Báo cáo tóm tắt Đề tài Dự tính áp lực bơm trực tiếp từ các thông số thành phần bê tông

1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Với các công trình xây dựng sử dụng vật liệu bê tông thì công  
nghệ bơm bê tông ngày càng được sử dụng gần như chủ đạo thay thế  
cho các kiểu thi công truyền thống. Việc kiểm soát chất lượng thi  
công lâu nay chủ yếu theo trình tự: dựa trên mác bê tông (cấp độ  
bền) do thiết kế xác định, tiếp theo là khâu thiết kế cấp phối do tư  
vấn và nhà thầu thuê đơn vị chuyên môn độc lập thực hiện dựa trên  
vật liệu sử dụng - phương pháp trộn..., khi thi công ở hiện trường chỉ  
kiểm tra độ sụt vữa bê tông (tương ứng với mác bê tông và phương  
pháp trộn) kết hợp lấy mẫu để kiểm tra cường độ sau này.  
Trong thực tế, khi thi công những công trình ở những điều kiện  
thi công đặc biệt như: thời tiết quá khắc nghiệt (quá nóng hay quá  
lạnh, khí hậu quá khô hay quá ẩm...), hoặc như khi công trình quá  
lớn (công trình cao tầng hay có mặt bằng khá rộng), hoặc khi bê tông  
có mác khá cao (thường độ sụt thấp)... dẫn đến vữa bê tông không có  
đủ độ linh động cần thiết để có thể bơm được. Các biện pháp xử lý  
liên quan đến cấp phối vữa bê tông thường là tốn kém và ảnh hưởng  
đến chất lượng bê tông sau này.  
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, khi bê tông chảy trong đường ống  
bơm (thường bằng thép), chúng tạo ra ở bề mặt tiếp xúc giữa bê tông  
và thành ống bơm một lớp vữa mỏng gọi là lớp ma sát biên (như  
hình bên dưới đây). Thành phần và tính chất của lớp biên này sẽ  
quyết định một bê tông nào đó là khó hay dễ bơm.  
Hình 1. Mô hình dòng chảy của bê tông trong ống bơm.  
2
Các đặc tính lưu biến của lớp biên này còn được gọi là các thông  
số ma sát (gồm hằng số nhớt và ngƣỡng trƣợt 0t), và khả năng  
bơm của một bê tông phụ thuộc chính bởi các thông số này.  
Thực tế có nhiều phương pháp dự tính áp lực bơm, hoặc có khi là  
dựa vào kinh nghiệm của kỹ thuật viên vận hành, hoặc đơn giản nhất  
là dựa theo các bảng tra hoặc đồ thị để xác định áp lực bơm cần thiết,  
tuy nhiên sử dụng mô hình dự tính áp lực bơm của [KAPLAN 2000]  
vẫn thuận lợi nhất và được sử dụng phổ biến nhất.  
Từ mô hình có thể thấy để xác định được áp lực bơm, cần xác  
định các thông số lưu biến, thông số ma sát hay cả hai nhóm thông số  
này tùy loại bê tông và chế độ dòng chảy bê tông trong ống bơm. Để  
xác định các thông số này cần phải có thiết bị đo chuyên dùng, người  
vận hành cũng như chỉ có thể đo thử nghiệm hàng loạt trên thực tế  
hiện trường mới dự tính ra được áp lực bơm cần thiết quá tốn kém.  
Nếu các thông số này được mô hình hóa sẽ giúp cho việc dự tính áp  
lực bơm cần thiết rút ngắn thời gian thi công.  
Một mô hình thông số hằng số nhớt đã được đề xuất bởi [NGO et  
al. 2011] và một mô hình thông số ngưỡng trượt cũng đã được đề  
xuất bởi chính tác giả và cộng sự trong nghiên cứu tiến sĩ tại Pháp  
[MAI et al. 2014].  
Thông số ma sát ngưỡng trượt 0t đặc trưng cho tính ì ban đầu của  
dòng bê tông trong ống bơm, ngưỡng trượt càng lớn nghĩa là cần  
phải có một áp lực bơm ban đầu đủ lớn để có thể đẩy bê tông dịch  
chuyển trong ống bơm. Các sự cố trong quá trình thi công bơm bê  
tông liên quan đến thông số ngưỡng trượt khá phổ biến nhất là ở thời  
điểm bắt đầu bơm hay khi phải khởi động bơm lại. Thông số này phụ  
thuộc đặc trưng, tính chất, cấp phối vật liệu sử dụng nên được đề  
xuất lựa chọn để cải tiến lại xét đến vật liệu sử dụng ở Việt Nam  
(thông qua chương trình thí nghiệm sẽ trình bày trong chương III) là  
mục tiêu thứ nhất của đề tài này.  
