Báo cáo tóm tắt Nghiên cứu cơ sở khoa học, lựa chọn một số giải pháp công trình chủ yếu giải quyết bài toán cân bằng nước, thoát lũ và xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu vùng Tứ Giác Long Xuyên

BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
KẾT QUẢ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI  
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP  
CÔNG TRÌNH CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN CÂN BẰNG NƢỚC,  
THOÁT LŨ VÀ XÂM NHẬP MẶN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU  
VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN  
Mã số đề tài: 2015.05.17  
Cơ quan chủ trì:  
Trƣờng Đại học Tài nguyên và Môi trƣờng Hà Nội  
Chủ nhiệm đề tài: ThS. Trần Quang Hợp  
Hà NỘI, NĂM 2017  
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP BỘ  
BÁO CÁO TÓM TẮT  
KẾT QUẢ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỀ TÀI  
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC, LỰA CHỌN MỘT SỐ GIẢI PHÁP  
CÔNG TRÌNH CHỦ YẾU GIẢI QUYẾT BÀI TOÁN CÂN BẰNG  
NƢỚC, THOÁT LŨ VÀ XÂM NHẬP MẶN ỨNG PHÓ VỚI BIẾN ĐỔI  
KHÍ HẬU VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN  
Mã số đề tài: 2015.05.17  
CƠ QUAN CHỦ TRÌ  
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI  
(KT. Thủ trưởng, Ký tên đóng  
dấu)  
ThS. Trần Quang Hợp  
PGS. TS. Phạm Quý Nhân  
HÀ NỘI, NĂM 2017  
ii  
DANH MỤC VIẾT TẮT  
Biển đổi khí hậu  
BĐKH  
NBD  
Nước biển dâng  
Biển đổi khí hậu và nước biển dâng  
Tứ giác long xuyên  
BĐKH-NBD  
TGLX  
SXNN  
GDP  
Sản xuất nông nghiệp  
Tổng sản phảm quốc nội  
Kinh tế xã hội  
KT-XH  
TNN  
Tài nguyên nước  
Mô hình số độ cao, Mỹ (USGS Digital Elevation Model)  
Hệ thống thông tin địa lý (Geographic Information System)  
Uỷ ban Nhân dân  
DEM  
GIS  
UBND  
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Môi trường (Vietnam  
Institute of Meteorology, Hydrology and Environment)  
IMHEN  
Ủy hội sông Mekong  
UHMK  
Ủy hội mê công Quốc tế  
UHMCQT  
Ban Liên Chính phủ về biến đổi khí hậu (Intergovernmental Panel  
on Climate Change)  
IPCC  
Tài nguyên và Môi trường  
Áp thấp nhiệt đới  
TNMT  
ATNĐ  
XTNĐ  
RCP6.0  
RCP8.5  
A2  
Xoáy thuận nhiệt đới  
Kịch bản nồng độ khí nhà kính trung bình  
Kịch bản nồng độ khí nhà kính cao  
Kịch bản phát thải cao  
Kịch bản phát thải trung bình  
Thời kỳ  
B2  
TK  
Kịch bản  
KB  
Trung tâm áp cao  
TTAC  
3
1. TÍNH CẤP THIÊT CỦA ĐỀ TÀI  
Một trong những biểu hiện của Biến đổi khí hậu (BĐKH) là sự nóng lên  
toàn cầu và mực nước biển dâng, đây cũng chính là một trong những thách thức  
lớn đối với nhân loại trong thế kỷ 21. Trên thế giới hiện nay thiên tai và các hiện  
tượng khí hậu cực đoan đang gia tăng mạnh mẽ, nhiệt độ và mực nước biển  
trung bình toàn cầu tiếp tục tăng nhanh chưa từng có và đang là mối lo ngại của  
các quốc gia trên thế giới.  
Việt Nam là một quốc gia ven biển cho nên được dự đoán là một trong  
những nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng của BĐKH và nước biển dâng. Trong  
khoảng 50 năm qua, nhiệt độ trung bình năm đã tăng lên khoảng 0.7° C, mực  
nước biển đã dâng khoảng 20 cm. Theo đánh giá vào năm 2003 của Bộ Tài  
nguyên và Môi trường (TN&MT) nếu mực nước biển dâng lên 1 m thì hàng năm  
khoảng 40 nghìn km2 đồng bằng ven biển Việt Nam sẽ bị ngập, trong đó 90%  
diện tích thuộc các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) bị ngập hầu như  
hoàn toàn.  
Tứ giác Long Xuyên (TGLX) là một vùng đất hình tứ giác thuộc vùng  
đồng bằng sông Cửu Long trên địa phận của hai tỉnh Kiên Giang, An Giang và  
một phần của TP Cần Thơ. Bốn cạnh của tứ giác này là biên giới Việt Nam -  
Campuchia, vịnh Thái Lan, kênh Cái Sắn và sông Bassac (sông Hậu). TGLX có  
địa hình trũng, tương đối bằng phẳng, cao trình từ 0,4 m đến 2m. Được sự quan  
tâm của Đảng và Chính phủ, công cuộc khai hoang vùng TGLX đã được triển  
khai với các công trình cơ sở hạ tầng và kết quả là TGLX đã vươn mình trở  
thành một trong 2 vùng trọng điểm sản xuất lúa của ĐBSCL. Tuy nhiên vào  
mùa lũ (từ tháng 7 đến tháng 11) vùng này thường xuyên bị ngập với độ sâu  
ngập từ 0,5 m đến 2,5 m và được coi là một trong hai rốn lũ của Đồng bằng sông  
Cửu Long. TGLX phải chịu những trận ngập lụt rất nặng nề (đặc biệt trong các  
năm 1966, 1978, 1999, 2000) bởi ba yếu tố chính cùng kết hợp là mưa, lũ, triều  
4
cường dẫn đến những ảnh hưởng đáng kể đối với sản xuất nông nghiệp và thủy  
sản ở địa phương.  
