Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn (1802-1832)
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
Bài nghiên cứu
Open Access Full Text Article
Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy
chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn
(1802-1832)
Lưu Văn Quyết*
TÓM TẮT
Là vùng đất trung hưng của triều Nguyễn, Nam Bộ có vị trí trọng yếu về quốc phòng và đối ngoại,
có tiềm năng lớn để tạo ra bước đột phá cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, do
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
điều kiện lịch sử và vị trí địa lý, vùng đất Nam Bộ dưới sự cai trị của các chúa Nguyễn và thời kỳ
đầu triều Nguyễn thường xuyên có những bất ổn về chính trị, cùng với đó là yếu tố kinh tế giao
thương quốc tế mà đặc biệt là các hoạt động về thương mại,… đã đặt ra yêu cầu sử dụng quan
lại ở đây phải là những người ``kinh bang thế tế'', phải thực sự hiểu biết và có quá trình gắn bó với
vùng đất Nam Bộ. Là hai vị vua có nhãn quan chính trị nhạy bén, vua Gia Long (1802-1820) và vua
Minh Mạng (1820-1840) đã áp dụng biện pháp linh hoạt, có nhiều điểm khác biệt so với khu vực
miền Bắc và miền Trung trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại tham gia trong bộ máy chính
quyền ở Nam Bộ. Ở một mức độ nhất định những biện pháp này đã phát huy hiệu quả, giúp triều
Nguyễn có được đội ngũ quan lại giàu năng lực phục vụ và có nhiều đóng góp cho triều đình nói
chung, vùng đất Nam Bộ nói riêng không chỉ trong bối cảnh lịch sử đương thời, mà những dấu ấn
của một số quan lại Nam Bộ còn ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức người dân đất phương Nam
trong những giai đoạn sau.
Từ khoá: sử dụng, quan lại, Nam Bộ, Gia Long và Minh Mạng
ĐẶT VẤN ĐỀ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Trong bất kỳ chế độ nhà nước nào và vào bất kỳ thời
đại nào, để bộ máy nhà nước vận hành tốt, đều tùy
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhưng yếu tố có
tính quyết định luôn là con người - những người phục
vụ trong bộ máy đó. ực tiễn đã chứng minh, trong
bất kỳ lĩnh vực nào, nếu người lãnh đạo không biết
nhìn nhận, thu hút, trọng dụng nhân tài thì không thể
sớm tạo ra được sự bứt phá. Bởi vậy, việc làm sao để có
những chính sách thích hợp trong việc sử dụng nhân
tài luôn là mối quan tâm của Nhà nước ở mọi thời
đại. Hiện nay, chính sách sử dụng nhân tài tham gia
trong bộ máy chính quyền các cấp của đất nước ta đã
đạt được những thành tựu đáng khích lệ, song vẫn còn
nhiều bất cập và hạn chế. Ở nhiều địa phương, việc sử
dụng nhân tài vẫn còn theo kiểu phong trào, cụ thể là
địa phương nào cũng có chính sách “trải thảm đỏ” thu
hút nhân tài, nhưng không thiết thực, hiệu quả, làm
lãng phí nguồn chất xám của đất nước. Trong phạm
vi bài viết này, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một
số biện pháp mà vua Gia Long và Minh Mạng đã áp
dụng trong việc sử dụng quan lại ở vùng đất Nam Bộ.
Qua đó có thể tiếp thu được nhiều điều bổ ích trong
việc “dụng hiền” của đất nước ta trong giai đoạn hiện
nay.
Là vùng đất xuất hiện muộn nhất trên bản đồ Việt
Nam, Nam Bộ có nhiều đặc điểm khác biệt so với các
vùng đất khác trong cả nước. Tác giả Choi Byung
Wook cho rằng, vùng đất Nam Bộ trong thời gian
thống trị của các chúa Nguyễn “tồn tại như một vùng
đất tách rời, với những bản sắc địa phương rõ rệt
79]. Về chính trị, là vùng biên cương phía Nam của
Việt Nam, Nam Bộ thường xuyên có những bất ổn
về chính trị như những cuộc xâm lược của Xiêm La
(vào các năm 1833, 1834, 1841, 1845), sự bất ổn trong
triều đình Chân Lạp (do nhà Nguyễn bảo hộ), cuộc
nổi dậy của Lê Văn Khôi năm 1833,… Về văn hoá -
xã hội, Nam Bộ là vùng đất đa dạng về văn hóa do là
nơi hội tụ của nhiều thành phần dân tộc (người Việt,
người Hoa, người Khmer, người Chăm, Mạ, Stieng);
về sinh hoạt tín ngưỡng ở Nam Bộ, Trịnh Hoài Đức
chép: “sùng Phật, tin đồng cốt, phần nhiều trọng thần
điều kiện tự nhiên, cùng với những chính sách khẩn
hoang tích cực của các chúa Nguyễn (về sau là các
vua triều Nguyễn) và vai trò tích cực của người Hoa
Trường Đại học Khoa học Xã hội và
Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Liên hệ
Lưu Văn Quyết, Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam
Email: [email protected]u.vn
Lịch sử
• Ngày nhận: 3/11/2021
• Ngày chấp nhận: 09/3/2021
• Ngày đăng: 31/3/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i1.644
Bản quyền
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố
mở được phát hành theo các điều khoản của
the Creative Commons Attribution 4.0
International license.
Trích dẫn bài báo này: Quyết L V. Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy
chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn (1802-1832). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci.
Hum.; 5(1):900-907.
900
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
ở Nam Bộ, vùng đất này nhanh chóng trở thành một xuất thân phần lớn là hoàng thân, quốc thích “cha
khu vực kinh tế năng động với sự khởi sắc của hoạt truyền con nối” [3, tr. 61,67]; đạo làm quan cốt ở hai
những biện pháp nhằm tránh kéo bè cánh, lạm quyền
ức hiếp dân chúng, bảo đảm sự khách quantrong giải
quyết công việc, triều đình phong kiến thường áp
vùng xác định không được bổ nhiệm chức vụ ở nơi
đó). Hầu hết quan lại được bổ nhiệm cai trị tại những
vùng, miền không phải quê hương của mình, ai làm
nên một chế độ quan lại liêm chính, không bị chi phối
bởi quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng-xã.
