Cơ sở pháp lý kiểm toán các dự án BT của kiểm toán nhà nước và một số đề xuất, kiến nghị

TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
cô sôû PHaùP LYù kieÅM toaùn caùc döÏ aùn Bt  
cuûa kieÅM toaùn nHaø nöôùc Vaø Moät soÁ  
ñeà xuaÁt, kieÁn ngHò  
TS. ĐặNG VĂN HẢI*  
heo quy định tại khoản 1 Điều 118 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013:  
“Kiểm toán nhà nước là cơ quan do Quốc hội thành lập, hoạt động độc lập và chỉ tuân theo  
pháp luật, thực hiện kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”. Để cụ thể hóa  
T
quy định “kiểm toán việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công”, Luật KTNN năm 2015  
đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 24/6/2015 và  
có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2016 đã quy định rõ đối tượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước là  
việc quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công. Tuy nhiên, do phạm trù “tài chính công”, “tài sản công”  
còn khá mới mẻ, nên trong thực tiễn quản lý nhà nước còn có ý kiến hiểu chưa đúng về tài chính, tài sản  
công thuộc đối tượng kiểm toán của KTNN. Do vậy, nghiên cứu để hiểu đúng quy định của pháp luật về đối  
tượng kiểm toán và thẩm quyền kiểm toán của KTNN là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm bảo đảm tuân  
thủ và thực hiện nghiêm chỉnh quy định của Hiến pháp, Luật KTNN và các văn bản QPPL có liên quan.  
Từ khóa: BT, kiểm toán nhà nước, cơ sở pháp lý  
Legal basis for auditing BT projects of SAV and recommendations  
Pursuant to Clause 1, Article 118 of the Constitution of the Socialist Republic of Vietnam in 2013: “e  
State Audit is an agency set up by the National Assembly, operates independently and obeys the law, performs  
audits on the management and use of finance and public assets.” To concretize the regulation on “auditing  
the management and use of finance and public assets”, the Law on State Audit in 2015 was approved by  
the National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam, session XIII, / 2015 and come into effect from  
01/01/2016, clearly defined the audited entities of SAV is the management and use of public finance and  
public assets. However, due to the category of “public finance”, “public assets” are quite new, so in the state  
management practice there is a misunderstanding about public finance and public assets - the subject to  
auditing of SAV. erefore, the study aims to provide the legal understanding on the audited entities and the  
auditing competence of SAV, an important issue in order to ensure compliance with and strictly abide by the  
provisions of the Constitution, the Law on State Audit and relevant legal documents.  
key words: BT, state audit, legal basis  
1. Cơ sở pháp lý kiểm toán các dự án BT  
cứu các quy định hiện hành của pháp luật, ngoài  
quy định của Hiến pháp chúng tôi thấy còn có các  
quy định liên quan trực tiếp đến kiểm toán dự án  
PPP nói chung và dự án BT nói riêng như sau:  
Cơ sở pháp lý kiểm toán các dự án BT chính là  
những quy định của pháp luật về việc kiểm toán của  
Kiểm toán nhà nước đối với dự án BT. Qua nghiên  
* Phó Vụ trưởng, Vụ Pháp chế, Kiểm toán nhà nước  
18 Số 132 - tháng 10/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015  
nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức chính  
trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã  
hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội -  
nghề nghiệp; tài sản công được giao cho các doanh  
nghiệp quản lý và sử dụng; tài sản dự trữ nhà nước;  
tài sản thuộc kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích công  
cộng và các tài sản khác do Nhà nước đầu tư, quản  
lý thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ  
sở hữu và thống nhất quản lý” (Khoản 11, Điều 3).  
eo quy định của Luật Kiểm toán nhà nước  
năm 2015: “Đối tượng kiểm toán của Kiểm toán  
nhà nước là việc quản lý, sử dụng tài chính công,  
tài sản công và các hoạt động có liên quan đến việc  
quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công của  
đơn vị được kiểm toán” (Điều 4); trong đó:  
“Tài chính công bao gồm: Ngân sách nhà nước;  
dự trữ quốc gia; các quỹ tài chính nhà nước ngoài  
ngân sách; tài chính của các cơ quan nhà nước, đơn  
vị vũ trang nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập,  
đơn vị cung cấp dịch vụ, hàng hóa công, tổ chức  
chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính  
trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức  
xã hội - nghề nghiệp có sử dụng kinh phí, ngân  
quỹ nhà nước; phần vốn nhà nước tại các doanh  
nghiệp; các khoản nợ công” (Khoản 10, Điều 3).  
