Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn (1802-1832)

Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
Bài nghiên cứu  
Open Access Full Text Article  
Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy  
chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn  
(1802-1832)  
Lưu Văn Quyết*  
TÓM TẮT  
Là vùng đất trung hưng của triều Nguyễn, Nam Bộ có vị trí trọng yếu về quốc phòng và đối ngoại,  
có tiềm năng lớn để tạo ra bước đột phá cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam. Tuy nhiên, do  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
điều kiện lịch sử và vị trí địa lý, vùng đất Nam Bộ dưới sự cai trị của các chúa Nguyễn và thời kỳ  
đầu triều Nguyễn thường xuyên có những bất ổn về chính trị, cùng với đó là yếu tố kinh tế giao  
thương quốc tế mà đặc biệt là các hoạt động về thương mại,… đã đặt ra yêu cầu sử dụng quan  
lại ở đây phải là những người ``kinh bang thế tế'', phải thực sự hiểu biết và có quá trình gắn bó với  
vùng đất Nam Bộ. Là hai vị vua có nhãn quan chính trị nhạy bén, vua Gia Long (1802-1820) và vua  
Minh Mạng (1820-1840) đã áp dụng biện pháp linh hoạt, có nhiều điểm khác biệt so với khu vực  
miền Bắc và miền Trung trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại tham gia trong bộ máy chính  
quyền ở Nam Bộ. Ở một mức độ nhất định những biện pháp này đã phát huy hiệu quả, giúp triều  
Nguyễn có được đội ngũ quan lại giàu năng lực phục vụ và có nhiều đóng góp cho triều đình nói  
chung, vùng đất Nam Bộ nói riêng không chỉ trong bối cảnh lịch sử đương thời, mà những dấu ấn  
của một số quan lại Nam Bộ còn ảnh hưởng sâu đậm trong tâm thức người dân đất phương Nam  
trong những giai đoạn sau.  
Từ khoá: sử dụng, quan lại, Nam Bộ, Gia Long và Minh Mạng  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
Trong bất kỳ chế độ nhà nước nào và vào bất kỳ thời  
đại nào, để bộ máy nhà nước vận hành tốt, đều tùy  
thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau, nhưng yếu tố có  
tính quyết định luôn là con người - những người phục  
vụ trong bộ máy đó. ực tiễn đã chứng minh, trong  
bất kỳ lĩnh vực nào, nếu người lãnh đạo không biết  
nhìn nhận, thu hút, trọng dụng nhân tài thì không thể  
sớm tạo ra được sự bứt phá. Bởi vậy, việc làm sao để có  
những chính sách thích hợp trong việc sử dụng nhân  
tài luôn là mối quan tâm của Nhà nước ở mọi thời  
đại. Hiện nay, chính sách sử dụng nhân tài tham gia  
trong bộ máy chính quyền các cấp của đất nước ta đã  
đạt được những thành tựu đáng khích lệ, song vẫn còn  
nhiều bất cập và hạn chế. Ở nhiều địa phương, việc sử  
dụng nhân tài vẫn còn theo kiểu phong trào, cụ thể là  
địa phương nào cũng có chính sách “trải thảm đỏ” thu  
hút nhân tài, nhưng không thiết thực, hiệu quả, làm  
lãng phí nguồn chất xám của đất nước. Trong phạm  
vi bài viết này, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một  
số biện pháp mà vua Gia Long và Minh Mạng đã áp  
dụng trong việc sử dụng quan lại ở vùng đất Nam Bộ.  
Qua đó có thể tiếp thu được nhiều điều bổ ích trong  
việc “dụng hiền” của đất nước ta trong giai đoạn hiện  
nay.  
Là vùng đất xuất hiện muộn nhất trên bản đồ Việt  
Nam, Nam Bộ có nhiều đặc điểm khác biệt so với các  
vùng đất khác trong cả nước. Tác giả Choi Byung  
Wook cho rằng, vùng đất Nam Bộ trong thời gian  
thống trị của các chúa Nguyễn “tồn tại như một vùng  
đất tách rời, với những bản sắc địa phương rõ rệt  
khác biệt với các vùng đất khác của Việt Nam” [1, tr.  
79]. Về chính trị, là vùng biên cương phía Nam của  
Việt Nam, Nam Bộ thường xuyên có những bất ổn  
về chính trị như những cuộc xâm lược của Xiêm La  
(vào các năm 1833, 1834, 1841, 1845), sự bất ổn trong  
triều đình Chân Lạp (do nhà Nguyễn bảo hộ), cuộc  
nổi dậy của Lê Văn Khôi năm 1833,… Về văn hoá -  
xã hội, Nam Bộ là vùng đất đa dạng về văn hóa do là  
nơi hội tụ của nhiều thành phần dân tộc (người Việt,  
người Hoa, người Khmer, người Chăm, Mạ, Stieng);  
về sinh hoạt tín ngưỡng ở Nam Bộ, Trịnh Hoài Đức  
chép: “sùng Phật, tin đồng cốt, phần nhiều trọng thần  
đàn bà” [2, tr. 142]. Về kinh tế, với sự thuận lợi của  
điều kiện tự nhiên, cùng với những chính sách khẩn  
hoang tích cực của các chúa Nguyễn (về sau là các  
vua triều Nguyễn) và vai trò tích cực của người Hoa  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và  
Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Liên hệ  
Lưu Văn Quyết, Trường Đại học Khoa học Xã  
hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, Việt Nam  
Email: [email protected]u.vn  
Lịch sử  
• Ngày nhận: 3/11/2021  
• Ngày chấp nhận: 09/3/2021  
• Ngày đăng: 31/3/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i1.644  
Bản quyền  
© ĐHQG Tp.HCM. Đây là bài báo công bố  
mở được phát hành theo các điều khoản của  
the Creative Commons Attribution 4.0  
International license.  
Trích dẫn bài báo này: Quyết L V. Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy  
chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn (1802-1832). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci.  
Hum.; 5(1):900-907.  
900  
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
ở Nam Bộ, vùng đất này nhanh chóng trở thành một xuất thân phần lớn là hoàng thân, quốc thích “cha  
khu vực kinh tế năng động với sự khởi sắc của hoạt truyền con nối” [3, tr. 61,67]; đạo làm quan cốt ở hai  
điều “trên thì yêu vua, dưới thì yêu dân”4. Một trong  
những biện pháp nhằm tránh kéo bè cánh, lạm quyền  
ức hiếp dân chúng, bảo đảm sự khách quantrong giải  
quyết công việc, triều đình phong kiến thường áp  
dụng biện pháp “hồi tỵ”a (nghĩa là một người ở một  
vùng xác định không được bổ nhiệm chức vụ ở nơi  
đó). Hầu hết quan lại được bổ nhiệm cai trị tại những  
vùng, miền không phải quê hương của mình, ai làm  
sai sẽ bị nghiêm trị5. Những quy định này nhằm tạo  
nên một chế độ quan lại liêm chính, không bị chi phối  
bởi quan hệ họ hàng, dòng tộc, làng-xã.  
