Báo cáo Đề tài Xây dựng bài giảng trực tuyến cho học phần “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hóa học” phục vụ giảng dạy cho sinh viên đại học ngành Công nghệ vật liệu

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG  
XÂY DỰNG BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN CHO HỌC  
PHẦN “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
TRONG HÓA HỌC” PHỤC VỤ GIẢNG DẠY CHO  
SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ VẬT  
LIỆU  
Mã số: T2019-06-142  
Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Thanh Hội  
Đà Nẵng, 8/2020  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG  
XÂY DỰNG BÀI GIẢNG TRỰC TUYẾN CHO HỌC  
PHẦN “ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN  
TRONG HÓA HỌC” PHỤC VỤ GIẢNG DẠY CHO  
SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH CÔNG NGHỆ VẬT  
LIỆU  
Mã số: T2019-06-142  
Xác nhận của cơ quan chủ trì đề tài  
Chủ nhiệm đề tài  
(ký, họ tên, đóng dấu)  
TS. NGUYỄN THANH HỘI  
1. NHỮNG THÀNH VIÊN THAM GIA NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI  
Đơn vị công tác và  
lĩnh vực chuyên môn  
Nội dung nghiên cứu cụ  
TT  
1
Họ và tên  
Chữ ký  
thể được giao  
Chủ nhiệm đề tài:  
Nguyễn Thanh Hội Khoa Công nghệ Hóa học-  
Môi trường. TS ngành Hóa  
Vật liệu  
Chuẩn bị cơ sở dữ liệu  
cho việc giảng dạy học  
phần Công nghệ vật liệu  
Xây dựng bài giảng trên  
Moodle LMS  
2
Đặng Thị Hạnh  
Văn Thư Khoa Công nghệ  
Hóa học - Môi trường,  
Trường ĐHSPKT.  
Thư ký đề tài  
2. ĐƠN VỊ PHỐI HỢP CHÍNH  
Tên đơn vị  
trong và ngoài nước  
Họ và tên người đại diện  
đơn vị  
Nội dung phối hợp nghiên cứu  
Trường Đại học Sư phạm Tư vấn khoa học, hỗ trợ kỹ thuật  
PGS.TS. Phan Cao Thọ  
Kỹ thuật.  
MỤC LỤC  
Trang phụ bìa  
Danh sách những thành viên tham gia nghiên cứu đề tài và đơn vị phối hợp chính  
MỤC LỤC  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS  
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ  
Số hiệu  
hình vẽ  
Tên hình vẽ  
Trang  
Sơ đồ chức năng của giáo viên trong giảng dạy truyền thống  
Sơ đồ chức năng phương pháp học tập Elearning  
1.1  
1.2  
11  
12  
14  
15  
16  
21  
22  
25  
26  
27  
27  
28  
28  
28  
29  
30  
31  
31  
32  
32  
33  
1.3  
Sơ đồ tính năng quản lý người dùng của Moodle  
1.4  
Sơ đồ tính năng quản lý khóa học trên Moodle.  
Sơ đồ quá trình tương tác của các đối tượng sử dụng Moodle  
1.5  
Sơ đồ nguyên tắc dạy học  
2.1  
Sơ đồ nguyên tắc xây dựng bài giảng điện tử  
Truy cập vào LMS của Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật  
Thêm khóa học trên LMS  
2.2  
2.3  
2.4  
2.5  
Tạo khóa học mới trên LMS  
Chỉnh sửa và cài đặt khóa học  
2.6  
Thêm, sửa chủ đề cho khóa học  
2.7  
Thêm hoạt động, tài nguyên hỗ trợ cho chủ đề  
Thiết lập thời gian bắt đầu và kết thúc bài tập  
Theo dõi nộp bài tập  
2.8  
2.9  
2.10  
2.11  
2.12  
2.13  
2.14  
2.15  
2.16  
Quản lý ghi danh cho sinh viên  
Tạo mật khẩu để sinh viên tự ghi danh  
Cấp quyền hoặc rút tên sinh viên  
Sinh viên tự ghi danh vào lớp học phần  
Sinh viên tự rút tên khỏi lớp học phần  
Giao diện đăng nhập LMS trên điện thoại di động  
Giao diện đăng nhập của MS Teams  
34  
34  
35  
36  
36  
37  
37  
38  
38  
38  
39  
39  
39  
40  
40  
40  
41  
41  
42  
42  
43  
43  
44  
44  
45  
2.17  
2.18  
2.19  
2.20  
2.21  
2.22  
2.23  
2.24  
2.25  
2.26  
2.27  
2.28  
2.29  
2.30  
2.31  
2.32  
2.33  
2.34  
2.35  
2.36  
2.37  
2.38  
2.39  
2.40  
2.41  
Tạo nhóm và chọn nhóm trên MS Teams  
Đặt tên lớp và mô tả thông tin lớp học phần  
Ghi danh và bổ sung sinh viên vào lớp học phần  
Tạo mã code lớp học phần  