Theo kịch bản quốc gia về biến đổi khí hậu 2012, 2016 nước biển dâng  
cao và thời tiết khí hậu cực đoan sẽ làm những vấn đề hiện tại sẽ trở nên trầm  
trọng hơn như gia tăng cường độ, thời gian và diện tích ngập úng, gia tăng ô  
nhiễm môi trường, nhiễm bẩn hệ thống cấp nước; phá hoại và làm hư hỏng các  
công trình đê biển, đê sông, đường giao thông, bến cảng, các nhà máy, các đô thị  
và khu dân cư ven biển.  
Trong khoảng chục năm trở lại đây, tình hình khí tượng thủy văn ở hạ lưu  
sông Mê Công, đặc biệt thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long của nước ta  
có sự thay đổi rất dễ nhận thấy:  
Vào mùa kiệt (từ tháng I-VI) lượng mưa và lượng dòng chảy vào ĐBSCL  
giảm đi rõ rệt (tổng dòng chảy từ thượng lưu vào ĐBSCL qua sông Tiền và sông  
Hậu tại Tân Châu và Châu Đốc thời kỳ tháng 3-2004 là 2.400m3/s, chỉ bằng  
60% cùng thời kỳ năm 2001 và gần 70% so với năm 2002). Mực nước bình  
quân trên sông Tiền và sông Hậu tại Tân Châu và Châu Đốc trong các tháng  
mùa cạn vừa qua thấp hơn mực nước bình quân cùng thời kỳ từ 25-30cm do  
dòng chảy thượng lưu cạn kiệt.  
Do nguồn nước về giảm rõ nên tình hình hạn hán và xâm nhập mặn trên  
ĐBSCL diễn ra rất bất lợi tác động trực tiếp đến toàn bộ các hoạt động kinh tế -  
xã hội. Độ mặn xâm nhập sâu đạt mức kỷ lục tại hầu hết các cửa sông thuộc  
ĐBSCL. Những biểu hiện như mặn xâm nhập sâu, nắng hạn kéo dài, đã gây khó  
khăn cho đời sống sinh hoạt và sự phát triển kinh tế xã hội của vùng Tứ giác  
Long Xuyên.  
Tình hình diễn biến về điều kiện KTTV trên đây đã dặt ra nhiều thách  
thức đối với ĐBSCL nói chung và TGLX hiện nay là:  
5
Lũ và ngập vẫn là một vấn đề cần quan tâm khi ta không chủ động được  
vấn đề điều tiết xả lũ từ hệ thống các hồ chứa hiện đã và đang xây dựng ồ ạt trên  
hệ thống thượng nguồn sông Mê Công. Do vậy, đối các khu vực ĐBSCL vẫn  
phải duy trì các giải pháp phòng lũ khi có tình huống bất lợi trong bối cảnh biến  
đổi khí hậu.  
TNN đã và đang có xu hướng ngày càng cạn kiệt không có khả năng phục  
hối trở lại như trước đây, tạo tình thế rất bất lợi cho ĐBSCL mà trước mắt là  
nguy cơ xâm nhập mặn tăng cường.  
Do đó việc xác định bài toán cân bằng nước bao gồm cả lũ và cạn, xác  
định mức độ nguy cơ xâm nhập mặn để đề xuất các giải pháp thích ứng, giảm  
nhẹ các tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng, phục vụ cho phát triển  
bền vững vùng Tứ giác Long Xuyên vừa có ý nghĩa khoa học và thực tiễn.  
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
- Đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến cân bằng nước, ngập lụt và  
xâm nhập mặn vùng Tứ giác Long Xuyên;  
- Đề xuất một số giải pháp công trình chủ yếu giải quyết bài toán cân bằng  
nước, thoát lũ và xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu vùng Tứ giác  
Long Xuyên.  
3. PHẠM VI VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐÈ TÀI  
Về phạm vi nghiên cứu: Vùng Tứ Giác Long Xuyên thuộc 3 tỉnh An Giang,  
Kiên Giang và TP. Cần Thơ.  
Về đối tƣợng nghiên cứu: Kiểm soát lũ, mặn và nhu cầu khai thác sử dụng  
nước, các công trình kiểm soát lũ, mặn trên lưu vực TGLX.  
4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI  
Theo mục tiêu, bố cục của đề tài gồm các nội dung chính sau đây:  
6
Nội dung 1: Nghiên cứu tổng quan các vấn đề liên quan đến đề tài  
- Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ở vùng TGLX (An  
Giang, Kiên Giang và Cần Thơ);  
- Tổng quan về các nghiên cứu trong nước liên quan đến nội dung nghiên  
cứu của đề tài;  
- Tổng quan các nghiên cứu ngoài nước liên quan đến nội dung nghiên cứu  
của đề tài;  
- Xây dựng cơ sở phương pháp luận thực hiện đề tài.  