Trong quá trình khảo sát bộ sách Đại Nam chính biên  
liệt truyện, phần nguồn gốc quan lại chúng tôi nhận  
thấy chính sách “hồi tỵ” cũng được triều Nguyễn áp  
dụng ở khu vực miền Bắc ngay sau khi vương triều  
được thiết lập, còn ở Nam Bộ chính sách này dường  
như chưa được áp dụng ít nhất cho đến năm 1832 khi  
vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải cách hành chính.  
Trong khoảng thời gian từ khi nhà Nguyễn thành lập  
(1802) đến khi vua Minh Mạng tiến hành cuộc cải  
cách hành chính (1832), việc bổ nhiệm quan lại - nhất  
là đội ngũ quan lại cao cấp tham gia vào bộ máy chính  
quyền ở Nam Bộ chủ yếu là những người quê quán ở  
Nam Bộ.  
Năm 1802 sau khi triều Nguyễn được thành lập, để cai  
trị đất nước trên một cương vực rộng lớn mới được  
thống nhất, triều Nguyễn thiết lập một cơ chế hành  
chính đặc biệt. Ở Trung Kỳ (Trung Bộ)b chia thành  
4 Dinh quân sự (trực doanh) và 8 Trấn địa phương  
do triều đình trực tiếp quản lýc; Bắc Kỳ (Bắc Bộ) chia  
thành 11 Trấn; Nam Kỳ (Nam Bộ) chia thành 5 Trấnd.  
Cơ quan hành chính ở miền Bắc gọi là Bắc ành  
Tổng trấn, cơ quan đặt ở Nam Bộ gọi là Gia Định  
thành Tổng trấn (tổng trấn có nghĩa là cai trị tất cả  
động thương mại. Trịnh Hoài Đức trong sách Gia  
Định thành thông chí đã miêu tả hoạt động kinh tế  
ở Nam Bộ: “hàng hoá bày bán trong các phố có: gấm,  
giấy, sứ, châu báu, sách, thuốc, trà… Những hoá vật ở  
đây theo đường sông, đường biển trở đến không thiếu  
món nào…” [2, tr. 410]. Những điều này đặt ra yêu  
cầu sử dụng quan lại ở Nam Bộ phải là những người  
có tài “kinh bang tế thế” và phải có quá trình gắn với  
vùng đất Nam Bộ để có thể thay vua giải quyết công  
việc. Mặc dù không đưa ra những tuyên bố rõ ràng về  
chính sách sử dụng quan lại riêng cho Nam Bộ, nhưng  
vua Gia Long và Minh Mạng đã có nhiều hình thức và  
phương pháp khác nhau nhằm “ưu tiên” cho Nam Bộ,  
nhằm hướng tới một mục tiêu xa hơn là đáp ứng nhu  
cầu về nhân sự cho việc thiết lập bộ máy chính quyền  
ở đây.  
Nguồn tài liệu được sử dụng trong bài viết này có thể  
chia thành 3 loại: (1) tài liệu do triều Nguyễn biên  
soạn bao gồm: Đại Nam thực lục, Gia Định thành  
thông chí, Phủ biên tạp lục, Đại Nam chính biên liệt  
truyện,… đây là các bộ chính sử do các quan lại triều  
đình biên soạn trong thế kỷ XIX và thế kỷ XX ghi  
lại các hoạt động của triều Nguyễn, chứa đựng nhiều  
cứ liệu liên quan đến nghiên cứu này (2) những công  
trình nghiên cứu đã xuất bản của các nhà nghiên cứu  
Việt Nam và nước ngoài gắn với những trải nghiệm  
và quan sát về Nam Bộ; (3) những ghi chép, gia phả,  
di chúc của người dân Nam Bộ. ông qua những  
nguồn tài liệu này, dựa vào phương pháp nghiên cứu  
lịch sử, phương pháp logic và phương pháp nghiên  
cứu liên ngành, bài viết bổ sung các phát hiện của  
các học giả đi trước bằng cách cho thấy một góc nhìn  
toàn diện và sâu sắc hơn về biện pháp sử dụng người  
địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ của  
hai vị vua đầu triều Nguyễn, đồng thời đánh giá hiệu  
quả của biện pháp này thông qua những đóng góp của  
đội ngũ quan lại Nam Bộ trong việc khẩn hoang, phát  
triển kinh tế, ổn định chính trị của vùng đất Nam Bộ  
trong bối cảnh lịch sử đương thời cũng như những  
đánh giá của người dân Nam Bộ trong những giai  
đoạn sau.  
a“Hồi tỵ” khởi nguồn từ công cuộc cải cách hành chính của vua Lê  
ánh Tông. Trong Lê triều Hình luật có quy định: “Quan lại không  
được lấy vợ, kết hôn, làm thông gia ở nơi mình cai quản; không được  
tậu đất, vườn, ruộng, nhà ở nơi mình làm quan lớn; không được dùng  
người cùng quê làm người giúp việc; không được làm quan ở chính  
quán (quê hương mình), nơi trú quán (nơi đã sinh sống một thời  
gian lâu), ở quê vợ, quê Mẹ mình, thậm chí cả nơi học tập lúc nhỏ  
hoặc lúc trẻ tuổi... Sở dĩ có quy định “Hồi tỵ” vì triều đình phong  
kiến cho rằng, những người có quan hệ thân thuộc, gần gũi thường  
nể nang, làm việc không khách quan, gặp khi người nhà, người thân  
“có chuyện” thì thường né tránh hoặc bao che, dẫn đến bộ máy nhà  
nước kém hiệu lực,… (Xem thêm, ạch iết Hà, Luật “Hồi tỵ” của  
nhà nước phong kiến Việt Nam. Trang thông tin điện tử của Ủy ban  
Kiểm tra Trung ương. http://ubkttw.vn).  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Sử dụng “người địa phương” trong bộ máy  
chính quyền ở Nam Bộ  
bĐịa bàn từ tỉnh Ninh Bình đến tỉnh Bình uận ngày nay.  
cBốn dinh quân sự (trực doanh) ở gần kinh thành Huế gồm:  
Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam và 8 trấn địa  
phương thuộc địa bàn từ tỉnh Ninh Bình tới tỉnh Bình uận ngày  
nay được đặt dưới sự cai trị trực tiếp của triều đình Huế.  
Trong lịch sử phong kiến Việt Nam, triều đình rất  
chú trọng tới những người làm việc trong bộ máy nhà  
nước, trước hếtlà chế độtuyển dụng, trọngdụngnhân  
tài. Người làm quan phải là người có tài “dựng nước  
lấy học làm đầu, cần trị lấy nhân làm gốc”, thành phần  
dNăm Trấn ở Gia Định bao gồm: Trấn Gia Định, Hà Tiên, Trấn  
Biên, Vĩnh Trấn, Trường Đồn.  