Trong quá trình khảo sát bộ sách Đại Nam chính biên
liệt truyện, phần nguồn gốc quan lại chúng tôi nhận
thấy chính sách “hồi tỵ” cũng được triều Nguyễn áp
dụng ở khu vực miền Bắc ngay sau khi vương triều
được thiết lập, còn ở Nam Bộ chính sách này dường
như chưa được áp dụng ít nhất cho đến năm 1832 khi
vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính.
Trong khoảng thời gian từ khi nhà Nguyễn thành lập
(1802) đến khi vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải
cách hành chính (1832), việc bổ nhiệm quan lại - nhất
là đội ngũ quan lại cao cấp tham gia vào bộ máy chính
quyền ở Nam Bộ chủ yếu là những người quê quán ở
Nam Bộ.
Năm 1802 sau khi triều Nguyễn được thành lập, để cai
trị đất nước trên một cương vực rộng lớn mới được
thống nhất, triều Nguyễn thiết lập một cơ chế hành
4 Dinh quân sự (trực doanh) và 8 Trấn địa phương
Cơ quan hành chính ở miền Bắc gọi là Bắc ành
Tổng trấn, cơ quan đặt ở Nam Bộ gọi là Gia Định
thành Tổng trấn (tổng trấn có nghĩa là cai trị tất cả
động thương mại. Trịnh Hoài Đức trong sách Gia
Định thành thông chí đã miêu tả hoạt động kinh tế
ở Nam Bộ: “hàng hoá bày bán trong các phố có: gấm,
giấy, sứ, châu báu, sách, thuốc, trà… Những hoá vật ở
đây theo đường sông, đường biển trở đến không thiếu
cầu sử dụng quan lại ở Nam Bộ phải là những người
có tài “kinh bang tế thế” và phải có quá trình gắn với
vùng đất Nam Bộ để có thể thay vua giải quyết công
việc. Mặc dù không đưa ra những tuyên bố rõ ràng về
chính sách sử dụng quan lại riêng cho Nam Bộ, nhưng
vua Gia Long và Minh Mạng đã có nhiều hình thức và
phương pháp khác nhau nhằm “ưu tiên” cho Nam Bộ,
nhằm hướng tới một mục tiêu xa hơn là đáp ứng nhu
cầu về nhân sự cho việc thiết lập bộ máy chính quyền
ở đây.
Nguồn tài liệu được sử dụng trong bài viết này có thể
chia thành 3 loại: (1) tài liệu do triều Nguyễn biên
soạn bao gồm: Đại Nam thực lục, Gia Định thành
thông chí, Phủ biên tạp lục, Đại Nam chính biên liệt
truyện,… đây là các bộ chính sử do các quan lại triều
đình biên soạn trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX ghi
lại các hoạt động của triều Nguyễn, chứa đựng nhiều
cứ liệu liên quan đến nghiên cứu này (2) những công
trình nghiên cứu đã xuất bản của các nhà nghiên cứu
Việt Nam và nước ngoài gắn với những trải nghiệm
và quan sát về Nam Bộ; (3) những ghi chép, gia phả,
di chúc của người dân Nam Bộ. ông qua những
nguồn tài liệu này, dựa vào phương pháp nghiên cứu
lịch sử, phương pháp logic và phương pháp nghiên
cứu liên ngành, bài viết bổ sung các phát hiện của
các học giả đi trước bằng cách cho thấy một góc nhìn
toàn diện và sâu sắc hơn về biện pháp sử dụng người
địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ của
hai vị vua đầu triều Nguyễn, đồng thời đánh giá hiệu
quả của biện pháp này thông qua những đóng góp của
đội ngũ quan lại Nam Bộ trong việc khẩn hoang, phát
triển kinh tế, ổn định chính trị của vùng đất Nam Bộ
trong bối cảnh lịch sử đương thời cũng như những
đánh giá của người dân Nam Bộ trong những giai
đoạn sau.
a“Hồi tỵ” khởi nguồn từ công cuộc cải cách hành chính của vua Lê
ánh Tông. Trong Lê triều Hình luật có quy định: “Quan lại không
được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; không được
tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn; không được dùng
người cùng quê làm người giúp việc; không được làm quan ở chính
quán (quê hương mình), nơi trú quán (nơi đã sinh sống một thời
gian lâu), ở quê vợ, quê Mẹ mình, thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ
hoặc lúc trẻ tuổi... Sở dĩ có quy định “Hồi tỵ” vì triều đình phong
kiến cho rằng, những người có quan hệ thân thuộc, gần gũi thường
nể nang, làm việc không khách quan, gặp khi người nhà, người thân
“có chuyện” thì thường né tránh hoặc bao che, dẫn đến bộ máy nhà
nước kém hiệu lực,… (Xem thêm, ạch iết Hà, Luật “Hồi tỵ” của
nhà nước phong kiến Việt Nam. Trang thông tin điện tử của Ủy ban
Kiểm tra Trung ương. http://ubkttw.vn).
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Sử dụng “người địa phương” trong bộ máy
chính quyền ở Nam Bộ
bĐịa bàn từ tỉnh Ninh Bình đến tỉnh Bình uận ngày nay.
cBốn dinh quân sự (trực doanh) ở gần kinh thành Huế gồm:
Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam và 8 trấn địa
phương thuộc địa bàn từ tỉnh Ninh Bình tới tỉnh Bình uận ngày
nay được đặt dưới sự cai trị trực tiếp của triều đình Huế.
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều đình rất
chú trọng tới những người làm việc trong bộ máy nhà
nước, trước hếtlà chế độtuyển dụng, trọngdụngnhân
tài. Người làm quan phải là người có tài “dựng nước
lấy học làm đầu, cần trị lấy nhân làm gốc”, thành phần
dNăm Trấn ở Gia Định bao gồm: Trấn Gia Định, Hà Tiên, Trấn
Biên, Vĩnh Trấn, Trường Đồn.
