Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh tay chân miệng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên

TNU Journal of Science and Technology  
225(11): 143 - 148  
ĐẶC ĐIỂM VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN ĐẾN MỨC ĐỘ NẶNG CỦA BỆNH  
TAY CHÂN MIỆNG Ở TRẺ EM TẠI BỆNH VIỆN TRUNG ƯƠNG THÁI NGUYÊN  
Vi Ngọc Linh*, Khổng Thị Ngọc Mai  
Trường Đại học Y Dược – ĐH Thái Nguyên  
TÓM TẮT  
Tay chân miệng là bệnh truyền nhiễn thường gặp ở trẻ nhỏ. Nghiên cứu của chúng tôi nhằm mô tả  
đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh nhi mắc bệnh tay chân miệng tại  
Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên từ 01/2019 đến 07/2020. Nghiên cứu bằng phương pháp mô  
tả cắt ngang đã theo dõi 120 trẻ từ 02 tháng đến 5 tuổi được chẩn đoán xác định bệnh tay chân  
miệng theo hướng dẫn của Bộ Y tế Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỉ lệ nam/ nữ là 1,9/1.  
Nhóm tuổi mắc bệnh nhiều nhất là dưới 3 tuổi. Các triệu chứng hay gặp: sốt cao, đau miệng, giật  
mình, nôn ói. Bạch cầu tăng chiếm 55%. Tiểu cầu > 400.000/mm3 chiếm 19,2%. CRP tăng chiếm  
77,5%, EV71 dương tính chiếm 5,8%. Các yếu tố có liên quan đến mức độ nặng của bệnh tay chân  
miệng: sốt cao >39oC, nôn ói, thở nhanh, mạch nhanh > 150 lần/ phút, giật mình, run chi, yếu chi,  
sang thương niêm mạc, tiểu cầu > 350.000/mm3, test EV71 dương tính.  
Từ khóa: Tay chân miệng; yếu tố liên quan đến mức độ nặng; truyền nhiễm; trẻ em; lâm sàng  
Ngày nhận bài: 29/9/2020; Ngày hoàn thiện: 28/10/2020; Ngày đăng: 31/10/2020  
CHARACTERISTICS AND SOME FACTORS RELATED TO SEVEREHAND, FOOT  
AND MOUTH DISEASE IN CHILDREN IN THAI NGUYEN CENTRAL HOSPITAL  
Vi Ngoc Linh*, Khong Thi Ngoc Mai  
TNU – University of Medicine and Pharmacy  
ABSTRACT  
Hand, foot and mouth disease is a common infectious disease in young children. Our study aims to  
describe the characteristics and some factors related to the severity of patients with hand, foot and  
mouth disease at Thai Nguyen Central Hospital from January 2019 to July 2020. The study by  
cross-sectional descriptive method followed 120 children from 02 months to 5 years old who were  
diagnosed with the guidance of the Ministry of Health of Vietnam. Research results show that the  
male/ female ratio was 1.9/ 1. Age group most affected was under 3 years old. Common symptoms  
included high fever, mouth pain, startling, and vomiting. Leukocytes increased by 55%. Platelets >  
400,000/ mm3 accounted for 19.2%. CRP increased by 77.5%, positive EV71 accounted for 5.8%.  
Factors related to the severity of hand, foot and mouth disease consisted of high fever > 39oC,  
vomiting, tachypnea, tachycardia > 150 beats/ min, startle, limb tremor, limb weakness, mucosal  
lesions, platelets 350,000/ mm3, and positive EV71 test.  
Keywords: Hand, foot and mouth; risk factors; infectious; children; clinical.  