901  
       
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
các trấn)e. Người đứng đầu Gia Định thành được gọi các viên quan này phần lớn là người Đàng Trong (tức  
là Gia Định thành tổng trấn- tức là quan Tổng trấn  
Gia Định thành [1, tr. 79-80]. Quyền hạn của Tổng  
trấn Gia Định là rất lớn, thay triều đình giải quyết tất  
cả mọi công việc ở các Trấn do mình cai quản đồng  
thời kiêm luôn việc bảo hộ nước Chân Lạp. Bên dưới  
hàng ngũ quan lại cấp cao của Gia Định thành là bốn  
chức quan địa phương được gọi là tào, bao gồm: Hộ  
tào phụ trách hoạt động tài chính, Binh tào phụ trách  
quân đội, Hình tào phụ trách tư pháp, Công tào phụ  
trách xây dựng6.  
Điều đáng chú ý là trong khi quê quán của cả 4 quan  
Tổng trấn Bắc thành đều không phải là người miền  
Bắc mà là từ miền Trung và Nam Bộ, cụ thể quê  
quán của 4 Tổng trấn Bắc thành lần lượt là Nguyễn  
Văn ành ở Gia Địnhf, Nguyễn Huỳnh Đức ở Định  
Tường, Lê Chất ở Bình Định và Trương Văn Minh  
ở anh Hoá, thì các quan Tổng trấn, Phó Tổng  
Trấn và Hiệp trấn Gia Định thành đều là người gốc  
Nam Bộ (ngoại trừ vài trường hợp cá biệt). Trong  
24 năm (1808-1832) tồn tại của Gia Định thành đã  
trải qua 3 thời Tổng trấn, 4 Phó Tổng trấn và 2 Hiệp  
Trấn. Nguyễn Văn Nhơn, quan Tổng trấn đầu tiên của  
Gia Định thành là người An Giang thuộc Nam Bộ,  
Nguyễn Huỳnh Đức và Lê Văn Duyệt là người Định  
Tường cũng thuộc Nam Bộ. Trịnh Hoài Đức và Ngô  
Nhân Tịnh- hai Hiệp trấn lần lượt quê ở Biên Hoà và  
Phiên An. Trong số 4 Phó tổng trấn Gia Định thành,  
hiện nay chúng tôi mới xác định được quê quán của 2  
người là Trương Tiến Bảo quê ở Vĩnh Long; Trần Văn  
Năng quê ở Khánh Hoà (miền Trung)7.  
Bên cạnh đội ngũ quan lại cao cấp là các Tổng trấn,  
phó Tổng trấn, Hiệp trấn là người Nam Bộ, thì còn  
rất nhiều các chức vụ quan trọng khác trong bộ máy  
chính quyền ở Nam Bộ cũng do những người có xuất  
thân từ Nam Bộ nắm giữ. Trong ghi chép của Đại  
Nam chính biên liệt truyện, phần bản quán của 392  
nhân vật giữ những vị trí quan trọng trong chính  
quyền ở Nam Bộ dưới triều vua Gia Long cho thấy có  
200/392 (51,01%) người quê quán ở Nam Bộg. Trong  
một nghiên cứu, tác giả Vũ Văn Quân (và cộng sự)  
đã chỉ rõ trong số 300 người đã từng làm quan ở Gia  
Định thì có hơn 200 người làm quan lâu năm ở đây  
và ngày càng nhiều quan chức xuất thân khoa cử có  
mặt trong bộ máy chính quyền. Điều dễ nhận thấy là  
Nam Trung Bộ và Nam Bộ), những người ở miền Bắc  
rất ít và nắm giữ những chức vụ ít quan trọng [8, tr.  
415].  
Cũng cần nói thêm vì sao nhà Nguyễn trong 30 năm  
đầu (1802-1832) vẫn phải nỗ lực tìm kiếm người tài  
quê quán ở Nam Bộ để đưa vào bộ máy chính quyền  
ở đây, trong khi số lượng những người đã đỗ qua các  
kỳ thi ở miền Bắc còn rất lớn nhưng vẫn không được  
bổ dụngh. Về vấn đề này, tác giả Choi Byung Wook  
cho rằng: Do Nam Bộ trong suốt thời kỳ thống trị của  
các chúa Nguyễn là một chính quyền địa phương, với  
những bản sắc địa phương rõ nét, tồn tại khác biệt với  
những vùng đất khác của Việt Nam [1, tr. 79] vì thế  
đòi hỏi đội ngũ quan lại ở đây phải thực sự là những  
người hiểu biết về địa bàn trấn nhậm,... Trong thực  
tế, năm 1821 Minh Mạng đã cử hai người tâm phúc  
(trong đó có một người quê ở Nghệ An) vào giữ các  
chức quan phụ trách giáo dục ở Gia Định thành. Mặc  
dù lưu lại ở đây 2 năm, nhưng cả hai đã thất bại trong  
việc thực thi nhiệm vụ của mình. Năm 1823 một  
trong số họ là Nguyễn Đăng Sở quay về Huế đã phàn  
nàn với vua Minh Mạng “Chỉ dụ của hoàng thượng  
xuống từ thành đến trấn, từ trấn rồi đến phủ huyện  
nhưng chưa từng ai hỏi tới học quan, thần dẫu có biết  
cũng không dám cử vượt” [9, tr. 380]. Năm 1832, vua  
Minh Mạng cắt đặt quan lại người miền Bắc và miền  
Trung vào thay thế đội ngũ quan lại trong bộ máy  
chính quyền ở Nam Bộ, nhân dân Gia Định dưới sự  
lãnh đạo của Lê Văn Khôi đã nổi dậy chống lại những  
viên quan cai trị ở đây. Cuộc nổi dậy bắt đầu từ năm  
1833 kéo dài đến năm 1835 mới bị dập tắti. Những  
vấn đề này gợi cho chúng tôi giả thuyết có sự liên quan  
mật thiết trong mối quan hệ giữa yếu tố chính trị và  
yếu tố kinh tế của vùng đất Nam Bộ với việc sử dụng  
quan lại ở đây.  