901
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
các trấn)e. Người đứng đầu Gia Định thành được gọi các viên quan này phần lớn là người Đàng Trong (tức
là Gia Định thành tổng trấn- tức là quan Tổng trấn
trấn Gia Định là rất lớn, thay triều đình giải quyết tất
cả mọi công việc ở các Trấn do mình cai quản đồng
thời kiêm luôn việc bảo hộ nước Chân Lạp. Bên dưới
hàng ngũ quan lại cấp cao của Gia Định thành là bốn
chức quan địa phương được gọi là tào, bao gồm: Hộ
tào phụ trách hoạt động tài chính, Binh tào phụ trách
quân đội, Hình tào phụ trách tư pháp, Công tào phụ
Điều đáng chú ý là trong khi quê quán của cả 4 quan
Tổng trấn Bắc thành đều không phải là người miền
Bắc mà là từ miền Trung và Nam Bộ, cụ thể quê
quán của 4 Tổng trấn Bắc thành lần lượt là Nguyễn
Tường, Lê Chất ở Bình Định và Trương Văn Minh
ở anh Hoá, thì các quan Tổng trấn, Phó Tổng
Trấn và Hiệp trấn Gia Định thành đều là người gốc
Nam Bộ (ngoại trừ vài trường hợp cá biệt). Trong
24 năm (1808-1832) tồn tại của Gia Định thành đã
trải qua 3 thời Tổng trấn, 4 Phó Tổng trấn và 2 Hiệp
Trấn. Nguyễn Văn Nhơn, quan Tổng trấn đầu tiên của
Gia Định thành là người An Giang thuộc Nam Bộ,
Nguyễn Huỳnh Đức và Lê Văn Duyệt là người Định
Tường cũng thuộc Nam Bộ. Trịnh Hoài Đức và Ngô
Nhân Tịnh- hai Hiệp trấn lần lượt quê ở Biên Hoà và
Phiên An. Trong số 4 Phó tổng trấn Gia Định thành,
hiện nay chúng tôi mới xác định được quê quán của 2
người là Trương Tiến Bảo quê ở Vĩnh Long; Trần Văn
Bên cạnh đội ngũ quan lại cao cấp là các Tổng trấn,
phó Tổng trấn, Hiệp trấn là người Nam Bộ, thì còn
rất nhiều các chức vụ quan trọng khác trong bộ máy
chính quyền ở Nam Bộ cũng do những người có xuất
thân từ Nam Bộ nắm giữ. Trong ghi chép của Đại
Nam chính biên liệt truyện, phần bản quán của 392
nhân vật giữ những vị trí quan trọng trong chính
quyền ở Nam Bộ dưới triều vua Gia Long cho thấy có
một nghiên cứu, tác giả Vũ Văn Quân (và cộng sự)
đã chỉ rõ trong số 300 người đã từng làm quan ở Gia
Định thì có hơn 200 người làm quan lâu năm ở đây
và ngày càng nhiều quan chức xuất thân khoa cử có
mặt trong bộ máy chính quyền. Điều dễ nhận thấy là
Nam Trung Bộ và Nam Bộ), những người ở miền Bắc
415].
Cũng cần nói thêm vì sao nhà Nguyễn trong 30 năm
đầu (1802-1832) vẫn phải nỗ lực tìm kiếm người tài
quê quán ở Nam Bộ để đưa vào bộ máy chính quyền
ở đây, trong khi số lượng những người đã đỗ qua các
kỳ thi ở miền Bắc còn rất lớn nhưng vẫn không được
cho rằng: Do Nam Bộ trong suốt thời kỳ thống trị của
các chúa Nguyễn là một chính quyền địa phương, với
những bản sắc địa phương rõ nét, tồn tại khác biệt với
đòi hỏi đội ngũ quan lại ở đây phải thực sự là những
người hiểu biết về địa bàn trấn nhậm,... Trong thực
tế, năm 1821 Minh Mạng đã cử hai người tâm phúc
(trong đó có một người quê ở Nghệ An) vào giữ các
chức quan phụ trách giáo dục ở Gia Định thành. Mặc
dù lưu lại ở đây 2 năm, nhưng cả hai đã thất bại trong
việc thực thi nhiệm vụ của mình. Năm 1823 một
trong số họ là Nguyễn Đăng Sở quay về Huế đã phàn
nàn với vua Minh Mạng “Chỉ dụ của hoàng thượng
xuống từ thành đến trấn, từ trấn rồi đến phủ huyện
nhưng chưa từng ai hỏi tới học quan, thần dẫu có biết
Minh Mạng cắt đặt quan lại người miền Bắc và miền
Trung vào thay thế đội ngũ quan lại trong bộ máy
chính quyền ở Nam Bộ, nhân dân Gia Định dưới sự
lãnh đạo của Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại những
viên quan cai trị ở đây. Cuộc nổi dậy bắt đầu từ năm
vấn đề này gợi cho chúng tôi giả thuyết có sự liên quan
mật thiết trong mối quan hệ giữa yếu tố chính trị và
yếu tố kinh tế của vùng đất Nam Bộ với việc sử dụng
quan lại ở đây.