Trên cơ sở hai mô hình tính thông số bơm, mục tiêu thứ hai của  
3
đề tài là thiết lập một công cụ tính toán đơn giản nhưng tự động hóa  
được phần nào việc dự tính áp lực bơm ngay tại thực tế trạm trộn hay  
công trường trực tiếp từ các thông số thành phần bê tông thông qua  
mô hình Kaplan.  
Chƣơng 1  
TỔNG QUAN VỀ CÔNG NGHỆ BƠM BÊ TÔNG  
1.1. CÔNG NGHỆ BƠM BÊ TÔNG VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH  
HƢỞNG LÊN KHẢ NĂNG BƠM CỦA BÊ TÔNG  
1.1.1 Công nghệ bơm bê tông  
Hình 1.2. Công nghệ thi công bơm bê tông  
Hình 1.2 có thể mô tả sơ bộ công nghệ bơm bê tông trên các công  
trường xây dựng.  
1.1.2 Ƣu và nhƣợc điểm của kỹ thuật bơm bê tông  
1.2. CÁC THÔNG SỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN DÒNG CHẢY CỦA  
BÊ TÔNG TRONG ỐNG BƠM  
1.2.1 Trạng thái lƣu biến - phép đo thông số lƣu biến của vữa  
bê tông  
a) Trạng thái lƣu biến của vữa bê tông  
Đồ thị biểu diễn trạng thái lưu biến của hai vữa bê tông được  
minh họa trong Hình 1.14. Trạng thái lưu biến của vữa bê tông được  
mô tả thông qua hai thông số: ngưỡng cắt (τ0) và độ nhớt (μ). Để vữa  
bê tông trong trạng thái linh động để có thể bắt đầu “chuyển động”  
được, cần phải có lực/áp lực tối thiểu tương đương với giá trị của  
4
ngưỡng cắt, một khi sự xê dịch hay chuyển động được bắt đầu, lực  
cần thiết để làm biến dạng/ dịch chuyển bê tông sẽ tỷ lệ thuận với tốc  
độ cắt [HU 1995].  
Hình 1.14. Các trạng thái lưu biến của vữa bê tông tươi  
b) Phép đo thông số lưu biến của vữa bê tông  
1.2.2 Thông số ma sát - phép đo thông số ma sát  
a) Thông số ma sát  
Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng ma sát ở ở bề mặt tiếp  
xúc với thành ống bơm này được quyết định chủ yếu bởi hai thông số  
ma sát: ngưỡng trượt (0t) và hằng số nhớt (). Mối quan hệ giữa  
chúng được biểu diễn bởi phương trình Eq. 1.2 được đề xuất bởi  
[KAPLAN 2000].  
0t v  
(Eq. 1.2)  
Trong đó:  
– (Pa) là ứng suất cắt ở bề mặt giao diện tiếp xúc;  
– 0t (Pa) là ngưỡng trượt; - (Pa.s/m) là hằng số nhớt;  
– (m/s) là vận tốc trượt tương đối.  
b) Phép đo thông số ma sát  
1.3. PHƢƠNG PHÁP DỰ TÍNH KHẢ NĂNG BƠM  
Có nhiều phương pháp dự tính áp lực bơm, đơn giản nhất là dựa  
theo các bảng tra hoặc đồ thị hoặc cũng có thể dựa vào các mô hình  
tính của các tác giả như [CHAPDELAINE 2007, CHOUINARD  
1999]..., tuy nhiên sử dụng mô hình của [KAPLAN 2000] vẫn thuận  
5
lợi nhất và được sử dụng phổ biến nhất. Mô hình này cho thấy sự  
tiến triển của áp lực bơm - lưu lượng theo hai trang thái (1) và (2)  
khác nhau như Hình 1.22.  
Ở phần (1) của mô hình, lúc này dòng chảy của bê tông trong ống  
bơm là dòng chảy trượt nhờ lớp ma sát tạo ra ở biên, áp lực bơm phụ  
thuộc chủ yếu vào các thông số ma sát ở bề mặt (hằng số nhớt và  
ngưỡng trượt) theo công thức Eq. 1.4:  
Hình 1.22. Mô hình dự tính áp lực bơm bởi [KAPLAN 2000]  
(Eq. 1.4)  
Khi lưu lượng bơm vượt qua giá trị Q1 xác định theo công thức  
Eq. 1.5, ứng suất cắt ở bề mặt tiếp xúc vượt qua ứng suất cắt của bê  
tông, dòng chảy của bê tông trong ống bơm có hiện tượng cắt ở vùng  
tiếp xúc, được mô tả như ở Hình 1.12 (2).  
