Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp trong đại dịch Covid-19

TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
CHẤT LƯỢNG CUỘC SỐNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở  
NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN LỌC MÁU CHU KỲ TẠI  
BỆNH VIỆN ĐA KHOA NÔNG NGHIỆP TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19  
, *  
Phan Thị Dung¹ , Đỗ Thị Ngọc Thục²  
¹Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội  
²Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm khảo sát chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người bệnh  
suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp. Phương pháp: Thiết kế nghiên cứu mô  
tả cắt ngang, đã được thực hiện từ tháng 2 đến tháng 10 năm 2020 trên toàn bộ 201 người bệnh. Kết quả:  
Nghiên cứu 201 người bệnh cho thấy: Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn ở mức độ trung  
bình (mean = 50.2, SD = 15,0). Trong đó, giới hạn vai trò do vấn đề cảm xúc ở mức cao nhất (mean = 80,3,  
SD= 37,9); sức khỏe tổng thể ở mức thấp nhất (mean = 39,6, SD = 19,3). Chất lượng cuộc sống của người  
bệnh suy thận mạn có mối tương quan với năng lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế độ ăn lành mạnh, sức khỏe  
tâm thần, thực hành phòng dịch COVID-19. Kết luận: Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn ở  
mức độ trung bình. Có mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn với năng  
lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế độ ăn lành mạnh, sức khỏe tâm thần và thực hành phòng dịch COVID-19.  
Từ khóa: Dịch bệnh COVID-19; người bệnh suy thận mạn.  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Bệnh thận mạn giai đoạn cuối (BTMGĐC) là  
bệnh lý suy giảm dần và không hồi phục chức  
năng thận do nhiều nguyên nhân khác nhau.  
Theo thống kê ở Mỹ năm 2007 có khoảng 26  
triệu người mắc bệnh thận mạn chiếm tỷ lệ  
khoảng 13,1% và khoảng 1400/1 triệu người  
mắc BTMGĐC.8 Tại Pháp mỗi năm có khoảng  
4800 đến 6000 ca mới mắc BTMGĐC,4 ở Nhật  
Bản và Đài Loan là khoảng gần 2400 ca.1  
Người ta dự báo cứ một người bệnh được điều  
trị thay thế thận thì có tới 100 người đang mắc  
bệnh thận mạn ở các giai đoạn khác nhau.1  
Tại Việt Nam ước tính có khoảng 8 triệu người  
mắc bệnh thận mạn, chiếm khoảng 10% dân  
số, trong đó 3,1% đến 3,6% bệnh thận mạn tiến  
triển từ giai đoạn III đến giai đoạn V6.  
Sự bùng phát của bệnh viêm đường hô  
hấp cấp do virus coronavirus mới (COVID-19)  
được phát hiện lần đầu tiên vào tháng 12 năm  
2019 tại Vũ Hán, Trung Quốc.5 COVID-19 đã  
lan rộng đến nhiều quốc gia đang phát triển và  
được công nhận là mối quan tâm về sức khỏe  
toàn cầu, khiến các tổ chức y tế công cộng toàn  
cầu phải cảnh giác cao.7 Tổ chức Y tế Thế giới  
(WHO) tuyên bố tình trạng khẩn cấp COVID-19  
là trường hợp khẩn cấp y tế công cộng thứ sáu  
được quốc tế quan tâm vào ngày 30 tháng 1  
năm 202.11 Theo báo cáo vào ngày 24 tháng 3  
năm 2020, tổng số người được chẩn đoán mắc  
COVID-19 là 372.757 trường hợp, với 16.231  
trường hợp tử vong ở 170 quốc gia/khu vực;  
Trong số này, 123 trường hợp đã được báo  
cáo tại Việt Nam.3 COVID-19 đã chính thức  
được tuyên bố là đại dịch bởi WHO vào ngày  
11 tháng 3 năm 2020.9 Phương pháp điều trị  
Tác giả liên hệ: Phan Thị Dung  
Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội  
Ngày nhận: 04/05/2021  
Ngày được chấp nhận: 09/06/2021  
142  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
và vắc-xin cho COVID-19 hiện đang được phát  
triển. Do đó, việc phòng ngừa và chăm sóc hỗ  