Nội dung 2: Phân tích diễn biến, xu thế biến đổi của các đặc trƣng khí  
tƣợng, thủy văn ở TGLX trong những năm gần đây:  
- Các số liệu khí tượng thủy văn trong quá khứ, các số liệu thống kê về  
thiên tai và các thiệt hại kèm theo trong quá khứ  
- Nghiên cứu, phân tích, tính toán xu thế biến đổi nhiệt độ ở vùng nghiên  
cứu trong những năm gần đây;  
- Nghiên cứu, phân tích diễn biến hạn hán ở TGLX trong những năm gần  
đây;  
- Nghiên cứu, phân tích, tính toán xu thế biến đổi mưa ở vùng nghiên cứu  
trong những năm gần đây;  
- Nghiên cứu, phân tích diễn biến xu thế biến đổi mực nước ở TGLX trong  
những năm gần đây;  
- Nghiên cứu, phân tích diễn biến xu thế biến đổi thủy triều vùng vịnh Thái  
Lan ở TGLX trong những năm gần đây;  
- Nghiên cứu, phân tích, tính toán xu thế biến đổi lưu lượng lũ từ sông Hậu  
vào TGLX trong những năm gần đây;  
- Nghiên cứu, phân tích, tính toán xu thế biến đổi lưu lượng lũ tràn từ biên  
giới Campuchia vào TGLX trong những năm gần đây;  
7
- Nghiên cứu, phân tích diễn biến ngập lụt ở TGLX trong những năm gần  
đây;  
Nội dung 3: Cập nhật kịch bản BĐKH và xây dựng bộ công cụ mô hình  
toán phục vụ nghiên cứu trong đề tài  
- Kế thừa các kịch bản đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài  
nguyên nước mặt ở ĐBSCL, chi tiết hóa cho vùng TGLX;  
- Thu thập tài liệu về hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế xã hội ở  
đồng bằng sông Cửu Long (không tính vùng TGLX);  
- Thu thập tài liệu về hiện trạng và định hướng phát triển cơ sở hạ tầng ở  
đồng bằng sông Cửu Long (không tính vùng TGLX);  
- Thu thập tài liệu về hiện trạng và định hướng phát triển kinh tế xã hội ở  
vùng Tứ giác Long Xuyên;  
- Thu thập tài liệu về hiện trạng và định hướng phát triển cơ sở hạ tầng ở  
vùng Tứ giác Long Xuyên;  
- Thu thập tài liệu về đặc điểm tự nhiên, các công trình chi phối đặc điểm  
nguồn nước và sử dụng nước ở Đồng bằng sông Cửu Long và TGLX;  
- Thu thập tài liệu về đặc điểm tự nhiên, các công trình chi phối đặc điểm  
nguồn nước và sử dụng nước ở vùng Tứ giác Long Xuyên;  
- Thu thập thông tin về đặc điểm địa hình, địa chất, thổ nhưỡng ở TGLX  
- Xây dựng bộ công cụ tính toán, đánh giá ảnh hưởng của biến đổi khí hậu  
đến tài nguyên nước mặt (kế thừa, cập nhật bộ mô hình của Viện Khoa  
học Khí tương Thủy văn và Biến đổi khí hậu và các đơn vị nghiên cứu  
khác).  
Nội dung 4: Đánh giá ảnh hƣởng của BĐKH đến tài nguyên nƣớc, ngập lụt  
và xâm nhập mặn vùng nghiên cứu  
- Nghiên cứu lựa chọn các phương án đánh giá tác động của BĐKH đến  
TNN mặt và ngập lụt  
8
- Xác định các kịch bản, định hướng, phát triển cơ sở hạ tầng, các công  
trình thủy lợi (chú trọng đến công trình ngăn-kiểm soát lũ) ở TGLX  
tương ứng với mốc thời gian đánh giá (2025 và 2050);  
- Nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến nhu cầu sử dụng  
nước ở TGLX;  
- Nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước,  
ngập lụt ở TGLX;  
- Nghiên cứu, đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước,  
xâm nhập mặn ở TGLX;  
- Nghiên cứu, đánh giá hoạt động khai thác và sử dụng tài nguyên nước  
phục vụ các ngành kinh tế khác nhau: Nông nghiệp, Thuỷ sản, Giao  
thông và Dịch vụ;  
- Tính toán cân bằng nước vùng nghiên cứu.  
- Tính toán, đánh giá tác động của BĐKH đến tính dễ tổn thương của dân  
sinh, hạ tầng giao thông đường bộ và sự phát triển kinh tế xã hội;  
Nội dung 5: Đề xuất giải pháp chủ yếu ứng phó với ảnh hƣởng của BĐKH  
đến bài toán cân bằng nƣớc, ngập lụt và xâm nhập mặn ở vùng TGLX.  
