Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa và những vấn đề đặt ra

XAÙC ÑÒNH GIAÙ TRÒ DOANH NGHIEÄP NHAØ NÖÔÙC TRÖÔÙC COÅ PHAÀN HOÙA VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC  
YÙ KIEÁN KIEÅM TOAÙN VIEÂN  
CAÙC PHÖÔNG PHAÙP XAÙC ÑÒNH GIAÙ TRÒ  
DOANH NGHIEÄP KHI COÅ PHAÀN HOÙA  
VAØ NHÖÕNG VAÁN ÑEÀ ÑAËT RA  
TS. HOÀNG PHú THọ*  
ái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hay còn gọi là sắp xếp, đổi mới DNNN diễn ra  
trong 30 năm qua, cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế đã giúp cơ cấu DNNN được điều  
chỉnh hợp lý hơn, tập trung vào các ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, hiệu quả hoạt  
T
động được nâng cao, góp phần không nhỏ vào thành tựu phát triển chung của đất nước. Các  
hình thức sắp xếp, đổi mới DNNN rất đa dạng bao gồm sáp nhập, hợp nhất, chuyển giao doanh nghiệp,  
chuyển giao dự án, giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp… trong đó cổ phần hóa DNNN là phổ biến  
và rất được coi trọng.  
Để thực hiện hiệu quả công tác cổ phần hóa DNNN, giai đoạn xác định giá trị doanh nghiệp là khâu  
quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong việc chống thất thu ngân sách nhà nước cũng như hạn chế thiệt  
hại cho nhà đầu tư. Nhằm thực hiện hiệu quả công tác này, hiện có nhiều phương pháp để tiến hành định  
giá doanh nghiệp. Bài viết này sẽ giới thiệu một số phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp nhà nước  
trước khi cổ phần hóa.  
Từ khóa: Doanh nghiệp nhà nước, cổ phần hóa, xác định giá trị doanh nghiệp  
Valuation measures of enterprise value when proceeding equitization and technical issues  
State Enterprise (SOE) restructuring, or SOE reform, has taken place over the past 30 years. In addition  
to the process of economic reform, SOE structures have been adjusted more appropriately, focusing on  
key sectors and industries, enterprise operation effeciency has been improved, contributing to the overall  
development of the country. e form of SOE rearrangement and reform are diverse including merger,  
consolidation, transfer of business, transfer of the project, assignment, sale, contracting and leasing  
business... and SOE equitization is common and highly regarded.  
In order to effectively carry out the equitization of SOEs, the stage of enterprise valuation is an important  
and decisive step which prevents the State budget deficit as well as limits losses to investors. Performing  
effectively this task, there are several methods to conduct enterprise valuation. is article introduces some  
methods of valuation of SOEs prior to equitization.  
key words: SOEs, equitization, determining enterprise value  
Cổ phần hóa DNNN là một chủ trương đúng  
đắn của Đảng và Nhà nước đã được bắt đầu từ  
năm 1992 với Quyết định số 202-CT của Chủ  
tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là ủ tướng Chính  
phủ). Quá trình này có thể được chia làm 04 giai  
đoạn: giai đoạn thứ nhất là giai đoạn thí điểm cổ  
phần hóa (từ năm 1992 đến năm 1996) được thực  
hiện theo quyết định số 202-CT ngày 08/6/1992;  
giai đoạn thứ hai là giai đoạn mở rộng thí điểm cổ  
phần hóa (từ giữa năm 1996 đến giữa năm 1998)  
được thực hiện theo các Nghị định số 28-CP ngày  
07/5/1996 và 25/1997/NĐ-CP ngày 26/3/1997; giai  
đoạn thứ ba là giai đoạn đẩy mạnh cổ phần hóa  
(từ giữa năm 1998 đến năm 2010) được thực hiện  
theo các Nghị định số 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/  
NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP và 109/2007/NĐ-CP;  
giai đoạn thứ tư là giai đoạn cổ phần hóa nhằm tái  
cơ cấu DNNN (từ năm 2011 đến nay).  