trợ rất được khuyến khích,3 đặc biệt là ở các  
nước có hệ thống chăm sóc sức khỏe yếu hơn,  
theo đề xuất của Tổng giám đốc WHO Tedros  
Adhanom Ghebreyesus.12  
vi điểm 3-15, với số điểm càng cao, việc tuân  
thủ các biện pháp phòng chống lây nhiễm với  
COVID-19 càng tốt;  
3) Năng lực sức khỏe điện tử thang đo gồm  
8 câu dùng để đánh giá kỹ năng tìm kiếm thông  
tin.10 bộ câu hỏi hợp lệ và đáng tin cậy dựa trên  
thanh đo Likert 5 điểm từ 1 = hoàn toàn không  
đồng ý, đến 5 = hoàn toàn đồng ý. Điểm số dao  
động từ 8 đến 40, với điểm số cao, khả năng  
đọc hiểu về sức khỏe tốt hơn;  
Năng lực sức khỏe, sức khỏe tâm thần của  
người bệnh (NB) suy thận mạn lọc máu chu  
kỳ tại khoa Thận-Niệu-Lọc máu Bệnh viện Đa  
khoa Nông nghiệp (BVĐKNN) có thể thay đổi  
trong thời gian đại dịch bệnh COVID -19 toàn  
cầu diễn ra. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên  
cứu này với 2 mục tiêu:  
4) Hiểu biết về sức khỏe gồm 12 câu đã  
được sử dụng để đánh giá mức hiểu biết về  
sức khỏe.3,11 Các chỉ số hiểu biết sức khỏe đã  
được chuẩn hóa thành số đo thống nhất từ 0  
đến 50 (0 là giá trị hiểu biết sức khỏe thấp nhất  
và 50 là cao nhất);  
1) Khảo sát chất lượng cuộc sống của người  
bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ trong đại  
dịch Covid-19 toàn cầu tại Bệnh viện Đa khoa  
Nông nghiệp;  
5) Năng lực về dinh dưỡng điện tử gồm 7 câu;  
6) Chế độ ăn lành mạnh gồm 6 câu.  
2) Xác định một số yếu tố liên quan đến  
chất lượng cuộc sống của người bệnh suy  
thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa  
khoa Nông nghiệp.  
7) Chất lượng cuộc sống liên quan đến  
sức khỏe (HRQoL) được đo lường bằng phiếu  
khảo sát gồm 36 mục (SF-36), được phát triển  
tại Công ty Cổ phần Nghiên cứu và Phát triển  
(RAND).5 Độ tin cậy và tính hợp lệ của thang  
đo này đã được sử dụng trong các nghiên cứu  
trước đây.7,16 Phương pháp chấm điểm của  
RAND-36 do RAND Corporation hướng dẫn.8,14  
khoảng điểm từ 0 đến 100, với điểm số cao hơn  
cho thấy chất lượng cuộc sống tốt hơn.  
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP  
1. Đối tượng  
Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện  
tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp. Từ tháng 2  
đến ngày 10 năm 2020 trên toàn bộ 201 người  
bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ, tỉnh táo, tiếp  
xúc tốt và đồng ý tham gia nghiên cứu.  
Sau khi nhận được chấp thuận của Hội đồng  
đạo đức, nhóm nghiên cứu được tập huấn về  
phương pháp thu thập số liệu. Tiếp cận với từng  
đối tượng, giải thích mục đích của nghiên cứu.  
Đối tượng đồng ý tham gia, ký vào giấy chấp  
thuận và hoàn thành bộ câu hỏi phát vấn theo  
thời gian thuận tiện và gửi lại nghiên cứu viên.  
2. Phương pháp  
Bộ câu hỏi tự điền gồm:  
1) Thông tin cơ bản gồm 11 câu:4 tuổi, giới  
tính, trình trạng hôn nhân, trình độ văn hóa,  
nghề nghiệp, thu nhập trung bình/hộ gia đình,  
khả năng chi trả các dịch vụ y tế, địa vị xã  
hội,đối tượng nghi phơi nhiễm với Covid từ F1  
đến F6, triệu chứng nghi nghờ COVID 19;  
3. Xử lý số liệu  
Sau khi thu thập, số liệu được kiểm tra làm  
sạch, nhập bằng phần mềm Epidata và phân  
tích bằng phần mềm SPSS 22.0 với mức ý  
nghĩa thống kê p < 0.05. Kiểm định: Independent  
2) Thực hành phòng chống dịch gồm 3  
câu: thực hiện vệ sinh bàn tay, giữ khoảng  
cách, đeo khẩu trang. Điểm từ 1 đến 3, phạm  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
143  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
T-test, one-way ANOVA, Chi-square.  
1. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu  
4. Đạo đức nghiên cứu  
Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi  
từ 40 - 59 chiếm tỷ lệ cao nhất 45,3%; nhóm  
tuổi > 60 chiếm 36,8%; nhóm tuổi 20 - 39  
chiếm tỷ lệ 16,4%. Người bệnh là nam chiếm  
55,2% người bệnh nữ chiếm 44,8%. Người  
bệnh có trình độ văn hóa dưới THPT chiếm tỷ  
lệ cao nhất 80,6% người bệnh có trình độ học  
nghề, trung cấp/cao đẳng chiếm 14,4% người  
bệnh có trình độ đại học/sau đại học chiếm tỷ  
lệ thấp nhất 5%.  
Nghiên cứu thực hiện khi đã được Hội  
đồng Khoa học và Công nghệ Bệnh viện Đa  
khoa Nông nghiệp thông qua theo Quyết  
định số 426 ngày 18 tháng 3 năm 2020 và  
Hội đồng đạo đức trường Y tế công cộng  
thông qua ngày 20 tháng 7 năm 2020, số  
204/2020/YTCC-HD3.  
III. KẾT QUẢ  
Bảng 1. Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn trong đại dịch COVID-19  
(N = 201, phạm vi điểm từ 0-100)  
Điểm trung bình  
Danh mục  
Hoạt động thể chất  
Tiểu mục  
(mean ± SD)  
42,4 ± 24,7  
56,3 ± 48,9  
80,3 ± 37,9  
49,6 ± 9,3  
3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12  
13, 14, 15, 16  
17, 18, 19  
Giới hạn vai trò do sức khỏe thể chất  
Giới hạn vai trò do vấn đề cảm xúc  
Năng lượng/mệt mỏi  
Tình cảm tốt đẹp  
23, 27, 29, 31  
24, 25, 26, 28, 30  
20, 32  
53,5 ± 7,6  
Hoạt động xã hội  
56,6 ± 15,8  
53,5 ± 22,8  
39,6 ± 19,3  
50,2 ± 15,0  
Đau  
21, 22  
Sức khỏe tổng thể  
Tổng điểm  
1, 33, 34, 35, 36  
1 - 36  
Lưu ý: Tất cả câu hỏi đều được tính trên thang điểm từ 0 đến 100; 100 điểm tương ứng với mức  
độ cao nhất có thể; SD, độ lệch chuẩn.  
Với thang điểm từ 0 đến 100, chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn ở mức độ  
trung bình (mean = 50,2, SD = 15,0). Trong đó, giới hạn vai trò do vấn đề cảm xúc ở mức cao nhất  
(mean = 80,3, SD = 37,9); sức khỏe tổng thể ở mức thấp nhất (mean = 39,6, SD = 19,3).  
Mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và năng lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế độ ăn lành  
mạnh, sức khỏe tâm thần, thực hành phòng dịch của người bệnh suy thận mạn.  
Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận mạn có mối tương quan với năng lực sức khỏe,  
dinh dưỡng, chế độ ăn lành mạnh, sức khỏe tâm thần, thực hành phòng dịch COVID-19. Theo đó,  
người bệnh có năng lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế độ ăn lành mạnh, sức khỏe tâm thần và thực  
hành phòng dịch càng cao thì chất lượng cuộc sống càng cao.  