- Xác định mục tiêu thích ứng (kinh tế, xã hội, môi trường..) và tiêu chí  
chọn lựa các giải pháp (tiêu chí kinh tế, kỹ thuật);  
- Nghiên cứu, đánh giá về hiện trạng các dạng kết cấu, điều kiện thủy lực,  
đặc điểm địa kỹ thuật của cơ sở hạ tầng, các công trình thủy lợi (chú  
trọng đến các công trình ngăn-kiểm soát lũ) ở phạm vi nghiên cứu;  
- Xác định những vị trí nhạy cảm và mức độ ảnh hưởng do tác động của  
ngập lụt đến các công trình ngăn mặn-kiểm soát lũ ở phạm vi nghiên cứu  
- Nghiên cứu, đánh giá những thiệt hại do ảnh hưởng của ngập lụt đến các  
hoạt động kinh tế-xã hội ở vùng nghiên cứu  
9
- Nghiên cứu, đánh giá những thiệt hại do ảnh hưởng của hạn hán, xâm  
nhập mặn đến các hoạt động kinh tế-xã hội ở vùng nghiên cứu;  
- Đề xuất giải pháp công trình chủ yếu giải quyết bài toán cân bằng nước,  
ngập lụt và xâm nhập mặn tương ứng với các mục tiêu thích ứng đã đề ra  
và đáp ứng được các tiêu chí chọn lựa;  
- Đánh giá, lựa chọn giải pháp thích ứng ưu tiên;  
- Phân tích, đánh giá hiệu quả của giải pháp đến cân bằng nước ở vùng  
TGLX.  
Nội dung 6: Nghiên cứu bổ sung tình hình hạn hán, tác động của biến đối  
khí hậu đến hạn hán, đê bao ngăn mặn, công trình thủy lợi, công trình  
ngăn mặn và kết hợp với đƣờng giao thông ở khu vực TGLX.  
- Nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu đến hạn hán ở TGLX;  
- Nghiên cứu đánh giá sơ bộ hệ thống ngăn mặn ở TGLX;  
- Nghiên cứu đánh giá hệ thống đê bao kết hợp với đường giao thông ở  
TGLX;  
- Nghiên cứu, đánh giá những thiệt hại do ảnh hưởng của ngập lụt đến các  
công trình thủy lợi ở vùng nghiên cứu;  
- Nghiên cứu, đánh giá những thiệt hại do ảnh hưởng của ngập lụt đến các  
các công trình giao thông kết hợp với đê bao ở vùng nghiên cứu.  
5. PHƢƠNG PHÁP TIẾP CẬN KHOA HỌC  
a) Cách tiếp cận  
- Cách tiếp cận hệ thống;  
- Cách tiếp thứ hai là tiếp cận đa ngành;  
- Cách tiếp cận thứ ba là tiếp cận tổng hợp;  
- Cách tiếp cận thứ tư là tiếp cận kế thừa trên quan điểm lịch sử.  
b) Phƣơng pháp kỹ thuật  
10  
Ngoài cách tiếp cận có tính phương pháp luận trên đây, trong đề tài sẽ sử  
dụng các phương pháp kỹ thuật như:  
- Phương pháp phân tích thống kê, tổng hợp;  
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa;  
- Phương pháp định lượng và định tính;  
- Phương pháp phân tích hệ thống;  
- Phương pháp ứng dụng mô hình toán;  
- Phương pháp chuyên gia.  
6. THỜI GIAN THỰC HIỆN  
Thời gian thực hiện từ tháng 5/2015 đến tháng 12/2017.  
7. KINH PHÍ THỰC HIỆN  
Kinh phí thực hiện đề tài: 1.561.000.000 đồng (Một tỷ năm trăm sáu mươi  
mốt triệu đồng)  
8. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN  
1) Xác định được mức độ ảnh hưởng của BĐKH đến vùng TGLX là tạo  
cơ sở khoa học để đề xuất một số giải pháp công trình giải quyết bài toán cân  
bằng nước, giảm thiểu ngập lụt và xâm nhập mặn trong vùng nghiên cứu;  
2) Đề xuất phương án tính toán vận hành hệ thống kiểm soát lũ hợp lý  
trên địa bàn TGLX. Kết quả đã chỉ ra rằng, phương án vận hành thoát lũ qua hệ  
thống đập Tha La Trà Sư kết hợp với hệ thống kiếm soát lũ từ kênh Vĩnh Tế  
qua 8 cống đầu các cống từ kênh T6 đến kênh Hà Giang cho kết quả khả quan  
nhất về giảm mức ngập sâu trong nội đồng vùng TGLX;  
3) Lựa chọn được phương án vận hành kiểm soát mặn hợp lý theo giải  
pháp đóng hoàn toàn 25 cống ngăn mặn ven biển Tây cùng với 5 cống Tà Xăng,  
Tam Bản, Tà Lúa, Cầu Số 1 và Rạch Giá và vận hành linh hoạt hệ thống 08  
cống lấy nước dọc sông Hậu theo chế độ triều trên dọc tuyến sông Hậu.  
11  
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ  
TÀI  
1. 1. Các nghiên cứu trên thế giới  
Có thể nêu một số công trình theo định hướng trên:  
1) Các mô hình phân chia nước: cho các đối tượng sử dụng nước trong  
một quốc gia; cho các quốc gia trong những dòng sông quốc tế khu vực Châu  
Âu (Rhire, Danube), Châu Á (Euphares, Tiger, Brahmaputra,...) dòng sông qua  
nhiều bang của một quốc gia (Murray-Darling-Australia, Mississipi-Mỹ…).  