*Kiểm toán trưởng, KTNN Khu vực XI  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 118 - tháng 8/2017  
7
XAÙC ÑÒNH GIAÙ TRÒ DOANH NGHIEÄP NHAØ NÖÔÙC TRÖÔÙC COÅ PHAÀN HOÙA VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC  
Hoạt động xác định giá trị DNNN phục vụ mục  
đích cổ phần hóa hiện nay đang được thực hiện  
theo Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011  
của Chính phủ về việc chuyển doanh nghiệp 100%  
vốn Nhà nước thành công ty cổ phần; Nghị định  
số 189/2013/NĐ-CP ngày 20/11/2013 của Chính  
phủ về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị  
định số 59/2011/NĐ-CP; Nghị định số 116/2015/  
NĐ-CP ngày 11/11/2015 của Chính phủ về sửa đổi,  
bổ sung một số điều của Nghị định số 59/2011/  
NĐ-CP; và ông tư số 127/2014/TT-BTC ngày  
5/9/2014 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn xử lý  
tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp khi thực  
hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước  
thành công ty cổ phần. Các quy định trên về cơ bản  
đã tháo gỡ kịp thời các khó khăn, tạo thuận lợi khi  
cổ phần hóa DNNN, thúc đẩy quá trình tái cơ cấu  
mà trọng tâm là Tập đoàn, Tổng Công ty nhà nước  
theo chủ trương của Đảng, Nhà nước. Tuy nhiên,  
các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp  
mặc dù đã được cải tiến nhưng vẫn còn nhiều  
vướng mắc làm ảnh hưởng đến tiến độ cổ phần  
hóa, vì việc xác định giá trị doanh nghiệp thường  
nghiêng về tính giá trị trên sổ sách; việc tính giá trị  
tiềm năng như giá trị thương hiệu, sức phát triển  
tương lai… chưa được quan tâm, chú trọng, trong  
nhiều trường hợp ước tính thiếu cơ sở vững chắc.  
1. Các phương pháp xác định giá trị  
doanh nghiệp  
Phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp  
được hiểu là phương pháp ước tính giá trị doanh  
nghiệp bằng cách dùng một hoặc nhiều phương  
pháp xác định giá khác nhau. Đối với DNNN khi  
cổ phần hóa, các phương pháp áp dụng để xác định  
giá trị doanh nghiệp được thực hiện theo ông  
tư 127/2014/TT-BTC ngày 05/9/2014 của Bộ Tài  
chính, bao gồm: phương pháp tài sản, phương  
pháp dòng tiền chiết khấu và các phương pháp  
khác. Nhưng dù sử dụng phương pháp nào đi nữa  
thì giá trị doanh nghiệp được xác định và công bố  
không được thấp hơn giá trị doanh nghiệp được  
xác định theo phương pháp tài sản. (eo quy định  
tại Khoản 1, Điều 24, ông tư 127/2014/TT-BTC  
ngày 05/9/2014 hướng dẫn xử lý tài chính và xác  
định giá trị doanh nghiệp khi thực hiện chuyển  
doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty  
cổ phần).  
1.1. Phương pháp tài sản  
Phương pháp tài sản là phương pháp xác định  
giá trị doanh nghiệp trên cơ sở giá trị thực tế  
của toàn bộ tài sản hữu hình, vô hình của doanh  
nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp.  
Phương pháp này có thể áp dụng tối đa đối với các  
loại hình doanh nghiệp. Căn cứ để xác định giá trị  
8
Số 118 - tháng 8/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
doanh nghiệp theo phương pháp tài sản được quy  
định tại Điều 30, Nghị định 59/2011/NĐ-CP, gồm:  
báo cáo tài chính, số liệu theo sổ kế toán của doanh  
nghiệp tại thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp;  
tài liệu kiểm kê, phân loại và đánh giá chất lượng  
tài sản của doanh nghiệp tại thời điểm xác định giá  
trị doanh nghiệp; giá thị trường của tài sản tại thời  
điểm tổ chức định giá; giá trị quyền sử dụng đất  
được giao, giá trị tiền thuê đất xác định lại trong  
trường hợp doanh nghiệp đã trả tiền một lần cho  
cả thời hạn thuê đất và giá trị lợi thế kinh doanh  
của doanh nghiệp.  
