Báo cáo Đề tài Vận dụng lý thuyết phát triển văn hóa doanh nghiệp cho một số doanh nghiệp Việt Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI  
------------o0o------------  
BÁO CÁO TỔNG KẾT  
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG  
VẬN DỤNG LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN VĂN  
HÓA DOANH NGHIỆP CHO MỘT SỐ DOANH  
NGHIỆP VIỆT NAM  
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: ThS. TRẦN THỊ HOÀNG HÀ  
Hà Nội, năm 2017  
PHꢀN Mꢁ ĐꢀU  
1.Tꢂnh cꢃp thiꢄt cꢅa đꢆ tꢇi  
Văn hoá được hiểu như một hệ thống những chuẩn mực và giá trị mà những  
thành viên trong cộng đồng tác động lẫn nhau, thực hiện và sự tác động ấy tạo nên một  
sự khác biệt. Và, cũng như nhà xã hội học Anh, Tylor cuối thế kỷ 19 cho rằng, Văn  
hoá được hiểu như là một sự văn minh mà trong đó nó chứa đựng cả về những vấn đề  
trí thức, luật lệ, nghệ thuật, nhân bản, niềm tin và tất cả những khả năng mà những  
người trong cộng đồng đó lĩnh hội và thực hành.  
Nếu văn hoá là những hệ thống chuẩn mực và giá trị mà mọi người trong một  
cộng đồng người được chia sẻ thực hiện, thì Văn hóa doanh nghiệp cũng là những  
chuẩn mực hay những giá trị mà những người trong công ty cùng được chia sẻ và tuân  
thủ theo. Tuy vậy, một vấn đề phải được hiểu rằng, văn hóa doanh nghiệp không có  
nghĩa rằng nó phải bền vững, hay bất di bất dịch, mà nó cởi mở, luôn luôn được lĩnh  
hội, trau dồi, và đôi khi bị mất đi. Tức là có một sự giao thoa về văn hoá.  
Văn hóa doanh nghiệp rất cần thiết cho một doanh nghiệp, nó có thể làm cho một  
tổ chức doanh nghiệp phát triển, và nếu thiếu nó, sẽ làm cho công ty lụi tàn. Theo  
những nghiên cứu của những nhà xã hội học Mỹ thì những công ty tuân thủ và thực  
hiện một văn hóa doanh nghiệp chính đáng, thì giá trị của nó có thể sẽ tăng lên 200%,  
và có nhiều doanh nghiệp còn đạt được hiệu quả cao hơn như những công ty General  
Electric (GE), Southwest Airline, ConAgra, IBM,…  
Văn hoá doanh nghiệp còn được coi là nền tảng để phát triển doanh nghiệp, được  
cấu thành bởi mục đích kinh doanh và phương pháp kinh doanh. Là tổng hoà các quan  
niệm về giá trị được tạo ra từ đạo đức, ý tưởng kinh doanh, triết lý kinh doanh, mục  
đích kinh doanh, phương pháp kinh doanh và hiệu quả phục vụ cho chính những con  
người cần cù lao động sáng tạo để tạo ra ngày càng nhiều của cải vật chất cho xã hội…  
Dù có diễn giải thế nào thì văn hoá doanh nghiệp vẫn phải dựa trên cơ sở là cách thức  
ứng xử của mỗi thành viên trong doanh nghiệp mà biểu hiện của nó là các hành vi  
quản lý lao động, sáng tạo lao động và các hoạt động của doanh nghiệp phải phù hợp  
1
với các quy định của pháp luật trong mặt bằng chung và của hiệp hội ngành nghề nói  
riêng.  
Phát triển văn hóa doanh nghiệp là việc tạo lập và duy trì các lớp văn hóa doanh  
nghiệp, thông qua đó phát huy hiệu quả hiệu ứng tích cực của văn hóa doanh nghiệp  
tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Phát triển văn hóa doanh nghiệp là  
một quá trình liên tục, lâu dài, do vậy cần có mô hình để đánh giá các mức độ phát  
triển văn hóa doanh nghiệp, thực hiện so sánh mức độ phát triển văn hóa doanh nghiệp  
trong bối cảnh phát triển chung của cộng đồng doanh nghiệp, thực hiện so sánh phát  
triển văn hóa doanh nghiệp qua từng giai đoạn để có những điều chỉnh kịp thời từ  
chiến lược đến chiến thuật phát triển văn hóa doanh nghiệp.  
Bộ môn Quản trị học hiện đang giảng dạy học phần Văn hóa kinh doanh. Theo  
kết cấu của học phần hiện nay, học phần có 4 chương. Trong đó, chương 4 có nội dung  
là “Xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp”. Trong quá trình giảng dạy nội dung  
chương 4, một số vấn đề được đặt ra như: Thế nào là xây dựng văn hóa doanh nghiệp,  
thế nào là phát triển văn hóa doanh nghiệp, làm thế nào để đánh giá sự phát triển văn  
hóa doanh nghiệp. Bên cạnh đó, hoạt động giảng dạy luôn đòi hꢀi phải bổ sung thông  
tin thực tiễn. nhằm giúp sinh viên có cái nhìn đầy đủ hơn và có khả năng tiếp cận với  
thực tiễn tốt hơn.  