2) Nghiên cứu xâm nhập mặn và kiểm soát mặn: (i) Nghiên cứu xâm nhập  
mặn: thu hút nhiều nhất là các cửa sông ở Mỹ, Anh , Hà Lan; (ii) Dùng nguồn  
nước ngọt để kiểm soát mặn (tạo ra độ mặn thích hợp) phục vụ nuôi trồng thủy  
sản (các cửa sông ở Mỹ), kiểm soát mặn (như ở một số cửa sông Hà Lan);  
3) Các nghiên cứu về thủy văn, dòng chảy các vẫn đề lũ, hạn; vấn đề ảnh  
hưởng của mặt đệm đến dòng chảy trên lưu vực (như rừng, địa chất..) hiện đang  
rất phát triển trên thế giới (Nhật, Đức, Mỹ, Trung Quốc, Ấn Độ…); nghiên cứu  
xây dựng vận hành hồ chứa, đập dâng và ảnh hưởng của nó tới hạ lưu, các khu  
bảo tồn sinh thái.  
1. 2. Các nghiên cứu ở Ủy hội Mê công quốc tế  
Dưới đây, giới thiệu một số công trình nghiên cứu chính có sự tham gia,  
phối hợp của các Tổ chức Quốc tế về khu vực nghiên cứu.  
Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu ở Ủy hội mê công Quốc tế  
(UHMCQT) ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Liên quan đến đề tài này, chủ yếu là  
dòng chảy kiệt và xâm nhập mặn, có một số công trình/ dự án nghiên cứu sau  
đây:  
1) SOGREAH (năm 1960) có nhiều các công trình nghiên cứu về lũ  
ĐBSCL  
12  
2) UHMCQT (1990) đã cho nghiên cứu về xâm nhập mặn ở ĐBSCL, chủ  
yếu là phục vụ cho các dự báo xâm nhập mặn. Tuy đã rất cố gắng nhưng  
kết quả vẫn còn rất hạn chế, các kết quả dự báo chỉ mang tính tham khảo.  
3) UHMCQT (1996) đã cho nghiên cứu về cải tạo đất chua phèn ở ĐBSCL.  
Biện pháp sử dụng nguồn nước ngọt để thau rửa đã được khẳng định là  
hiệu quả song việc tạo nguồn nước ngọt là một vấn đề nan giải.  
4) Chương trình WUP (Chương trình sử dụng nước – Water Utilization  
Programme) của UHMEQT, đã phát triển xong bộ công cụ hỗ trợ ra  
quyết định (DSF) và dung chính thức cho ủy hôi, nghiên cứu dòng chảy  
kiệt, các chỉ tiêu đánh giá dòng chảy kiệt. Rồi từ đó căn cứ vào Hiệp định  
Mê Công 1995 để đề xuất cơ chế quản lí, theo dõi dòng chảy Mê Công,  
đảm bảo phát triển bền vững lưu vực. Nghiên cứu đã đạt được kết quả về  
dòng chảy kiệt sông chính, đề xuất giải pháp riêng cho Việt nam trong  
các trường hợp cạn.  
5) Chương trình BDP (Chương trình quy hoạch lưu vực_ Basin  
Development Programme) của UHMCQT, giai đoạn 1 (2002-2006) đã  
xem xét và đánh giá ban đầu về hiện trạng phát triển của lưu vực về nông  
nghiệp, thủy sản, giao thông, thủy điên, thủy văn, tập hợp các dự án phát  
triển của các quốc gia làm cơ sở cho định hướng quy hoạch phát triển lưu  
vực một cách bền vững. Đây là căn cứ cho việc xem xét các phương án  
phát triển thượng lưu của đề tài.  
6) Chương tình môi trường (EP): chủ yếu theo dõi và đánh giá về chất  
lượng và môi trường nước trên lĩnh vực, chủ yếu là dòng chính và một số  
sông nhánh.  
7) Dự án Đánh giá tác động môi trường của dự án giao thông thủy thượng  
lưu Mê công, sử dụng phần mềm tính toán do Đại học Vũ Hán lập, đã  
nghiên cứu đã nghiên cứu tác dộng của việc phá đá nổ mìn phục vụ giao  
thong thủy 4 nước thượng lưu đến thay đổi dòng chảy đến hạ lưu, đã định  
lượng được một số tác động đối với Thái lan và Lào, định tính các tác  
13  
động đến hạ lưu Mê công ỏ Việt Nam và Campuchia. Nghiên cứu này  
cho thấy không có ảnh hưởng đáng kể nào của dự án này đến nước ta, cả  
về dòng chảy và môi trường.  
8) Đánh giá tác động của dự án thủy điện Nam Theun 2 (Lào) của ADB.  
