít nhất 1 người
có chất lượng cuộc sống chưa tốt. Tuy nhiên,
135
vietnam medical journal n01&2 - FEBRUARY - 2021
thực trạng này vẫn có thể được xem là khả quan bệnh mãn tính, trong đó, mắc bệnh mãn tính có
hơn so với các địa phương khác. Tỷ lệ chất CLCS kém hơn 2,22 lần so với không mắc bệnh
cao hơn nhiều so với các nghiên cứu của tác giả bệnh tật ảnh hưởng xấu đến CLCS của phụ nữ
Huế, chất lượng cuộc sống tốt ở phụ nữ mãn
Nhóm không tiếp cận thông tin chăm sóc sức
kinh 50-60 tuổi tương ứng 14% và 11,5%. khỏe mãn kinh có tỷ lệ CLCS tốt cao hơn nhóm
sống tốt của phụ nữ mãn kinh tại Hải Phòng p=0,001. Qua quá trình khảo sát ghi nhận, lý do
chiếm 41,9%. Như đã lý giải ở trên, thang đo đối tượng tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe
CLCS có sự khác biệt; đặc điểm của đối tượng mãn kinh vì chịu ảnh hưởng nhiều bởi các triệu
nghiên cứu khác nhau từng vùng địa phương chứng của mãn kinh hoặc các vấn đề sức khỏe
cũng như tác động của yếu tố thời gian nên tình khác. Do đó, trong quá trình tìm đến các dịch vụ
trạng CLCS ở nghiên cứu không giống nhau.
y tế, được các cán bộ y tế tư vấn rõ hơn về
4.3. Một số yếu tố liên quan đến chất nguyên nhân cũng như các thông tin liên quan
lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh từ 45-60 chăm sóc sức khỏe thời kỳ mãn kinh. Điều này
tuổi. Phân tích đơn biến cho thấy có 7 yếu tố cho thấy nhiều phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi đối
liên quan đến CLCS phụ nữ mãn kinh là địa dư, mặt với vấn đề rối loạn do mãn kinh và nhu cầu
tôn giáo, TCBP, béo bụng, bệnh mãn tính, thể tiếp cận thông tin về chăm sóc sức khỏe mãn
dục và tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe kinh khá cao. Để CLCS của phụ nữ càng được
mãn kinh với p<0,05. Trong đó, nhóm phụ nữ nâng cao hơn, ngành y tế cần xem xét ưu tiên
mãn kinh có CLCS tốt hơn ở nhóm sống ở vùng giải pháp truyền thông chăm sóc sức khỏe về
nông thôn; không tôn giáo; không TCBP; không mãn kinh cho phụ nữ trước, trong và sau mãn
béo bụng; không bệnh mãn tính; có tập thể dục; kinh (40-65 tuổi), để họ có kiến thức, kỹ năng
không tiếp cận với thông tin chăm sóc sức khỏe phòng các rối loạn thời kỳ trước mãn kinh và biết
mãn kinh. Áp dụng phương pháp phân tích hồi cách xử trí giảm các triệu chứng do rối loạn sau
quy đa biến để loại trừ các biến số không thật sự mãn kinh.
ảnh hưởng đến CLCS của phụ nữ mãn kinh, kết
V. KẾT LUẬN
quả ghi nhận còn 3/7 yếu tố thật sự liên quan là
Trung bình điểm chất lượng cuộc sống của
nơi cư trú, tình trạng bệnh mãn tính, tình hình
tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn kinh.
phụ nữ mãn kinh 45-60 tuổi là 75,8 ± 9,0 điểm;
tỷ lệ chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh mức
Trong đó, nhóm phụ nữ sống ở nông thôn có
tốt chiếm 60,6%. Phân tích hồi quy đa biến ghi
CLCS tốt hơn nhóm sống ở thành thị 2,278 (KTC
nhận 3 yếu tố thật sự liên quan đến CLCS của
phụ nữ mãn kinh, trong đó, nhóm phụ nữ sống
95% 1,262-4,11) lần với p=0,006. Thực tế,
nhóm phụ nữ sống ở nông thôn có môi trường
ở nông thôn có CLCS tốt hơn nhóm sống ở thành
yên tĩnh và ít ồn ào, áp lực hơn so với phụ nữ
thị 2,278 (KTC 95% 1,262-4,11) lần với p =
0,006; phụ nữ mắc bệnh mãn tính có nguy cơ
CLCS kém hơn nhóm không mắc bệnh 1,843
(KTC 95% 1,021-3,326) lần với p=0,043; nhóm
không tiếp cận thông tin chăm sóc sức khỏe mãn
thành thị. Phụ nữ mắc bệnh mãn tính có nguy cơ
CLCS kém hơn nhóm không mắc bệnh 1,843
(KTC 95% 1,021-3,326) lần với p=0,043. Khi
phụ nữ không mắc bệnh thì trạng thái sức khỏe
cũng như tinh thần tốt hơn so với nhóm mắc
kinh có tỷ lệ CLCS tốt cao hơn nhóm còn lại
bệnh. Khi mắc các bệnh mãn tính, người bệnh
2,698 (KTC 95% 1,497-4,864) với p=0,001.