Năm 1832 vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành
chính trên cả nước, các Trấn thuộc Gia Định thành
được gọi là Nam Kỳ (Nam Bộ), chức Tổng trấn Gia
heo thông kê của tác giả Cao Xuân Dục, dưới triều Nguyễn có
hơn 300 người miền Bắc và miền Trung đỗ Cử nhân nhưng không
được triều đình bổ nhiệm, hoặc đợi được bổ nhiệm; thì tại Nam Bộ
triều đình vẫn phải nỗ lực tìm kiếm người tài qua khoa cử và thiếu
người để bổ nhiệm. (Xem thêm, Cao Xuân Dục 1993, Quốc triều
Hương khoa lục, Tp.HCM: Nxb Tp. HCM).
eGia Định thành (lập năm 1808, đến năm 1832 thì bị bãi bỏ) là
một đơn vị hành chính cao hơn Trấn, có nhiệm vụ cai quản các Trấn.
feo ghi chép của Đại Nam Liệt truyện, tổ tiên của Nguyễn Văn
ành ở huyện Quảng Điền, phủ ừa iên (nay thuộc tỉnh ừa
iên - Huế), khoảng những năm cuối thế kỉ thứ XVII đầu thế kỉ thứ
XVIII, tổ tiên ông đã di cư vào Gia Định.
iVề nguyên nhân dẫn đến cuộc nổi dậy (1833) cho đến nay vẫn
còn nhiều ý kiến khác nhau. ông qua việc đối chứng những nguồn
tư liệu, chúng tôi cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn tới
cuộc nổi dậy là vì nhân dân Gia Định bị áp bức, bị mất quyền lợi vì
thế họ đã nổi dậy chống lại chính sách của đội ngũ quan lại. (Xem
thêm, Trần Trong Kim 1919. Việt Nam sử lược. Hà Nội: NXb Tân
Việt; Nguyễn Phan Quang 1967. “êm mấy điểm về cuộc bảo động
của Lê Văn Khôi 1833-1835”, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 147).
jSáu tỉnh bao gồm: Biên Hoà, Phiên An (năm 1833 đổi là Gia
Định), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.
gChi tiết về các triều thần dưới thời Gia Long: miền Bắc 18; miền
Trung 142; miền Nam (Nam Bộ) 200,... (Xem thêm, Quốc sử quán
triều Nguyễn 2013, Đại Nam Chính biên liệt truyện. Huế: Nxb uận
hóa).
902
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
Định thành bị xoá bỏ, thay vào đó là quan Tổng đốck eo nhiều tài liệu ghi chép, thời kỳ Lê Văn Duyệt
. Ở Nam Bộ, từ sau cuộc cải cách của Minh Mạng, đặc trấn nhậm, vùng đất Nam Bộ còn hoang hóa, trộm cắp
biệt là sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi
(1835), các chức vụ quan trọng trong bộ máy chính
quyền của các tỉnh Nam Bộ phần lớn do các quan quê
miền Bắc và miền Trung đã đỗ đạt khoa cử nắm giữ
hoành hành nhiều nơi, Lê Văn Duyệt đã chiêu mộ dân
chúng cải tạo đồng ruộng, xây dựng làng xã, chăm lo
đời sống dân chúng, trừng trị nạn tham ô, trộm cướp,
vì thế làm cho nền kinh tế Nam Bộ có nhiều phát triển,
đời sống nhân dân sung túc, nhiều tàu buôn của các
nước Trung Quốc, Mã Lai, Nam Dương, Miến Điện,
Phương Tây,… đã cập bến Gia Định Bến Nghé để mua
bán trao đổi hàng hoá. Năm 1822, Crawfurd người
cầm đầu phái bộ ngoại giao của toàn quyền Ấn Độ
ghé vào Bến Nghé và Gia Định, được yết kiến Lê Văn
Duyệt đã viết về ông như sau: “Con người này ít học,
nhưng lạ lùng thay lại có cái nhìn cởi mở hơn nhiều đại
thần và cả nhà vua học rộng làu làu kinh sử của Khổng
giáo. Ngài sống thanh liêm, mong muốn mở mang đất
Gia Định trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng
bảo hộ Chân Lạp, ngăn chặn hữu hiệu ý đồ xâm lược
của Xiêm La, Lê Văn Duyệt còn đóng góp trong việc
đào kênh Vĩnh Tế - một công trình có ý nghĩa to lớn về
kinh tế, quốc phòng và hiệu quả mang lại rất lớn cho
[
10, tr. 87]. Việc “ưu tiên” sử dụng quan lại quê quán
ở Nam Bộ trong bộ máy chính quyền ở đây, đến đây
chấm dứt.
Nhữngđónggópcủađộingũquanlạingười
Nam Bộ
Gia Long và Minh Mạng đã lấy yêu cầu của thực tiễn
để đặt ra chính sách sử dụng quan lại ở Nam Bộ và ở
chừng mực nào đó chính sách này đã có hiệu quả nhất
định. Trong thực tế, một số Tổng trấn, Phó Tổng Trấn,
Hiệp trấn Gia Định thành, Bố chánh… ở Nam Bộ đã
đảm trách tốt nhiệm vụ, góp phần ổn định chính trị,
xã hội, phát triển kinh tế của vùng đất Nam Bộ và
được nhân dân cho đến ngày nay vẫn kính trọng, tôn
thờ. Dù nhiều người trong số họ không được cung
cấp kiến thức chuyên môn thuộc các lĩnh vực kinh tế,
quân sự, hành chính,… nhưng khi đối mặt với thực Việt Nam đến hiện nay. Sách Đại Nam nhất thống chí
tế họ đã đảm nhiệm được những nhiệm vụ hoàn toàn chép: “Từ đấy đường sông mới khai thông, việc biên
xa lạ với những gì được học qua Nho học. Họ vừa là phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô
các võ tướng, vừa là các văn quan, vừa làm chính trị, cùng. Kênh Vĩnh Tế đóng vai trò như một công trình
vừa là các nhà kinh tế, quân sự ngoại giao,.. tiêu biểu
như:
đánh dấu xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng
đất Nam Bộ. Đó là nhờ công lao của tiền nhân với hơn
80.000 dân binh cùng một số vị quan trực tiếp chỉ huy,
612].
