Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh tay chân miệng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên
TNU Journal of Science and Technology
225(11): 143 - 148
ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH
TAY CHÂN MIỆNG Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN
Vi Ngọc Linh*, Khổng Thị Ngọc Mai
Trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên
TÓM TẮT
Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễn thường gặp ở trẻ nhỏ. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mô tả
đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh nhi mắc bệnh tay chân miệng tại
Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ 01/2019 đến 07/2020. Nghiên cứu bằng phương pháp mô
tả cắt ngang đã theo dõi 120 trẻ từ 02 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán xác định bệnh tay chân
miệng theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nam/ nữ là 1,9/1.
Nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất là dưới 3 tuổi. Các triệu chứng hay gặp: sốt cao, đau miệng, giật
mình, nôn ói. Bạch cầu tăng chiếm 55%. Tiểu cầu > 400.000/mm3 chiếm 19,2%. CRP tăng chiếm
77,5%, EV71 dương tính chiếm 5,8%. Các yếu tố có liên quan đến mức độ nặng của bệnh tay chân
miệng: sốt cao >39oC, nôn ói, thở nhanh, mạch nhanh > 150 lần/ phút, giật mình, run chi, yếu chi,
sang thương niêm mạc, tiểu cầu > 350.000/mm3, test EV71 dương tính.
Từ khóa: Tay chân miệng; yếu tố liên quan đến mức độ nặng; truyền nhiễm; trẻ em; lâm sàng
Ngày nhận bài: 29/9/2020; Ngày hoàn thiện: 28/10/2020; Ngày đăng: 31/10/2020
CHARACTERISTICS AND SOME FACTORS RELATED TO SEVEREHAND, FOOT
AND MOUTH DISEASE IN CHILDREN IN THAI NGUYEN CENTRAL HOSPITAL
Vi Ngoc Linh*, Khong Thi Ngoc Mai
TNU – University of Medicine and Pharmacy
ABSTRACT
Hand, foot and mouth disease is a common infectious disease in young children. Our study aims to
describe the characteristics and some factors related to the severity of patients with hand, foot and
mouth disease at Thai Nguyen Central Hospital from January 2019 to July 2020. The study by
cross-sectional descriptive method followed 120 children from 02 months to 5 years old who were
diagnosed with the guidance of the Ministry of Health of Vietnam. Research results show that the
male/ female ratio was 1.9/ 1. Age group most affected was under 3 years old. Common symptoms
included high fever, mouth pain, startling, and vomiting. Leukocytes increased by 55%. Platelets >
400,000/ mm3 accounted for 19.2%. CRP increased by 77.5%, positive EV71 accounted for 5.8%.
Factors related to the severity of hand, foot and mouth disease consisted of high fever > 39oC,
vomiting, tachypnea, tachycardia > 150 beats/ min, startle, limb tremor, limb weakness, mucosal
lesions, platelets 350,000/ mm3, and positive EV71 test.
Keywords: Hand, foot and mouth; risk factors; infectious; children; clinical.
Received: 29/9/2020; Revised: 28/10/2020; Published: 31/10/2020
143
Vi Ngọc Linh và Đtg
1. Đặt vấn đề
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(11): 143 - 148
- Cỡ mẫu được ước tính theo công thức tính
cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh nhiễm
trùng do virus đường ruột gây ra, thường gặp
ở trẻ nhỏ, có thể xảy ra thành những đợt dịch
lớn. Theo hệ thống báo cáo giám sát bệnh
truyền nhiễm, từ đầu năm 2020 đến nay, cả
nước ghi nhận 10.745 trường hợp mắc TCM
tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó có 6.662
trường hợp nhập viện, không có tử vong [1].