(Eq. 1.5)  
Lúc này áp lực bơm vừa phụ thuộc các thông số ma sát vừa phụ  
thuộc các thông số lưu biến, xác định như công thức Eq. 1.6.  
(Eq. 1.6)  
Trong đó:  
6
P (Pa): áp lực bơm; L (m): chiều dài đường ống;  
R (m): bán kính đường ống bơm; Q (m³/h): lưu lượng bơm  
trung bình; kr : hệ số lấp đầy (kr = 0,8 với bơm cố định, kr = 0,7  
với bơm di động) [KAPLAN 2000];  
 0i(Pa)ngưỡng trượt (đo bởi thiết bị đo ma sát);  
 (Pas/m)hằng số nhớt (đo bởi thiết bị đo ma sát);  
 0 (Pa): ngưỡng cắt của bê tông (đo bởi thiết bị đo lưu biến);  
 (Pas)độ nhớt của bê tông (đo bởi thiết bị đo lưu biến).  
1.4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GẦN ĐÂY - ĐẶT VẤN ĐỀ CẦN  
NGHIÊN CỨU - KẾT LUẬN CHƢƠNG  
1.4.1 Kết quả nghiên cứu gần đây  
Ở Việt Nam thì lĩnh vực nghiên cứu về lưu biến bê tông cũng như  
bơm bê tông cũng có phần hạn chế, bên cạnh vấn đề đầu tư hệ thống  
thiết bị phần khác cũng còn là vấn đề chuyên gia, kỹ thuật viên cũng  
như đào tạo.  
1.4.2 Đặt vấn đề nghiên cứu - Kết luận chƣơng  
Thực tế có nhiều phương pháp dự tính áp lực bơm, tuy nhiên sử  
dụng mô hình dự tính áp lực bơm của [KAPLAN 2000] vẫn thuận  
lợi nhất và được sử dụng phổ biến nhất. Mô hình này đã được trình  
bày tổng hợp như trong Mục I.3 của chương này.  
Từ mô hình có thể thấy để xác định được áp lực bơm, cần xác  
định các thông số lưu biến, thông số ma sát hay cả hai nhóm thông số  
này tùy loại bê tông và chế độ dòng chảy bê tông trong ống bơm. Để  
xác định các thông số này cần phải có thiết bị đo chuyên dùng, người  
vận hành cũng như chỉ có thể đo thử nghiệm hàng loạt trên thực tế  
hiện trường mới dự tính ra được áp lực bơm cần thiết quá tốn kém.  
Nếu các thông số này được mô hình hóa sẽ giúp cho việc dự tính áp  
lực bơm cần thiết rút ngắn thời gian thi công.  
Với bê tông thường và bê tông cường độ cao, dòng chảy của bê  
tông trong ống bơm chủ yếu là dòng chảy trượt (chảy đùn), áp lực  
7
bơm chủ yếu phụ thuộc vào các thông số ma sát là ngưỡng trượt và  
hằng số nhớt. Một mô hình thông số hằng số nhớt đã được đề xuất  
bởi [NGO et al. 2011] và một mô hình thông số ngưỡng trượt cũng  
đã được đề xuất bởi chính tác giả và cộng sự trong nghiên cứu tiến sĩ  
tại Pháp [MAI et al. 2014].  
Thông số ma sát ngưỡng trượt 0t đặc trưng cho tính ì ban đầu của  
dòng bê tông trong ống bơm, ngưỡng trượt càng lớn nghĩa là cần  
phải có một áp lực bơm ban đầu đủ lớn để có thể đẩy bê tông dịch  
chuyển trong ống bơm. Các sự cố trong quá trình thi công bơm bê  
tông liên quan đến thông số ngưỡng trượt khá phổ biến nhất là ở thời  
điểm bắt đầu bơm hay khi phải khởi động bơm lại. Thông số này phụ  
thuộc đặc trưng, tính chất, cấp phối vật liệu sử dụng nên được đề  
xuất lựa chọn để cải tiến lại xét đến vật liệu sử dụng ở Việt Nam  
(thông qua chương trình thí nghiệm sẽ trình bày trong chương III) là  
mục tiêu thứ nhất của đề tài này.  