144  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 2. Mối tương quan giữa chất lượng cuộc sống và năng lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế  
độ ăn lành mạnh, sức khỏe tâm thần, thực hành phòng dịch  
của người bệnh suy thận mạn (N = 201)  
Mean ± SD  
n (%)  
HRQoL  
p
(Mean ± SD/ Median)  
Năng lực sức khỏe điện tử (eHL)  
(phạm vi điểm từ 8 - 40)  
24,6 ± 7,5  
15,2 ± 12,4  
8,3 ± 3,7  
50,2 ± 15,0  
50,2 ± 15,0  
50,2 ± 15,0  
0,003a  
0,003a  
< 0,001a  
Năng lực sức khỏe (HL),  
(phạm vi điểm từ 0 - 50)  
Năng lực chế độ ăn lành mạnh điện tử  
(phạm vi điểm từ 4 - 16)  
Năng lực dinh dưỡng điện tử  
Tra cứu thông tin, phạm vi điểm từ 3 - 15  
Hiểu thông tin, phạm vi điểm từ 4 - 12  
Đánh giá thông tin, phạm vi điểm từ 2 - 10  
Áp dụng thông tin, phạm vi điểm từ 2 - 10  
6,4 ± 2,8  
10,0 ± 2,9  
6,8 ± 1,6  
2,5 ± 2,4  
50,2 ± 15,0  
50,2 ± 15,0  
50,2 ± 15,0  
50,2 ± 15,0  
< 0,001a  
< 0,001a  
0,02a  
0,665a  
Chế độ ăn lành mạnh  
13,6 ± 4,1  
50,2 ± 15,0  
0,001a  
(phạm vi điểm từ 0 - 25)  
Sức khỏe tâm thần  
Mức độ trầm cảm  
Không (PHQ < 10)  
Có (PHQ ≥ 10)  
< 0,001b  
180 (89,6)  
21 (10,4)  
54,2  
29,7  
Mức độ lo âu (GAD)  
Không (GAD < 8)  
Có (GAD ≥ 8)  
< 0,001b  
184 (91,5)  
17 (8,5)  
53,8  
27,1  
Lo sợ về COVID-19  
24,8 ± 5,3  
13,1 ± 2,1  
50,2 ± 15,0  
50,2 ± 15,0  
(phạm vi điểm từ 7 - 35)  
Thực hành phòng lây nhiễm COVID-19  
(phạm vi điểm từ 3 - 15)  
Lưu ý. HRQoL, chất lượng cuộc sống liên quan đến sức khỏe; PHQ-9, bộ câu hỏi sức khỏe người  
bệnh 9 tiểu mục; GAD, Rối loạn lo âu chung; COVID-19, dịch bệnh do vi rút corona 2019; n, tần xuất;  
%, phần trăm; SD, độ lệch chuẩn; * p< .05, aSpearman correlation, bMann-Whitney U-test.  
Yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần gồm địa vị xã hội và nghi nhiễm COVID-19. Ngoài ra,  
thay đổi hoạt động thể lực so với trước dịch bệnh cũng có ảnh hưởng đến mức độ trầm cảm của  
người bệnh.  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
145  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Bảng 3. Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe tâm thần của người bệnh suy thận mạn (N= 201)  
PHQ < 10 PHQ ≥ 10  
GAD < 8  
(N = 184)  
GAD ≥ 8  
(N = 17)  
(N = 180)  
(N = 21)  
n (%)  
n (%)  
p
n (%)  
n (%)  
p
Tuổi, năm  
0.732  
0,818  
< 20  
3 (1,5)  
0 (0)  
2 (1,0)  
10 (5,0)  
9 (4,5)  
3 (1,5)  
0 (0)  
20-39  
31 (15,4)  
81 (40,3)  
65 (32,3)  
29 (14,4)  
84 (41,8)  
68 (33,8)  
4 (2,0)  
7 (3,5)  
6 (3,0)  
40-59  
≥ 60  
Giới  
0,782  
NA  
0,479  
NA  
Nam  
100 (49,8)  
80 (39,8)  
11 (5,5)  
10 (5,0)  
103 (51,2)  
81 (40,3)  
8 (4,0)  
9 (4,5)  
Nữ  
Tình trạng hôn nhân  
Chưa kết hôn  
Đã kết hôn  
Khả năng chi trả y tế  
Rất hoặc tương đối khó  
Rất hoặc tương đối dễ  
Địa vị xã hội  
Thấp  
3 (1,5)  
0 (0)  
3 (1,5)  
0 (0)  
177 (88,1) 21 (10,4)  
181 (90,0)  
17 (8,5)  
NA  
NA  
174 (86,6) 21 (10,4)  
178 (88,6)  
6 (3,0)  
17 (8,5)  
0 (0)  
6 (3,0)  
0 (0)  