Năm 1832 vua Minh Mạng tiến hành cải cách hành  
chính trên cả nước, các Trấn thuộc Gia Định thành  
được tái cơ cấu lại thành 6 tỉnhj, Gia Định lúc này  
được gọi là Nam Kỳ (Nam Bộ), chức Tổng trấn Gia  
heo thông kê của tác giả Cao Xuân Dục, dưới triều Nguyễn có  
hơn 300 người miền Bắc và miền Trung đỗ Cử nhân nhưng không  
được triều đình bổ nhiệm, hoặc đợi được bổ nhiệm; thì tại Nam Bộ  
triều đình vẫn phải nỗ lực tìm kiếm người tài qua khoa cử và thiếu  
người để bổ nhiệm. (Xem thêm, Cao Xuân Dục 1993, Quốc triều  
Hương khoa lục, Tp.HCM: Nxb Tp. HCM).  
eGia Định thành (lập năm 1808, đến năm 1832 thì bị bãi bỏ) là  
một đơn vị hành chính cao hơn Trấn, có nhiệm vụ cai quản các Trấn.  
feo ghi chép của Đại Nam Liệt truyện, tổ tiên của Nguyễn Văn  
ành ở huyện Quảng Điền, phủ ừa iên (nay thuộc tỉnh ừa  
iên - Huế), khoảng những năm cuối thế kỉ thứ XVII đầu thế kỉ thứ  
XVIII, tổ tiên ông đã di cư vào Gia Định.  
iVề nguyên nhân dẫn đến cuộc nổi dậy (1833) cho đến nay vẫn  
còn nhiều ý kiến khác nhau. ông qua việc đối chứng những nguồn  
tư liệu, chúng tôi cho rằng một trong những nguyên nhân dẫn tới  
cuộc nổi dậy là vì nhân dân Gia Định bị áp bức, bị mất quyền lợi vì  
thế họ đã nổi dậy chống lại chính sách của đội ngũ quan lại. (Xem  
thêm, Trần Trong Kim 1919. Việt Nam sử lược. Hà Nội: NXb Tân  
Việt; Nguyễn Phan Quang 1967. “êm mấy điểm về cuộc bảo động  
của Lê Văn Khôi 1833-1835”, tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 147).  
jSáu tỉnh bao gồm: Biên Hoà, Phiên An (năm 1833 đổi là Gia  
Định), Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên.  
gChi tiết về các triều thần dưới thời Gia Long: miền Bắc 18; miền  
Trung 142; miền Nam (Nam Bộ) 200,... (Xem thêm, Quốc sử quán  
triều Nguyễn 2013, Đại Nam Chính biên liệt truyện. Huế: Nxb uận  
hóa).  
902  
           
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
Định thành bị xoá bỏ, thay vào đó là quan Tổng đốck eo nhiều tài liệu ghi chép, thời kỳ Lê Văn Duyệt  
. Ở Nam Bộ, từ sau cuộc cải cách của Minh Mạng, đặc trấn nhậm, vùng đất Nam Bộ còn hoang hóa, trộm cắp  
biệt là sau khi dẹp xong cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi  
(1835), các chức vụ quan trọng trong bộ máy chính  
quyền của các tỉnh Nam Bộ phần lớn do các quan quê  
miền Bắc và miền Trung đã đỗ đạt khoa cử nắm giữ  
hoành hành nhiều nơi, Lê Văn Duyệt đã chiêu mộ dân  
chúng cải tạo đồng ruộng, xây dựng làng xã, chăm lo  
đời sống dân chúng, trừng trị nạn tham ô, trộm cướp,  
vì thế làm cho nền kinh tế Nam Bộ có nhiều phát triển,  
đời sống nhân dân sung túc, nhiều tàu buôn của các  
nước Trung Quốc, Mã Lai, Nam Dương, Miến Điện,  
Phương Tây,… đã cập bến Gia Định Bến Nghé để mua  
bán trao đổi hàng hoá. Năm 1822, Crawfurd người  
cầm đầu phái bộ ngoại giao của toàn quyền Ấn Độ  
ghé vào Bến Nghé và Gia Định, được yết kiến Lê Văn  
Duyệt đã viết về ông như sau: “Con người này ít học,  
nhưng lạ lùng thay lại có cái nhìn cởi mở hơn nhiều đại  
thần và cả nhà vua học rộng làu làu kinh sử của Khổng  
giáo. Ngài sống thanh liêm, mong muốn mở mang đất  
Gia Định trù phú hơn mọi quốc gia khác ở trong vùng  
biển Đông” [12, tr. 81]. Không chỉ làm tốt công tác  
bảo hộ Chân Lạp, ngăn chặn hữu hiệu ý đồ xâm lược  
của Xiêm La, Lê Văn Duyệt còn đóng góp trong việc  
đào kênh Vĩnh Tế - một công trình có ý nghĩa to lớn về  
kinh tế, quốc phòng và hiệu quả mang lại rất lớn cho  
[
10, tr. 87]. Việc “ưu tiên” sử dụng quan lại quê quán  
ở Nam Bộ trong bộ máy chính quyền ở đây, đến đây  
chấm dứt.  
Nhữngđónggópcủađộingũquanlạingười  
Nam Bộ  
Gia Long và Minh Mạng đã lấy yêu cầu của thực tiễn  
để đặt ra chính sách sử dụng quan lại ở Nam Bộ và ở  
chừng mực nào đó chính sách này đã có hiệu quả nhất  
định. Trong thực tế, một số Tổng trấn, Phó Tổng Trấn,  
Hiệp trấn Gia Định thành, Bố chánh… ở Nam Bộ đã  
đảm trách tốt nhiệm vụ, góp phần ổn định chính trị,  
xã hội, phát triển kinh tế của vùng đất Nam Bộ và  
được nhân dân cho đến ngày nay vẫn kính trọng, tôn  
thờ. Dù nhiều người trong số họ không được cung  
cấp kiến thức chuyên môn thuộc các lĩnh vực kinh tế,  
quân sự, hành chính,… nhưng khi đối mặt với thực Việt Nam đến hiện nay. Sách Đại Nam nhất thống chí  
tế họ đã đảm nhiệm được những nhiệm vụ hoàn toàn chép: “Từ đấy đường sông mới khai thông, việc biên  
xa lạ với những gì được học qua Nho học. Họ vừa là phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô  
các võ tướng, vừa là các văn quan, vừa làm chính trị, cùng. Kênh Vĩnh Tế đóng vai trò như một công trình  
vừa là các nhà kinh tế, quân sự ngoại giao,.. tiêu biểu  
như:  
đánh dấu xác lập chủ quyền của người Việt trên vùng  
đất Nam Bộ. Đó là nhờ công lao của tiền nhân với hơn  
80.000 dân binh cùng một số vị quan trực tiếp chỉ huy,  
trong đó có Tổng trấn Gia Định Lê Văn Duyệt” [13, tr.  
612].  
Nguyễn Văn Nhơn - Tổng Trấn đầu tiên của Gia Định  
thànhl, ngoài tài năng về quân sự, còn có nhiều đóng  
góp về giáo dục, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài. Một  
trong những đóng góp tiêu biểu của ông là đã dâng  
Sớ điều trần gồm 14 điều lên vua Gia Long xin chấn  
chỉnh, cải cách nhiều lĩnh vực quan trọng liên quan  
đến vấn đề “quốc kế dân sinh” như: thuế, giáo dục,  
khoa cử, phong tục…và đều được nhà Vua cho thi  
hành. Sau khi Nguyễn Văn Nhơn mất, nhà Vua đã bãi  
chầu 3 ngày liền, ngự giá đến ban rượu tế và câu đối:  
“Vọng các quyết phò Vua, mãi rạng lòng son trong trời  
đất” và cho thờ ở thế miều và Trung hưng công thần  
miếu [11, tr. 13-14]. Người dân Nam Bộ rất ngưỡng  
mộ tính cách, tài năng và công trạng của Nguyễn Văn  
Nhơn, họ đem bài vị của ông vào phối thờ ở Đình Tân  
Đông (ở Tiền Giang ngày nay), xem ông như vị thần  
hoàng bảo vệ dân làng. Hiện nay lăng mộ của Nguyễn  
Văn Nhơn ở thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng áp.  