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm 2017  
(có hiệu lực thi hành từ 01/01/2018)  
+ Tại khoản 1 Điều 3, khoản 2 Điều 4 đã quy  
định:  
Tài sản công là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do  
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản  
lý, bao gồm: tài sản công phục vụ hoạt động quản  
lý, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm quốc phòng,  
an ninh tại cơ quan, tổ chức, đơn vị; tài sản kết cấu  
hạ tầng phục vụ lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng;  
tài sản được xác lập quyền sở hữu toàn dân; tài sản  
công tại doanh nghiệp; tiền thuộc ngân sách nhà  
“Tài sản công bao gồm: đất đai; tài nguyên  
nước; tài nguyên khoáng sản; nguồn lợi ở vùng  
biển, vùng trời; tài nguyên thiên nhiên khác; tài sản  
nhà nước tại cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 132 - tháng 10/2018 19  
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
nước, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách,  
dự trữ ngoại hối nhà nước; đất đai và các loại tài  
nguyên khác.  
gọi tắt là hợp đồng BT) là hợp đồng được ký giữa  
cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để  
xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; nhà đầu tư  
chuyển giao công trình đó cho cơ quan nhà nước  
có thẩm quyền và được thanh toán bằng quỹ đất  
để thực hiện Dự án khác theo các điều kiện quy  
định tại Khoản 3, Điều 14 và Khoản 3 Điều 43 Nghị  
định này”. (Khoản 5, Điều 3). Về lĩnh vực đầu tư  
và phân loại dự án, Khoản 1, Điều 4, Nghị định  
số 15/2015/NĐ-CP quy định: “Dự án xây dựng, cải  
tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết  
cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ  
công gồm: Công trình kết cấu hạ tầng giao thông  
vận tải và các dịch vụ có liên quan...”  
Tài sản kết cấu hạ tầng phục vụ lợi ích quốc  
gia, lợi ích công cộng là các công trình kết cấu hạ  
tầng kỹ thuật, công trình kết cấu hạ tầng xã hội và  
vùng đất, vùng nước, vùng biển gắn với công trình  
kết cấu hạ tầng, bao gồm: hạ tầng giao thông, hạ  
tầng cung cấp điện, hạ tầng thủy lợi và ứng phó với  
biến đổi khí hậu, hạ tầng đô thị, hạ tầng cụm công  
nghiệp, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công  
nghệ cao, hạ tầng thương mại, hạ tầng thông tin,  
hạ tầng giáo dục và đào tạo, hạ tầng khoa học và  
công nghệ, hạ tầng y tế, hạ tầng văn hóa, hạ tầng  
thể thao, hạ tầng du lịch và hạ tầng khác theo quy  
định của pháp luật (sau đây gọi là tài sản kết cấu  
hạ tầng);  
Từ những quy định trên đây, để xem xét các dự  
án PPP, trong đó có dự án BT có thuộc quyền kiểm  
toán của KTNN hay không, cần phải làm rõ các  
dự án này mà cụ thể là các dự án xây dựng, cải tạo,  
vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu  
hạ tầng giao thông vận tải và các dịch vụ có liên  
quan có thuộc phạm vi tài sản công theo quy định  
tại Khoản 11, Điều 3 của Luật KTNN năm 2015 và  
Khoản 1, Điều 3 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản  
công hay không?  
+ Điều 14 quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của  
Kiểm toán nhà nước  
Kiểm toán nhà nước thực hiện kiểm toán việc  
quản lý, sử dụng tài sản công, các hoạt động liên  
quan đến việc quản lý, sử dụng tài sản công và báo  
cáo, công khai kết quả kiểm toán theo quy định của  
Luật Kiểm toán nhà nước.  
Để trả lời câu hỏi nêu trên, cần phân tích làm rõ  
các khía cạnh pháp lý về (1) Nội hàm của “Tài sản  
công”?; (2) Đầu tư công là gì? và (3) Đầu tư theo  
hình thức đối tác công tư có phải là đầu tư công  
hay không?  
Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015  
của Chính phủ về đầu tư xây dựng theo hình thức  
đối tác công tư  
eo quy định của Nghị định số 15/2015/  
NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư  
xây dựng theo hình thức đối tác công tư: “Đầu tư  
theo hình thức đối tác công tư (sau đây gọi tắt là  
PPP) là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở  
hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền  
và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện,  
quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp  
dịch vụ công” (khoản 1 Điều 3). Hợp đồng dự án là  
Hợp đồng Xây dựng - Kinh doanh - Chuyển giao  
(BOT), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao - Kinh  
doanh ( BTO), Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao  
(BT)…(khoản 2 Điều 3)  
ứ nhất, về nội hàm của tài sản công  
eo quy định tại Điều 53 Hiến pháp năm  
2013: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng  
sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên  
thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu  
tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do  
Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản  
lý”. Từ quy định trên đây của Hiến pháp cho thấy  
tài sản công bao gồm hai nhóm:  
Nhóm 1, bao gồm “Đất đai, tài nguyên nước, tài  
nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng  
trời, tài nguyên thiên nhiên khác”. Đây là những tài  
“Hợp đồng Xây dựng - Chuyển giao (sau đây  
20 Số 132 - tháng 10/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
nguyên thiên nhiên, là những của cải vật chất (tài  
sản) có sẵn trong tự nhiên thuộc sở hữu toàn dân  
do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất  
quản lý;  
kết cấu hạ tầng, cung cấp các dịch vụ công” (khoản  
16 Điều 3).  
Điều 5 Luật Đầu tư công năm 2014 đã quy  
định:  
Nhóm 2, các tài sản do Nhà nước đầu tư, xây  
dựng và quản lý. Đây là những tài sản công được  
hình thành do sự đầu tư, quản lý của Nhà nước.  
1. Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng  
kinh tế - xã hội.  
2. Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà  
nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức  
chính trị - xã hội.  
ứ hai, về đầu tư công  
eo quy định của Luật Đầu tư công năm 2014:  
“Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào  
các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng  
kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự  
án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội”. Đầu tư công  
hình thành nên tài sản công theo quy định tại Điều  
53 của Hiến pháp năm 2013.  
3. Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp sản  
phẩm, dịch vụ công ích.  
4. Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự  
án theo hình thức đối tác công tư”. Như vậy, theo  
quy định tại Khoản 4, Điều 5 của Luật Đầu tư công  
năm 2014, đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện  
dự án theo hình thức đối tác công tư (trong đó có  
dự án BT) thuộc lĩnh vực đầu tư công.  
ứ ba, đầu tư theo hình thức đối tác công tư là  
lĩnh vực đầu tư công  
eo quy định của Luật Đầu tư công năm 2014:  
“Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là đầu tư  
được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan  
nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh  
nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án  
Luật Quản lý, sử dụng tài sản công đã quy định  
việc kiểm toán các dự án BT tại Khoản 5, Điều 95  
như sau: “Tài sản kết cấu hạ tầng được đầu tư theo  
hình thức đối tác công tư phải được kiểm toán ngay  
khi kết thúc đầu tư đưa vào khai thác và định kỳ  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 132 - tháng 10/2018 21  
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN  
kiểm tra trong quá trình đầu tư, khai thác”.  
toán theo quy định về thu tiền sử dụng đất, thu tiền  
thuê đất”.  
Căn cứ các quy định của pháp luật và từ sự phân  
tích trên đây, dự án đầu tư theo hình thức hợp đồng  
BT là một lĩnh vực đầu tư công của Nhà nước. Các  
tài sản hình thành từ các dự án này là tài sản công,  
việc quản lý, sử dụng tài sản này là đối tượng kiểm  
toán của KTNN theo quy định của Hiến pháp, Luật  
Kiểm toán nhà nước năm 2015 và Luật Quản lý, sử  
dụng tài sản công.  
- ời điểm thực hiện thanh toán hợp đồng BT  
eo quy định hiện hành thời điểm thanh toán  
dự án BT bằng quỹ đất là thời điểm Ủy ban nhân  
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau  
đây gọi là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ban hành  
quyết định giao đất, cho thuê đất cho Nhà đầu tư.  