Virus gây bệnh chủ yếu là Coxackie A16 và
Enterovirus 71 với các đặc điểm lâm sàng:
phát ban dạng bóng nước ở tay, chân, mông,
gối, khuỷu, và/ hoặc loét miệng. Bệnh có thể
diễn tiến nặng với các tổn thương ở não, đặc
biệt là thân não, ảnh hưởng lên tim, phổi…
gây nên bệnh cảnh sốc, suy hô hấp, phù phổi
và tử vong nếu không được chẩn đoán và điều
trị kịp thời. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên
cứu “Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến
bệnh TCM nặng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung
ương Thái Nguyên” để giúp các bác sĩ lâm
sàng có thêm kinh nghiệm trong chẩn đoán,
tiên lượng và kết quả điều trị tốt hơn.
p. (1 – p)
n = Z2
(1-α/2)
.
d2
n: Là cỡ mẫu tối thiểu cần có
α=0.05: Mức ý nghĩa thống kê
Z(1-α/2) = 1.96: Hệ số giới hạn tin cậy
d= 0.05: Độ chính xác mong muốn
p = 0.915: tỉ lệ trẻ mắc tay chân miệng có
phát ban dạng bóng nước ở da theo nghiên
cứu của Nguyễn Kim Thư [3].
Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu tối thiểu là 120.
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện.
2.4. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu:
Tiến hành thu thập số liệu bằng bệnh án mẫu
đã thiết kế sẵn.
2.5. Xử lý số liệu: Theo phương pháp thống
kê y học. Phần mềm SPSS 20.0
3. Kết quả nghiên cứu
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Bệnh TCM xuất hiện ở hầu hết các quý trong
năm. Bệnh bùng phát vào các tháng 7, 8, 9, 10.
Cao nhất vào tháng 9 có 36 ca chiếm 30%.
- Tiêu chuẩn chọn lựa: Trẻ từ 02 tháng đến 5
tuổi được chẩn đoán xác định bệnh TCM dựa
theo lâm sàng và cận lâm sàng theo hướng
dẫn của Bộ Y tế Việt Nam (2012) [2].
Thời gian nằm viện trung bình của các bệnh
nhi là 5,23 ngày. Số ngày nằm viện ngắn nhất
là 3 ngày, số ngày nằm viện lâu nhất là 13
ngày. Trong đó, thời gian nằm từ 3 – 7 ngày
chiếm tỉ lệ cao nhất là 69,2%, số ngày nằm
viện < 3 ngày là 19,2%. Số ngày nằm viện > 7
ngày chiếm 11,7%.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân chuyển bệnh
viện khác, hoặc bỏ điều trị, không theo dõi
đến khi bệnh ổn định.
- Địa điểm và thời gian: Bệnh viện Trung ương
Thái Nguyên, tháng 01/2019 – 07/2020.
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang
2.3. Cỡ mẫu
Bảng 1. Đặc điểm chung bệnh nhân mắc TCM trong nghiên cứu
Giới
Nam
Nữ
Tổng
%
Tuổi (tháng)
≥ 2 – <12 tháng
25
37
12
5
0
79
65,8
11
20
7
2
1
36
57
19
7
1
120
100
30,0
47,5
15,8
5,8
0,8
100,0
≥ 12 – <24 tháng
≥ 24 – <36 tháng
≥ 36 – < 48 tháng
≥ 48 – < 60 tháng
Tổng
41
34,2
%
Nhận xét: Kết quả bảng 1 cho thấy có 79 trẻ nam (65,8%) và 41 trẻ nữ (34,2%), tỷ lệ nam/nữ là
1,9/1. Nhóm tuổi từ ≥ 12 đến < 24 tháng mắc nhiều nhất chiếm 47,5%, trong 3 năm đầu tỉ lệ mắc
cao (93,3%).
144
Vi Ngọc Linh và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(11): 143 - 148
3.2. Đặc điểm lâm sàng
miệng) gặp nhiều nhất (45,8%). Sang thương
da đơn thuần ít gặp nhất (17,5%).