Tạo link truy cập lớp học phần  
Tạo buổi giảng trực tuyến theo thười gian thực  
Giao diện buổi giảng trực tuyến theo thời gian thực  
Lên lịch cho buổi giảng trực tuyến theo thời gian thực  
Gửi thông tin buổi giảng trực tuyến lên dòng sự kiện  
Xem thông tin buổi giảng trực tuyến trên dòng sự kiện  
Thay đổi chức năng người trình bày trong buổi giảng trực tuyến  
Tham gia buổi giảng trực tuyến trên dòng sự kiện khóa học  
Ghi hình buổi giảng trực tuyến theo thời gian thực  
Trình chiếu PowerPoint trong buổi giảng trực tuyến  
Giao diện trình chiếu PowerPoint trong buổi giảng trực tuyến  
Giao bài tập cho SV trong lớp học phần  
Thêm thông tin chi tiết cho bài tập  
Tạo bộ tiêu chí đánh giá (Rubric) cho bài tập  
Xem bài tập SV đã gửi  
Nhận xét và cho điểm bài tập của SV  
Gửi trả bài tập cho SV  
Giao diện khu vực làm việc cá nhân  
Vị trí nhóm và kênh trong khu vực làm việc cá nhân  
Thay đổi hoặc thêm chủ đề vào nhóm  
Đăng một bình luận vào trong nhóm  
Giao diện khu vực làm việc chung  
Gửi tin nhắn đến một thành viên trong nhóm  
Lưu trữ và chia sẻ file trong nhóm  
45  
45  
46  
46  
2.42  
2.43  
2.44  
2.45  
Giao diện học phần Ứng dụng Công nghệ thông tin trong Hóa  
học sau khi được tích hợp lên LMS Moodle của Nhà trường.  
Giao diện buổi học trực tuyến được thực hiện trên ứng dụng  
MS Teams  
47  
48  
3.1  
3.2  
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT  
E-Learning: Electronic Learning  
LMS: Learning Management System  
LCMS : Learning Content Management System  
ĐHQGHN: Đại học Quốc gia Hà Nội  
GDĐT: Giáo dục Đào tạo  
WTO: World Trade Organization  
CNTT: Công nghệ thông tin  
MS Teams: Microsoft Teams  
Moodle: Modular Object-Oriented Dynamic Learning Environment  
GV: Giảng viên  
SV: Sinh viên  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM  
TRƯỜNG ĐH SƯ PHẠM KỸ THUẬT  
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc  
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
1. Thông tin chung:  
- Tên đề tài: Xây dựng bài giảng trực tuyến cho học phần “Ứng dụng Công nghệ  
thông tin trong Hóa học” phục vụ giảng dạy cho sinh viên đại học ngành Công nghệ  
vật liệu.  
- Mã số: T2019-06-142  
- Chủ nhiệm: TS. Nguyễn Thanh Hội  
- Thành viên tham gia:  
- Cơ quan chủ trì: Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật  
- Thời gian thực hiện: Từ tháng 8 năm 2019 đến tháng 8 năm 2020  
2. Mục tiêu:  
- Xây dựng một bài giảng trực tuyến cho học phần Ứng dụng Công nghệ thông tin  
trong Hóa học dành cho sinh viên đại học ngành Công nghệ vật liệu của trường Đại  
học Sư phạm Kỹ thuật, điều này sẽ góp phần cùng với Nhà trường xây dựng quá trình  
đào tạo mềm dẻo, linh hoạt hơn trong khi chất lượng giảng dạy vẫn không đổi.  
- Tạo được khóa học trực tuyến bằng cách sử dụng Moodle LMS và ứng dụng  
Microsoft Teams.  
3. Tính mới và sáng tạo:  
Hình thức học trực tuyến - Elearning đã xâm nhập vào Việt Nam từ khá lâu nhưng  
tới nay, việc dạy học trực tuyến vẫn chưa phổ biến trên toàn quốc. Hiện nay, ngành  
giáo dục đang có những đổi mới về phương pháp và nội dung dạy học đặc biệt là việc  
ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy. Việc đổi mới phương pháp và nội dung  
không chỉ dừng lại ở việc giáo viên soạn giáo án và giảng bài giảng điện tử mà giáo  
viên có thể ứng dụng những trang web đào tạo trực tuyến giúp cho việc học tập của  
sinh viên đạt hiệu quả hơn. Đào tạo trực tuyến là một phương tiện giúp cho người học  
có thể học mọi lúc, mọi nơi, học bất cứ thứ gì mình thích, mình cần cho công việc và  
cuộc sống. Nó là hình thức hỗ trợ hữu hiệu cho cách dạy học truyền thống hiện nay.  