Trên cơ sở hai mô hình tính thông số bơm, mục tiêu thứ hai của  
đề tài là thiết lập một công cụ tính toán đơn giản nhưng tự động hóa  
được phần nào việc dự tính áp lực bơm ngay tại thực tế trạm trộn hay  
công trường trực tiếp từ các thông số thành phần bê tông thông qua  
mô hình Kaplan.  
Chƣơng 2  
VẬT LIỆU, THIẾT BỊ & CHƢƠNG TRÌNH THÍ NGHIỆM  
2.1 VẬT LIỆU SỬ DỤNG ĐỂ CHẾ TẠO BÊ TÔNG  
2.2 THIẾT BỊ THÍ NGHIỆM  
2.2.1 Thiết bị đo ma sát (tribomètre)  
a) Mô tả thiết bị đo ma sát (tribomètre)  
Thiết bị đo ma sát được phát triển bởi [NGO et al. 2010], gồm có  
3 phần chính: một máy khuấy điều khiển tốc độ quay và đọc được  
momen xoắn điện tử; một xy lanh hình trụ thép tròn trơn cao 10cm,  
đường kính 10,7cm; và một thùng chứa vữa bê tông cao 20cm đường  
8
kính 30cm. Toàn bộ hoạt động của thiết bị được điều khiển nhờ phần  
mềm được cài trong máy tính để điều khiển máy khuấy.  
Hình 2.2. Cấu tạo thiết bị đo ma sát và quy trình vận hành: (a) cấu  
tạo thiết bị ; (b) bước đo thứ nhất; (c) bước đo thứ hai  
b) Phương pháp sử dụng thiết bị đo ma sát  
c) Khai thác kết quả đo  
2.3 CHƢƠNG TRÌNH THÍ NGHIỆM  
Cấp phối bê tông tham khảo được lấy tương ứng với cấp phối sử  
dụng phổ biến trong thực tế thi công trên địa bàn Đà Nẵng. Ở đây  
sau khi tham khảo vật liệu và cấp phối ở các công ty cung ứng vữa  
bê tông thương phẩm trên hiện trường (Công ty Đăng Hải, công ty bê  
tông Hòa Cầm...), cấp phối vữa bê tông lựa chọn được tổng hợp  
trong Bảng 2.4 và sẽ được trình bày lại trong phần phân tích ảnh  
hưởng của các thông số thành phần.  
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu ảnh thưởng của các  
thông số thành phần/cấp phối bê tông lên ma sát giữa bê tông và  
thành ống bơm: khối lượng hồ xi măng dán, tỉ lệ Nước/Ximăng, tỉ lệ  
Đá(Sỏi)/Cát, kích cỡ Dmax cốt liệu thô, thành phần phụ gia...  
Các cấp phối thí nghiệm nghiên cứu liên quan đến yếu tố thời  
gian lưu vữa sẽ được thực hiện đo thông số lưu biến và các thông số  
liên quan ở các thời điểm 0 phút/ 30 phút/ 60 phút/ 90 phút.  
2.4 KẾT LUẬN CHƢƠNG 2  
9
Chƣơng 3  
PHÂN TÍCH KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM  
3.1 ẢNH HƢỞNG CỦA KHỐI LƢỢNG HỒ XI MĂNG DÁN  
LÊN THÔNG SỐ MA SÁT  
Kết quả thí nghiệm đo thông số ma sát theo ảnh hưởng của khối  
lượng hồ xi măng được trình bày trong Bảng 3.1 và Hình 3.1.  
Bảng 3.1: Ảnh hưởng của khối lượng hồ xi măng lên thông số ma sát  
Hình 3.1: Quan hệ giữa thông số ma sát - khối lượng hồ xi măng  
Từ đồ thị, chúng ta có thể nhận thấy sự tăng của khối lượng hồ xi  
măng dẫn đến một sự giảm của các thông số ma sát bề mặt: hằng số  
nhớt cũng như ngưỡng trượt.  
Sự suy giảm của các thông số ma sát bề mặt khi tăng khối lượng  
hồ xi măng có thể được giải thích như sau: khối lượng hồ xi măng,  
ngoài chức năng là chất kết dính trong thành phần của vữa bê tông  
(bê tông xem như có 2 thành phần chính: cốt liệu với đá và cát; chất  
kết dính: xi măng, nước...) nó còn là yếu tố tạo nên sự linh động cần  
thiết giúp cho quá trình thi công bê tông được thuận lợi (trộn, đổ,  
đầm ...). Hay nói cách khác là khối lượng hồ xi măng ảnh hưởng đến  
tính linh động (độ nhớt) của vữa bê tông, tăng khối lượng hồ xi măng  
10  
sẽ làm tăng độ linh động của vữa bê tông (làm giảm độ nhớt), qua đó  
gián tiếp giúp cho việc thành phần hạt mịn trong vữa bê tông dễ dàng  
di chuyển ra biên tạo lớp biên dày hơn, và do đó làm giảm ma sát  
tăng khả năng bơm.  