Bảng 2. Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng
Bệnh nhân
Kết quả bảng 3 cho thấy hầu hết bệnh nhân ở độ
2a (75%). Độ 3 chỉ có 1,7% và không có độ 4.
n
%
Đặc điểm
Đau miệng
Giật mình
Sốt cao
95
91
85
56
55
79,2
75,8
70,8
46,7
45,8
36,7
17,5
25,8
25,0
17,5
3,3
3.3. Đặc điểm cận lâm sàng
Bảng 4. Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân
Nôn ói
lúc nhập viện
Sang thương niêm mạc (loét miệng)
Sang thương da + niêm mạc miệng 44
Sang thương da đơn thuần
Tiêu chảy
Mạch nhanh >150 lần/phút
Run chi
Bệnh nhân
n
%
Kết quả
21
31
30
21
4
11
05
1
Số lượng bạch cầu ≥ 12.000/ mm3 66
Số lượng bạch cầu ≥ 16.000/ mm3 54
Số lượng tiểu cầu
55
45,0
≤ 150.000/ mm3
5
4,2
35
Co giật
Thở nhanh theo tuổi
Li bì
>150.000 - ≤ 300.000/ mm3
>300.000 - ≤ 350.000/ mm3
>350.000 - ≤ 400.000/ mm3
> 400.000/ mm3
42
29
21
23
93
22
7
9,2
4,2
0,8
24,2
17,5
19,2
77,5
18,3
5,8
Yếu chi
Bảng 3. Phân độ lâm sàng
CRP tăng
Glucose tăng
Mức độ
Độ 1
Độ 2a
Độ 2b
Độ 3
n
1
90
27
2
%
EV71 dương tính
0,8
75,0
22,5
1,7
0
100
Kết quả bảng 4 cho thấy có 55% bệnh nhân
có bạch cầu tăng > 12.000/mm3. Số lượng
bạch cầu từ > 16.000/mm3, chiếm 45%. Có
19,2% bệnh nhi có số lượng tiểu cầu tăng >
400.000/mm3. CRP tăng (77,5%), test EV71
dương tính (5,8%).
Độ 4
Tổng
0
120
Kết quả bảng 2 cho thấy các triệu chứng
thường gặp gồm: đau miệng, giật mình, sốt
cao, nôn ói. Sang thương niêm mạc (loét
Bảng 5. Mối liên quan giữa các yếu tố với mức độ nặng của bệnh
Độ nặng (n = 29) Độ nhẹ (n= 91)
Mức độ
p
Đặc điểm
Sốt cao
Giới nam
Giật mình
Mạch nhanh
Thở nhanh
Nôn ói
Tiêu chảy
Co giật
n
27
20
27
16
6
19
11
4
%
n
58
59
64
14
5
37
20
0
%
31,8
25,3
29,7
53,3
54,5
33,9
35,5
100
80
68,2
74,7
70,3
46,7
45,5
66,1
64,5
0
0,02
0,683
0,013
<0,001
0,023
0,019
0,087
0,03
0,012
<0,001
0,242
0,546
0,040
0,015
0,09
Li bì
Run chi
Yếu chi
4
1
20
12
1
4
57,1
100
19
13,6
34,5
31,5
73,9
45,5
36,4
85,7
9
0
42,9
0
81
86.4
65.5
68.5
26.1
54.5
63.6
14.3
Sang thương da
Sang thương da + loét miệng
Loét miệng đơn thuần
Bạch cầu ≥ 16000/mm3
Tiểu cầu >400.000/mm3
Tiểu cầu >350.000/mm3
Glucose tăng
EV71
17
38
36
37
6
24
14
1
6
19
17
17
20
8
<0,001
<0,001
0,139
0,001
6
145
Vi Ngọc Linh và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(11): 143 - 148
Nhận xét: Các yếu tố sốt cao, giật mình, mạch
nhanh, thở nhanh, nôn ói, co giật, li bì, run
chi, sang thương da + loét miệng, loét miệng
đơn thuần, tiểu cầu > 350.000/mm3, EV71
dương tính có mối liên quan đến mức độ nặng
của bệnh TCM.
Triệu chứng tuần hoàn và hô hấp gồm mạch
nhanh (25%), thở nhanh (9,2%). Tác giả
Phạm Thị Thu Thủy và cộng sự (2014) ghi
nhận 45,9% bệnh nhân có rối loạn hô hấp,
thường là thở nhanh [5]. Nghiên cứu của
chúng tôi có tỉ lệ gặp rối loạn ít hơn có thể vì
ít bệnh nhân độ nặng.
4. Bàn luận
Nghiên cứu có 55 trẻ (45,8%) chỉ có sang
thương ở niêm mạc (loét miệng). Vừa có sang
thương da và vừa loét miệng có 44 trường
hợp (36,7%). Sang thương đơn thuần có 21
trường hợp, chiếm 17,5%.