Received: 29/9/2020; Revised: 28/10/2020; Published: 31/10/2020  
* Corresponding author. Email: [email protected]  
143  
Vi Ngọc Linh và Đtg  
1. Đặt vấn đề  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(11): 143 - 148  
- Cỡ mẫu được ước tính theo công thức tính  
cỡ mẫu ước lượng một tỷ lệ:  
Bệnh tay chân miệng (TCM) là bệnh nhiễm  
trùng do virus đường ruột gây ra, thường gặp  
ở trẻ nhỏ, có thể xảy ra thành những đợt dịch  
lớn. Theo hệ thống báo cáo giám sát bệnh  
truyền nhiễm, từ đầu năm 2020 đến nay, cả  
nước ghi nhận 10.745 trường hợp mắc TCM  
tại 63 tỉnh, thành phố, trong đó có 6.662  
trường hợp nhập viện, không có tử vong [1].  
Virus gây bệnh chủ yếu là Coxackie A16 và  
Enterovirus 71 với các đặc điểm lâm sàng:  
phát ban dạng bóng nước ở tay, chân, mông,  
gối, khuỷu, và/ hoặc loét miệng. Bệnh có thể  
diễn tiến nặng với các tổn thương ở não, đặc  
biệt là thân não, ảnh hưởng lên tim, phổi…  
gây nên bệnh cảnh sốc, suy hô hấp, phù phổi  
và tử vong nếu không được chẩn đoán và điều  
trị kịp thời. Do đó, chúng tôi thực hiện nghiên  
cứu “Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến  
bệnh TCM nặng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung  
ương Thái Nguyên” để giúp các bác sĩ lâm  
sàng có thêm kinh nghiệm trong chẩn đoán,  
tiên lượng và kết quả điều trị tốt hơn.  
p. (1 – p)  
n = Z2  
(1-α/2)  
.
d2  
n: Là cỡ mẫu tối thiểu cần có  
α=0.05: Mức ý nghĩa thống kê  
Z(1-α/2) = 1.96: Hệ số giới hạn tin cậy  
d= 0.05: Độ chính xác mong muốn  
p = 0.915: tỉ lệ trẻ mắc tay chân miệng có  
phát ban dạng bóng nước ở da theo nghiên  
cứu của Nguyễn Kim Thư [3].  
Thay vào công thức, ta có cỡ mẫu tối thiểu là 120.  
Phương pháp chọn mẫu thuận tiện.  
2.4. Kỹ thuật và công cụ thu thập số liệu:  
Tiến hành thu thập số liệu bằng bệnh án mẫu  
đã thiết kế sẵn.  
2.5. Xử lý số liệu: Theo phương pháp thống  
kê y học. Phần mềm SPSS 20.0  
3. Kết quả nghiên cứu  
2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu  
2.1. Đối tượng nghiên cứu  
Bệnh TCM xuất hiện ở hầu hết các quý trong  
năm. Bệnh bùng phát vào các tháng 7, 8, 9, 10.  
Cao nhất vào tháng 9 có 36 ca chiếm 30%.  
- Tiêu chuẩn chọn lựa: Trẻ từ 02 tháng đến 5  
tuổi được chẩn đoán xác định bệnh TCM dựa  
theo lâm sàng và cận lâm sàng theo hướng  
dẫn của Bộ Y tế Việt Nam (2012) [2].  
Thời gian nằm viện trung bình của các bệnh  
nhi là 5,23 ngày. Số ngày nằm viện ngắn nhất  
là 3 ngày, số ngày nằm viện lâu nhất là 13  
ngày. Trong đó, thời gian nằm từ 3 – 7 ngày  
chiếm tỉ lệ cao nhất là 69,2%, số ngày nằm  
viện < 3 ngày là 19,2%. Số ngày nằm viện > 7  
ngày chiếm 11,7%.  
- Tiêu chuẩn loại trừ: Bệnh nhân chuyển bệnh  
viện khác, hoặc bỏ điều trị, không theo dõi  
đến khi bệnh ổn định.  
- Địa điểm và thời gian: Bệnh viện Trung ương  
Thái Nguyên, tháng 01/2019 – 07/2020.  