Lê Văn Duyệt -Tổng trấn Gia Định thành hai lầnm,  
có những đóng góp to lớn đối với vùng đất Nam Bộ.  
Đối với một số người dân Nam Bộ, hình ảnh Lê Văn  
Duyệt đã đi vào tâm thức như một vị thần, gọi đền  
thờ của Lê Văn Duyệt là Lăng Ông với tất cả lòng  
thành kính. Năm 1825 khi đến thăm Sài Gòn, Michel  
Đức Chaigneau đã nhận xét “Ông ta (Lê Văn Duyệt)  
là người rất tài năng cả trên chiến trường và trong lĩnh  
vực quản lý. Dân chúng sợ ông nhưng lại yêu mến ông  
thật lòng vì ông là người công bằng” [14, tr.18]. Lăng  
Lê Văn Duyệt trở thành điểm hoạt động tín ngưỡng,  
điểm đến tâm linh của người Sài Gòn - Gia Định và  
người dân các tỉnh Nam Bộ. Vào đêm Giao thừa, hoặc  
đến ngày giỗ (30/7 âm lịch), hàng vạn người khắp nơi  
trong cả nước, trong đó có rất nhiều người Hoa đến  
cúng bái. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng từng nhận  
định: “Lê Văn Duyệt có công, bằng chứng là nhân  
gian ngưỡng mộ và kính trọng ông,…Chúng ta đều  
biết ở Nam Bộ, trong khoảng thời gian dài và có lẽ  
cũng còn sót lại cho đến tận hôm nay một câu thề độc:  
‘nếu tôi gian dối thì xin thề trước Lăng Ông tôi sẽ bị  
kMỗi quan Tổng đốc đứng đầu hai tỉnh  
lNguyễn Văn Nhơn (1753-1822) quê ở Phủ Tân ành, tỉnh An  
Giang (nay là thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng áp). Ông là một công  
thần của nhà Nguyễn, Tổng trấn đầu tiên của Gia Định ành.  
mLê Văn Duyệt (1764-1832), nguyên quán ở làng Bồ Đề, huyện  
Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi. Từ đời nội tổ đã di cư vào sinh sống tại  
Định Tường. Ông là công thần của nhà Nguyễn, thờ hai đời vua Gia  
Long và Minh Mạng. Lê Văn Duyệt làm Tổng trấn Gia Định thành 2  
lần (lần thứ nhất từ năm 1812-1816, lần thứ hai từ năm 1820-1832).  
903  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
vặn họng như con gà tôi mang đến cúng Tả quân’,… cúng; Nguyễn Văn Tồn- người Khmer, được phong  
chúng ta nhận thức rằng sự tôn trọng kia liên quan chức ống đốc đồn Uy Viễn, có công rất lớn trong  
chủ yếu đến công lao của ông đối với vùng đất mà việc tập hợp người Kh’mer giúp Gia Long chống lại  
ông trấn nhậm” [15, tr. 261].  
quân Xiêm. Ngày nay lăng mộ của ông ở huyện Trà  
Ôn, tỉnh Vĩnh Long, nhân dân trong vùng tôn kính,  
coi ông là vị thần bảo hộ che chở cho sinh dân trong  
khu vực. Hằng năm, vào những ngày đầu năm, cộng  
đồng cư dân Việt, Hoa, Kh’mer ở khắp các vùng và  
khách thập phương tập trung về lăng mộ Nguyễn Văn  
Tồn tổ chức cúng giỗ, lễ hội. Khu di tích như là một cơ  
sở sinh hoạt văn hóa gắn kết cộng đồng các sắc tộcq.  
Trong số những sĩ tử người Nam Bộ đỗ đạt qua các  
kỳ thi và tham gia vào bộ máy chính quyền ở Nam Bộ  
có nhiều đóng góp đối với vùng đất phía Nam, được  
nhân dân kính trọng và yêu mến, tiểu biểu như: Phan  
anh Giảnr - người Nam Bộ đầu tiên đậu Tiến sĩ khai  
khoa, làm quan dưới 3 triều vua (Minh Mạng, iệu  
Trị, Tự Đức) và có nhiều đóng góp trong việc phát  
triển văn hoá – giáo dục ở Nam Bộ, được triều đình  
cử đi sứ nhiều nước như: Trung Quốc, Indonesia, Sin-  
gapore... Sau khi mất, được thờ tại Văn ánh Miếu  
Vĩnh Long [18, tr. 213]. Đền thờ của Phan anh  
Giản hiện nay ở huyện Ba Tri, Bến Tre. Từ lâu, nhân  
dân trong vùng coi ông là một vị thần ành Hoàng  
Trương Minh Giảngs đỗ cử nhân năm 1819, được bổ  
dụng nhiều chức vụ, sau lên chức ượng thư bộ Hộ.  
Trương Minh Giảng được đánh giá là người “văn võ  
song toàn”, công thần bậc nhất của nhà Nguyễn, từng  
giữ chức Tổng tài Quốc sử quán, có công lớn trong  
việc dập tắt cuộc nổi dậy của Lê Văn Khôi (1833) và  
đẩy lùi quân Xiêm đem lại bình yên cho vùng đất từ  
Gia Định; bên cạnh đó, ông còn có công rất lớn đối  
với nhân dân Nam Bộ (đặc biệt là nhân dân ở hai tỉnh  
An Giang và Hà Tiên nơi ông làm Tổng Trấn) trong  
việc hướng dẫn người dân biết dùng trâu, bò làm sức  
kéo, trồng dâu, dệt vải; tăng cường tình đoàn kết giữa  
các dân tộc Chăm, Hoa, Kh’mer; thực hiện chính sách  
ngoại giao mềm dẻo với hai nước Xiêm và Chân Lạp.  
Trương Minh Giảng được xếp đứng đầu trong 20 vị có  
công, khắc tên vào bia đá đặt ở Võ miếu (Huế) [19, tr.  
351]; ủ khoa Bùi Hữu Nghĩat đỗ Giải nguyên (thủ  
khoa) kỳ thi Hương ở Gia Định năm 1835 và được  
trao chức Quản cơ Trấn thủ đồn Vĩnh ông ở Châu  
Đốc. Ông luôn đứng về phía nhân dân chống lại quan  
lại tham nhũng, nêu cao tinh thần trọng nghĩa khinh  
tài, giữ vững sĩ khí đúng như một vế câu liễn ghi trong  
Nguyễn Huỳnh Đức-Tổng trấn Gia Định thànhn là  
người nghĩa khí, “văn võ song toàn”, được mọi người  
gọi là “Hổ tướng” vì có công lớn trong việc khai khẩn  
đất hoang, lập lên xóm làng ở Nam Bộ [16, tr. 18].  