9) Dự án của Ngân hàng thế giới (WB) năm 2004, đã thực hiện đánh giá các  
phương án phát triển hạ lưu sông Mê Công (2004) với sự hộ trợ của bộ  
công cụ DSF (công cụ quyết định và hỗ trợ) để đánh giá tác động của các  
kịch bản phát triển trên lưu vực sông Mê Công. Các vấn đề chính đã  
được xem xét trong nghiên cứu là: (1) mô phỏng hiện trạng; (2) Tác động  
của thủy điện Trung Quốc với 2 công trình hiện hữu và 2 công trình dự  
kiến; (3) Phương án phát triển thấp với gia tăng sử dụng nước đến 2020  
(7.442.000 ha) và các công trình hiện hữu; (4) Tác động đê bao dự kiến  
trên phần lãnh thổ Campuchia ( 130000 ha) đến thay đổi ngập lũ trên lưu  
vực; (5) Gia tăng phát triển nông nghiệp ở hạ lưu mức cao (11. 349 triệu  
ha) trong khi giữ cấp độ phát triển thủy điện phía hạ lưu Lào, Thái Lan,  
Campuchia và Việt Nam; (6) Gia tăng phát triển nông nghiệp ở hạ lưu  
mức cao (11. 349 triệu ha) trong có gia tăng phát triển thủy ở Trung Quốc  
, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam (49.478 triệu m3). Nghiên cứu  
đã sơ bộ đánh giá được tác động các kịch bản đến thay đổi chế độ dòng  
chảy sông Mê Công, tác động đến giao thông thủy, thủy sản thay đổi đến  
lũ và xâm nhập mặn hạ lưu.  
10)  
Nghiên cứu của Ủy Ban Mê Công Việt Nam về dòng chảy Mê  
Công dưới tác động của các đập thủy điện Trung Quốc (2004, 2005).  
Năm 2004 và 2005, Chính phủ VN đã giao cho Ủy ban sông Mê Công  
Việt Nam (UBSMCVN) thực hiện (Lê Đức Trung, Tô Quang Toản,  
Huỳnh Minh Ngọc) nghiên cứu về cân bằng nước lưu vực Mê Công dưới  
hoạt động của một số nhà máy thủy điện Trung Quốc đã và sẽ hoạt động  
trong tương lai gần (đến 2015). Nghiên cứu này đã chia ra làm 3 nghiên  
cứu thành phần : (i) Đánh giá việc sử dụng nước ở tiểu lưu vực Mê Công  
14  
thuộc tỉnh Vân Nam và phụ cận ; (ii) Xây dựng mô hình; và (iii) Tính  
toán cân bằng nước và các tác động khác. Các nghiên cứu này đã sử dụng  
bộ công cụ mô hình DSF để mô phỏng tính toán cân bằng nước, đánh giá  
sự thay đổi của dòng chảy dọc theo dòng chính Mê Công và xâm nhập  
mặn. Tuy còn ở mức độ sơ lược do thiếu nhiều tài liệu và thời gian còn bị  
hạn chế, chỉ một số nhà máy được tính toán (4 nhà máy lớn / tổng 14 nhà  
máy) với số kịch bản vận hành còn rất sơ lược, nhưng đã đưa ra được  
một số kết luận quan trọng ban đầu : (1) Việc vận hành các nhà máy thủy  
điện có thể làm tăng dòng chảy kiệt trên dòng chính Mê Công tại biên  
giới VN-CPC đáng kể (đến 24%) ; và (2) Khi một số hồ thủy điện tích  
nước trong mùa khô (đây là điều kiện làm việc bất thường, thông lệ quốc  
tế là không được phép) thì sẽ làm giảm đáng kể dòng chảy Mê Công ở  
VN và kéo theo xâm nhập mặn gia tăng. Có thể nói đây là một nghiên  
cứu có tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia.  
1. 3. Các nghiên cứu phối hợp của Việt Nam và Quốc tế  
- Một số nghiên cứu khả thi phát triển nguồn nước vùng Bắc Bến Tre và  
ven biển Trà Vinh ĐBSLC của JESTRO (Nhật bản) đã xây dựng một số kịch bản  
phát triển, trong đó chú trọng nông nghiệp và biện pháp công trình tạo nguồn.  
- Các nghiên cứu (đang tiến hành) giữa Viện Khoa họa Thủy Lợi Miền nam  
và đại học Nông nghiệp Tokyo, Đại học Toduku (Nhật bản) về xâm nhập mặn và  
hệ thống nông nghiệp ven biển, đang tập trung nghiên cứu sâu về cơ chế xâm  
nhập mặn trên dòng chính Mê công, trong đó việc đo đạc mặn được thực hiện khá  
chi tiết và có hệ thống; quản lí nước phát triển nông nghiệp thủy sản.  
- Nghiên cứu của Đại học Newcastle (Anh) và IRRI quản lí nguồn nước  
ven biển Bạc Liêu, trong đó chú trọng về quản lí nước và các mô hình canh tác.  
Các nghiên cứu về đồng bằng sông Cửu Long trên đây là những nghiên  
cứu tổng hợp có ý nghĩa nhất về nguồn nước trong phạm vi toàn lưu vực có xét  
đến các yếu tố chính về nguồn nước và sử dụng nước do vậy có một ước lượng  
15  
về dòng chảy cho vùng TGLX. Đây sẽ là bộ số liệu tham khảo quan trọng khi  
thực hiện đề tài.  