3.2 ẢNH HƢỞNG CỦA TỈ LỆ NƢỚC/XIMĂNG LÊN THÔNG  
SỐ MA SÁT  
Kết quả thí nghiệm đo ma sát theo ảnh hưởng của thông số khối  
lượng hồ xi măng được trình bày trong Bảng 3.2 và Hình 3.2.  
Bảng 3.2: Ảnh hưởng của tỉ lệ Nước/Xi măng lên thông số ma sát  
Hình 3.2: Quan hệ giữa thông số ma sát - tỉ lệ Nước/Xi măng  
Sự suy giảm của các thông số ma sát bề mặt khi tăng tỉ lệ  
Nước/Xi măng có thể được giải thích như sau: hình thức tăng tỉ lệ  
N/X cũng giống như việc pha loãng khối lượng hồ xi măng trong bê  
tông, qua đó làm tăng độ linh động (giảm độ nhớt) của vữa bê tông.  
Việc này như đã phân tích với trường hợp tăng khối lượng hồ xi  
măng, cũng sẽ thúc đẩy việc tạo thành của lớp ma sát ở biên được  
thuận lợi hơn và qua đó làm giảm ma sát - tăng khả năng bơm.  
Để so sánh mức độ ảnh hưởng của hai thông số thành phần: khối  
lượng hồ xi măng (Vhoxm) và tỉ lệ Nước/Xi măng (N/X) lên thông số  
11  
ma sát bề mặt và qua đó là khả năng bơm bê tông, các thông số ma  
sát này sẽ được biểu diễn theo thông số độ sụt của bê tông như trong  
Hình 3.3.  
Hình 3.3: So sánh ảnh hưởng thông số thành phần lên thông số ma  
sát theo độ sụt  
3.3 ẢNH HƢỞNG CỦA TỈ LỆ ĐÁ/CÁT LÊN THÔNG SỐ MA  
SÁT  
Thay đổi tỷ lệ Đá/Cát (Đ/C) sẽ làm thay đổi kích thước bộ khung  
cốt liệu và như vậy một mặt ảnh hưởng đến cường độ chịu nén của  
bê tông, mặt khác cũng ảnh hưởng đến tính lưu biến của bê tông và  
khả năng bơm của nó.  
Bảng 3.3: Ảnh hưởng của tỉ lệ Đá/Cát lên thông số ma sát  
Hình 3.4: Quan hệ giữa thông số ma sát - tỉ lệ Đá/Cát  
12  
Khi tăng tỉ lệ Đ/C, các thông số ma sát ngưỡng trượt và hằng số  
nhớt đều giảm. Để giải thích điều này, chúng ta biết rằng, hằng số  
nhớt của lớp ma sát là tỷ số giữa độ nhớt và bề dày của nó theo  
nghiên cứu của [Kaplan]. Khi tăng tỉ lệ Đ/C nghĩa là giảm lượng cát  
trong thành phần cấp phối, trong khi các thành phần khác không thay  
đổi (xem Bảng 3.3) qua đó giảm thành phần hạt mịn trong thể tích  
bột dán trong vữa bê tông. Việc này có tác động: một mặt làm giảm  
độ nhớt của của lớp biên do giảm thành phần hạt mịn, và qua đó làm  
giảm một phần bề dày của lớp ma sát này hay nói cách khác làm  
giảm các thông số ma sát. Tuy nhiên mức độ giảm của các thông số  
ma sát là nhỏ hơn nhiều so với ảnh hưởng của các thông số thể tích  
hồ xi măng và đặc biệt là tỉ lệ N/X.  
3.4 ẢNH HƢỞNG CỦA KÍCH CỠ CỐT LIỆU DMAX LÊN  
THÔNG SỐ MA SÁT  
Sự thay đổi đường kính của cốt liệu được sử dụng trong bê tông  
gây ra sự thay đổi diện tích bề mặt của hỗn hợp cốt liệu thô. Kết quả  
của nghiên cứu được thể hiện trong Hình 3.5, cho thấy rằng:  
- Với các cấp phối có thành phần kích thước cốt liệu Dmax khác  
khau, khi tăng thể tích hồ xi măng thì các thông số ma sát đều giảm.  