Nguyễn Văn Nhơn - Tổng Trấn đầu tiên của Gia Định
góp về giáo dục, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Một
trong những đóng góp tiêu biểu của ông là đã dâng
Sớ điều trần gồm 14 điều lên vua Gia Long xin chấn
chỉnh, cải cách nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan
đến vấn đề “quốc kế dân sinh” như: thuế, giáo dục,
khoa cử, phong tục…và đều được nhà Vua cho thi
hành. Sau khi Nguyễn Văn Nhơn mất, nhà Vua đã bãi
chầu 3 ngày liền, ngự giá đến ban rượu tế và câu đối:
“Vọng các quyết phò Vua, mãi rạng lòng son trong trời
đất” và cho thờ ở thế miều và Trung hưng công thần
mộ tính cách, tài năng và công trạng của Nguyễn Văn
Nhơn, họ đem bài vị của ông vào phối thờ ở Đình Tân
Đông (ở Tiền Giang ngày nay), xem ông như vị thần
hoàng bảo vệ dân làng. Hiện nay lăng mộ của Nguyễn
Văn Nhơn ở thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng áp.
có những đóng góp to lớn đối với vùng đất Nam Bộ.
Đối với một số người dân Nam Bộ, hình ảnh Lê Văn
Duyệt đã đi vào tâm thức như một vị thần, gọi đền
thờ của Lê Văn Duyệt là Lăng Ông với tất cả lòng
thành kính. Năm 1825 khi đến thăm Sài Gòn, Michel
Đức Chaigneau đã nhận xét “Ông ta (Lê Văn Duyệt)
là người rất tài năng cả trên chiến trường và trong lĩnh
vực quản lý. Dân chúng sợ ông nhưng lại yêu mến ông
Lê Văn Duyệt trở thành điểm hoạt động tín ngưỡng,
điểm đến tâm linh của người Sài Gòn - Gia Định và
người dân các tỉnh Nam Bộ. Vào đêm Giao thừa, hoặc
đến ngày giỗ (30/7 âm lịch), hàng vạn người khắp nơi
trong cả nước, trong đó có rất nhiều người Hoa đến
cúng bái. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng từng nhận
định: “Lê Văn Duyệt có công, bằng chứng là nhân
gian ngưỡng mộ và kính trọng ông,…Chúng ta đều
biết ở Nam Bộ, trong khoảng thời gian dài và có lẽ
cũng còn sót lại cho đến tận hôm nay một câu thề độc:
‘nếu tôi gian dối thì xin thề trước Lăng Ông tôi sẽ bị
kMỗi quan Tổng đốc đứng đầu hai tỉnh
lNguyễn Văn Nhơn (1753-1822) quê ở Phủ Tân ành, tỉnh An
Giang (nay là thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng áp). Ông là một công
thần của nhà Nguyễn, Tổng trấn đầu tiên của Gia Định ành.
mLê Văn Duyệt (1764-1832), nguyên quán ở làng Bồ Đề, huyện
Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Từ đời nội tổ đã di cư vào sinh sống tại
Định Tường. Ông là công thần của nhà Nguyễn, thờ hai đời vua Gia
Long và Minh Mạng. Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành 2
lần (lần thứ nhất từ năm 1812-1816, lần thứ hai từ năm 1820-1832).
903
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
vặn họng như con gà tôi mang đến cúng Tả quân’,… cúng; Nguyễn Văn Tồn- người Khmer, được phong
chúng ta nhận thức rằng sự tôn trọng kia liên quan chức ống đốc đồn Uy Viễn, có công rất lớn trong
chủ yếu đến công lao của ông đối với vùng đất mà việc tập hợp người Kh’mer giúp Gia Long chống lại
quân Xiêm. Ngày nay lăng mộ của ông ở huyện Trà
Ôn, tỉnh Vĩnh Long, nhân dân trong vùng tôn kính,
coi ông là vị thần bảo hộ che chở cho sinh dân trong
khu vực. Hằng năm, vào những ngày đầu năm, cộng
đồng cư dân Việt, Hoa, Kh’mer ở khắp các vùng và
khách thập phương tập trung về lăng mộ Nguyễn Văn
Tồn tổ chức cúng giỗ, lễ hội. Khu di tích như là một cơ
Trong số những sĩ tử người Nam Bộ đỗ đạt qua các
kỳ thi và tham gia vào bộ máy chính quyền ở Nam Bộ
có nhiều đóng góp đối với vùng đất phía Nam, được
nhân dân kính trọng và yêu mến, tiểu biểu như: Phan
khoa, làm quan dưới 3 triều vua (Minh Mạng, iệu
Trị, Tự Đức) và có nhiều đóng góp trong việc phát
triển văn hoá – giáo dục ở Nam Bộ, được triều đình
cử đi sứ nhiều nước như: Trung Quốc, Indonesia, Sin-
gapore... Sau khi mất, được thờ tại Văn ánh Miếu
Giản hiện nay ở huyện Ba Tri, Bến Tre. Từ lâu, nhân
dân trong vùng coi ông là một vị thần ành Hoàng
dụng nhiều chức vụ, sau lên chức ượng thư bộ Hộ.
Trương Minh Giảng được đánh giá là người “văn võ
song toàn”, công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, từng
giữ chức Tổng tài Quốc sử quán, có công lớn trong
việc dập tắt cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833) và
đẩy lùi quân Xiêm đem lại bình yên cho vùng đất từ
Gia Định; bên cạnh đó, ông còn có công rất lớn đối
với nhân dân Nam Bộ (đặc biệt là nhân dân ở hai tỉnh
An Giang và Hà Tiên nơi ông làm Tổng Trấn) trong
việc hướng dẫn người dân biết dùng trâu, bò làm sức
kéo, trồng dâu, dệt vải; tăng cường tình đoàn kết giữa
các dân tộc Chăm, Hoa, Kh’mer; thực hiện chính sách
ngoại giao mềm dẻo với hai nước Xiêm và Chân Lạp.