phải điều trị và cần sự can thiệp y tế hàng ngày
và kéo dài suốt đời. Thời gian bệnh càng kéo
TÀI LIỆU THAM KHẢO
dài, uống thuốc điều trị lâu ngày cũng gây các
tác dụng phụ không mong muốn, kèm thêm các
biến chứng do bệnh mang lại, ảnh hưởng đến
thể trạng của người bệnh, tăng sự mệt mỏi, lo
âu, thậm chí trầm cảm. Chính điều này gây giảm
sút chất lượng cuộc sống của người mắc bệnh.
Kết quả phù hợp với một số nghiên cứu khác.
Trần Thị Thanh Nhàn ghi nhận yếu tố liên quan
đến chất lượng cuộc sống phụ nữ mãn kinh là
1. Bộ môn Phụ sản Trường Đai học Y Dược Huế
(2007), Sản phụ khoa, Nhà xuất bản Y học Hà Nội.
2. Phạm Minh Đức và cộng sự (2004), Nghiên
cứu thực trạng sức khỏe sinh sản của phụ nữ Việt
Nam mãn kinh và đề xuất các giải pháp can thiệp
nhằm nâng cao chất lượng sống của phụ nữ lứa
tuổi này, Báo cáo tổng kết đề tài độc lập cấp Nhà
Nước, Bộ Khoa học-Công nghệ, Hà Nội, tr.53.
3. Nguyễn Thị Hòa (2018), “Đánh giá chất lượng
cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh tại huyện Kiến Thụy,
136
TẠP CHÍ Y HỌC VIỆT NAM TẬP 499 - THÁNG 2 - SỐ 1&2 - 2021
Hải Phòng”, Tạp chí nghiên cứu khoa học, tập 2
7. Phạm Thị Vân Như (2016), “Đánh giá chất
lượng cuộc sống của phụ nữ sau mãn kinh và các
yếu tố liên quan tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm
Đồng”, Tạp chí y học thành phố Hồ Chí Minh, Tập
20 (1), tr. 241-246.
(1), tr. 62-66
4. Hoàng Thị Liên, Lương Thanh Bảo Yến, Võ
Văn Thắng (2014), “Chất lượng cuộc sống và
các yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn kinh tại thành
phố Huế”, Tạp chí y tế công cộng, số 6, tr.33-37.
5. Trịnh Hoài Ngọc (2013), Hiệu quả của đi bộ và
tư vấn về rối loạn quanh mãn kinh tại bệnh viện
Từ Dũ, Luận văn tốt nghiệp bác sỹ nội trú, Đại học
Y dược Hồ Chí Minh.
8. Hunter MS (2000), "The Women's Health
Questionnaire
(WHQ):
the
development,
standardization and application of a measure of
mid-aged women's emotional and physical health".
Quality of Life Res, 9, 733-738.
6. Trần Thị Thanh Nhàn (2016), “Nghiên cứu chất
lương cuộc sống và yếu tố liên quan ở phụ nữ mãn
kinh thành phố Huế”, Tạp chí y tế công cộng, Tập
6 (42), tr. 42-47.
9. Sudhaa Shama, Neha Mahajan (2015),
“Menopausal symptoms and its effect on quality of
life in urban versus rural women: A cross-sectional
study”, Journal Midlife Health, Vol 6 (1); pp. 16-20.
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ PHÂN LOẠI BỆNH
TĂNG SẢN THƯỢNG THẬN BẨM SINH THỂ THIẾU 21-HYDROXYLASE
Vũ Chí Dũng*,**, Trần Huy Thịnh*, Trần Vân Khánh*
xuất hiện ở bệnh nhân thể mất muối với tỉ lệ ở nam là
TÓM TẮT34
91,8%, ở nữ là 78,6%.