ời điểm ban hành quyết định giao đất, cho thuê  
đất được triển khai đồng thời hoặc sau khi hoàn  
thành dự án BT theo quy định tại Khoản 3, Điều  
43 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02  
năm 2015 của Chính phủ về đầu tư theo hình thức  
đối tác công tư. Tuy nhiên, quá trình thực hiện có  
một số khó khăn, vướng mắc:  
2. Một số đề xuất, kiến nghị  
ứ nhất, sớm xây dựng, ban hành “Luật Đầu tư  
theo hình thức đối tác công tư”. Trước mắt, cần khẩn  
trương xây dựng Nghị định thay thế Nghị định số  
15/2015/NĐ-CP ngày 14/02/2015 của Chính phủ về  
đầu tư xây dựng theo hình thức đối tác công tư; trong  
đó, tập trung vào các nội dung chủ yếu sau đây:  
+ eo quy định của chính sách tài chính đất  
đai, việc xác định tiền sử dụng đất hoặc tiền thuê  
đất của quỹ đất thanh toán chỉ được thực hiện khi  
Nhà nước có quyết định giao đất, cho thuê đất.  
Nhiều ý kiến cho rằng, thực tế ở thời điểm ký hợp  
đồng BT, hầu hết quỹ đất thanh toán chưa có quyết  
định giao đất, cho thuê đất. Do đó, việc xác định  
giá trị quỹ đất thanh toán tại thời điểm ký hợp  
đồng BT không có căn cứ pháp lý để thực hiện.  
- Giá trị tiền sử dụng đất, tiền thuê đất của quỹ  
đất thanh toán  
Việc sử dụng giá trị quyền sử dụng đất để thanh  
toán cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư  
xây dựng công trình theo hình thức hợp đồng xây  
dựng - chuyển giao phải phù hợp quy định tại Điều  
117 của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công “Việc sử  
dụng giá trị quyền sử dụng đất để thanh toán cho  
nhà đầu tư khi thực hiện dự án đầu tư xây dựng  
công trình theo hình thức hợp đồng xây dựng -  
chuyển giao phải tuân thủ quy định tại các khoản  
1, 2, 3, 4 và 5 Điều 44 của Luật này và các quy định  
sau đây:  
+ Dự án BT được giám sát chất lượng công  
trình và thanh quyết toán như quy định đối với  
một dự án đầu tư công; tuy nhiên, quy định hiện  
hành chỉ yêu cầu phê duyệt Báo cáo nghiên cứu  
khả thi ở mức thiết kế cơ sở. Quy định này không  
đảm bảo chính xác giá trị công trình để bố trí  
nguồn đất thanh toán phù hợp, sai khác nhiều so  
với giá trị công trình được thanh quyết toán. Mặt  
khác, thời gian thực hiện dự án thường kéo dài qua  
nhiều năm, trong khi giá đất thường xuyên biến  
động cũng tiềm ẩn nguy cơ thất thoát, lãng phí lớn  
nguồn lực tài sản công.  
1. Quỹ đất để thanh toán cho nhà đầu tư phù  
hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất được cơ  
quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và được  
áp dụng hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất  
hoặc cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả  
thời gian thuê. Đối tượng, trình tự, thủ tục giao  
đất, cho thuê đất được thực hiện theo quy định của  
pháp luật về đất đai;  
Để khắc phục tình trạng trên, chúng tôi đề nghị  
cần xác định thời điểm thanh toán dự án BT bằng  
quỹ đất là thời điểm bàn giao công trình hoàn  
thành cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm  
bảo đảm nguyên tắc thực hiện thanh toán dự án  
2. Giá trị quyền sử dụng đất được sử dụng để  
thanh toán dự án đầu tư xây dựng công trình theo  
hình thức hợp đồng xây dựng - chuyển giao được  
xác định theo giá thị trường tại thời điểm thanh  
22 Số 132 - tháng 10/2018 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
tài sản công. eo quy định tại Khoản 5, Điều 95  
của Luật Quản lý, sử dụng tài sản công “Tài sản  
kết cấu hạ tầng được đầu tư theo hình thức đối tác  
công tư phải được kiểm toán ngay khi kết thúc đầu  
tư đưa vào khai thác và định kỳ kiểm tra trong quá  
trình đầu tư, khai thác”. Để tránh chồng chéo trong  
hoạt động thanh tra và kiểm toán cần thực hiện  
nghiêm chỉnh ý kiến chỉ đạo của ủ tướng Chính  
phủ tại cuộc làm việc với KTNN ngày 02/02/2017  
“anh tra Chính phủ và các cơ quan thanh tra,  
kiểm tra thuộc các bộ, ngành, căn cứ kế hoạch  
kiểm toán hàng năm của Kiểm toán nhà nước rà  
soát, điều chỉnh kế hoạch thanh tra, kiểm tra có  
liên quan nhằm hạn chế sự trùng lắp, chồng chéo  
gây khó khăn cho địa phương, doanh nghiệp và  
đảm bảo tính độc lập của Kiểm toán nhà nước theo  
quy định của pháp luật”.  