4.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu
Qua nghiên cứu 120 bệnh nhi mắc bệnh TCM
tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên,
chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ nam/nữ là 1,9/1.
Bệnh TCM xảy ra ở nam giới nhiều hơn ở nữ
giới. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu
của Nguyễn Kim Thư năm 2016, tỉ lệ nam/nữ
1,7/1 [3]. Bệnh nhân chủ yếu là nhóm tuổi
dưới 3 tuổi. Trong đó nhóm tuổi từ ≥ 12 – 24
tháng mắc nhiều nhất chiếm 47,5%. Nhóm từ
49 đến 60 tháng tuổi chiếm tỉ lệ ít nhất
(0,8%). Kết quả này tương tự với nghiên cứu
về bệnh TCM ở miền Bắc nước ta của Ngũ
Duy Nghĩa và cộng sự [4]. Trẻ nhỏ hơn 24
tháng thường mắc bệnh nhiều hơn có thể vì
trẻ chưa có khả năng vệ sinh và có thói quen
đưa tay vào miệng.
Phân độ 2a chiếm tỉ lệ cao nhất 75,0%. Độ
nặng có 2b chiếm tỉ lệ cao (22,5%), độ 3
chiếm 1,7% và không có bệnh nhân độ 4. Các
nghiên cứu trước đây tại khu vực phía Bắc
cũng cho thấy kết quả tương tự với phân độ
nhẹ chiếm tỉ lệ cao (trên 90%) [3], [4].
Các xét nghiệm về công thức máu, sinh hóa
được theo dõi ngay từ lúc nhập viện. Có 45
bệnh nhận mắc bệnh TCM có bạch cầu tăng
theo tuổi (chiếm 37,5%). Giá trị bạch cầu
trung bình là 15.050/mm3. Thấp nhất là
3.700/mm3, cao nhất là 26.300/mm3. Số lượng
tiểu cầu trung bình là 320.000/mm3. Có 23
bệnh nhân có tiểu cầu tăng > 400.000/mm3
(chiếm 19,2%). Nghiên cứu cho thấy glucose
máu tăng chiếm 18,3%, giá trị glucose trung
bình là 4,98 mmol/l. Tỷ lệ CRP tăng chiếm
77,5%, đây là một tỷ lệ khá cao với bệnh
truyền nhiễm virus. Tỷ lệ EV71 dương tính là
5,8%, tỷ lệ này thấp có thể do tác nhân gây
bệnh TCM ở khu vực phía Bắc khá đa dạng
bao gồm cả virus Coxsakie A6 (33%), EV71
(24,9%), Enterovirus (21,7%) và thấp hơn là
CA16 và CA10 với tỷ lệ lần lượt là 10,2% và
9,7% [4].
4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của
đối tượng nghiên cứu
Đa số bệnh nhân khởi phát bệnh với triệu
chứng sốt, sốt cao gặp ở 70,8%. Đây là biểu
hiện đáp ứng của cơ thể với tình trạng nhiễm
virus. Đau miệng là triệu chứng hay gặp nhất
(79,2%) và là dấu hiệu sớm cảnh báo mắc
bệnh TCM. Mặc dù bệnh TCM lây qua đường
tiêu hóa, nhưng tiêu chảy chỉ gặp ở 31 bệnh
nhân, chiếm 25,8%. Nôn ói chiếm 46,7 %.
Nôn ói không chỉ là triệu chứng của đường
tiêu hóa mà còn là triệu chứng thần kinh
không đặc hiệu trong bệnh TCM [5].
4.3. Mối liên quan giữa các yếu tố và mức
độ nặng của bệnh
Biểu hiện rối loạn thần kinh ở bệnh nhân
TCM đa dạng. Các triệu chứng thần kinh như
co giật (3,3%), li bì (4,2%), run chi (17,5%),
yếu chi (0,8%), và triệu chứng giật mình hay
gặp nhất (75,8%). Trong nghiên cứu của
Nguyễn Bạch Huệ năm 2013 tại bệnh viện
Nhi Đồng 1 thì giật mình chiếm 83,8% [6].