Khi áp dụng phương pháp tài sản, một số khoản  
được loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp  
để cổ phần hóa, cụ thể:  
Một là, đối với tài sản do doanh nghiệp cổ phần  
hóa thuê, mượn, nhận góp vốn liên doanh, liên kết  
và các tài sản khác không phải của doanh nghiệp  
thì không tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ phần  
hóa. Trước khi chuyển sang công ty cổ phần, doanh  
nghiệp cổ phần hóa phải thống nhất với chủ sở hữu  
tài sản để công ty cổ phần kế thừa các hợp đồng đã  
ký trước đây hoặc thanh lý hợp đồng;  
Hai là, đối với những tài sản không cần dùng,  
ứ đọng, chờ thanh lý, doanh nghiệp cổ phần hóa  
có trách nhiệm xử lý theo chế độ quản lý tài chính  
hiện hành (thanh lý, nhượng bán). Trường hợp  
đến thời điểm xác định giá trị doanh nghiệp mà  
doanh nghiệp chưa kịp xử lý (ngoại trừ một số  
tài sản không được phép loại trừ như các tài sản  
là nhà cửa, vật kiến trúc mà doanh nghiệp có sử  
dụng trực tiếp hoặc gián tiếp; các tài sản là máy  
móc thiết bị, phương tiện vận tải mới đầu tư đưa  
vào sử dụng trong thời hạn 05 năm hoặc có giá trị  
còn lại theo sổ sách kế toán từ 50% nguyên giá của  
tài sản trở lên...) (eo quy định tại Khoản 3, Điều  
14, Nghị định 59/2011/NĐ-CP ngày 18/7/2011 về  
chuyển doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành  
công ty cổ phần) thì được loại trừ không tính vào  
giá trị doanh nghiệp và thực hiện chuyển giao cho  
các cơ quan sau: Công ty Mua bán nợ Việt Nam;  
Tập đoàn, Công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế, Tổng  
Công ty nhà nước, Công ty mẹ trong tổ hợp công  
ty mẹ - công ty con để xử lý theo quy định đối với  
các công ty TNHH do các doanh nghiệp này nắm  
giữ 100% vốn điều lệ;  
eo phương pháp này, giá trị doanh nghiệp  
theo sổ kế toán là tổng giá trị tài sản thể hiện  
trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Giá  
trị thực tế của doanh nghiệp cổ phần hóa là giá  
trị của toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp  
tại thời điểm cổ phần hóa có tính đến khả năng  
sinh lời của doanh nghiệp mà người mua, người  
bán cổ phần đều chấp nhận được. Giá trị thực tế  
của doanh nghiệp cổ phần hóa không bao gồm các  
khoản không tính vào giá trị doanh nghiệp để cổ  
phần hóa do người có thẩm quyền quyết định giá  
trị doanh nghiệp xem xét quyết định và chịu trách  
nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình  
(theo quy định tại Điều 29, Nghị định số 59/2011/  
NĐ-CP và điểm b, khoản 1, Điều 1, Nghị định  
số 189/2013/NĐ-CP). Giá trị thực tế của doanh  
nghiệp cổ phần hóa bao gồm giá trị quyền sử dụng  
đất theo quy định tại khoản 6, Điều 1, Nghị định số  
189/2013/NĐ-CP và giá trị lợi thế kinh doanh theo  
quy định tại Điều 32 của Nghị định số 59/2011/  
NĐ-CP. Đối với các tổ chức tài chính, tín dụng khi  
xác định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp  
tài sản được sử dụng kết quả kiểm toán báo cáo tài  
chính để xác định tài sản vốn bằng tiền, các khoản  
công nợ nhưng phải thực hiện kiểm kê, đánh giá lại  
đối với tài sản cố định, các khoản đầu tư dài hạn,  
chi phí dở dang liên quan đến chi phí đền bù, giải  
tỏa, san lấp mặt bằng và giá trị quyền sử dụng đất  
theo chế độ Nhà nước quy định. Các quy định cụ  
thể về xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa  
theo phương pháp tài sản được đề cập tại Điều 17,  
Điều 18 và Điều 19 - Mục II, ông tư 127/2014/  
TT-BTC ngày 05/9/2014 của Bộ Tài chính.  