< 0,001  
0,001  
0,094  
0,406  
0,038  
0,028  
0,112  
0,575  
148 (73,6)  
32 (15,9)  
10 (5,0)  
11 (5,5)  
148 (73,6)  
36 (17,9)  
10 (5,0)  
7 (3,5)  
Trung bình hoặc cao  
Đối tượng nghi nhiễm COVID-19  
Không  
156 (77,6)  
24 (11,9)  
12 (6,0)  
9 (4,5)  
157 (78,1)  
27 (13,4)  
11 (5,5)  
6 (3,0)  
Có  
Dấu hiệu nghi nhiễm COVID-19  
Không  
154 (76,6)  
26 (12,9)  
15 (7,5)  
6 (3,0)  
157 (78,1)  
27 (13,4)  
12 (6,0)  
5 (2,5)  
Có  
Trình độ văn hóa  
THPT trở xuống  
143 (71,1)  
19 (9,5)  
1 (0,5)  
1 (0,5)  
147 (73,1)  
28 (13,9)  
9 (4,5)  
15 (7,5)  
1 (0,5)  
1 (0,5)  
Học nghề/Trung cấp/Cao đẳng 28 (13,9)  
Đại học/Sau đại học 9 (4,5)  
146  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
PHQ < 10 PHQ ≥ 10  
GAD < 8  
(N = 184)  
GAD ≥ 8  
(N = 17)  
(N = 180)  
(N = 21)  
n (%)  
n (%)  
p
n (%)  
n (%)  
p
Bệnh lý kèm theo  
Một hoặc nhiều  
Không  
NA  
NA  
180 (89,6) 21 (10,4)  
184 (91,5)  
0 (0)  
17 (8,5)  
0 (0)  
0 (0)  
0 (0)  
Nghề nghiệp  
Tư nhân/Nhà nước  
Kinh doanh tự do  
Thất nghiệp/Phụ thuộc  
Khác  
0,679  
0,289  
5 (2,5)  
36 (17,9)  
123 (61,2)  
16 (8,0)  
1 (0,5)  
2 (1,0)  
16 (8,0)  
2 (1,0)  
5 (2,5)  
37 (18,4)  
127 (63,2)  
15 (7,5)  
1 (0,5)  
1 (0,5)  
12 (6,0)  
3 (1,5)  
Hút thuốc so với trước dịch COVID-19  
NA  
NA  
NA  
NA  
Chưa bao giờ, bỏ  
179 (89,1) 21 (10,4)  
183 (91,0)  
1 (0,5)  
17 (8,5)  
0 (0)  
hoặc ít hơn  
Không thay đổi  
hoặc nhiều hơn  
1 (0,5)  
0 (0)  
Uống rượu, bia so với trước dịch COVID-19  
Chưa bao giờ, bỏ  
179 (89,1) 21 (10,4)  
183 (91,0)  
1 (0,5)  
17 (8,5)  
0 (0)  
hoặc ít hơn  
Không thay đổi  
hoặc nhiều hơn  
1 (0,5)  
0 (0)  
Hoạt động thể lực so với trước dịch COVID-19  
0,034  
0,151  
Chưa bao giờ, bỏ  
153 (76,1)  
27 (13,4)  
14 (7,0)  
155 (77,1)  
29 (14,4)  
12 (6,0)  
5 (2,5)  
hoặc ít hơn  
Không thay đổi  
hoặc nhiều hơn  
7 (3,5)  
Thay đổi chế độ ăn so với trước dịch COVID-19  
0,617  
0,320  
0,666  
Kém lành mạnh hơn  
17 (8,5)  
2 (1,0)  
17 (8,5)  
2 (1,0)  
Không thay đổi/lành mạnh  
hơn  
163 (81,1)  
19 (9,5)  
167 (83,1)  
15 (7,5)  
Thay đổi sức khỏe tâm thần  
so với trước dịch COVID-19  
0,707  
Tệ hơn  
26 (12,9)  
1 (0,5)  
24 (11,9)  
3 (1,5)  
Không thay đổi hoặc tốt hơn 154 (76,6) 20 (10,0)  
160 (79,6)  
14 (7,0)  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
147  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
PHQ < 10 PHQ ≥ 10  
GAD < 8  
(N = 184)  
GAD ≥ 8  
(N = 17)  
(N = 180)  
(N = 21)  
n (%)  
n (%)  
p
n (%)  
n (%)  
p
Thay đổi chất lượng cuộc sống  
so với trước dịch COVID-19  
0,577  
0,162  
Tệ hơn  
41 (20,4)  
3 (1,5)  
38 (18,9)  
6 (3,0)  
Không thay đổi hoặc tốt hơn 139 (89,6)  
18 (9,0)  
146 (72,6)  
11 (5,5)  
Lưu ý. PHQ, bộ câu hỏi sức khỏe người bệnh; GAD, rối loạn lo âu chung; COVID-19, dịch bệnh  
do vi rút corona 2019; n, tần xuất; %, phần trăm; Sử dụng Kiểm định Chi-square; p, mức ý nghĩa  
thống kê; NA, Nonaplicable- Không áp dụng được.  