Chính sử triều Nguyễn đánh giá về Nguyễn Huỳnh  
Đức như sau: “ế tổ thường bảo thị thần rằng: Đức  
không chịu hàng giặc, khốn khó muôn hiểm theo  
trẫm gian lao, chí khi cao cả ấy hơn người tầm thường  
lắm. Sau khi đại địch cai trị ba trấn lớn (Quy Nhơn,  
Bắc ành, Gia Định ành), đức nghiệp, công lao,  
danh vọng, các bầy tôi không sánh được” [17, tr. 257].  
Sau khi mất, Nguyễn Huỳnh Đức được nhân dân  
trong vùng xem như một vị ành hoàng. Lăng mộ  
của ông được xây dựng từ năm 1817 (trước khi ông  
mất) với diện tích hơn 3000m2, trên cổng Lăng đắp  
nổi dòng chữ “Tiền quân phủ” tại làng Tường Khánh  
xưa (nay là Tp.Tân An, Long An của Nam Bộ).  
Bên cạnh ba vị quan Tổng trấn của Gia Định thành,  
trong bộ máy chính quyền của nhà Nguyễn ở Nam Bộ  
còn có sự tham gia của đội ngũ quan lại gốc người Hoa  
ở Nam Bộ và người Khmer, tiêu biểu như: Trịnh Hoài  
Đứco - một công thần được ban tước Hiệp Trấn Gia  
Định thành, sau được triệu về kinh lãnh chức ượng  
thư Bộ Lễ, kiên quản công việc của toà Khâm Giám  
Mục. Ông là một nhà thơ, nhà văn và một sử gia nổi  
tiếng của Việt Nam. Năm 1825 ông mất, được xây  
lăng mộ ở Biên Hoà, Đồng Nai. Năm 1938, trường  
Viễn đông Bác cổ xếp lăng mộ ông là di tích bảo tồn  
và hiện nay là di tích lịch sử quốc gia, hàng năm được  
nhân dân thờ cúng; Ngô Nhơn Tịnhp - Hiệp trấn Gia  
Định được đánh giá là người quang minh rộng rãi,  
học rộng, làm thơ hay, được nhân dân yêu mến và  
thường được triều đình giao đi sứ giáo hảo với Nhà  
anh (Trung Quốc) và Chân lạp. Ngày nay lăng mộ  
của ông nằm trong khuôn viên chùa Giác Lâm (Q.Tân  
Bình, Tp. Hồ Chí Minh) được nhân dân hàng năm thờ  
nNguyễn Huỳnh Đức (1748-1819), quê ở Định Tường (nay là tỉnh  
Long An). Ông là công thần dưới thời vua Gia Long, được ban họ vua  
và giữ nhiều chức vụ quan trọng như: Chưởng Tiền Quân (1802),  
Tổng Trấn Bắc ành (1810-1815), Tổng trấn Gia Định ành (1816-  
1819)…  
oTrịnh Hoài Đức (1765-1825), tổ tiên người Trung Quốc, di cư  
sang Việt Nam rồi định cư ở Dinh trấn Biên (nay là Tp. Biên Hòa,  
tỉnh Đồng Nai). Năm 1808 ông được bổ dụng làm Hiệp trấn Gia  
Định thành; năm 1812 được đưa về Kinh thành làm Lễ bộ ượng  
thư; năm 1816 được bổ nhiệm làm Hiệp trấn Gia Định thành lần thứ  
hai; ông được xưng tụng là “Gia Định tam gia” do có tài thơ phú lỗi  
lạc. (Xem thêm, Trần Bạch Đằng và các cộng sự 2019, Địa chí văn hóa  
thành phố Hồ Chí Minh, tập 1. Tp.HCM: Nxb Tổng hợp).  
qeo lời kể của ông Từ Hoàng Đương, Ban Quản lý lăng Nguyễn  
Văn Tồn.  
rPhan anh Giản (1796–1867) quê ở Bảo An, Vĩnh Long (nay là  
huyện Ba Trị, tỉnh Bến Tre).  
sTrương Minh Giảng (1792-1841) quê ở làng Hạnh ông, huyện  
Bình Dương, trấn Gia Định (nay thuộc T . Hồ Chí Minh).  
tBùi Hữu Nghĩa (1807-1872) quê ở huyện Vĩnh Định, phủ Định  
Viễn, trấn Vĩnh anh (nay thuộc quận Bình ủy, Tp. Cần ơ).  
pNgô Nhân Tịnh (1761 - 1813) tiên tổ người Quảng Đông (Trung  
Quốc), di cư sang Việt Nam rồi định cư ở Gia Định. Năm 1812 được  
bổ dụng làm ượng thư Bộ Công, kiêm Hiệp tổng trấn Gia Định.  
904  
             
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
đền thờ của ông: “Cương dũng đả cường hào, sĩ khí tục phát triển về cả số lượng lẫn chất lượng. Trong  
thiên thu bất hủ”. Lăng mộ của Bùi Hữu Nghĩa ngày  
nay ở thành Phố Cần ơ, được xếp hạng di tích quốc  
gia. Hằng năm vào ngày giỗ nhân dân trong vùng nô  
nức đổ về nhang khói và tưởng niệm một nhà thơ khí  
phách, một nhân cách lớn của vùng đất Nam Bộ.  
khoảng thời gian 28 năm (1813-1840), triều Nguyễn  
lấy đỗ tổng cộng 912 Cử nhân trong toàn quốc, trong  
đó có 94 Cử nhân là người Nam Bộ (chiếm 10,31%)  
[
20, tr. 198]. eo Cao Xuân Dục, trong suốt thời  
gian triều Nguyễn tồn tại 1802-1945, triều đình lấy  
đỗ tổng cộng 5.220 Cử nhân trong cả nước (trong đó  
có 274 cử nhân là người Nam Bộ)v. Phần lớn quan  
lại ở Nam Bộ thời kỳ này chưa tách rời với cuộc sống  
dân dã, chưa rơi vào lề thói sinh hoạt hủ bại của tầng  
lớp quan lại phong kiến hay khuôn mẫu “ứng xử kinh  
viện” của phần đông môn đệ Nho gia, mà vẫn gần gũi  
với cuộc sống đời thườngw. Với khả năng “thượng  
mã đề thương, hạ mã đề thi” (lên ngựa múa thương,  
xuống ngựa làm thơ) đã thể hiện tính năng động của  
đội ngũ quan lại Nam Bộ lúc bấy giờ – một sức mạnh  
tinh thần giúp họ thích ứng với thực tế cuộc sống nơi  
đây một cách mau chóng và có hiệu quả. Mặc dù còn  
bộc lộ những hạn chế, song thực tế những đóng góp  
của đội ngũ quan lại đối với vùng đất Nam Bộ trong  
thời kỳ này đã để lại những bài học có ý nghĩa sâu sắc  
không chỉ đối với thực tiễn lịch sử vùng đất Nam Bộ  
thời đó, mà còn có nhiều giá trị đáng để chúng ta ngày  
nay phải suy ngẫm.  