Ba là, đối với công trình phúc lợi như nhà trẻ,  
nhà mẫu giáo, bệnh xá và các tài sản phúc lợi khác  
đầu tư bằng nguồn Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc  
lợi thì chuyển giao cho công ty cổ phần quản lý,  
sử dụng để phục vụ tập thể người lao động trong  
doanh nghiệp cổ phần hóa. Đối với nhà ở cán bộ,  
công nhân viên đầu tư bằng nguồn Quỹ phúc lợi  
của doanh nghiệp, kể cả nhà ở được đầu tư bằng  
nguồn vốn ngân sách nhà nước cấp thì chuyển giao  
cho cơ quan nhà đất của địa phương để quản lý;  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 118 - tháng 8/2017  
9
XAÙC ÑÒNH GIAÙ TRÒ DOANH NGHIEÄP NHAØ NÖÔÙC TRÖÔÙC COÅ PHAÀN HOÙA VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC  
Bốn là, các khoản nợ phải thu không có khả  
Ba là, phương pháp tài sản không tính đến thời  
gian, các chi phí và thuế phải trả khi thanh lý tài  
sản cũng như việc phân phối số tiền thu được.  
năng thu hồi;  
Năm là, các khoản đầu tư dài hạn vào doanh  
nghiệp khác mà doanh nghiệp cổ phần hóa không  
kế thừa thì báo cáo cơ quan có thẩm quyền để xử lý  
chuyển giao cho doanh nghiệp nhà nước nắm giữ  
100% vốn khác làm đối tác hoặc bán lại phần vốn  
góp cho đối tác hoặc các nhà đầu tư khác theo quy  
định của pháp luật.  
Nhìn chung, phương pháp tài sản chỉ phù hợp  
với việc định giá doanh nghiệp khi mà thị trường  
chứng khoán chưa phát triển và trình độ của những  
người định giá chưa thực sự đáp ứng được đòi hỏi  
của công tác định giá theo các phương pháp khác,  
đặc biệt là phương pháp dòng tiền chiết khấu.  
1.2. Phương pháp dòng tiền chiết khấu  
eo quy định hiện hành, mặc dù các doanh  
nghiệp được lựa chọn nhiều phương pháp xác định  
giá trị doanh nghiệp khác nhau và có thể sử dụng  
những phương pháp thích hợp theo thông lệ quốc  
tế cũng như ở Việt Nam song hầu hết các doanh  
nghiệp vẫn sử dụng chủ yếu là phương pháp tài  
sản, vì đó là phương pháp khá đơn giản, dễ hiểu,  
dễ áp dụng, được hướng dẫn cụ thể. Mặt khác, dù  
định giá theo phương pháp nào thì giá trị doanh  
nghiệp cổ phần cũng không được thấp hơn giá trị  
định giá theo phương pháp tài sản, nên việc vận  
dụng phương pháp định giá khác nhiều khi ít được  
coi trọng. Hơn nữa, phương pháp tài sản trực tiếp  
đi vào phân tích các tài sản của doanh nghiệp nên  
những người liên quan về lợi ích dễ nhìn nhận và  
đánh giá được lợi ích của mình. Tuy nhiên, việc xác  
định giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài  
sản có một số hạn chế nhất định, cụ thể:  
Phương pháp dòng tiền chiết khấu (Discounted  
Cash Flow - DCF) là phương pháp xác định giá trị  
doanh nghiệp dựa trên cơ sở khả năng sinh lời của  
doanh nghiệp trong tương lai, không phụ thuộc vào  
giá trị tài sản của doanh nghiệp. Căn cứ để xác định  
giá trị doanh nghiệp theo phương pháp dòng tiền  
chiết khấu được quy định tại Điều 55, Nghị định số  
59/2011/NĐ-CP gồm báo cáo tài chính của doanh  
nghiệp trong 05 năm liền kề, trước thời điểm xác  
định giá trị doanh nghiệp; phương án hoạt động  
sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp trong 03  
đến 05 năm sau khi chuyển thành công ty cổ phần;  
lãi suất Trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 05 năm ở thời  
điểm gần nhất, trước thời điểm tổ chức thực hiện  
xác định giá trị doanh nghiệp và hệ số chiết khấu  
dòng tiền của doanh nghiệp được định giá; giá trị  
quyền sử dụng đất được giao, giá trị tiền thuê đất  
xác định lại trong trường hợp doanh nghiệp đã trả  
tiền một lần cho cả thời hạn thuê đất.  