IV. BÀN LUẬN  
Theo nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi  
từ 40 - 59 chiếm tỷ lệ cao nhất 45,3%; nhóm  
tuổi > 60 chiếm 36,8%; nhóm tuổi 20 - 39  
chiếm tỷ lệ 16,4%. Nhóm tuổi < 20 chiếm tỷ  
lệ thấp nhất 1,5%. Người bệnh là nam chiếm  
55,2% người bệnh nữ chiếm 44,8%. Người  
bệnh có trình độ văn hóa dưới THPT chiếm tỷ  
lệ cao nhất 80,6% người bệnh có trình độ học  
nghề, trung cấp/cao đẳng chiếm 14,4% người  
bệnh có trình độ đại học/sau đại học chiếm tỷ  
lệ thấp nhất 5%.  
hành phòng dịch càng cao thì chất lượng cuộc  
sống càng cao.  
Sức khỏe tâm thần có 91,5% người bệnh  
có điểm số GAD < 8; chỉ có 8,5% người bệnh  
có điểm số GAD > 8 là có rối loạn lo âu về  
bệnh tật và dịch bệnh COVID 19. Điểm trung  
bình chất lượng cuộc sống của nhóm người  
bệnh có điểm GAD < 8 lớn hơn so với điểm  
trung bình chất lượng cuộc sống của nhóm  
GAD > 8 có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.  
Khi sử dụng bộ câu hỏi PHQ - 9 có 89,6%  
người bệnh suy thận mạn không có rối loạn  
trầm cảm, 10,4% người bệnh suy thận mạn có  
rối loạn trầm cảm với thang điểm PHQ - 9 dưới  
≥ 10. Điểm trung bình chất lượng cuộc sống  
của người bệnh không có rối loạn trầm cảm là  
54,2 cao hơn điểm trung bình chất lượng cuốc  
sống của người bệnh có rối loạn trầm cảm là  
29,7 có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Kết  
quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rối loạn  
trầm cảm có ảnh hưởng tới chất lượng cuộc  
sống của người bệnh suy thận mạn.  
Năng lực sức khỏe của đối tượng nghiên  
cứu là 15,2 ± 12,5. Năng lực sức khỏe và chất  
lượng cuộc sống không có tương quan với  
nhau với p > 0,05. Năng lực sức khỏe điện  
tử (eHL) của đối tượng nghiên cứu có giá trị  
trung bình là 24,6 ± 7,5. Năng lực sức khỏe  
của người bệnh và chất lượng cuộc sống của  
người bệnh có tương quan với nhau với p <  
0,001. Năng lực chế độ ăn lành mạnh điện tử  
trung bình là 8,3 ± 3,7. Chất lượng cuộc sống  
của người bệnh suy thận mạn có mối tương  
quan với năng lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế  
độ ăn lành mạnh, sức khỏe tâm thần, thực  
hành phòng dịch COVID-19. Theo đó, người  
bệnh có năng lực sức khỏe, dinh dưỡng, chế  
độ ăn lành mạnh, sức khỏe tâm thần và thực  
Chất lượng cuộc sống là yếu tố tiên đoán  
cho sức khỏe của người bệnh suy thận mạn  
và là yếu tố quan trọng trong đánh giá chất  
lượng chăm sóc.  
148  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Theo nghiên cứu của chúng tôi, đánh giá  
chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận  
mạn lọc máu chu kỳ sử dụng bộ câu hỏi SF -  
36, kết quả cho thấy, điểm trung bình hoạt động  
thể chất là 42,4 ± 24,7; Giới hạn vai trò do sức  
khỏe thể chất 56,3 ± 48,9; Giới hạn vai trò do  
vấn đề cảm xúc 80,3 ± 37,9; Năng lượng/mệt  
mỏi 49,6 ± 9,3; Tình cảm tốt đẹp 53,5 ± 7,6;  
Hoạt động xã hội 56,6 ± 15,8; Đau 53,5 ± 22,8;  
Sức khỏe tổng thể 39,6 ± 19,3. Tổng điểm chất  
lượng cuộc sống của nhóm người bệnh nghiên  
cứu ở mức trung bình 50,2 ± 15,0.  