Trương Minh Giảng được xếp đứng đầu trong 20 vị có
khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định năm 1835 và được
trao chức Quản cơ Trấn thủ đồn Vĩnh ông ở Châu
Đốc. Ông luôn đứng về phía nhân dân chống lại quan
lại tham nhũng, nêu cao tinh thần trọng nghĩa khinh
tài, giữ vững sĩ khí đúng như một vế câu liễn ghi trong
người nghĩa khí, “văn võ song toàn”, được mọi người
gọi là “Hổ tướng” vì có công lớn trong việc khai khẩn
Chính sử triều Nguyễn đánh giá về Nguyễn Huỳnh
Đức như sau: “ế tổ thường bảo thị thần rằng: Đức
không chịu hàng giặc, khốn khó muôn hiểm theo
trẫm gian lao, chí khi cao cả ấy hơn người tầm thường
lắm. Sau khi đại địch cai trị ba trấn lớn (Quy Nhơn,
Bắc ành, Gia Định ành), đức nghiệp, công lao,
Sau khi mất, Nguyễn Huỳnh Đức được nhân dân
trong vùng xem như một vị ành hoàng. Lăng mộ
của ông được xây dựng từ năm 1817 (trước khi ông
mất) với diện tích hơn 3000m2, trên cổng Lăng đắp
nổi dòng chữ “Tiền quân phủ” tại làng Tường Khánh
xưa (nay là Tp.Tân An, Long An của Nam Bộ).
Bên cạnh ba vị quan Tổng trấn của Gia Định thành,
trong bộ máy chính quyền của nhà Nguyễn ở Nam Bộ
còn có sự tham gia của đội ngũ quan lại gốc người Hoa
ở Nam Bộ và người Khmer, tiêu biểu như: Trịnh Hoài
Định thành, sau được triệu về kinh lãnh chức ượng
thư Bộ Lễ, kiên quản công việc của toà Khâm Giám
Mục. Ông là một nhà thơ, nhà văn và một sử gia nổi
tiếng của Việt Nam. Năm 1825 ông mất, được xây
lăng mộ ở Biên Hoà, Đồng Nai. Năm 1938, trường
Viễn đông Bác cổ xếp lăng mộ ông là di tích bảo tồn
và hiện nay là di tích lịch sử quốc gia, hàng năm được
Định được đánh giá là người quang minh rộng rãi,
học rộng, làm thơ hay, được nhân dân yêu mến và
thường được triều đình giao đi sứ giáo hảo với Nhà
anh (Trung Quốc) và Chân lạp. Ngày nay lăng mộ
của ông nằm trong khuôn viên chùa Giác Lâm (Q.Tân
Bình, Tp. Hồ Chí Minh) được nhân dân hàng năm thờ
nNguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), quê ở Định Tường (nay là tỉnh
Long An). Ông là công thần dưới thời vua Gia Long, được ban họ vua
và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Chưởng Tiền Quân (1802),
Tổng Trấn Bắc ành (1810-1815), Tổng trấn Gia Định ành (1816-
1819)…
oTrịnh Hoài Đức (1765-1825), tổ tiên người Trung Quốc, di cư
sang Việt Nam rồi định cư ở Dinh trấn Biên (nay là Tp. Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai). Năm 1808 ông được bổ dụng làm Hiệp trấn Gia
Định thành; năm 1812 được đưa về Kinh thành làm Lễ bộ ượng
thư; năm 1816 được bổ nhiệm làm Hiệp trấn Gia Định thành lần thứ
hai; ông được xưng tụng là “Gia Định tam gia” do có tài thơ phú lỗi
lạc. (Xem thêm, Trần Bạch Đằng và các cộng sự 2019, Địa chí văn hóa
thành phố Hồ Chí Minh, tập 1. Tp.HCM: Nxb Tổng hợp).
qeo lời kể của ông Từ Hoàng Đương, Ban Quản lý lăng Nguyễn
Văn Tồn.
rPhan anh Giản (1796–1867) quê ở Bảo An, Vĩnh Long (nay là
huyện Ba Trị, tỉnh Bến Tre).
sTrương Minh Giảng (1792-1841) quê ở làng Hạnh ông, huyện
Bình Dương, trấn Gia Định (nay thuộc T . Hồ Chí Minh).
tBùi Hữu Nghĩa (1807-1872) quê ở huyện Vĩnh Định, phủ Định
Viễn, trấn Vĩnh anh (nay thuộc quận Bình ủy, Tp. Cần ơ).
pNgô Nhân Tịnh (1761 - 1813) tiên tổ người Quảng Đông (Trung
Quốc), di cư sang Việt Nam rồi định cư ở Gia Định. Năm 1812 được
bổ dụng làm ượng thư Bộ Công, kiêm Hiệp tổng trấn Gia Định.
904
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
đền thờ của ông: “Cương dũng đả cường hào, sĩ khí tục phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng. Trong
thiên thu bất hủ”. Lăng mộ của Bùi Hữu Nghĩa ngày
nay ở thành Phố Cần ơ, được xếp hạng di tích quốc
gia. Hằng năm vào ngày giỗ nhân dân trong vùng nô
nức đổ về nhang khói và tưởng niệm một nhà thơ khí
phách, một nhân cách lớn của vùng đất Nam Bộ.
khoảng thời gian 28 năm (1813-1840), triều Nguyễn
lấy đỗ tổng cộng 912 Cử nhân trong toàn quốc, trong
đó có 94 Cử nhân là người Nam Bộ (chiếm 10,31%)
[
gian triều Nguyễn tồn tại 1802-1945, triều đình lấy
đỗ tổng cộng 5.220 Cử nhân trong cả nước (trong đó
lại ở Nam Bộ thời kỳ này chưa tách rời với cuộc sống
dân dã, chưa rơi vào lề thói sinh hoạt hủ bại của tầng
lớp quan lại phong kiến hay khuôn mẫu “ứng xử kinh
viện” của phần đông môn đệ Nho gia, mà vẫn gần gũi
mã đề thương, hạ mã đề thi” (lên ngựa múa thương,
xuống ngựa làm thơ) đã thể hiện tính năng động của
đội ngũ quan lại Nam Bộ lúc bấy giờ – một sức mạnh
tinh thần giúp họ thích ứng với thực tế cuộc sống nơi
đây một cách mau chóng và có hiệu quả. Mặc dù còn
bộc lộ những hạn chế, song thực tế những đóng góp
của đội ngũ quan lại đối với vùng đất Nam Bộ trong
thời kỳ này đã để lại những bài học có ý nghĩa sâu sắc
không chỉ đối với thực tiễn lịch sử vùng đất Nam Bộ
thời đó, mà còn có nhiều giá trị đáng để chúng ta ngày
nay phải suy ngẫm.
THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu đã đóng góp thêm một mảng tư
liệu về biện pháp sử dụng quan lại trong bộ máy chính
quyền ở Nam Bộ của vua Gia Long và Minh Mạng
cũng như những đóng góp của họ trong việc khẩn
hoang, phát triển kinh tế, bảo đam an ninh chính trị
của vùng đất phía Nam của tổ quốc trong bối cảnh
lịch sử đương thời và những đánh giá của người dân
Nam Bộ ngày nay thông qua các nghi lễ thời cúng-
một vấn đề mà từ trước đến nay chưa có nhiều công
trình đi sâu tìm hiểu. Trên cơ sở nội dung nghiên
cứu đã giải quyết, chúng tôi cho rằng vẫn cần có thêm
nhiều nguồn tư liệu hơn nữa để đi đến khẳng định có
một chính sách riêng của vua Gia Long và Minh Mạng
trong việc sử dụng quan lại ở Nam Bộ, nhưng những
gì trình bày trong nghiên cứu này cho phép tạm đi
đến nhận xét rằng Gia Long và Minh Mạng ít nhất đã
có nhưng “ưu tiên” để thực hiện một chính sách như
vậy thông qua những biện pháp và thực tế của việc
triển khai những biện pháp đó ở Nam Bộ theo tinh
thần “phương thức lập các chính sách, ắt cần phải tùy
địa phương mà định quy chế”. Bên cạnh những mặt
tích cực mà chúng tôi đã trình bày, biện pháp sử dụng
quan lại ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu triều Nguyễn
cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, như: việc sử
dụng “người địa phương” làm tăng thêm quyền lực
của quan lại, tạo ra nguy cơ hình thành những thế lực
cát cứ và trong thực tế nhiều trường hợp tham nhũng,
chuyên quyền, ức hiếp nhân dân đã xảy ra trong một
DANH MỤC VIẾT TẮT
ĐHQG: Đại học Quốc gia
TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh
NXB: Nhà xuất bản
KHXH: Khoa học Xã hội
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH
Tác giả cam kết không có xung đột lợi ích liên quan
đến nghiên cứu này.
veo tác giả Nguyễn Đình Đầu, trong số 274 cử nhân Nam Bộ,
có 11 người gốc ở địa phương khác đến thi nhờ (Xem thêm, Nguyễn
Đình Đầu 2002. “Sĩ phu Gia Định-Bình Dương”, in trong: Những
vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn
Di tích Cố đô Huế, Tạp chí Xưa và Nay, Huế, tr.128).
KẾT LUẬN
Nhìn lại biện pháp sử dụng quan lại của Gia Long và
Minh Mạng chúng tôi nhận thấy hai vị vua đầu triều
Nguyễn đã có nhiều hình thức và biện pháp khác biệt
trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại ở vùng đất
Nam Bộ so với miền Bắc, miền Trung và so với truyền
thống tuyển chọn và sử dụng quan lại của các triều đại
phong kiến của Việt Nam trước đó. Trong giai đoạn
nửa đầu thế kỷ XIX, đội ngũ quan lại ở Nam Bộ đã liên
uTrong các bản án mà triều Nguyễn xét xử quan lại được sách
Đại Nam thực lục ghi lại liên quan đến tham nhũng, chuyên quyền,..
trong thời kỳ này thì số lượng quan lại Nam Bộ bị xử tội chiếm đáng
kể. Một vài trường hợp cụ thể như: Lưu Phước Tường, Huỳnh Công
Lý, Đào Quang Lý, Tống Hữu Tài, Bạch Xuân Nguyên… (Xem thêm,
Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục. Hà Nội: Nxb Giáo
Dục. 2007).
wHương cống Trương Minh Giảng văn võ song toàn, lãnh đạo
quân Việt trong chiến tranh Trấn Tây thời gian 1834-184; Án sát Mai
ăng Đường thanh liêm tới lúc chết “trong túi rỗng tuếch” khiến
quan tỉnh phải xuất công quỹ làm đám ma; Tiến sỹ khai khoa của
toàn Nam Bộ Phan anh Giản đã từng buộc vua Minh Mệnh phải bỏ
dở việc tuần thú Quảng Nam trở về để nhân dân địa phương có điều
kiện dồn sức vào hoạt động cứu đói lúc mất mùa. Tuy vậy, với đặc
tính sống phóng khoáng trọng tình nghĩa của người Nam Bộ, cũng
khiến cho một bộ phận quan lại có năng lực nhưng nhiều khi lại có
thái độ không thiết tha phục vụ chính quyền. Chương Hảo Hiệp tuy
được trọng dụng trong triều nhưng vẫn buồn bã khi phải làm quan
xa nhà; Phan anh Giản, tuy ở vào địa vị quan lại cao cấp cũng có
lần ngao ngán cho rằng vinh hoa tất cả đều là hư ảo; Bùi Hữu Nghĩa
hờn tủi coi mình là người vô dụng vì đã đi theo con đường hoạn lộ,..
(Xem thêm, Quốc sử quán triều Nguyễn 1993. Đại Nam chính biên
liệt truyện. Huế: Nxb uận Hóa ; Cao Tự anh 1996. Nho giáo ở
Gia Định. Tp.HCM : Nxb Tp.HCM).
905
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907
4. Thái PH. Tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt
Nam và một số gợi mở. Tạp chí Tổ chức Nhà nước;Available
5. Dật PH. Phương thức dùng người của cha ông ta trong lịch sử.
Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia. 1994;.
6. Hòa LTT. Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ
năm 1802-1884. Hà Nội: Nxb KHXH. 1998;.
7. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Chính biên liệt truyện.
Huế: Nxb Thuận hóa. 2013;.
8. Quân VV, Hòa QT. Quy hoạch hành chính và quản lý dân cư -
đất đai ở Nam Bộ dưới thời Nguyễn (1802-1858). In trong: Quá
trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ). Hà Nội: Nxb.
Thế giới. 2011;.
9. Quốc sử quán triều Nguyễn. Minh Mệnh chính yếu. Sài Gòn:
Tủ sách Cổ Văn xuất bản. 1972;2.
10. Tường NM. Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng. Hà Nội:
Nxb Khoa học xã hội. 1996;.
11. Hùng PM, Đông Triều N. Theo dấu người xưa. Tp.HCM: Nxb
Tổng hợp. 2017;.
12. Giang HL. Phan Thanh Giản nỗi đau trăm năm. Thanh Hóa:
Nxb Hồng Đức. 2001;.
13. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí. Hà Nội:
Nxb Lao động. 2012;.
14. Silvestre J. L’insurrection de Gia Dinh, la re1volte de Khoi
(1832-1834). Revue Indochinoise. 1915;p. 7–8.
15. Đằng TB (cb). Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. TpHCM:
Nxb Tổng hợp. 2019;1.
16. Đường M. Tưởng nhớ vị ”Hổ tướng”- Một danh nhân Nam Bộ
thời cận đại. In trong Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức nhân vật-
võ nghiệp và di sản. Tp.HCM: Nxb Đại học Quốc gia. 2019;.
17. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam chính biên liệt truyện.
Huế: Nxb Thuận Hóa. 1993;.
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ
Bài viết là sản phẩm nghiên cứu riêng của tác giả. Để
thực hiện bài viết này, tác giả đã tiến hành thu thập
dữ liệu, tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và
ngoài nước, đồng thời tiến hành khảo sát thực địa để
bổ sung thêm những cứ liệu. Trên cơ sở xử lý nhiều
nguồn tài liệu, cũng như những phân tích, đánh giá,
đóng góp chính của bài viết gồm hai khía cạnh. ứ
nhất, dù hầu hết các các học giả đều thừa nhận so với
truyền thống cũng như so với miền Bắc, vua Gia Long
và Minh Mạng có những “ưu tiên” trong việc sử dụng
quan lại ở Nam Bộ, nhưng chưa có công trình nào đến
nay trình bày chi tiết và giải thích đầy đủ tại sao lại có
những “ưu tiên” đó. Bài viết này đã làm sáng tỏ vấn
đề này. ứ hai, nghiên cứu này làm rõ tác dụng của
những chính sách mà vua Gia Long và Minh Mạng
áp dụng trong việc sử dụng quan lại thông qua những
đóng góp của họ trong việc khẩn hoang, phát triển
kinh tế, ổn định tình hình chính trị của vùng đất Nam
Bộ.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Wook CB. Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng. Hà Nội:
Nxb. Thế giới; 1996. 2010;.
2. Đức TH. Gia Định thành thông chí. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.
1999;.
3. Quang NP. Thêm mấy điểm về cuộc bảo động của Lê Văn Khôi.
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. 1967;147:1833–1835.
18. Giang HL. Lê Văn Duyệt-từ nấm mồ oan khuất đến Lăng Ông.
Hà Nội: Nxb Văn hóa-thông tin. 1999;.
19. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 1, 2, 3, 4, 5,
6, 14. Hà Nội: Nxb Giáo Dục. 2007;.
20. Thanh CT. Nho giáo ở Gia Định. Tp.HCM : Nxb Tp.HCM;.
906
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(1):900-907
Research Article
Open Access Full Text Article
The use local people as officials of Southern Administrations in the
early period of Nguyen Dynasty (1802-1832)
Luu Van Quyet*
ABSTRACT
Southern Vietnam is the central region of the Nguyen Dynasty. It occupies an important position
in national defense and foreign affairs. The region has had the huge economic potential and can
Use your smartphone to scan this
QR code and download this article
create a breakthrough for Vietnam's economic development up to now. However, due to the his-
torical conditions and geographical location, political upheaval was tremendously popular during
the period of the Nguyen Lords and early Nguyen Dynasty. Besides, the economic factors of inter-
national trade and the development of commodity production (specific social foundations) were
high above the national standard. As a result, the central government had to use a special method
of selecting and using local officials/mandarins. The officials selected must have been good in
``handling the statecraft'', who could understand and have/had a process of living and working
in the South. As two eminent political kings, Gia Long and Minh Mang applied flexible measures,
not taking the aristocratic nature of candidates very seriously. Both kings completely removed the
``hereditary'' regime, not following the Confucian model as in the North and the Central regions in
selecting and using mandarins in the local government apparatus. This policy helped the Nguyen
Dynasty build a dedicated, competent service bureau in the region. The policy is an exception in
the history of recruiting mandarins under the Confucian perspective in the country/Vietnam, and
to a certain extent, it has successfully promoted local socio-economic development. This paper
aims to argue that it is difficult to apply a unified but rigid policy in Vietnam on issues related to the
locality and that Southern Vietnam always demands more special attention in state policies.
Key words: use, officials, Southern Vietnam, the King Gia Long and Minh Mang
University of Social Sciences &
Humanities, VNU-HCM
Correspondence
Luu Van Quyet, University of Social
Sciences & Humanities, VNU-HCM
Email: luuvanquyet@hcmussh.edu.vn
History
• Received: 3/11/2020
• Accepted: 09/03/2021
• Published: 31/03/2021
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i1.644
Copyright
© VNU-HCM Press. This is an open-
access article distributed under the
terms of the Creative Commons
Attribution 4.0 International license.
Cite this article : Quyet L V. The use local people as officials of Southern Administrations in the early
period of Nguyen Dynasty (1802-1832). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(1):900-907.
907
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn (1802-1832)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bien_phap_su_dung_quan_lai_la_nguoi_dia_phuong_trong_bo_may.pdf