Nghiên cứu ghi nhận giới tính nam không có
mối liên quan với mức độ nặng của bệnh với
p = 0,683 mặc dù tỉ lệ nam/nữ là 1,9/1.
Nguyên nhân của sự khác biệt này chưa được
làm sáng tỏ, tuy nhiên người ta nghi ngờ có
liên quan đến khả năng mẫn cảm ở mức độ
gen của ký chủ [3].
146
Vi Ngọc Linh và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(11): 143 - 148
Bệnh nhân mắc TCM sốt cao trên 39oC có
mối liên quan đến mức độ nặng của bệnh
TCM, p = 0,02. Tỷ lệ này giống với nghiên
cứu của Nguyễn Kim Thư, sốt cao trên
38,5ºC có liên quan đến bệnh nặng với OR =
2,7 và p < 0,05 [3].
cắt tiểu cầu > 400.000/mm3 có ý nghĩa thống
kê [3], tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi với
tiểu cầu cầu > 350.000/mm3 đã có mối liên
quan có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của
Bùi Quốc Thắng cũng ghi nhận điểm cắt tiểu
cầu >350.000/mm3 có liên quan đến chuyển
độ nặng với OR là 3,6 (95% CI: 3,1 – 6,3) [8].
Tiểu cầu tăng có lẽ do giữ vai trò quan trọng
trong phản ứng của cơ thể đối với nhiễm
trùng, đặc biệt là siêu vi. Vì vậy, tăng tiểu cầu
giải thích phản ứng viêm mạnh làm tăng nguy
cơ mắc bệnh nặng. Trẻ nhiễm EV71 có liên
quan đến mức độ nặng của bệnh với p =
0,001. Nhiều nghiên cứu ghi nhận EV71 là
tác nhân gây bệnh có liên quan đến mức độ
nặng của bệnh [3], [6].
Phân tích mối liên quan giữa các triệu chứng
thần kinh với mức độ nặng của bệnh cho thấy:
giật mình, run chi, yếu chi, co giật có liên
quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng
của bệnh. Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim
Thư, tỷ lệ trẻ có triệu chứng giật mình chiếm
đến 51,4% và có liên quan đến bệnh nặng với
OR = 4,4 [3]. Giật mình gặp ở các bệnh nhân
độ nhẹ và độ nặng, mặc dù không phải bệnh
nhân nào có triệu chứng giật mình cũng diễn
biến nặng nhưng cần theo dõi sát tần số giật
mình để phát hiện biến chứng thần kinh để xử
lý kịp thời. Ghi nhận mối liên quan giữa nôn
ói với mức độ nặng của bệnh TCM, với p =
0,019. Như vậy nôn ói là một dấu hiệu dự báo
bệnh nặng.
Trong nghiên cứu này, bạch cầu
>
16.000/mm3 không có liên quan với mức độ
nặng của bệnh. Tác giả Tăng Chí Thượng
cũng cho kết quả tương tự [7]. Mặc dù đây là
một bệnh do virus nhưng có thể do bệnh
TCM gây nên các tổn thương bội nhiễm. Do
đó khi tiến trình viêm xảy ra bạch cầu sẽ được
phóng thích và tăng nhanh trong máu. Chúng
tôi không ghi nhận mối liên quan giữa tăng
đường huyết với mức độ nặng của bệnh.
Trong nghiên cứu của Phạm Thị Thu Thủy lại
thấy đường huyết tăng có ý nghĩa ở bệnh
nhân độ 4 và bệnh nhân tử vong [5]. Có thể
do trong nghiên cứu của chúng tôi không có
bệnh nhân độ 4, tỉ lệ bệnh nhân độ 3 thấp.
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa
loét miệng đơn thuần với mức độ nặng của
bệnh TCM với p = 0.015. Kết quả này tương
tự với nghiên cứu của Tăng Chí Thượng và
cộng sự khi phân tích các yếu tố nguy cơ gây
biến chứng [7]. Vừa có sang thương da, vừa
có loét miệng cũng có mối liên quan với mức
độ nặng của bệnh, có ý nghĩa thống kê với p =
0.04. Hạn chế của nghiên cứu là không mô tả
được số lượng sang thương, hình ảnh cụ thể
của vết loét.