Điều này cho thấy mức độ hoạt động thể lực  
không ảnh hưởng tới mức độ lo âu và trầm cảm  
của người bệnh suy thận mạn; Thay đổi chế  
độ ăn so với trước dịch bệnh COVID-19: Kết  
quả nghiên cứu cho thấy mức độ lo âu và trầm  
cảm ở nhóm người bệnh có chế độ ăn kém lành  
mạnh hơn và nhóm người bệnh có chế độ ăn  
không thay đổi/ lành mạnh hơn là tương đương  
nhau với p > 0,05. Điều này cho thấy chế độ ăn  
không ảnh hưởng tới mức độ lo âu và trầm cảm  
của người bệnh suy thận mạn.  
V. KẾT LUẬN  
Các yếu tố liên quan đến sức khỏe tâm  
thần của người bệnh suy thận mạn: Về tuổi tỷ  
lệ trầm cảm và lo âu ở nhóm tuổi từ 40 - ≥ 60  
là cao nhất tuy nhiên sự khác biệt so với các  
nhóm tuổi khác không có ý nghĩa thống kê với  
p > 0,05; Địa vị xã hội: tỷ lệ trầm cảm ở nhóm  
người bệnh có địa vị xã hội thấp cao hơn so  
với tỷ lệ trầm cảm ở nhóm người bệnh có địa  
vị xã hội cao với p < 0,05. Tỷ lệ lo âu ở nhóm  
người bệnh có địa vị xã hội cao tương đương  
với tỷ lệ lo âu ở nhóm người bệnh có địa vị xã  
hội thấp, với p > 0,05; Nghi nhiễm COVID - 19:  
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tỷ  
lệ trầm cảm và lo âu của nhóm người bệnh có  
nghi ngờ nhiễm COVID - 19 là cao hơn so với  
nhóm người bệnh không có nghi nhiễm COVID  
- 19 có ý nghĩa thống kê với p < 0,05; Nghề  
nghiệp: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho  
thấy tỷ lệ người bệnh lo âu và trầm cảm ở các  
nhóm nghề nghiệp là tương đương nhau với p  
> 0,05. Điều này cho thấy nghề nghiệp không  
ảnh hưởng tới mức độ lo âu và trầm cảm của  
người bệnh suy thận mạn; Hoạt động thể lực  
so với trước dịch bệnh COVID-19: Theo nghiên  
cứu của chúng tôi nhóm người bệnh có mức  
hoạt động thể lực là chưa bao giờ, bỏ hoặc ít  
hơn và nhóm người bệnh có mức hoạt động thể  
lực không thay đổi hoặc nhiều hơn có mức độ  
lo âu trầm cảm tương đương nhau với p > 0,05.  
Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy  
thận mạn ở mức độ trung bình 50,2 ± 15,0.  
Trong đó, giới hạn vai trò do vấn đề cảm xúc ở  
mức cao nhất 80,3 ± 37,9; sức khỏe tổng thể ở  
mức thấp nhất 39,6 ± 19,3.  
Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy  
thận mạn có mối tương quan với năng lực  
sức khỏe, dinh dưỡng, chế độ ăn lành mạnh,  
sức khỏe tâm thần, thực hành phòng dịch  
COVID-19.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thị Ngọc và cộng sự (2018).  
Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân đang lọc  
máu định kỳ. Tạp chí Y Học TP. Hồ Chí Minh  
phụ bản 22(5) : 125 - 131.  
2. Ngô Huy Hoàng Lê Thị Huyền (2016).  
Chất lượng cuộc sống của người bệnh suy thận  
mạn điều trị tại bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam  
- Cu Ba Đồng Hới năm 2016. Khoa Học Điều  
Dưỡng 1(2) : 58 - 65.  
3. Duong TV, Nguyen TTP, Pham KM,  
Nguyen KT, Giap MH, Tran TDX, et al. Validation  
of the Short-Form Health Literacy Questionnaire  
(HLS-SF12) and Its Determinants among  
People Living in Rural Areas in Vietnam. Int J  
Environ Res Public Health 2019 16(18):3346.  
4. Gallagher, T.H. (2020). Schleyer, A.M.  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
149  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
“We Signed Up for this!” - Student and Trainee  
Responses to the Covid-19 Pandemic. N.Engl.  
J. Med. 2020.  
Health Literacy and Health-Related Behaviors  
among Medical Students. Int J Environ Res  
Public Health 2020 17(11):4164.  