THẢO LUẬN  
Kết quả nghiên cứu đã đóng góp thêm một mảng tư  
liệu về biện pháp sử dụng quan lại trong bộ máy chính  
quyền ở Nam Bộ của vua Gia Long và Minh Mạng  
cũng như những đóng góp của họ trong việc khẩn  
hoang, phát triển kinh tế, bảo đam an ninh chính trị  
của vùng đất phía Nam của tổ quốc trong bối cảnh  
lịch sử đương thời và những đánh giá của người dân  
Nam Bộ ngày nay thông qua các nghi lễ thời cúng-  
một vấn đề mà từ trước đến nay chưa có nhiều công  
trình đi sâu tìm hiểu. Trên cơ sở nội dung nghiên  
cứu đã giải quyết, chúng tôi cho rằng vẫn cần có thêm  
nhiều nguồn tư liệu hơn nữa để đi đến khẳng định có  
một chính sách riêng của vua Gia Long và Minh Mạng  
trong việc sử dụng quan lại ở Nam Bộ, nhưng những  
gì trình bày trong nghiên cứu này cho phép tạm đi  
đến nhận xét rằng Gia Long và Minh Mạng ít nhất đã  
có nhưng “ưu tiên” để thực hiện một chính sách như  
vậy thông qua những biện pháp và thực tế của việc  
triển khai những biện pháp đó ở Nam Bộ theo tinh  
thần “phương thức lập các chính sách, ắt cần phải tùy  
địa phương mà định quy chế”. Bên cạnh những mặt  
tích cực mà chúng tôi đã trình bày, biện pháp sử dụng  
quan lại ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu triều Nguyễn  
cũng bộc lộ những hạn chế nhất định, như: việc sử  
dụng “người địa phương” làm tăng thêm quyền lực  
của quan lại, tạo ra nguy cơ hình thành những thế lực  
cát cứ và trong thực tế nhiều trường hợp tham nhũng,  
chuyên quyền, ức hiếp nhân dân đã xảy ra trong một  
bộ phận quan lại Nam Bộu.  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
ĐHQG: Đại học Quốc gia  
TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh  
NXB: Nhà xuất bản  
KHXH: Khoa học Xã hội  
XUNG ĐỘT LỢI ÍCH  
Tác giả cam kết không có xung đột lợi ích liên quan  
đến nghiên cứu này.  
veo tác giả Nguyễn Đình Đầu, trong số 274 cử nhân Nam Bộ,  
có 11 người gốc ở địa phương khác đến thi nhờ (Xem thêm, Nguyễn  
Đình Đầu 2002. “Sĩ phu Gia Định-Bình Dương”, in trong: Những  
vấn đề lịch sử về triều đại cuối cùng ở Việt Nam, Trung tâm Bảo tồn  
Di tích Cố đô Huế, Tạp chí Xưa và Nay, Huế, tr.128).  
KẾT LUẬN  
Nhìn lại biện pháp sử dụng quan lại của Gia Long và  
Minh Mạng chúng tôi nhận thấy hai vị vua đầu triều  
Nguyễn đã có nhiều hình thức và biện pháp khác biệt  
trong việc tuyển chọn và sử dụng quan lại ở vùng đất  
Nam Bộ so với miền Bắc, miền Trung và so với truyền  
thống tuyển chọn và sử dụng quan lại của các triều đại  
phong kiến của Việt Nam trước đó. Trong giai đoạn  
nửa đầu thế kỷ XIX, đội ngũ quan lại ở Nam Bộ đã liên  
uTrong các bản án mà triều Nguyễn xét xử quan lại được sách  
Đại Nam thực lục ghi lại liên quan đến tham nhũng, chuyên quyền,..  
trong thời kỳ này thì số lượng quan lại Nam Bộ bị xử tội chiếm đáng  
kể. Một vài trường hợp cụ thể như: Lưu Phước Tường, Huỳnh Công  
Lý, Đào Quang Lý, Tống Hữu Tài, Bạch Xuân Nguyên… (Xem thêm,  
Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục. Hà Nội: Nxb Giáo  
Dục. 2007).  
wHương cống Trương Minh Giảng văn võ song toàn, lãnh đạo  
quân Việt trong chiến tranh Trấn Tây thời gian 1834-184; Án sát Mai  
ăng Đường thanh liêm tới lúc chết “trong túi rỗng tuếch” khiến  
quan tỉnh phải xuất công quỹ làm đám ma; Tiến sỹ khai khoa của  
toàn Nam Bộ Phan anh Giản đã từng buộc vua Minh Mệnh phải bỏ  
dở việc tuần thú Quảng Nam trở về để nhân dân địa phương có điều  
kiện dồn sức vào hoạt động cứu đói lúc mất mùa. Tuy vậy, với đặc  
tính sống phóng khoáng trọng tình nghĩa của người Nam Bộ, cũng  
khiến cho một bộ phận quan lại có năng lực nhưng nhiều khi lại có  
thái độ không thiết tha phục vụ chính quyền. Chương Hảo Hiệp tuy  
được trọng dụng trong triều nhưng vẫn buồn bã khi phải làm quan  
xa nhà; Phan anh Giản, tuy ở vào địa vị quan lại cao cấp cũng có  
lần ngao ngán cho rằng vinh hoa tất cả đều là hư ảo; Bùi Hữu Nghĩa  
hờn tủi coi mình là người vô dụng vì đã đi theo con đường hoạn lộ,..  
(Xem thêm, Quốc sử quán triều Nguyễn 1993. Đại Nam chính biên  
liệt truyện. Huế: Nxb uận Hóa ; Cao Tự anh 1996. Nho giáo ở  
Gia Định. Tp.HCM : Nxb Tp.HCM).  
905  
     
Tạp chí Phát triển Khoa học và Công nghệ – Khoa học Xã hội và Nhân văn, 5(1):900-907  
4. Thái PH. Tuyển dụng, sử dụng quan lại thời phong kiến Việt  
Nam và một số gợi mở. Tạp chí Tổ chức Nhà nước;Available  
from: https://tcnn.vn.  
5. Dật PH. Phương thức dùng người của cha ông ta trong lịch sử.  
Hà Nội: Nxb Chính trị Quốc gia. 1994;.  
6. Hòa LTT. Việc đào tạo và sử dụng quan lại của triều Nguyễn từ  
năm 1802-1884. Hà Nội: Nxb KHXH. 1998;.  
7. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam Chính biên liệt truyện.  