2.2. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang  
2.3. Cỡ mẫu  
Bảng 1. Đặc điểm chung bệnh nhân mắc TCM trong nghiên cứu  
Giới  
Nam  
Nữ  
Tổng  
%
Tuổi (tháng)  
≥ 2 – <12 tháng  
25  
37  
12  
5
0
79  
65,8  
11  
20  
7
2
1
36  
57  
19  
7
1
120  
100  
30,0  
47,5  
15,8  
5,8  
0,8  
100,0  
≥ 12 – <24 tháng  
≥ 24 – <36 tháng  
≥ 36 – < 48 tháng  
≥ 48 – < 60 tháng  
Tổng  
41  
34,2  
%
Nhận xét: Kết quả bảng 1 cho thấy có 79 trẻ nam (65,8%) và 41 trẻ nữ (34,2%), tỷ lệ nam/nữ là  
1,9/1. Nhóm tuổi từ ≥ 12 đến < 24 tháng mắc nhiều nhất chiếm 47,5%, trong 3 năm đầu tỉ lệ mắc  
cao (93,3%).  
144  
Vi Ngọc Linh và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(11): 143 - 148  
3.2. Đặc điểm lâm sàng  
miệng) gặp nhiều nhất (45,8%). Sang thương  
da đơn thuần ít gặp nhất (17,5%).  
Bảng 2. Tần suất xuất hiện các triệu chứng lâm sàng  
Bệnh nhân  
Kết quả bảng 3 cho thấy hầu hết bệnh nhân ở độ  
2a (75%). Độ 3 chỉ có 1,7% và không có độ 4.  
n
%
Đặc điểm  
Đau miệng  
Giật mình  
Sốt cao  
95  
91  
85  
56  
55  
79,2  
75,8  
70,8  
46,7  
45,8  
36,7  
17,5  
25,8  
25,0  
17,5  
3,3  
3.3. Đặc điểm cận lâm sàng  
Bảng 4. Đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân  
Nôn ói  
lúc nhập viện  
Sang thương niêm mạc (loét miệng)  
Sang thương da + niêm mạc miệng 44  
Sang thương da đơn thuần  
Tiêu chảy  
Mạch nhanh >150 lần/phút  
Run chi  
Bệnh nhân  
n
%
Kết quả  
21  
31  
30  
21  
4
11  
05  
1
Số lượng bạch cầu ≥ 12.000/ mm3 66  
Số lượng bạch cầu ≥ 16.000/ mm3 54  
Số lượng tiểu cầu  
55  
45,0  
≤ 150.000/ mm3  
5
4,2  
35  
Co giật  
Thở nhanh theo tuổi  
Li bì  
>150.000 - ≤ 300.000/ mm3  
>300.000 - ≤ 350.000/ mm3  
>350.000 - ≤ 400.000/ mm3  
> 400.000/ mm3  
42  
29  
21  
23  
93  
22  
7
9,2  
4,2  
0,8  
24,2  
17,5  
19,2  
77,5  
18,3  
5,8  
Yếu chi  
Bảng 3. Phân độ lâm sàng  
CRP tăng  
Glucose tăng  
Mức độ  
Độ 1  
Độ 2a  
Độ 2b  
Độ 3  
n
1
90  
27  
2
%
EV71 dương tính  
0,8  
75,0  
22,5  
1,7  
0
100  
Kết quả bảng 4 cho thấy có 55% bệnh nhân  
có bạch cầu tăng > 12.000/mm3. Số lượng  
bạch cầu từ > 16.000/mm3, chiếm 45%. Có  
19,2% bệnh nhi có số lượng tiểu cầu tăng >  
400.000/mm3. CRP tăng (77,5%), test EV71  
dương tính (5,8%).  