5. Hays RD, Kallich J, Mapes D, et al. Kidney  
Disease Quality of Life Short Form (KDQOL-  
SF), Version 1.3: a manual for use and scoring.  
Santa Monica, CA: Rand. 1997;39.  
12. Plummer, F.; Manea, L.; Trepel, D.;  
McMillan, D. (2016). Screening for anxiety  
disorders with the GAD-7 and GAD-2: a  
systematic review and diagnostic metaanalysis.  
Gen. Hosp. Psychiatry, 39 : 24-31.  
6. Hoang C.Minh. Minh H.Nguyen, Binh  
N.Do, Cuong Q.Tran, Thao TP Nguyen et al  
(2020). People with Suspected COVID-19  
Symptoms Were More Likely Depressed and  
Had Lower Health-Related Quality of Life: The  
mdpi.com/2077-0383/9/4/965/htm.  
13. Raynor, D.K. (2012). Health litera-  
cy. BMJ, 344, e2188.  
14. RAND Medical Outcomes Study. 36-  
Item Short Form Survey (SF-36) Scoring  
surveys_tools/mos/36-item-short-form/scoring.  
html. Accessed March, 2021.  
7. Jin W, Yu H. A study of the reliability and  
validity of SF-36 scale on evaluating health of  
population. Chin Health Resour. 2012;15:265-  
267.  
15. Sørensen, K et al (2012). Health literacy  
and public health: a systematic review and  
integration of definitions and models. BMC Public  
Health, 12, 80.  
8. Hays RD, Morales LS. The RAND-36  
measure of health-related quality of life. Annals  
of medicine. 2001;33(5):350-357.  
16. Vander Zee KI, Sanderman R, Heyink  
JW, de Haes H. Psychometric qualities of  
the RAND 36-Item Health Survey 1.0: a  
multidimensional measure of general health  
status. International journal of behavioral  
medicine.1996;3(2):104-122.  
9. Mackert, M. (2015). Introduction to a  
Colloquium: Challenges and Opportunities in  
Advancing Health Literacy Research. Health  
Commun. 30 : 1159-1160.  
10. Norman CD, Skinner HA. eHEALS: The  
eHealth Literacy Scale. J Med Internet Res  
2006 8(4):e27.  
17. Vivekanand Jha (2009). Current status  
of chronic kidney disease care in Southest Asia,  
Seminars in Nephrology, 29(5), 487-496.  
11. Nguyen HT, Do BN, Pham KM, Kim GB,  
Dam HTB, Nguyen TT, et al (2020). Fear of  
COVID-19 Scale-Associations of Its Scores with  
18. Wang, C.; Horby, P.W.; Hayden, F.G.;  
Gao, G.F. (2020). A novel coronavirus outbreak  
of global health concern. Lancet, 395, 470-473.  
150  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU Y HỌC  
Summary  
QUALITY OF LIFE OF CHRONIC KIDNEY DISEASE PATIENTS  
UNDERGOING ROUTINE HEMODIALYSIS THERAPY AT THE  
AGRICULTURE GENERAL HOSPITAL DURING THE COVID-19  
PANDEMIC AND ASSOCIATED FACTORS  
Objectives: This study investigates the quality of life (QoL) and associated factors in patients with  
chronic kidney disease (CKD) who require routine hemodialysis at the Agriculture General Hospital.  
Methods: This descriptive cross-sectional study was conducted on a convenient sample of 201  
patients from February 2020 to October 2020. Results: The patients’ QoL was at the average level  
(mean = 50.2, SD= 15.0). The mean score for role limitations caused by emotional problems was  
found highest (mean= 80.3, SD= 37.9), while the figure for general health was the lowest (mean=  
39.6, SD= 19.3). The QoL of CKD patients is associated with their health literacy, nutrition, healthy  
diets, mental health, and practice of COVID-19 prevention. Conclusion: The CKD patients’ QoL was  
at the average level. There were associations of factors such as health literacy, nutrition, healthy  
diets, mental health, and practice of COVID-19 with the QoL of CKD patients.  
Keywords: COVID-19 pandemic, patients with chronic kidney disease.  
TCNCYH 142 (6) - 2021  
151  
pdf 10 trang yennguyen 20960 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chất lượng cuộc sống và một số yếu tố liên quan ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa Nông nghiệp trong đại dịch Covid-19", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchat_luong_cuoc_song_va_mot_so_yeu_to_lien_quan_o_nguoi_benh.pdf