1. 4. Các nghiên cứu trong nƣớc  
Từ sau ngày giải phóng (1975) vấn đề nghiên cứu, quy hoạch ĐBSCL  
(chủ yếu là quy hoạch thủy lợi) mới được chú trọng nhằm mục đích phát triển  
nông nghiệp, xây dựng phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo an ninh lương thực  
cho cả nước. Một số nghiên cứu quan trọng được liệt kê trong phần liệt kê danh  
sách các nghiên cứu có liên quan. Những nghiên cứu này ở các cấp độ chuyên  
sâu khác nhau đã đề cập đến các vấn đề:  
(i)  
Cơ sở khoa học xâm nhập mặn;  
(ii) Cơ sở khoa học về lũ ĐBSCL;  
(iii) Vấn đề ngọt hóa cho các hệ thống ven biển;  
(iv) Giải pháp kiểm soát lũ cho các vùng ngập lũ;  
(v) Cải tạo đất phèn….  
1. 5. Tổng quan công cụ nghiên cứu, đánh giá nguồn nƣớc  
Để giải quyết các bài toán phức tạp về sử dụng, phân bổ nguồn nước nhất  
là trong điều kiện ít nước, hạn, nhiều bộ công cụ mô hình đã được sử dụng. Các  
mô hình này có khả năng giải quyết cả bài toán thủy động lực và bài toán tối ưu  
(nghiên cứu mô hình phân chia nước…).  
Thông qua nghiên cứu các đề tài, dự án nhận thấy, các nghiên cứu về lưu  
vực Đồng bằng Sông Cửu Long đã được nhiều đơn vị trong và ngoài nước thự  
hiện, tập trung vào các hướng:  
- Đánh giá tài nguyên nước lưu vực sông;  
- Đánh giá cân bằng nước lưu vực;  
- Đánh gía ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước lưu vực;  
- Đánh giá ảnh hưởng của Biến đổi khí hậu đến diễn biến xâm nhập mặn và  
ngập lụt vùng đồng bằng sông Cửu Long.  
16  
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đây của các nhà khoa học đã  
có đóng góp xứng đáng về mặt khoa học, đặt nền móng cho vấn đề nghiên cứu  
tác động của mặn và ngập lụt ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đánh giá mức độ  
ảnh hưởng của các thiên tai đã, đang và tương lai khi chịu ảnh hưởng của biến  
đổi khí hậu.  
Một số tồn tại:  
Chưa có những nghiên cứu đánh giá, giải quyết bài toán cân bằng nước  
và vấn đề phòng tránh thiệt hại do ngập úng, lũ lụt và hạn hán gây ra hướng tới  
mục tiêu ứng phó với biến đổi khí hậu vùng Tứ giác Long Xuyên.  
Bằng việc kế thừa các kết quả tính toán đã đề cập ở trên, đề tài sẽ phân tích  
lựa chọn một số giải pháp công trình phục vụ giải bài toán thoát lũ, xâm nhập  
mặn và cân bằng nước trong bối ảnh biến đổi khí hậu.  
17  
CHƢƠNG 2: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN VÀ HIỆN TRẠNG  
TÀI NGUYÊN NƢỚC VÙNG TỨ GIÁC LONG XUYÊN  
2.1. Đặc điểm tự nhiên lƣu vực nghiên cứu  
TGLX là vùng trũng có địa hình thấp và khá bằng phẳng cùng với dòng  
chính - sông Tiền và sông Hậu, là một hệ thống kênh rạch dày chằng chịt, tạo  
điều kiện thuận lợi cho sự xâm nhập của thủy triều mang nước mặn vào sâu  
trong sông và nội đồng, đặc biệt trong thời gian mùa cạn, khi mà lượng dòng  
chảy từ thượng nguồn sông Mê Công giảm thấp.  
Chế độ thủy văn ở TGLX những năm gần đây đã chịu tác động bởi hoạt  
động của con người, nhất là từ năm 1999 khi hai đập Tha La và Trà Sư đi vào  
hoạt động, cùng với hệ thống kiểm soát mặn, và thoát lũ đã tạo nên một hệ  
thống các công trình thủy lợi, làm nhiệm vụ kiểm soát lũ, triều, mặn và phục vụ  
cấp nước, tưới tiêu.  
Trên vùng nghiên cứu và vùng lân cận phản ánh tính chất khí tượng thủy  
văn vùng nghiên cứu, đã hình thành một mạng lưới trạm quan trắc KTTV, bao  
gồm 12 trạm khí tượng và điểm đo mưa, 12 trạm thủy văn, cùng với hệ thống  
trạm quan trắc mặn không thường xuyên. Trong mạng lưới các kênh nhánh,  
phân lưu còn thiếu các trạm thủy văn đo lưu lượng, đây là những khó khăn trong  
công tác nghiên cứu đánh giá tác động của biến đổi khí hậu tới xâm nhập mặn,  
ngập lụt và cân bằng nước trên địa bàn lưu vực nghiên cứu.  
2.2. Nguồn nƣớc vào ra vùng TGLX  
Vùng TGLX có 5 tuyến đê tự nhiên, mà nước từ ngoài tứ giác chảy vào  
hay từ trong tứ giác chảy ra đều qua hệ thông cầu cống nằm trên 5 tuyến đê tự  
nhiên này:  
Tuyến vào 1: Tuyến biên giới Campuchia  
Nước lũ từ vùng trũng Camphuchia tràn vào TGLX qua tuyến 7 cầu cùng  
với qua cầu Hữu Nghị trên kênh Vĩnh Tế và cầu Công Bình đều nằm trên trục lộ  
18  
Châu Đốc - Nhà Bằng - Xuân Tô đến biên giới Việt Nam - Camphuchia gọi là  
tuyến vào 1 (xem hình 2.1). Trong mùa lũ 1999, năm đầu tiên dòng chảy tuyến 7  
cầu được điều khiển bởi 2 đập tràn cao su Tha La và Trà Sư đã làm thay đổi căn  
bản các thành phần dòng chảy lũ từ vùng trũng Campuchia tràn vào TGLX.  