Tuy nhiên, việc đào tạo trực tuyến được áp dụng vẫn còn chưa nhiều, chưa thực sự  
hiệu quả. Vì vậy việc xây dựng bài giảng trực tuyến trên Moodle LMS là một xu thế  
rất cấp thiết nhằm tạo tính linh động, mềm dẻo cho quá trình đào tạo. Với hệ thống này  
người học có thể học mọi lúc, mọi nơi dáp ứng nhu cầu học tập suốt đời của người  
học, đặc biệt là trong tình hình diễn biến phức tạp của dịch bệnh Covid 19 hiện nay.  
4. Tóm tắt kết quả nghiên cứu:  
Kết quả của đề tài đã xây dựng một bộ bài giảng trực tuyến cho học phần Ứng  
dụng Công nghệ thông tin trong Hóa học dành cho sinh viên đại học ngành Công nghệ  
vật liệu của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật. Bộ bài giảng gồm có:  
- Đề cương chi tiết với các nội dung giảng dạy đảm bảo các yêu cầu về chuẩn đầu  
ra của học phần bao gồm kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp.  
- Kế hoạch học tập chi tiết và cách thức kiểm tra, đánh giá đối với mỗi buổi học và  
cả học phần Ứng dụng Công nghệ thông tin trong Hóa học.  
- Bài giảng và tài liệu cho từng buổi học, các liên kết có nội dung liên quan đến các  
chương của bài giảng.  
- Các video, audio tương ứng với mỗi bài giảng.  
- Các câu hỏi kiểm tra, bài tập cho từng buổi học.  
- Ngân hàng câu hỏi thi cho cả học phần Ứng dụng Công nghệ thông tin trong Hóa  
học.  
5. Tên sản phẩm: Bộ bài giảng trực tuyến cho học phần Ứng dụng công nghệ thông  
tin trong Hóa học.  
6. Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:  
- Tăng cường tính tự học, tự nghiên cứu, tạo ý thức nghiêm túc, độc lập cho người  
học.  
- Tạo cơ sở để xây dựng các bài giảng trực tuyến cho các học phần tiếp theo.  
- Góp phần vào việc đổi mới phương pháp dạy và học, ứng dụng CNTT trong  
giảng dạy và học tập, từng bước cùng với Nhà trường xây dựng quá trình đào tạo mềm  
dẻo, linh hoạt đặc biệt trong tình hình dịch bệnh Covid có nhiều diễn biến phức tạp  
như hiện nay.  
7. Hình ảnh, sơ đồ minh họa chính  
Ngày  
tháng  
năm  
Hội đồng KH&ĐT đơn vị  
Chủ nhiệm đề tài  
(ký, họ và tên)  
TS. Nguyễn Thanh Hội  
XÁC NHẬN CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT  
INFORMATION ON RESEARCH RESULTS  
1. General information:  
Project title: Developing online courses for the module "Applying Information  
Technology in Chemistry" for teaching to students in Materials technology sector.  
Code number: T2019-06-142  
Coordinator: PhD. Nguyen Thanh Hoi  
Implementing institution: University of Technology and Education  
Duration: from 8/2019 to 8/2020  
2. Objective(s):  
- Developing an online courses for the module Applying Information Technology in  
Chemistry for teaching to students in Materials technology sector of the University of  
Technology and Education, which will contribute to building a more flexible training  
process while the quality of teaching remains constant.  
- Create online courses using Moodle LMS and Microsoft Teams application.  
3. Creativeness and innovativeness:  
The form of online learning - elearning has entered Vietnam for a long time, but up to  
now, online teaching has not been popular nationwide. Currently, the education sector  
is innovating teaching methods and content, especially the application of information  
technology in teaching. Innovating methods and content not only stop at creating  
lesson plans and e-lessons, but teachers can use online training websites to help  
student learning more effective. Online training is a means help for learners to learn  
anytime, anywhere, to learn whatever they like, they need for work and life. It is a  
form of effective support to traditional teaching today. However, the application of  
online training is still not much, not really effective. Therefore, building online courses  
on Moodle LMS is a very urgent trend to create flexibility for the training process.  
With this system, learners can learn anytime, anywhere, to satisfy learners' needs for  
lifelong learning, especially in the current complicated situation of Covid 19 epidemic.  
4. Research results:  
The results of the topic have built a set of online courses for the module Applying  
Information Technology in Chemistry for teaching to students in Materials technology  
sector of the University of Technology and Education, included:  
- Detailed outline with teaching contents to ensure the requirements of the learning  
outcomes of the module including knowledge, skills and professional attitudes.  