Độ 4  
Tổng  
0
120  
Kết quả bảng 2 cho thấy các triệu chứng  
thường gặp gồm: đau miệng, giật mình, sốt  
cao, nôn ói. Sang thương niêm mạc (loét  
Bảng 5. Mối liên quan giữa các yếu tố với mức độ nặng của bệnh  
Độ nặng (n = 29) Độ nhẹ (n= 91)  
Mức độ  
p
Đặc điểm  
Sốt cao  
Giới nam  
Giật mình  
Mạch nhanh  
Thở nhanh  
Nôn ói  
Tiêu chảy  
Co giật  
n
27  
20  
27  
16  
6
19  
11  
4
%
n
58  
59  
64  
14  
5
37  
20  
0
%
31,8  
25,3  
29,7  
53,3  
54,5  
33,9  
35,5  
100  
80  
68,2  
74,7  
70,3  
46,7  
45,5  
66,1  
64,5  
0
0,02  
0,683  
0,013  
<0,001  
0,023  
0,019  
0,087  
0,03  
0,012  
<0,001  
0,242  
0,546  
0,040  
0,015  
0,09  
Li bì  
Run chi  
Yếu chi  
4
1
20  
12  
1
4
57,1  
100  
19  
13,6  
34,5  
31,5  
73,9  
45,5  
36,4  
85,7  
9
0
42,9  
0
81  
86.4  
65.5  
68.5  
26.1  
54.5  
63.6  
14.3  
Sang thương da  
Sang thương da + loét miệng  
Loét miệng đơn thuần  
Bạch cầu ≥ 16000/mm3  
Tiểu cầu >400.000/mm3  
Tiểu cầu >350.000/mm3  
Glucose tăng  
EV71  
17  
38  
36  
37  
6
24  
14  
1
6
19  
17  
17  
20  
8
<0,001  
<0,001  
0,139  
0,001  
6
145  
Vi Ngọc Linh và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(11): 143 - 148  
Nhận xét: Các yếu tố sốt cao, giật mình, mạch  
nhanh, thở nhanh, nôn ói, co giật, li bì, run  
chi, sang thương da + loét miệng, loét miệng  
đơn thuần, tiểu cầu > 350.000/mm3, EV71  
dương tính có mối liên quan đến mức độ nặng  
của bệnh TCM.  
Triệu chứng tuần hoàn và hô hấp gồm mạch  
nhanh (25%), thở nhanh (9,2%). Tác giả  
Phạm Thị Thu Thủy và cộng sự (2014) ghi  
nhận 45,9% bệnh nhân có rối loạn hô hấp,  
thường là thở nhanh [5]. Nghiên cứu của  
chúng tôi có tỉ lệ gặp rối loạn ít hơn có thể vì  
ít bệnh nhân độ nặng.  
4. Bàn luận  
Nghiên cứu có 55 trẻ (45,8%) chỉ có sang  
thương ở niêm mạc (loét miệng). Vừa có sang  
thương da và vừa loét miệng có 44 trường  
hợp (36,7%). Sang thương đơn thuần có 21  
trường hợp, chiếm 17,5%.  
4.1. Đặc điểm chung về đối tượng nghiên cứu  
Qua nghiên cứu 120 bệnh nhi mắc bệnh TCM  
tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên,  
chúng tôi nhận thấy: tỷ lệ nam/nữ là 1,9/1.  
Bệnh TCM xảy ra ở nam giới nhiều hơn ở nữ  
giới. Kết quả này tương đồng với nghiên cứu  
của Nguyễn Kim Thư năm 2016, tỉ lệ nam/nữ  
1,7/1 [3]. Bệnh nhân chủ yếu là nhóm tuổi  
dưới 3 tuổi. Trong đó nhóm tuổi từ ≥ 12 – 24  
tháng mắc nhiều nhất chiếm 47,5%. Nhóm từ  
49 đến 60 tháng tuổi chiếm tỉ lệ ít nhất  
(0,8%). Kết quả này tương tự với nghiên cứu  
về bệnh TCM ở miền Bắc nước ta của Ngũ  
Duy Nghĩa và cộng sự [4]. Trẻ nhỏ hơn 24  
tháng thường mắc bệnh nhiều hơn có thể vì  
trẻ chưa có khả năng vệ sinh và có thói quen  
đưa tay vào miệng.  