Kết quả này cũng phù hợp với kết quả trình bày ở mục 3.1.  
- Trong phạm vi khảo sát, với sự thay đổi của lượng hồ xi măng  
trong khoảng xấp xỉ nhau (khoảng từ Vhoxm = 0.3 0.5 m3), với mẫu  
bê tông cốt liệu đường kính Dmax nhỏ hơn thì gây ra ma sát lớn hơn.  
Điều này có thể được giải thích thông qua tổng diện tích bề mặt cốt  
liệu trong mẫu bê tông có Dmax nhỏ sẽ lớn hơn và như vậy gây ra ma  
sát lớn hơn, cản trở sự hình thành của lớp ma sát ở biên làm tăng các  
thông số ma sát bề mặt. Kết luận này phù hợp với kết luận của  
[KAPLAN 2000].  
13  
Bảng 3.4: Ảnh hưởng của Dmax lên thông số ma sát  
Hình 3.5: Quan hệ giữa thông số ma sát - V hồ xi măng theo Dmax  
3.5 ẢNH HƢỞNG CỦA HÀM LƢỢNG VÀ THÀNH PHẦN  
CHẤT PHỤ GIA LÊN THÔNG SỐ MA SÁT  
Sự tiến triển của các thông số ma sát theo hàm lượng phụ gia siêu  
dẻo từ Bảng 3.5 được thể hiện lại như trên đồ thị ở Hình 3.6.  
Bảng 3.5: Ảnh hưởng của phụ gia lên thông số ma sát  
14  
Hình 3.6: Quan hệ giữa thông số ma sát - thành phần phụ gia  
Sự suy giảm của các thông số ma sát bề mặt khi tăng hàm lượng  
chất phụ gia siêu dẻo có thể được giải thích bởi thực tế là sự tăng của  
hàm lượng phụ gia làm “lỏng hóa” vữa xi măng dán của bê tông  
nhưng vẫn giữ nguyên thể tích vữa xi măng dán. Điều đó thúc đẩy  
việc tạo ra một lớp biên “lỏng và dày” hơn và kết quả là làm giảm  
các thông số ma sát ở bề mặt, hay nói cách khác là làm tăng khả năng  
bơm của bê tông.  
3.6 ẢNH HƢỞNG CỦA TỈ LỆ NƢỚC/XI MĂNG LÊN MA SÁT  
VỚI THÀNH ỐNG BƠM THEO THỜI GIAN  
Ngưỡng trượt 0t đặc trưng cho tính ì ban đầu của dòng bê tông  
trong ống bơm, ngưỡng trượt càng lớn nghĩa là cần phải có một áp  
lực bơm ban đầu đủ lớn để có thể đẩy bê tông dịch chuyển trong ống  
bơm. Các sự số trong quá trình thi công bơm bê tông liên quan đến  
thông số ngưỡng trượt khá phổ biến nhất là ở thời điểm bắt đầu bơm  
hay khi phải khởi động bơm lại. Từ đồ thị Hình 3.9 nhận thấy xu  
hướng chung của thông số ma sát ngưỡng trượt tăng khi thời gian lưu  
vữa tăng, một chút biến động nhỏ ứng với cấp phối B2 ở thời gian  
lưu vữa t = 60 phút có thể giải thích do sự khác biệt nhất định của  
thành phần cốt liệu giữa các mẻ thí nghiệm dầu cùng một cấp phối.  
15  
Bảng 3.6: Ảnh hưởng tỉ lệ N/X lên thông số ma sát theo thời gian  
Hình 3.9: Quan hệ thông số ma sát theo thời gian lưu vữa và N/X  
Hằng số nhớt đặc trưng cho tính ì của bê tông khi bê tông đã  
dịch chuyển trong ống bơm, thông số này càng nhỏ thì bê tông càng  
dễ dịch chuyển hay nói cách khác là dễ bơm. Từ đồ thị Hình 3.9  
nhận thấy xu hướng chung của thông số ma sát này tăng khi thời gian  
lưu vữa tăng và gần như không có sự biến động khác biệt nào, lý do  
là khi dòng chảy bê tông đã ổn định trong ống bơm thì sự khác biệt  
nếu có (tất nhiên là rất nhỏ) của thành phần cốt liệu giữa các mẻ trộn  
của cùng một cấp phối gần như không ảnh hưởng đến thông số này.  