- Detailed study plan, test method and evaluation for each lesson and the whole  
module.  
- Lectures and documents for each lesson, links with contents related to the chapters of  
the lecture.  
- The video, audio corresponding to each lecture.  
- The test questions, exercises for each lesson.  
- Bank of exam questions for the section of Information Technology Application in  
Chemistry.  
5. Products: A set of online courses for the module Application of Information  
Technology in Chemistry.  
6. Effects, transfer alternatives of reserach results and applicability:  
- Enhance self-study, self-study, create a sense of seriousness and independence for  
learners.  
- Create a basis for building online courses for the next modules.  
- Contributing to the innovation of teaching and learning methods, applying IT in  
teaching and learning, step by step building a flexible training process, especially in  
the current Covid epidemic, which has many complicated developments.  
MỞ ĐẦU  
1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU  
* Ngoài nước  
Học tập trực tuyến (E-learning) đang trở thành một xu hướng giáo dục mới hiện  
nay, nó đã được áp dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản,  
Hàn Quốc, Singapore… Nhận thấy được những hiệu quả to lớn từ E-learning, các nhà  
giáo dục trên thế giới đã tích cực đầu tư, nghiên cứu cho các chương trình học tập, xây  
dựng các mã nguồn mở như LMS, LCMS (Learning Content Managerment System),  
các công cụ đóng gói nội dung học tập,…  
Mỹ và Châu Âu là những nước tiên phong, đi đầu và có những chương trình, dự án  
đầu tư vào phương pháp học tập E-learning nhằm thúc đẩy sự phát triển đào  
tạo trực tuyến trong các tổ chức và các trường đại học.  
Tại Mỹ, E-learning đã nhận được sự ủng hộ và các chính sách trợ giúp của chính  
phủ ngay từ cuối những năm 90. Theo thống kê của Hội Phát triển và Đạo tạo Mỹ  
(American Society for Training and Development, ASTD), năm 2000 Mỹ có gần 47%  
các trường đại học, cao đẳng đã đưa ra các dạng khác nhau của mô hình đào tạo từ xa,  
tạo nên 54.000 khóa học trực tuyến. Theo các chuyên gia phân tích của Công  
ty Dữ liệu quốc tế (International Data Corporation, IDC), cuối năm 2007 có  
khoảng 90% các trường đại học, cao đẳng của Mỹ đưa ra mô hình E-learning, số  
người tham gia học tập tăng 43% hàng năm trong khoảng thời gian từ 2004-2007. E-  
learning không chỉ được triển khai ở các trường đại học mà ngay ở các công ty việc  
xây dựng và triển khai cũng diễn ra rất mạnh mẽ. Có rất nhiều công ty thực hiện việc  
triển khai E-learning thay cho phương thức đào tạo truyền thống và đã mang lại hiệu  
quả cao. Do thị trường rộng lớn và sức thu hút mạnh mẽ của E-learning nên hàng loạt  
các công ty đã chuyển sang hướng chuyên nghiên cứu và xây dựng các giải pháp  
về E-learning như: Click2Learn, Global Learning Systems, Smart Force...  
Trong những gần đây, châu Âu đã có một thái độ tích cực đối với việc phát triển  
công nghệ thông tin cũng như ứng dụng nó trong mọi lĩnh vực kinh tế - xã hội, đặc  
biệt là ứng dụng trong hệ thống giáo dục. Các nước trong Cộng đồng châu Âu đều  
nhận thức được tiềm năng to lớn mà công nghệ thông tin mang lại trong việc  
mở rộng phạm vi, làm phong phú thêm nội dung và nâng cao chất lượng của nền  
giáo dục [3]. Ngoài việc tích cực triển khai E-learning tại mỗi nước, giữa các nước  
châu Âu có nhiều sự hợp tác đa quốc gia trong lĩnh vực E-learning. Điển hình là dự án  
xây dựng mạng xuyên châu Âu EuroPACE. Đây là mạng E-learning của 36 trường đại  
học hàng đầu châu Âu thuộc các quốc gia như Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Anh, Pháp cùng  
hợp tác với công ty E-learning của Mỹ Docent nhằm cung cấp các khoá học về các  
1
 
lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, con người phù hợp với nhu cầu học của các sinh  
viên đại học, sau đại học, các nhà chuyên môn ở châu Âu.  