Một là, trong nhiều trường hợp, kết quả định giá  
theo phương pháp tài sản không sát thực tế, không  
phù hợp với giá trị thị trường tại thời điểm xác  
định giá trị doanh nghiệp. Chẳng hạn giá trị còn lại  
của tài sản cố định phản ánh trên sổ sách kế toán  
cao hay thấp phụ thuộc vào việc doanh nghiệp sử  
dụng phương pháp khấu hao nào, thời điểm doanh  
nghiệp xác định nguyên giá và sự lựa chọn tuổi thọ  
kinh tế của tài sản cố định. Vì vậy, giá trị tài sản cố  
định phản ánh trên sổ kế toán trong nhiều trường  
hợp không phù hợp với giá trị thị trường tại thời  
điểm xác định giá trị doanh nghiệp;  
eo phương pháp này, đối tượng áp dụng là  
các doanh nghiệp có thời gian hoạt động trước khi  
xác định giá trị doanh nghiệp tối thiểu là 05 năm,  
có tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên vốn nhà nước  
bình quân 05 năm liền kề trước khi xác định giá trị  
doanh nghiệp cổ phần hóa cao hơn lãi suất của Trái  
phiếu Chính phủ có kỳ hạn 05 năm được phát hành  
tại thời điểm gần nhất với thời điểm xác định giá  
trị doanh nghiệp. Các quy định cụ thể về xác định  
giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo phương  
pháp dòng tiền chiết khấu được đề cập tại Điều 20,  
Điều 21 và Điều 22 - Mục III, ông tư 127/2014/  
TT-BTC ngày 05/9/2014 của Bộ Tài chính.  
Hai là, phương pháp này không tính đến khả  
năng kết hợp của các tài sản trong doanh nghiệp  
để tạo ra khả năng sinh lợi trong tương lai, chưa  
tính đến tiềm năng phát triển và mức độ rủi ro của  
doanh nghiệp;  
Phương pháp dòng tiền chiết khấu khắc phục  
được nhiều hạn chế của phương pháp tài sản  
10 Số 118 - tháng 8/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
nhưng trong một số trường hợp cũng chưa phản  
ánh được chính xác giá trị doanh nghiệp. Ví dụ  
như, việc lựa chọn số năm tương lai chỉ giới hạn từ  
03 đến 05 năm (theo quy định tại Điều 21, ông  
tư 127/2014/TT-BTC ngày 05/9/2014 Hướng dẫn  
xử lý tài chính và xác định giá trị doanh nghiệp  
khi thực hiện chuyển doanh nghiệp 100% vốn Nhà  
nước thành công ty cổ phần) là quá ngắn để xem  
xét sự biến đổi theo tính quy luật của một doanh  
nghiệp mới cổ phần. Hơn nữa, khi cổ phần hóa  
các DNNN thì có sự chuyển đổi căn bản từ một  
DNNN thành công ty cổ phần, phương pháp dòng  
tiền chiết khấu sử dụng số liệu về lợi nhuận quá  
khứ (khi còn là DNNN) để dự báo lợi nhuận các  
năm tương lai (khi đã là công ty cổ phần) trong  
trường hợp này có thể chưa phù hợp.  
Việc định giá thiếu chính xác, chưa phù hợp với  
quy định hiện hành, làm giảm giá trị tài sản được  
định giá, ảnh hưởng lớn đến quyền lợi của Nhà  
nước. Qua kiểm toán, KTNN đã xác định tăng giá  
trị thực tế vốn nhà nước 20.818,9 tỷ đồng. Trong  
đó: kiểm toán việc định giá theo phương pháp tài  
sản của 07 doanh nghiệp, KTNN đã xác định giá trị  
thực tế vốn nhà nước tăng 5.134,59 tỷ đồng, cụ thể:  
Công ty Mẹ - Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt  
Nam 440,64 tỷ đồng, Công ty Mẹ - Tổng Công ty  
Lương thực Miền Nam 388,5 tỷ đồng, Công ty Mẹ  
- Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp  
1.333,65 tỷ đồng, Công ty Mẹ - Tổng Công ty Điện  
lực Dầu khí 2.029,18 tỷ đồng, Công ty Truyền hình  
Cáp Saigontourist 152,18 tỷ đồng, Công ty TNHH  
Một thành viên Tổng Công ty Truyền hình Cáp  
Việt Nam 277,91 tỷ đồng, Công ty mẹ - Tổng Công  
ty Dầu Việt Nam 512,53 tỷ đồng. Ngoài ra, nếu áp  
dụng phương pháp dòng tiền chiết khấu đối với  
Công ty Truyền hình Cáp Saigontourist 152,18 tỷ  
đồng và Công ty TNHH Một thành viên Tổng Công  
ty Truyền hình Cáp Việt Nam (hai doanh nghiệp  
này đủ điều kiện định giá theo phương pháp dòng  
tiền chiết khấu nhưng đơn vị tư vấn chỉ xác định  
giá trị doanh nghiệp theo phương pháp tài sản),  
KTNN xác định giá trị vốn nhà nước tăng thêm so  
với phương pháp tài sản là 15.684,3 tỷ đồng. Như  
vậy, việc áp dụng các phương pháp xác định giá trị  
doanh nghiệp khác nhau sẽ cho ra các kết quả khác  
nhau và chênh lệch này trong nhiều trường hợp là  
rất lớn.  