16  
3.7 KẾT LUẬN CHƢƠNG  
Các kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của các thông số thành  
phần bê tông lên ma sát với thành ống bơm đã được trình bày rõ  
trong chương này, mà cụ thể là các ảnh hưởng lên thông số: thông số  
ma sát (ngưỡng trượt 0t và hằng số nhớt ).  
Chƣơng 4  
CẢI TIẾN MÔ HÌNH NGƢỠNG TRƢỢT  
VÀ DỰ TÍNH ÁP LỰC BƠM  
4.1 ĐẶT VẤN ĐỀ  
Thông số ma sát ngưỡng trượt 0t đặc trưng cho tính ì ban đầu của  
dòng bê tông trong ống bơm, ngưỡng trượt càng lớn nghĩa là cần  
phải có một áp lực bơm ban đầu đủ lớn để có thể đẩy bê tông dịch  
chuyển trong ống bơm. Các sự cố trong quá trình thi công bơm bê  
tông liên quan đến thông số ngưỡng trượt khá phổ biến nhất là ở thời  
điểm bắt đầu bơm hay khi phải khởi động bơm lại. Thông số này phụ  
thuộc đặc trưng, tính chất, cấp phối vật liệu sử dụng nên được đề  
xuất lựa chọn để cải tiến lại xét đến vật liệu sử dụng ở Việt Nam  
(thông qua chương trình thí nghiệm như trình bày trong chương III)  
là mục tiêu thứ nhất của đề tài này.  
Trên cơ sở hai mô hình tính thông số bơm, mục tiêu thứ hai của  
đề tài là thiết lập một công cụ tính toán đơn giản tự động hóa được  
phàn nào việc dự tính áp lực bơm trực tiếp từ các thông số thành  
phần bê tông thông qua mô hình Kaplan.  
4.2 CẢI TIẾN MÔ HÌNH NGƢỠNG TRƢỢT  
Kết quả của chương trình thí nghiệm ở chương 3 được tổng hợp  
lại ở Bảng 4.1 sẽ kết hợp với các số liệu tham khảo trong Phụ lục  
(Phần 1 và 2) được sử dụng để cải tiến mô hình ngưỡng trượt.  
17  
Bảng 4.1 Bảng tổng hợp kết quả của chương trình thí nghiệm  
a) Ảnh hưởng của các thông số thành phần cấp phối  
Sika  
257  
(l/m3)  
Xi  
măng  
(kg)  
Vhoxm  
(m3)  
Ảnh  
hưởng  
Bê  
tông  
Nước Đá Cát  
(kg) (kg) (kg)  
Slump  
(cm)  
  
(Pa.s/m)  
(Pa)  
(Pa)  
N/X Đ/C  
Sp/Sp*  
(Pa)  
B11  
B12  
B13  
B21 0.4  
B22 0.45  
B23 0.5  
B24 0.5  
B31  
B32  
B33  
B41  
B42  
B43  
B51  
B52  
B53  
B54  
0.301 390 176 982 845  
0.317 410 185 955 855  
0.355 460 207 876 836  
440 176  
19 37.2  
21 28.6  
23.5 22.5  
20 36.2  
21.5 29.6  
611  
495  
410  
598  
495  
1004.5  
860.4  
680.3  
932.5  
824.4  
752.3  
1616.9  
968.5  
860.4  
824.4  
1364.7  
1148.6  
788.4  
1112.6  
1004.5  
824.4  
716.3  
41.2  
34.2  
25.3  
37.7  
32.4  
28.9  
71.2  
39.5  
34.2  
32.4  
58.9  
48.3  
30.6  
61.0  
55.7  
46.9  
41.6  
Vhoxm  
0.45 1.12  
4.1  
995 706  
4.1  
0
410 185  
385 193  
N/X  
1.12 0.317  
22.5 21.4 407.2  
460 230 876 795  
982 818  
10.5 52.6  
19.5 26.1  
21 28.6  
21.5 31.2  
14 62.5  
17 45.9  
22 31.1  
693  
451  
495  
547  
728  
625  
516  
548  
512  
495  
443  
1.20  
Đ/C  
0.45  
0.317 410 185  
4.1  
1.12  
1.00  
955 855  
876 876  
0.301 390 176 982 877  
0.324 420 189 955 853  
Dmax  
0.45  
4.1  
(4 x 20)  
1.12 0.348 450 203 876 782  
3.9  
4.0  
4.1  
4.2  
1.07 17.5 47.1  
1.09 19 41.5  
1.12 21.5 29.6  
1.14 23 24.8  
Phụ gia  
0.45 1.12 0.317 410 185 955 853  
b) Ảnh hưởng của các thông số thời gian  