Tại châu á, E-learning vẫn đang ở trong tình trạng sơ khai, chưa có nhiều thành  
công vì một số lý do như: các quy tắc, luật lệ bảo thủ, tệ quan liêu, sự ưa chuộng đào  
tạo truyền thống của văn hóa châu á, vấn đề ngôn ngữ không đồng nhất, cơ sở hạ tầng  
nghèo nàn và nền kinh tế lạc hậu ở một số quốc gia châu á. Tuy vậy, đó chỉ là những  
rào cản tạm thời do nhu cầu đào tạo ở châu lục này cũng đang trở nên ngày càng  
không thể đáp ứng được bởi các cơ sở giáo dục truyền thống buộc các quốc gia châu á  
đang dần dần phải thừa nhận tiềm năng không thể chối cãi mà E-learning mang lại.  
Một số quốc gia, đặc biệt là các nước có nền kinh tế phát triển hơn tại châu á cũng  
đang có những nỗ lực phát triển E-learning tại đất nước mình như: Nhật Bản,  
Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan,Trung Quốc,...  
Nhật Bản là nước có ứng dụng E-learning nhiều nhất so với các nước khác trong  
khu vực. Môi trường ứng dụng E-learning chủ yếu là trong các công ty lớn, các  
hãng sản xuất, các doanh nghiệp... và dùng để đào tạo nhân viên.  
* Trong nước  
Vào khoảng năm 2002 trở về trước, các tài liệu nghiên cứu, tìm hiểu về E-learning  
ở Việt Nam không nhiều. Trong hai năm 2003-2004, việc nghiên cứu E-learning ở  
Việt Nam đã được nhiều đơn vị quan tâm hơn. Nhiều hội nghị, hội thảo về công nghệ  
thông tin và giáo dục đều có đề cập nhiều đến vấn đề E-learning và khả năng áp dụng  
vào môi trường đào tạo ở Việt Nam như: Hội thảo nâng cao chất lượng đào tạo  
ĐHQGHN năm 2000, Hội nghị giáo dục đại học năm 2001, Hội thảo khoa học quốc  
gia lần thứ nhất về nghiên cứu phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin và truyền  
thông ICT/rda 2/2003, Hội thảo khoa học quốc gia lần II về nghiên cứu phát triển và  
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông ICT/rda 9/2004, và hội thảo khoa học  
“Nghiên cứu và triển khai E-learning” do Viện Công nghệ Thông tin (ĐHQGHN) và  
Khoa Công nghệ Thông tin (Đại học Bách khoa Hà Nội) phối hợp tổ chức đầu tháng  
3/2005 là hội thảo khoa học về E-learning đầu tiên được tổ chức tại Việt Nam.  
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu học tập của nhân dân ngày càng lớn, hệ thống  
trường lớp tuy đã được đầu tư phát triển vượt bậc cả về số lượng và chất lượng song  
cũng không thể đáp ứng được nhu cầu học tập đa dạng của người học. Trước thực tế  
đó, Đảng ta nêu ra định hướng "Đẩy mạnh phong trào học tập trong nhân dân bằng  
những hình thức giáo dục chính quy và không chính quy, thực hiện giáo dục cho mọi  
người, cả nước trở thành một xã hội học tập". Từ định hướng trên, Ngành GDĐT đã  
xây dựng chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2010, trong đó nhấn mạnh "Phát triển  
giáo dục không chính quy như là một hình thức huy động tiềm năng của cộng đồng, để  
xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội cho mọi người ở mọi trình độ, mọi lứa tuổi, mọi  
2
nơi có thể học tập suốt đời, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện của mỗi cá nhân, góp  
phần nâng cao dân trí và chất lượng nguồn nhân lực". E-learning là một trong những  
phương thức đào tạo góp phần thực hiện mục tiêu trên. Với việc Việt Nam gia nhập  
WTO và hội nhập vào nền kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng, giáo dục Việt Nam  
đang đứng trước những thách thức đào tạo những công dân tương lai có đầy đủ năng  
lực, trí tuệ, khả năng tự học, tự nâng cấp mình trong môi trường cạnh tranh ngày càng  
khốc liệt.  
Bộ GDĐT cũng đã có nhiều động thái tích cực nhằm khuyến khích đưa công nghệ  
thông tin vào giảng dạy, đưa các kiến thức về E-learning tới những cán bộ quản lý, nhà  
giáo, những người quan tâm tới giáo dục, sinh viên- sinh viên. Hiện nay chúng ta đã  
nghệ. Đã Việt hóa phần mềm mã nguồn mở Moodle (để xây dựng và quản lý hệ thống  
học tập trực tuyến), đã sử dụng công nghệ SCORM (chuẩn được thế giới công nhận,  
để có thể hợp tác và phát triển trong lĩnh vực công nghệ thông tin) và đang triển khai  
chuyển giao các phần mềm công cụ tạo bài giảng đạt chuẩn quốc tế miễn phí giúp xuất  
bản các định dạng file tuân chuẩn SCORM như Exe, Lectora, Violet...phù hợp với nhu  
cầu của nước ta.  