Tuyến vào 2: Tuyến dọc sông Hậu  
Nước lũ từ sông Hậu tràn vào TGLX qua 26 cầu cống nằm trên quốc lộ 91  
đoạn Châu Đốc - Vàm Cống được gọi là tuyến vào 2.  
Theo nhiều kết quả đo đạc được thực hiện cho một số trận lũ lớn trước  
1999, dòng tràn từ Campuchia qua tuyến 7 cầu chiếm 65 - 70 % và từ sông Hậu  
chỉ chiếm 25 - 30% tổng lượng nước từ các hướng chảy vào làm ngập TGLX.  
Tuy
ế
n vào 1  
Tuyến  
vào 2  
Hình 2. 1            n n      o       ng   oá  n      ng      
Tuyến vào 3: Tuyến từ kênh Vĩnh Tế chảy vào khu vực bắc Hà Tiên  
Nước lũ từ kênh Vĩnh Tế tràn vào khu vực bắc Hà Tiên qua 21 cống trên  
bờ nam kênh Vĩnh Tế gọi là tuyến nội bộ.  
Tuyến ra 1: Tuyến ra Nam Cần Thơ  
19  
Nước lũ từ TGLX tiêu về nam Cần Thơ qua 50 cống trên tuyến lộ Cái Sắn -  
Rạch Giá gọi là tuyến ra 1. Trước lúc chưa có 2 đập tràn cao su Tha La và Trà  
Sư ngăn dòng chảy tuyến 7 cầu, sóng lũ trong TGLX là sóng tổng hợp của dòng  
chảy từ tuyến 7 cầu và từ sông Hậu truyền vào. Nay sóng lũ chủ lực từ tuyến 7  
cầu bị chặn lại từ đầu mùa lũ đến cuối tháng IX, do đó chỉ còn sóng lũ từ sông  
Hậu, nên quá trình tích lũ của TGLX trong thời gian này diễn ra chậm làm cho  
lượng nước từ vùng trũng TGLX chảy qua các cầu trên lộ Cái Sắn tiêu về nam  
Cần Thơ giảm đáng kể.  
Tuyến ra 2: Tuyến ra biển Tây  
Nước lũ từ TGLX tiêu ra biển Tây qua 36 cầu cống nằm trên tuyến lộ  
Rạch Giá - Hà Tiên gọi là tuyến ra 2.  
2.3. Hiện trạng công tr nh thoát lũ và kiểm soát mặn  
Với sự đầu tư mạnh mẽ trong những năm gần đây, vùng TGLX đã hình  
thành một hệ thống thủy lợi tương đối hoàn chỉnh, bao gồm hệ thống kiểm soát  
lũ, cống ngăn mặn, hệ thống kênh trục, cấp I, cấp II (tưới, tiêu), hệ thống đê/bờ  
bao, hệ thống trạm bơm và hệ thống thủy lợi nội đồng. Đến nay, vùng TGLX có  
64 kênh trục (chiều dài 1.056 km), 2.313 kênh cấp II và III (chiều dài 7.374 km),  
38 cống trung bình và lớn, 1.915 cống nhỏ và bọng, 319 trạm bơm điện quy mô  
vừa, 4.485 km bờ bao/đê bao kiểm soát lũ và 63 km đê biển. Một số cụm công  
trình đáng chú ý là:  
- Cụm công trình thoát lũ ven biển Tây: Bao gồm tuyến đê biển Rạch Giá -  
Ba Hòn dài 75 km, rộng mặt 3 - 6 m, cao trình đỉnh +2,0 m; Hệ thống gồm 23  
cống ven biển Tây; Các cửa thoát lũ là các cầu trên QL80 với khoảng 35 cửa.  
- Cụm công trình kiểm soát lũ dọc kênh Vĩnh Tế: Bao gồm tuyến đê ngăn lũ  
tràn biên giới từ Châu Đốc đến Tịnh Biên và từ Ba Chúc đến đầu kênh Hà Giang;  
Tuyến đê được đắp phía bờ Nam kênh Vĩnh Tế; Công trình kiểm soát lũ tràn biên  
giới với 2 đập cao su Trà Sư (rộng tràn 90 m, ngưỡng +1,50 m, đỉnh +3,80 m) và  
Tha La (rộng tràn 72 m, ngưỡng +1,50 m, đỉnh +3,80 m); Nạo vét và mở rộng  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 38 trang yennguyen 27140 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Nghiên cứu cơ sở khoa học, lựa chọn một số giải pháp công trình chủ yếu giải quyết bài toán cân bằng nước, thoát lũ và xâm nhập mặn ứng phó với biến đổi khí hậu vùng Tứ Giác Long Xuyên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_nghien_cuu_co_so_khoa_hoc_lua_chon_mot_so_gi.pdf