Phân độ 2a chiếm tỉ lệ cao nhất 75,0%. Độ  
nặng có 2b chiếm tỉ lệ cao (22,5%), độ 3  
chiếm 1,7% và không có bệnh nhân độ 4. Các  
nghiên cứu trước đây tại khu vực phía Bắc  
cũng cho thấy kết quả tương tự với phân độ  
nhẹ chiếm tỉ lệ cao (trên 90%) [3], [4].  
Các xét nghiệm về công thức máu, sinh hóa  
được theo dõi ngay từ lúc nhập viện. Có 45  
bệnh nhận mắc bệnh TCM có bạch cầu tăng  
theo tuổi (chiếm 37,5%). Giá trị bạch cầu  
trung bình là 15.050/mm3. Thấp nhất là  
3.700/mm3, cao nhất là 26.300/mm3. Số lượng  
tiểu cầu trung bình là 320.000/mm3. Có 23  
bệnh nhân có tiểu cầu tăng > 400.000/mm3  
(chiếm 19,2%). Nghiên cứu cho thấy glucose  
máu tăng chiếm 18,3%, giá trị glucose trung  
bình là 4,98 mmol/l. Tỷ lệ CRP tăng chiếm  
77,5%, đây là một tỷ lệ khá cao với bệnh  
truyền nhiễm virus. Tỷ lệ EV71 dương tính là  
5,8%, tỷ lệ này thấp có thể do tác nhân gây  
bệnh TCM ở khu vực phía Bắc khá đa dạng  
bao gồm cả virus Coxsakie A6 (33%), EV71  
(24,9%), Enterovirus (21,7%) và thấp hơn là  
CA16 và CA10 với tỷ lệ lần lượt là 10,2% và  
9,7% [4].  
4.2. Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của  
đối tượng nghiên cứu  
Đa số bệnh nhân khởi phát bệnh với triệu  
chứng sốt, sốt cao gặp ở 70,8%. Đây là biểu  
hiện đáp ứng của cơ thể với tình trạng nhiễm  
virus. Đau miệng là triệu chứng hay gặp nhất  
(79,2%) và là dấu hiệu sớm cảnh báo mắc  
bệnh TCM. Mặc dù bệnh TCM lây qua đường  
tiêu hóa, nhưng tiêu chảy chỉ gặp ở 31 bệnh  
nhân, chiếm 25,8%. Nôn ói chiếm 46,7 %.  
Nôn ói không chỉ là triệu chứng của đường  
tiêu hóa mà còn là triệu chứng thần kinh  
không đặc hiệu trong bệnh TCM [5].  
4.3. Mối liên quan giữa các yếu tố và mức  
độ nặng của bệnh  
Biểu hiện rối loạn thần kinh ở bệnh nhân  
TCM đa dạng. Các triệu chứng thần kinh như  
co giật (3,3%), li bì (4,2%), run chi (17,5%),  
yếu chi (0,8%), và triệu chứng giật mình hay  
gặp nhất (75,8%). Trong nghiên cứu của  
Nguyễn Bạch Huệ năm 2013 tại bệnh viện  
Nhi Đồng 1 thì giật mình chiếm 83,8% [6].  
Nghiên cứu ghi nhận giới tính nam không có  
mối liên quan với mức độ nặng của bệnh với  
p = 0,683 mặc dù tỉ lệ nam/nữ là 1,9/1.  
Nguyên nhân của sự khác biệt này chưa được  
làm sáng tỏ, tuy nhiên người ta nghi ngờ có  
liên quan đến khả năng mẫn cảm ở mức độ  
gen của ký chủ [3].  
146  
Vi Ngọc Linh và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(11): 143 - 148  
Bệnh nhân mắc TCM sốt cao trên 39oC có  
mối liên quan đến mức độ nặng của bệnh  
TCM, p = 0,02. Tỷ lệ này giống với nghiên  
cứu của Nguyễn Kim Thư, sốt cao trên  
38,5ºC có liên quan đến bệnh nặng với OR =  
2,7 và p < 0,05 [3].  
cắt tiểu cầu > 400.000/mm3 có ý nghĩa thống  
kê [3], tuy nhiên nghiên cứu của chúng tôi với  
tiểu cầu cầu > 350.000/mm3 đã có mối liên  
quan có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu của  
Bùi Quốc Thắng cũng ghi nhận điểm cắt tiểu  
cầu >350.000/mm3 có liên quan đến chuyển  
độ nặng với OR là 3,6 (95% CI: 3,1 – 6,3) [8].  