Tuy nhiên E-learning ở nước ta hiện nay mới đang ở mức sơ khai, số lượng và chất  
lượng chưa cao, phạm vi và đối tượng tham gia còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất cần  
thiết. Tỷ lệ giờ online trực tiếp giữa giáo viên và học viên trên mạng còn thấp, việc trả  
lời hướng dẫn phải được thực hiện nguội, thiếu phương pháp và đội ngũ cán bộ giảng  
dạy. Hiện nay vẫn còn không ít sinh viên chưa có hoặc chưa biết sử dụng máy vi tính,  
mạng Internet. Đây là một thực tế vô cùng khó khăn trong quá trình học tập. Cũng  
theo đánh giá của Bộ GD&ĐT thì hiện nay đang có tình trạng một số trường chạy theo  
số lượng, thành tích, phát triển quy mô quá nhanh so với khả năng đảm bảo chất lượng  
đào tạo, so với điều kiện về đội ngũ giảng viên và trợ giảng. Việc tổ chức đánh giá  
chất lượng còn nhiều hạn chế. Chính vì vậy nhiều người còn hoài nghi về chất lượng  
E-learning, tâm lý học truyền thống vẫn còn ăn sâu trong người học. Trong tương lai  
những vấn đề này cần được cải thiện và khắc phục.  
2. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI  
Với mục tiêu hiện nay của giáo dục, theo khẩu hiệu của UNESCO đặt ra cho giáo  
dục và đào tạo của thế kỷ XXI là “Học ở mọi nơi, học ở mọi lúc, học suốt đời, dạy cho  
mọi người với mọi trình độ tiếp thu khác nhau”. Và nhiệm vụ của giáo dục phải “giúp  
cho người học đạt được những kiến thức và kỹ năng, và giúp cho họ có thể tiếp tục  
việc học tập suốt cuộc đời” [7]. Để làm được điều đó, việc học không chỉ còn giới hạn  
trong nhà trường mà đã được mở rộng hơn về không gian, thời gian và đa dạng hơn về  
3
hình thức tổ chức, hỗ trợ cho nhu cầu “tự học” và “học suốt đời” của mỗi người. Trong  
Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2005-2010” của chính phủ cũng nêu rõ:  
“xây dựng cả nước trở thành một xã hội học tập với tiêu chí cơ bản là tạo cơ hội và  
điều kiện thuận lợi để mọi người ở mọi lứa tuổi, mọi trình độ được học tập thường  
xuyên, học liên tục, học suốt đời ở mọi nơi, mọi lúc, mọi cấp, mọi trình độ; huy động  
sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia xây dựng và phát triển giáo dục; mọi  
người, mọi tổ chức đều có trách nhiệm, nghĩa vụ trong việc học tập và tham gia tích  
cực xây dựng xã hội học tập” [1]. Vì vậy, cần phải đưa ra những giải pháp cho vấn đề  
này, một trong số đó chính là học tập trực tuyến.  
Mặt khác, từ tháng 02/2020, việc tạm cho các sinh viên và sinh viên không đến  
trường vì đại dịch Covid-19 đã tạo một cơ hội cho hệ thống giáo dục Việt Nam trong  
việc dạy và học trực tuyến. Từ bị động, bỡ ngỡ, nền giáo dục đã có những bước  
chuyển mạnh mẽ. Đây được xem là hệ quả khách quan theo thông điệp mà Bộ GDĐT  
đã chỉ đạo là “tạm dừng đến trường, không dừng học”. Theo đó, học sinh phổ thông  
học qua các kênh truyền hình và các ứng dụng Internet, còn sinh viên thì đại đa số sử  
dụng các ứng dụng trực tuyến khác nhau từ nỗ lực tự thân của các cơ sở giáo dục và sự  
đồng hành với trách nhiệm xã hội cao của các nhà cung cấp dịch vụ trực tuyến trong  
và ngoài nước. Câu chuyện dạy và học theo tiếp cận trực tuyến đối với tất cả các  
hệ/bậc trong hệ thống giáo dục Việt Nam mới đầu có nhiều bỡ ngỡ từ người dạy,  
người học, các cơ sở giáo dục và các bên liên quan. Tuy nhiên, cho đến giờ phút này  
về cơ bản tiếp cận dạy và học trực tuyến đã bước đầu giải quyết thành công những khó  
khăn trong tình huống không tập trung được. Thành công này đến từ nỗ lực của nhiều  
bên liên quan; trong đó, có người dạy, người học và cả phụ huynh. Nhà trường đứng  
bên cạnh với nhiệm vụ hỗ trợ xây dựng nền tảng công nghệ, hệ thống CNTT sao cho  