Vhoxm  
(m3)  
Bê  
tông  
  
(Pa.s/m)  
(Pa)  
Thời gian lưu vữa  
(phút)  
0
Độ sụt  
(cm)  
20  
N/X  
(Pa)  
36.2  
52.5  
55.7  
67.4  
29.6  
42.5  
41.5  
54.3  
21.4  
33.5  
36.7  
47.1  
52.6  
64.8  
72.5  
#
(Pa)  
598  
674  
781  
1027 1436.8  
495  
537  
637  
792  
407.2  
472  
579.3 1076.6  
715.8 1112.6  
693  
827  
932.5  
1112.6  
1220.6  
37.7  
46.5  
51.8  
62.4  
32.4  
41.2  
48.3  
55.3  
27.1  
32.4  
44.8  
46.5  
71.2  
78.3  
85.3  
101.2  
30  
60  
90  
0
30  
60  
90  
0
30  
60  
90  
0
30  
60  
90  
17.5  
16  
13  
21.5  
19  
17  
15  
23  
21.5  
18  
17.5  
10.5  
8.5  
6.5  
2
B1  
0.31676 0.4  
0.31676 0.45  
0.31676 0.5  
0.37839 0.5  
824.4  
1004.5  
1148.6  
1292.7  
716.3  
B2  
B3  
B4  
824.4  
1616.9  
1761.0  
1046 1905.1  
2229.3  
#
Các bước đề xuất và cải tiến mô hình ngưỡng trượt thực hiện  
tương tự như việc thiết lập mô hình ngưỡng trượt theo Eq. 4.1 do  
chính tác giả đề xuất trong [MAI et al. 2014], nội dung có thể được  
trình bày tóm tắt như sau.  
Như trong nghiên cứu tổng quan cũng như kết quả phân tích của  
chương trình thí nghiệm đã trình bày, các thông số ma sát ngưỡng  
trượt cũng như hằng số nhớt đều phụ thuộc vào thành phần cấp phối  
của bê tông (khối lượng hồ xi măng, tỉ lệ N/X, tỉ lệ Đ/C, thành phần  
18  
khung cốt liệu, phụ gia sử dụng, thành phần chất trơ...) hay chính xác  
hơn là phụ thuộc vào tính chất lưu biến của bê tông (độ sụt, ngưỡng  
cắt, độ nhớt). Ở đây nhóm tác giả đề xuất mô hình tính ngưỡng trượt  
thông qua các thông số xác định tính chất lưu biến của bê tông một  
mặt để đảm bảo thể hiện hết được ảnh hưởng của các thông số thành  
phần lên tính chất lưu biến của bê tông, mặt khác cũng đơn giản hơn  
kết quả của việc tính toán. Kết quả là mô hình ngưỡng trượt như  
Eq.4.1 thể hiện việc tính ngưỡng trượt theo ngưỡng cắt của bê tông  
(do biên độ của ngưỡng cắt lớn hơn nhiều so với độ sụt bê tông, việc  
sử dụng thông số lưu biến ngưỡng cắt giúp thuận lợi hơn trong việc  
đánh giá kết quả của ngưỡng trượt).  
Thực tế là có nhiều mô hình dự tính ngưỡng cắt của bê tông:  
Hình 4.1: Sự tiến triển của ngưỡng trượt theo ngưỡng cắt tính theo  
mô hình [FERRARIS et al. 1998]  
Để xác định mô hình ngưỡng trượt tính toán theo mô hình ngưỡng  
cắt nào, các kết quả đo thông số ngưỡng trượt theo thực nghiệm sẽ  
được biểu diễn theo kết quả tính ngưỡng cắt của mô hình theo từng  
tác giả khác nhau, kết quả nào mô phỏng tốt hơn sẽ được lựa chọn.  
Kết quả của bước thực hiện này thể hiện như Hình 4.1.  
Từ kết quả như Hình 4.1, mô hình ngưỡng trượt được đề xuất có  
dạng như phương trình Eq.4.3.  
 
 
 
   
              
 
 
(Eq. 4.3)  
    
 
 
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 14180 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo tóm tắt Đề tài Dự tính áp lực bơm trực tiếp từ các thông số thành phần bê tông", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_tom_tat_de_tai_du_tinh_ap_luc_bom_truc_tiep_tu_cac_t.pdf