Việc xác định giá trị doanh nghiệp là vấn đề  
có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần đảm bảo cho  
việc cổ phần hóa thành công; đảm bảo lợi ích của  
Nhà nước và lợi ích của người mua doanh nghiệp.  
Trong những năm qua, việc xác định giá trị doanh  
nghiệp ngày càng được quan tâm hoàn thiện cả về  
thể chế và phương pháp, nhưng nhìn chung điều  
kiện và cơ sở cho việc xác định giá trị doanh nghiệp  
chưa được thiết lập đầy đủ, đồng bộ; thiếu quy  
định cụ thể việc định giá các loại tài sản của doanh  
nghiệp, nhất là đối với quyền sử dụng đất và lợi thế  
kinh doanh; thiếu đội ngũ chuyên trách có đủ năng  
lực, trình độ chuyên môn để làm công tác định giá  
doanh nghiệp; phương pháp định giá chưa đa dạng  
để có thể xác định và kiểm tra, đối chiếu kết quả  
định giá giữa các phương pháp nhằm đảm bảo tính  
chính xác của việc định giá.  
1.3. Các phương pháp xác định giá trị doanh  
nghiệp khác  
Những năm gần đây, Kiểm toán nhà nước  
(KTNN) đã chỉ ra nhiều sai phạm trong việc xác  
định giá doanh nghiệp và xử lý các vấn đề tài chính  
trước khi chính thức công bố giá trị doanh nghiệp  
cổ phần hóa. eo Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm  
toán năm 2016, KTNN đã tiến hành kiểm toán  
kết quả định giá doanh nghiệp và xử lý các vấn đề  
về tài chính trước khi cổ phần hóa của 07 doanh  
nghiệp và đã chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế, nhất  
là việc lựa chọn phương pháp định giá, xác định  
chi phí thương hiệu, lợi thế kinh doanh, giá trị các  
khoản đầu tư tài chính, giá trị quyền sử dụng đất…  
ông tư 127/2014/TT-BTC không nêu cụ thể  
các phương pháp khác là những phương pháp nào,  
nhưng nhấn mạnh nếu dùng các phương pháp  
khác thì các phương pháp này phải đảm bảo tính  
khoa học, phản ánh thực chất giá trị doanh nghiệp,  
được quốc tế áp dụng rộng rãi và dễ hiểu để áp  
dụng trong tính toán xác định giá trị doanh nghiệp.  
Hơn hai mươi năm qua, các phương pháp xác  
định giá trị doanh nghiệp đối với việc cổ phần hóa  
các DNNN đã được quy định đa dạng hơn, từ chỗ  
chỉ thực hiện một phương pháp tài sản theo Nghị  
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 118 - tháng 8/2017 11  
XAÙC ÑÒNH GIAÙ TRÒ DOANH NGHIEÄP NHAØ NÖÔÙC TRÖÔÙC COÅ PHAÀN HOÙA VAØ VAI TROØ CUÛA KIEÅM TOAÙN NHAØ NÖÔÙC  
định 44/1998/NĐ-CP ngày 29/6/1998 về chuyển  
DNNN thành công ty cổ phần thì từ Nghị định  
64/2002/NĐ-CP ngày 19/6/2002 về việc chuyển  
DNNN thành công ty cổ phần đã cho phép áp  
dụng các phương pháp khác nhau để xác định giá  
trị doanh nghiệp cổ phần hóa theo hướng dẫn của  
Bộ Tài chính. êm vào đó, các phương pháp xác  
định giá trị doanh nghiệp đã được hướng dẫn cụ  
thể hơn, đơn giản hóa các thủ tục để các doanh  
nghiệp áp dụng thuận lợi.  
tạo điều kiện thuận lợi trong việc áp dụng.  
iết nghĩ, bên cạnh các giải pháp hoàn thiện  
phương pháp định giá thì cần phải tập trung đào  
tạo, bồi dưỡng một đội ngũ chuyên gia lành nghề  
chuyên về định giá, xây dựng các tổ chức định giá  
chuyên nghiệp độc lập, thích ứng với nền kinh tế  
thị trường. Bên cạnh đó, cần phải phát triển mạnh  
mẽ thị trường chứng khoán nhằm tạo điều kiện cho  
việc huy động, thu hút vốn trong và ngoài nước, từ  
đó thúc đẩy việc xác định giá trị doanh nghiệp sát  
với thị trường.  