5. Kết luận
- Bệnh TCM xảy ra chủ yếu ở nhóm tuổi từ 1
đến < 3 tuổi. Trẻ nam mắc cao hơn ở trẻ nữ
với tỷ lệ 1,9/1.
Mạch nhanh và thở nhanh mặc dù trong
nghiên cứu xuất hiện ít nhưng lại có liên quan
đến độ nặng của bệnh với lần lượt p = <0,001
và p = 0,023. Đây là các biểu hiện của rối
loạn hệ thần kinh tự động, chúng được tạo
nên bởi vai trò đáp ứng viêm của cytokin, do
phóng thích quá mức các catecholamin cũng
như tác động trực tiếp đến trung tâm tuần
hoàn, hô hấp ở thân não [3].
- Các triệu chứng lâm sàng hay gặp như sốt cao
(70,8%), đau miệng (79,2%), giật mình
(75,8%), nôn ói (46,7%), bạch cầu tăng (55%),
tiểu cầu > 400.000/mm3 (19,2%), CRP tăng
(77,5%), EV71 dương tính (5,8%).
- Triệu chứng có liên quan đến mức độ nặng
của bệnh TCM bao gồm sốt cao >39oC, nôn
ói, thở nhanh, mạch nhanh > 150 lần/phút,
giật mình, run chi, yếu chi, sang thương ở
niêm mạc. Tiểu cầu > 350.000/mm3, test
EV71 dương tính.
Chúng tôi nhận thấy có mối liên quan giữa
tiểu cầu > 350.000/mm3 với mức độ nặng của
bệnh, p <0,001. Một số nghiên cứu chọn điểm
147
Vi Ngọc Linh và Đtg
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN
225(11): 143 - 148
characteristics and treatment results of hand,
foot and mouth disease at Dong Nai
Children's Hospital resuscitation department
01/2012 - 12/2013," Ho Chi Minh City
Medical Journal, vol. 18, no. 1, pp. 346-352,
2014.
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES
[1]. M. T. V. Hoang et al., "Clinical and
aetiological study of hand, foot and mouth
disease in southern Vietnam, 2013-2015:
Inpatients and outpatients," Int J Infect Dis,
vol. 80, pp. 1-9, 2019.
[2]. The Ministry of Health, Decision No. 1003/
QD-BYT dated 30 March 2012 guiding the
diagnosis and treatment of Hand, Foot and
Mouth disease, 2012.
[3]. N. K. Thu, "Research on clinical and
subclinical characteristics and the etiology of
the virus in hand, foot and mouth disease
patients in Vietnam (2011 - 2012)," Doctor of
Medicine Thesis, Hanoi Medical University,
pp. 108 - 143, 2016.
[4]. N. D. Nghia et al., "Results of sentinel
surveillance of hand, foot and mouth disease
in North Vietnam, 2016 - 2018," Journal of
Preventive Medicine, vol. 29, no. 12, pp. 63-
69, 2019.
[6]. N. B. Hue, "Epidemiological, clinical, and
subclinical characteristics related to death of
severe hand, foot and mouth disease (Grades
III and IV) treated at Children's Hospital 1 in
2011," Ho Chi Minh City Medical Journal,
vol. 17, no. 3, pp. 246-255, 2013.
[7]. T. C. Thuong et al., "Prognostic factors for
hand, foot and mouth disease caused by
enterovirus," Ho Chi Minh City Medical
Journal, vol. 15, no. 3, pp. 102-108, 2011.
[8]. B. Q. Thang, B. Q. Vinh, and V. B. Nga,
"Relationship between the number of
leukocytes, platelets and fast blood sugar at
admission with the transition in pediatric
patients, hand, foot, mouth and mouth at level
2A in Children's Hospital from September
2012 to January 2013," Ho Chi Minh City
Medical Journal, vol. 18, no. 1, pp. 353-358,
2014.
[5]. P. T. T. Thuy, and B. Q. Thang,
"Epidemiological - clinical
- subclinical
148
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh tay chân miệng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
dac_diem_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_den_muc_do_nang_cua_benh.pdf