tối ưu việc dạy của giáo viên. Thực tế, ngay khi dịch Covid-19 bùng phát, Thủ tướng  
chính phủ và các bộ, ban ngành liên quan đã có những chỉ đạo kịp thời, phù hợp với xu  
thế toàn cầu cho hệ thống giáo dục quốc gia ứng phó với đại dịch đang diễn ra hơn 200  
quốc gia thế giới. Đáng nói, trước đây Bộ GDĐT đã từng khuyến khích hệ thống giáo  
dục triển khai dạy và học trực tuyến với giới hạn 30% thời lượng từ năm 2016. Tính  
đến gần giữa tháng 3/2020, công văn số 795/BGDĐT-GDĐH được ban hành nhằm chi  
tiết hóa và hướng dẫn việc triển khai về dạy và học trực tuyến cho cả hệ thống giáo  
dục theo hướng ứng dụng CNTT, nhưng vẫn phải đảm bảo chuẩn chất lượng cơ bản  
trong quá trình đào tạo. Tiếp đó, gần cuối tháng 3/2020, công văn 988/BGDĐT-  
GDĐH được ban hành nhằm khẳng định hệ thống giáo dục sẽ tiến hành đánh giá học  
phần dạy trực tuyến theo hình thức thi học phần trực tuyến với các quy trình đảm bảo  
chất lượng hệ thống. Theo nhiều chuyên gia giáo dục, đây là một bước tiến lớn về chỉ  
đạo chính sách nhằm giúp hệ thống giáo dục Việt Nam từng bước chuyển từ dạy-học  
4
trực tuyến tiến tới dạy-học-thi trực tuyến, dựa trên các hoàn thiện từng bước về tính  
sẵn sàng, công nghệ và công tác triển khai trong thực tiễn gắn với kỳ vọng đảm bảo  
chất lượng toàn hệ thống.  
Hòa cùng xu thế của thế giới và thực hiện ý kiến của đạo của Bộ GDĐT, việc giảng  
dạy và thi trực tuyến cũng đã được triển khai tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật.  
Vì thế, đề tài “Xây dựng bài giảng trực tuyến cho học phần Ứng dụng Công nghệ  
thông tin trong Hóa học phục vụ giảng dạy cho sinh viên đại học ngành Công nghệ  
vật liệu” được chọn lựa cũng góp phần vào việc triển khai thực hiện giảng dạy trực  
tuyến tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật.  
3. MỤC TIÊU  
Mục tiêu đặt ra của đề tài là xây dựng một bài giảng trực tuyến cho học phần Ứng  
dụng Công nghệ thông tin trong Hóa học dành cho sinh viên đại học ngành Công nghệ  
vật liệu của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật, tiếp đó là tạo được khóa học trực tuyến  
bằng cách sử dụng Moodle LMS. Điều này sẽ góp phần cùng với Nhà trường xây dựng  
quá trình đào tạo được mềm dẻo, linh hoạt hơn trong khi chất lượng giảng dạy vẫn  
không đổi.  
4. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
* Cách tiếp cận  
- Đọc và tham khảo tài liệu về thiết kế bài giảng trực tuyến trên Moodle LMS.  
- Sử dụng các cơ sở dữ liệu tìm kiếm được để tạo tạo bài giảng trên Moodle LMS  
* Phương pháp nghiên cứu  
- Thu thập dữ liệu và các thông tin liên quan đến đề tài  
- Tiến hành thực nghiệm trên một hệ thống (trang web) có sẵn. Từ những chức  
năng trên trang này, tiến hành biên soạn, xây dựng bài giảng và tạo khóa học trực  
tuyến.  
5. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  
* Đối tượng nghiên cứu  
Chúng tôi đã chọn nghiên cứu tìm hiểu phương pháp học trực tuyến (E-learning)  
và tổ chức cấu trúc bài giảng Ứng dụng Công nghệ thông tin trong Hóa học trong  
giảng dạy tích hợp trên Moodle LMS, từ đó tạo khóa học trực tuyến trên ứng dụng  
Microsoft Teams (MS Teams), tạo cơ sở cho việc giới thiệu và phát triển hệ thống  
quản lý học tập mã nguồn mở Moodle trong trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật.  
* Phạm vi nghiên cứu  
5
Nghiên cứu này chỉ đề cập đến việc xây dựng bài giảng Ứng dụng Công nghệ  
thông tin trong Hóa học giảng dạy cho sinh viên ngành Công nghệ vật liệu trên  
Moodle LMS và triển khai giảng dạy trên ứng dụng MS Teams.  
6. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
- Nghiên cứu lý thuyết, các nội dung liên quan đến đề tài.  