Tiểu cầu tăng có lẽ do giữ vai trò quan trọng  
trong phản ứng của cơ thể đối với nhiễm  
trùng, đặc biệt là siêu vi. Vì vậy, tăng tiểu cầu  
giải thích phản ứng viêm mạnh làm tăng nguy  
cơ mắc bệnh nặng. Trẻ nhiễm EV71 có liên  
quan đến mức độ nặng của bệnh với p =  
0,001. Nhiều nghiên cứu ghi nhận EV71 là  
tác nhân gây bệnh có liên quan đến mức độ  
nặng của bệnh [3], [6].  
Phân tích mối liên quan giữa các triệu chứng  
thần kinh với mức độ nặng của bệnh cho thấy:  
giật mình, run chi, yếu chi, co giật có liên  
quan có ý nghĩa thống kê với mức độ nặng  
của bệnh. Theo nghiên cứu của Nguyễn Kim  
Thư, tỷ lệ trẻ có triệu chứng giật mình chiếm  
đến 51,4% và có liên quan đến bệnh nặng với  
OR = 4,4 [3]. Giật mình gặp ở các bệnh nhân  
độ nhẹ và độ nặng, mặc dù không phải bệnh  
nhân nào có triệu chứng giật mình cũng diễn  
biến nặng nhưng cần theo dõi sát tần số giật  
mình để phát hiện biến chứng thần kinh để xử  
lý kịp thời. Ghi nhận mối liên quan giữa nôn  
ói với mức độ nặng của bệnh TCM, với p =  
0,019. Như vậy nôn ói là một dấu hiệu dự báo  
bệnh nặng.  
Trong nghiên cứu này, bạch cầu  
>
16.000/mm3 không có liên quan với mức độ  
nặng của bệnh. Tác giả Tăng Chí Thượng  
cũng cho kết quả tương tự [7]. Mặc dù đây là  
một bệnh do virus nhưng có thể do bệnh  
TCM gây nên các tổn thương bội nhiễm. Do  
đó khi tiến trình viêm xảy ra bạch cầu sẽ được  
phóng thích và tăng nhanh trong máu. Chúng  
tôi không ghi nhận mối liên quan giữa tăng  
đường huyết với mức độ nặng của bệnh.  
Trong nghiên cứu của Phạm Thị Thu Thủy lại  
thấy đường huyết tăng có ý nghĩa ở bệnh  
nhân độ 4 và bệnh nhân tử vong [5]. Có thể  
do trong nghiên cứu của chúng tôi không có  
bệnh nhân độ 4, tỉ lệ bệnh nhân độ 3 thấp.  
Nghiên cứu cho thấy có mối liên quan giữa  
loét miệng đơn thuần với mức độ nặng của  
bệnh TCM với p = 0.015. Kết quả này tương  
tự với nghiên cứu của Tăng Chí Thượng và  
cộng sự khi phân tích các yếu tố nguy cơ gây  
biến chứng [7]. Vừa có sang thương da, vừa  
có loét miệng cũng có mối liên quan với mức  
độ nặng của bệnh, có ý nghĩa thống kê với p =  
0.04. Hạn chế của nghiên cứu là không mô tả  
được số lượng sang thương, hình ảnh cụ thể  
của vết loét.  
5. Kết luận  
- Bệnh TCM xảy ra chủ yếu ở nhóm tuổi từ 1  
đến < 3 tuổi. Trẻ nam mắc cao hơn ở trẻ nữ  
với tỷ lệ 1,9/1.  