Huế: Nxb Thuận hóa. 2013;.  
8. Quân VV, Hòa QT. Quy hoạch hành chính và quản lý dân cư -  
đất đai ở Nam Bộ dưới thời Nguyễn (1802-1858). In trong: Quá  
trình hình thành và phát triển vùng đất Nam Bộ). Hà Nội: Nxb.  
Thế giới. 2011;.  
9. Quốc sử quán triều Nguyễn. Minh Mệnh chính yếu. Sài Gòn:  
Tủ sách Cổ Văn xuất bản. 1972;2.  
10. Tường NM. Cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng. Hà Nội:  
Nxb Khoa học xã hội. 1996;.  
11. Hùng PM, Đông Triều N. Theo dấu người xưa. Tp.HCM: Nxb  
Tổng hợp. 2017;.  
12. Giang HL. Phan Thanh Giản nỗi đau trăm năm. Thanh Hóa:  
Nxb Hồng Đức. 2001;.  
13. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam nhất thống chí. Hà Nội:  
Nxb Lao động. 2012;.  
14. Silvestre J. L’insurrection de Gia Dinh, la re1volte de Khoi  
(1832-1834). Revue Indochinoise. 1915;p. 7–8.  
15. Đằng TB (cb). Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh. TpHCM:  
Nxb Tổng hợp. 2019;1.  
16. Đường M. Tưởng nhớ vị ”Hổ tướng”- Một danh nhân Nam Bộ  
thời cận đại. In trong Tiền quân Nguyễn Huỳnh Đức nhân vật-  
võ nghiệp và di sản. Tp.HCM: Nxb Đại học Quốc gia. 2019;.  
17. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam chính biên liệt truyện.  
Huế: Nxb Thuận Hóa. 1993;.  
ĐÓNG GÓP CỦA TÁC GIẢ  
Bài viết là sản phẩm nghiên cứu riêng của tác giả. Để  
thực hiện bài viết này, tác giả đã tiến hành thu thập  
dữ liệu, tài liệu nghiên cứu của các tác giả trong và  
ngoài nước, đồng thời tiến hành khảo sát thực địa để  
bổ sung thêm những cứ liệu. Trên cơ sở xử lý nhiều  
nguồn tài liệu, cũng như những phân tích, đánh giá,  
đóng góp chính của bài viết gồm hai khía cạnh. ứ  
nhất, dù hầu hết các các học giả đều thừa nhận so với  
truyền thống cũng như so với miền Bắc, vua Gia Long  
và Minh Mạng có những “ưu tiên” trong việc sử dụng  
quan lại ở Nam Bộ, nhưng chưa có công trình nào đến  
nay trình bày chi tiết và giải thích đầy đủ tại sao lại có  
những “ưu tiên” đó. Bài viết này đã làm sáng tỏ vấn  
đề này. ứ hai, nghiên cứu này làm rõ tác dụng của  
những chính sách mà vua Gia Long và Minh Mạng  
áp dụng trong việc sử dụng quan lại thông qua những  
đóng góp của họ trong việc khẩn hoang, phát triển  
kinh tế, ổn định tình hình chính trị của vùng đất Nam  
Bộ.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Wook CB. Vùng đất Nam Bộ dưới triều Minh Mạng. Hà Nội:  
Nxb. Thế giới; 1996. 2010;.  
2. Đức TH. Gia Định thành thông chí. Hà Nội: Nxb. Giáo dục.  
1999;.  
3. Quang NP. Thêm mấy điểm về cuộc bảo động của Lê Văn Khôi.  
Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử. 1967;147:1833–1835.  
18. Giang HL. Lê Văn Duyệt-từ nấm mồ oan khuất đến Lăng Ông.  
Hà Nội: Nxb Văn hóa-thông tin. 1999;.  
19. Quốc sử quán triều Nguyễn. Đại Nam thực lục, tập 1, 2, 3, 4, 5,  
6, 14. Hà Nội: Nxb Giáo Dục. 2007;.  
20. Thanh CT. Nho giáo ở Gia Định. Tp.HCM : Nxb Tp.HCM;.  
906  
                                       
Science & Technology Development Journal – Social Sciences & Humanities, 5(1):900-907  
Research Article  
Open Access Full Text Article  
The use local people as officials of Southern Administrations in the  
early period of Nguyen Dynasty (1802-1832)  
Luu Van Quyet*  
ABSTRACT  
Southern Vietnam is the central region of the Nguyen Dynasty. It occupies an important position  
in national defense and foreign affairs. The region has had the huge economic potential and can  
Use your smartphone to scan this  
QR code and download this article  
create a breakthrough for Vietnam's economic development up to now. However, due to the his-  
torical conditions and geographical location, political upheaval was tremendously popular during  
the period of the Nguyen Lords and early Nguyen Dynasty. Besides, the economic factors of inter-  
national trade and the development of commodity production (specific social foundations) were  
high above the national standard. As a result, the central government had to use a special method  
of selecting and using local officials/mandarins. The officials selected must have been good in  
``handling the statecraft'', who could understand and have/had a process of living and working  
in the South. As two eminent political kings, Gia Long and Minh Mang applied flexible measures,  
not taking the aristocratic nature of candidates very seriously. Both kings completely removed the  
``hereditary'' regime, not following the Confucian model as in the North and the Central regions in  
selecting and using mandarins in the local government apparatus. This policy helped the Nguyen  
Dynasty build a dedicated, competent service bureau in the region. The policy is an exception in  
the history of recruiting mandarins under the Confucian perspective in the country/Vietnam, and  
to a certain extent, it has successfully promoted local socio-economic development. This paper  
aims to argue that it is difficult to apply a unified but rigid policy in Vietnam on issues related to the  
locality and that Southern Vietnam always demands more special attention in state policies.  
Key words: use, officials, Southern Vietnam, the King Gia Long and Minh Mang  
University of Social Sciences &  
Humanities, VNU-HCM  
Correspondence  
Luu Van Quyet, University of Social  
Sciences & Humanities, VNU-HCM  
Email: luuvanquyet@hcmussh.edu.vn  
History  
• Received: 3/11/2020  
• Accepted: 09/03/2021  
• Published: 31/03/2021  
DOI : 10.32508/stdjssh.v5i1.644  
Copyright  
© VNU-HCM Press. This is an open-  
access article distributed under the  
terms of the Creative Commons  
Attribution 4.0 International license.  
Cite this article : Quyet L V. The use local people as officials of Southern Administrations in the early  
period of Nguyen Dynasty (1802-1832). Sci. Tech. Dev. J. - Soc. Sci. Hum.; 5(1):900-907.  
907  
pdf 8 trang yennguyen 14060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Biện pháp sử dụng quan lại là người địa phương trong bộ máy chính quyền ở Nam Bộ trong thời kỳ đầu của triều Nguyễn (1802-1832)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbien_phap_su_dung_quan_lai_la_nguoi_dia_phuong_trong_bo_may.pdf