- Xây dựng cấu trúc bài giảng Ứng dụng Công nghệ thông tin trong Hóa học  
trong giảng dạy tích hợp trên Moodle LMS.  
- Triển khai giảng dạy học phần Ứng dụng Công nghệ thông tin trong Hóa học  
trên ứng dụng MS Teams.  
Với các nội dung trên thì báo cáo tổng kết này được trình bày theo 3 chương.  
Chương đầu tiên là tổng quan lý thuyết sẽ mô tả về Elearning, ứng dụng Moodle  
trong hệ thống quản lý học tập LMS và ứng dụng MS Teams để triển khai hoạt động  
giảng dạy.  
Chương hai giới thiệu về cách xây dựng bài giảng trực tuyến tích hợp trên  
Moodle LMS và cách thức tổ chức lớp học trên ứng dụng MS Teams.  
Chương ba trình bày các kết quả đạt được và thảo luận.  
Và cuối cùng là kết luận và kiến nghị.  
6
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT  
1.1. E-LEARNING  
1.1.1. Định nghĩa [2]  
E-learning là việc ứng dụng công nghệ thông tin, internet vào việc dạy và học nhằm  
làm cho công việc giáo dục trở nên dễ dàng, rộng rãi và hiệu quả hơn.  
E-learning là tập hợp đa dạng các phương tiện, công nghệ kỹ thuật cho giáo dục như  
văn bản, âm thanh, hình ảnh, mô phỏng, trò chơi, phim, thư điện tử, các diễn đàn thảo  
luận, các forum, …  
E-learning cung cấp nội dung đào tạo trên nền Web có thể được cập nhật, phát hành  
tức thời và thống nhất trên toàn cầu. Cung cấp nhiều công nghệ khác nhau để thiết lập  
một giải pháp đào tạo tổng thể. Phương pháp mô phỏng và những bài tập, bài kiểm tra  
sau khi kết thúc bài giảng, chương, phần và khóa học cho phép sinh viên tự kiểm tra,  
đánh giá kết quả học tập và kỹ năng của mình.  
E-Learning giúp cho cán bộ, giảng viên, sinh viên toàn trường hoàn toàn có thể học  
tập bất cứ khi nào (ban ngày hay ban đêm); tại bất cứ đâu (ở nhà, văn phòng làm việc  
hay thư viện nội bộ). Với sinh viên, nó mở ra một thế giới học tập mới, dễ dàng, linh  
hoạt và chủ động hơn nhiều. Ví dụ: Giảng viên có thể gửi bài giảng điện tử cho sinh  
viên qua email hoặc website của Trường trước khi lên lớp; tại lớp, giảng viên chỉ tập  
trung hướng dẫn sinh viên lĩnh hội những kiến thức quan trọng hoặc thảo luận thay vì  
thuyết trình toàn bộ nội dung bài giảng và đọc chép.  
E-Learning giúp việc học tập trở nên thú vị hơn, hấp dẫn hơn và thuyết phục hơn,  
đặc biệt là đối với các môn học khó và dễ nhàm chán nhờ các slide, hình ảnh, video và  
audio minh họa một cách sinh động.  
Cán bộ, giảng viên và sinh viên cần giao tiếp, cộng tác và chia xẻ kiến thức thì E-  
Learning có thể giúp chúng ta thu được những kết quả chắc chắn và lâu dài, không chỉ  
thông qua nội dung mà đồng thời bằng cả cộng đồng mạng trực tuyến, hỗ trợ “học tập  
thông qua nhận xét và thảo luận”.  
E-Learning cho phép sinh viên tự quản lí được tiến trình học tập của mình theo cách  
phù hợp nhất. Chúng ta có nhiều cách học khác nhau như đọc, xem, khám phá, nghiên  
cứu, tương tác, thực hành, giao tiếp, thảo luận, chia xẻ kiến thức. Với E-Learning sinh  
viên có thể truy cập tới rất nhiều nguồn tài nguyên phục vụ cho học tập. Như vậy, mỗi  
người đều có quyền chọn lựa hình thức học tập phù hợp nhất với khả năng và điều  
kiện của mình.  
E-Learning giúp cho việc học tập vẫn có thể được tiến hành gần như đồng thời  
trong quá trình làm việc. Thực tế, 70% dung lượng học tập diễn ra trong quá trình làm  
7
     
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 64 trang yennguyen 20000 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Xây dựng bài giảng trực tuyến cho học phần “Ứng dụng công nghệ thông tin trong hóa học” phục vụ giảng dạy cho sinh viên đại học ngành Công nghệ vật liệu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_xay_dung_bai_giang_truc_tuyen_cho_hoc_phan_un.pdf