Mạch nhanh và thở nhanh mặc dù trong  
nghiên cứu xuất hiện ít nhưng lại có liên quan  
đến độ nặng của bệnh với lần lượt p = <0,001  
và p = 0,023. Đây là các biểu hiện của rối  
loạn hệ thần kinh tự động, chúng được tạo  
nên bởi vai trò đáp ứng viêm của cytokin, do  
phóng thích quá mức các catecholamin cũng  
như tác động trực tiếp đến trung tâm tuần  
hoàn, hô hấp ở thân não [3].  
- Các triệu chứng lâm sàng hay gặp như sốt cao  
(70,8%), đau miệng (79,2%), giật mình  
(75,8%), nôn ói (46,7%), bạch cầu tăng (55%),  
tiểu cầu > 400.000/mm3 (19,2%), CRP tăng  
(77,5%), EV71 dương tính (5,8%).  
- Triệu chứng có liên quan đến mức độ nặng  
của bệnh TCM bao gồm sốt cao >39oC, nôn  
ói, thở nhanh, mạch nhanh > 150 lần/phút,  
giật mình, run chi, yếu chi, sang thương ở  
niêm mạc. Tiểu cầu > 350.000/mm3, test  
EV71 dương tính.  
Chúng tôi nhận thấy có mối liên quan giữa  
tiểu cầu > 350.000/mm3 với mức độ nặng của  
bệnh, p <0,001. Một số nghiên cứu chọn điểm  
147  
Vi Ngọc Linh và Đtg  
Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN  
225(11): 143 - 148  
characteristics and treatment results of hand,  
foot and mouth disease at Dong Nai  
Children's Hospital resuscitation department  
01/2012 - 12/2013," Ho Chi Minh City  
Medical Journal, vol. 18, no. 1, pp. 346-352,  
2014.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1]. M. T. V. Hoang et al., "Clinical and  
aetiological study of hand, foot and mouth  
disease in southern Vietnam, 2013-2015:  
Inpatients and outpatients," Int J Infect Dis,  
vol. 80, pp. 1-9, 2019.  
[2]. The Ministry of Health, Decision No. 1003/  
QD-BYT dated 30 March 2012 guiding the  
diagnosis and treatment of Hand, Foot and  
Mouth disease, 2012.  
[3]. N. K. Thu, "Research on clinical and  
subclinical characteristics and the etiology of  
the virus in hand, foot and mouth disease  
patients in Vietnam (2011 - 2012)," Doctor of  
Medicine Thesis, Hanoi Medical University,  
pp. 108 - 143, 2016.  
[4]. N. D. Nghia et al., "Results of sentinel  
surveillance of hand, foot and mouth disease  
in North Vietnam, 2016 - 2018," Journal of  
Preventive Medicine, vol. 29, no. 12, pp. 63-  
69, 2019.  
[6]. N. B. Hue, "Epidemiological, clinical, and  
subclinical characteristics related to death of  
severe hand, foot and mouth disease (Grades  
III and IV) treated at Children's Hospital 1 in  
2011," Ho Chi Minh City Medical Journal,  
vol. 17, no. 3, pp. 246-255, 2013.  
[7]. T. C. Thuong et al., "Prognostic factors for  
hand, foot and mouth disease caused by  
enterovirus," Ho Chi Minh City Medical  
Journal, vol. 15, no. 3, pp. 102-108, 2011.  
[8]. B. Q. Thang, B. Q. Vinh, and V. B. Nga,  
"Relationship between the number of  
leukocytes, platelets and fast blood sugar at  
admission with the transition in pediatric  
patients, hand, foot, mouth and mouth at level  
2A in Children's Hospital from September  
2012 to January 2013," Ho Chi Minh City  
Medical Journal, vol. 18, no. 1, pp. 353-358,  
2014.  
[5]. P. T. T. Thuy, and B. Q. Thang,  
"Epidemiological - clinical  
- subclinical  
148  
pdf 6 trang yennguyen 15160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm và một số yếu tố liên quan đến mức độ nặng của bệnh tay chân miệng ở trẻ em tại Bệnh viện Trung ương Thái Nguyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_den_muc_do_nang_cua_benh.pdf