2. Các kiến nghị và giải pháp  
Để hoàn thiện các phương pháp xác định giá  
trị DNNN khi cổ phần hóa, chúng ta cần tiếp tục  
nghiên cứu kinh nghiệm thực tiễn, các phương  
pháp xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần  
hóa của các nước trên thế giới, từ đó đưa ra phương  
pháp định giá doanh nghiệp phù hợp với điều kiện  
kinh tế- xã hội và thực tiễn của Việt Nam. Trước  
mắt, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:  
Để đảm bảo tính công khai, minh bạch trong  
cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nhất là trong cổ  
phần hóa và thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp  
thì việc áp dụng các phương pháp xác định giá trị  
doanh nghiệp tiên tiến và phù hợp với cơ chế thị  
trường là hết sức cần thiết; qua đó đảm bảo vốn,  
tài sản nhà nước và giá trị doanh nghiệp được định  
giá đầy đủ, hợp lý. Đồng thời, cần có chế tài xử lý  
nghiêm minh các trường hợp định giá thấp tài sản,  
vốn nhà nước và giá trị doanh nghiệp không đúng  
quy định của pháp luật để trục lợi, gây thất thoát tài  
sản, vốn nhà nước.  
ứ nhất, để công tác định giá được linh hoạt và  
kết quả khách quan hơn, cần khuyến khích việc sử  
dụng kết hợp nhiều cách tiếp cận và nhiều phương  
pháp khác nhau để xác định giá trị doanh nghiệp,  
cụ thể cần quy định tối thiểu phải sử dụng ít nhất  
2 phương pháp định giá trong đó bắt buộc phải sử  
dụng phương pháp tài sản;  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nghị định số 59/2011/NĐ-CP ngày  
18/7/2011 của Chính phủ về việc chuyển  
doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước thành  
công ty cổ phần;  
ứ hai, cần hoàn thiện phương pháp tài sản  
trong xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần  
hóa phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như  
thông lệ tại thị trường Việt Nam, khắc phục được  
những tồn tại nêu trên;  
2. Nghị định số 189/2013/NĐ-CP ngày  
20/11/2013 của Chính phủ về việc sửa  
đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số  
59/2011/NĐ-CP;  
ứ ba, cần hoàn thiện phương pháp chiết khấu  
dòng tiền trong xác định giá trị doanh nghiệp, đặc  
biệt thời hạn ước tính dòng tiền tương lai cần được  
tăng lên từ 05 đến 10 năm chứ không phải từ 03  
đến 05 năm như hiện tại. Việc ước tính dòng tiền  
tương lai cần phải được xây dựng trên cơ sở kế  
hoạch và chiến lược kinh doanh cụ thể của doanh  
nghiệp, dòng tiền quá khứ chỉ là một nguồn thông  
tin mang tính tham khảo trong phân tích;  
3. Nghị định số 116/2015/NĐ-CP ngày  
11/11/2015 của Chính phủ về sửa đổi, bổ  
sung một số điều của Nghị định số 59/2011/  
NĐ-CP;  
4. ông tư số 127/2014/TT-BTC ngày  
5/9/2014 của Bộ Tài chính về việc hướng  
dẫn xử lý tài chính và xác định giá trị doanh  
nghiệp khi thực hiện chuyển doanh nghiệp  
100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần;  
ứ tư, cần có hướng dẫn chi tiết các cách tiếp  
cận và các phương pháp xác định giá trị doanh  
nghiệp khác phù hợp với xu hướng thị trường để  
5. Báo cáo tổng hợp kết quả kiểm toán năm  
2016 của Kiểm toán nhà nước.  
12 Số 118 - tháng 8/2017 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN  
pdf 6 trang yennguyen 17680 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các phương pháp xác định giá trị doanh nghiệp khi cổ phần hóa và những vấn đề đặt ra", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_phuong_phap_xac_dinh_gia_tri_doanh_nghiep_khi_co_phan_ho.pdf