BT bằng quỹ đất theo nguyên tắc ngang giá, bù trừ  
chênh lệch giữa giá trị dự án BT và giá trị quỹ đất  
thanh toán.  
- Quy định chặt chẽ về trình tự thực hiện, thanh  
toán, giám sát dự án  
Dự án BT có tính chất khác với các dự án PPP  
khác – Công trình BT được thực hiện như công  
trình đầu tư bằng vốn nhà nước; sau khi hoàn  
thành xây dựng, nhà đầu tư chuyển giao ngay cho  
Nhà nước và không vận hành; việc thanh toán cho  
nhà đầu tư bằng quỹ đất (không phải bằng tiền).  
Do vậy, việc quản lý dự án BT cần phải được thắt  
chặt nhằm tránh thất thoát, lãng phí nguồn lực  
quốc gia. Tuy nhiên, quy định hiện hành tại Nghị  
định số 15/2015/NĐ-CP chưa thiết kế nội dung  
riêng cho dự án BT mà quy định rải rác tại các điều  
đã gây khó khăn cho quá trình áp dụng thực hiện.  
Để khắc phục tình trạng trên, Dự thảo Nghị định  
mới cần bổ sung một chương riêng quy định về  
trình tự thực hiện, thanh toán, giám sát dự án BT  
với một số nội dung mới như:  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Hiến pháp năm 2013;  
+ Việc lựa chọn nhà đầu tư dự án BT được thực  
hiện sau khi dự án có thiết kế và dự toán xây dựng  
công trình; việc lựa chọn nhà đầu tư được thực  
hiện theo hình thức đấu thầu công khai rộng rãi,  
không nên chỉ định thầu trừ trường hợp đặc biệt  
nhằm lựa chọn được những nhà thầu có đủ năng  
lực tài chính và kinh nghiệm kỹ thuật để có thể  
hoàn thành công trình.  
2. Luật Kiểm toán nhà nước năm 2015;  
3. Luật Đầu tư công năm 2014;  
4. Luật Quản lý, sử dụng tài sản công năm  
2017;  
5. Nghị định số 15/2015/NĐ-CP ngày  
14/02/2015 của Chính phủ;  
6. Quyết định số 23/2015/QĐ-TTg ngày  
26/6/2015 của ủ tướng Chính phủ ban  
hành Quyết định quy định cơ chế Nhà nước  
thanh toán bằng quỹ đất cho Nhà đầu tư  
khi thực hiện Dự án đầu tư xây dựng theo  
hình thức xây dựng - chuyển giao;  
+ Bổ sung phương thức thanh toán dự án BT;  
bổ sung nguyên tắc thanh toán tương ứng với từng  
phương thức thanh toán;  
+ Quy định giám sát chặt chẽ các dự án BT.  
ứ hai, trên cơ sở nguyên tắc hoạt động kiểm  
toán nhà nước độc lập và chỉ tuân theo pháp luật,  
KTNN cần chủ động xây dựng kế hoạch kiểm toán  
hướng vào những dự án BT có tổng vốn đầu tư lớn,  
những dự án BT gây nhiều bức xúc được dư luận  
xã hội quan tâm nhằm giúp phòng ngừa, ngăn chặn  
hành vi tham nhũng, thất thoát, lãng phí tài chính,  
7. Dự thảo Tờ trình ngày 20/8/2017 của Bộ  
Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành Nghị  
định thay thế Nghị định số 15/2015/NĐ-CP  
ngày 14/02/2015 của Chính phủ về đầu tư  
xây dựng theo hình thức đối tác công tư.  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 132 - tháng 10/2018 23  
pdf 6 trang yennguyen 12820 Free
Bạn đang xem tài liệu "Cơ sở pháp lý kiểm toán các dự án BT của kiểm toán nhà nước và một số đề xuất, kiến nghị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfco_so_phap_ly_kiem_toan_cac_du_an_bt_cua_kiem_toan_nha_nuoc.pdf