Tăng sản thượng thận bẩm sinh thể thiếu 21-
Từ khóa: Tăng sản thượng thận bẩm sinh, 21
hydroxylase là bệnh gây nên do đột biến gen
Hydroxylase, Đặc điểm lâm sàng, thể bệnh
CYP21A2 làm mất hoặc thiếu hụt enzym 21-
hydroxylase, một enzym then chốt tham gia vào quá
SUMMARY
trình tổng hợp cortisol, dẫn đến hậu quả là không
CLINICAL CHARACTERISTICS AND
tổng hợp hoặc giảm tổng hợp cortisol, tăng tổng hợp
CLASSIFICATION OF 21-HYDROXYLASE
DEFICIENT – CONGENITAL ADRENAL
HYPERPLASIA
testosterone đưa đến hình ảnh lâm sàng suy thượng
thận cấp, nam hóa đơn thuần ở trẻ gái và dậy thì sớm
ở trẻ trai. Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng và
được phân loại thành 3 thể bệnh chính: mất muối,
nam hóa đơn thuần, không cổ điển. Việc phân loại thể
bệnh và theo dõi đặc điểm lâm sàng ở bệnh nhân
tăng sản thượng thận bẩm sinh có ý nghĩa quan trọng
trong chẩn đoán và điều trị bệnh. Nghiên cứu thực
hiện với mục tiêu: Xác định tỉ lệ các thể bệnh và đặc
điểm lâm sàng của bệnh nhân tăng sản thượng thận
bẩm sinh do thiếu hụt enzym 21-hydroxylase. 209
bệnh nhân được phân tích và đánh giá đặc điểm lâm
sàng tại Bệnh viện Nhi Trung Ương. Kết quả cho thấy,
đã phát hiện được 77% bệnh nhân thể mất muối,
21% thể nam hóa đơn thuần chiếm và 2% mắc thể
không cổ điển. Bệnh nhân thể mất muối và thể không
cổ điển được chẩn đoán sớm hơn (32 ngày và 18,5
ngày) so với bệnh nhân thể nam hóa đơn thuần (1590
ngày) (p<0.001). Thể bệnh mất muối có tỉ lệ nam/nữ
gần tương đương nhau (nam 46,6% và nữ 54,4%).
Thể nam hóa đơn thuần có tỉ lệ bệnh nhân nữ cao
hơn (81,8% nữ và 18,2% nam). Mơ hồ giới tính ở
bệnh nhân nữ ở cả ba thể mất muối, nam hóa đơn
thuần và không cổ điển là tương đương nhau (lần lượt
96%, 97%, và 100%). Cơn suy thượng thận cấp chỉ
21-hydroxylase deficient
– congenital adrenal
hyperplasiais a disease caused by a mutation in the
CYP21A2 gene, resulting loss of function of the 21-
hydroxylase enzyme, a key enzyme involved in the
synthesis of cortisol, resulting in reduced cortisol
synthesis, increased testosterone synthesis which lead
to the clinical manifestations of acute adrenal failure,
virilizing in girls and early puberty in boys. The disease
vary in term of clinical manifestations and is classified
into three major disease categories: salt wasting,
simple virilizing, and non-classical. Classification of
disease and clinical characteristics in patients with
congenital adrenal hyperplasia is important in the
diagnosis and treatment of the disease. Objective: To
determine the incidence and clinical characteristics of
patients with congenital hyperplasia due to 21-
hydroxylase deficiency. 209 patients admited to the
National Children Hospital were analyzed and
evaluated clinically. Results showed that 77% of
patients were classified as salt wasting, 21% as simple
virilizing and 2% as non-classical. Patients in the salt
wasting and non-classical group were diagnosed
earlier (32 days and 18.5 days) than those in the
simple virilizing group (1590 days) (p <0.001). The
proportion of males / females were nearly equal in salt
wasting group (46.6% males and 54.4% females).
Simple virilizing group has a higher proportion of
female patients (81.8% female and 18.2% male). The
incident of gender ambiguity in female patients in all
three categories of salt loss, male and female, were
similar (96%, 97%, and 100%, respectively). Acute
*Trường Đại học Y Hà Nội
**Bệnh viện Nhi Trung ương
Chịu trách nhiệm chính: Trần Vân Khánh
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 14.12.2020
Ngày phản biện khoa học: 25.01.2021
Ngày duyệt bài: 8.2.2021
137
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chất lượng cuộc sống ở phụ nữ mãn kinh và yếu tố liên quan tại thành phố Cần Thơ năm 2020", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
danh_gia_chat_luong_cuoc_song_o_phu_nu_man_kinh_va_yeu_to_li.pdf