Xuất phát từ những phân tích trên tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Vꢀn dꢁng lꢂ  
thuyꢃt phꢄt triꢅn văn hꢆa doanh nghiꢇp chomꢈt sꢉ doanh nghiꢇp Viꢇt Nam”  
2. Tꢈng quan tꢉnh hꢉnh nghiên cꢊu đꢆ tꢇi:  
2.1 Những nghiên cứu ở nước ngoài  
Adrian Gostish (2014), Xây Dựng Văn Hóa Doanh Nghiệp, NXB Thanh Hóa.  
Cuốn sách tiếp cận dựng văn hóa như một nội dung của chiến lược kinh doanh. Tác  
giả coi đây là nội dung mà đa số các nhà lãnh đạo hàng đầu thế giới sử dụng để tạo ra  
thành tựu vượt trội. Khi mọi yếu tố hỗ trợ cho việc xây dựng văn hóa tích cực trong tổ  
2
chức đã sẵn sàng, công việc hiển nhiên sẽ trở nên thú vị và hiệu quả. Cuốn sách đưa ra  
lộ trình 7 bước này để cải thiện văn hóa của bất kỳ tổ chức  
Edar.H.Schein (2012), Văn hóa doanh nghiệp và sự lãnh đạo, NXB Thời đại.  
Cuốn sách tập trung nhiều vào các thực trạng phức tạp trong hoạt động kinh doanh  
ngày nay và thông qua việc nghiên cứu trong phạm vi rộng, mang tính thời đại để trình  
bày những vai trò then chốt của người lãnh đạo khi ứng dụng những nguyên tắc văn  
hóa để đạt được các mục tiêu về tổ chức.  
Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu xem công tác lãnh đạo và văn hóa tổ chức về căn  
bản đã hòa quện gắn kết với nhau như thế nào, cho thấy một số kết quả quan trọng,  
bao gồm:  
- Những nhà lãnh đạo là các doanh nhân và là nhà thiết kế chủ đạo của văn hóa  
tổ chức  
- Một khi văn hóa đã được hình thành, nó sẽ ảnh hưởng đến việc xác định loại  
hình lãnh đạo nào là khả thi trong tổ chức.  
Nếu các yếu tố của văn hóa trở nên không còn phù hợp nữa, trách nhiệm của  
người lãnh đạo là tiến hành những hoạt động nhất định để đẩy nhanh quá trình thay đổi  
văn hóa. Thêm vào đó, tác phẩm này chứa đựng những nội dung mới, phản ánh văn  
hó ở nhiều cấp độ phân tích khác nhau, từ văn hóa vĩ mô quốc gia và dân tộc đến văn  
hóa vi mô mang tính đội nhóm.  
2.2 Những nghiên cứu ở trong nước  
PGS,TS Nguyễn Mạnh Quân (2015), Giáo trình đạo đức kinh doanh và văn hóa  
công ty, NXB Kinh tế quốc dân. Cuốn sách mô tả các yếu tố cấu thành văn hóa doanh  
nghiệp theo 2 nhóm: các biểu hiện trực quan và phi trực quan. Cuốn sách tập trung vào  
sự khó khăn của việc quản lý một tổ chức "đa sở hữu, tham gia điều hành và trực tiếp  
kiểm soát" ở các công ty lớn ở Mỹ và sự trì trệ trong việc chuyển đổi cơ cấu tổ chức và  
chậm chạm trong việc vận dụng cơ chế quản lý phủ hợp đã đẩy các công ty rất lớn với  
3
những danh tiếng đã được định hình tưởng chứng như rất vững chắc như Chrysler,  
McDonnell Douglas hay WordCom, Enron phải trả giá bằng chính sự phá sản.  
PGS,TS Đỗ Thị Phi Hoài(2011), Giáo trình văn hóa doanh nghiệp, NXB Tài  
chính. Cuốn sách này tác giả trình bày rõ thế nào là văn hóa doanh nghiệp và các yếu  
tố cấu thành văn hóa doanh nghiệp. Đồng thời tác giả cho rằng cần phải có những cách  
thức để thay đổi văn hóa  
PGS, TS Dương Thị Liễu (2012), Giáo trình văn hóa kinh doanh, NXB Kinh tế  
quốc dân. Văn hóa là một lĩnh vực đa dạng và phức tạp. Có rất nhiều quan điểm khác  
nhau về văn hóa nên việc nghiên cứu và lựa chọn một cách tiếp cận văn hóa có ý  
nghĩa quan trọng cho việc tiếp cận những nội dung tiếp theo liên quan đến văn hóa  
kinh doanh. Cuốn sách nghiên cứu văn hóa doanh nghiệp như một yếu tố cấu thành  
văn hóa kinh doanh  
Nguyễn Hải Minh (2015) Luận án tiến sỹ : “Văn hóa doanh nghiệp tại các ngân  
hàng thương mại việt nam trong tiến trình hội nhập quốc tế ( phân tích trường hợp  
ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương việt nam)”, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
Trong luận án, tác giả đã tổng hợp lý thuyết các mô hình đánh giá văn hóa doanh  
nghiệp. Sau khi so sánh các mô hình, tác giả đã lựa chọn mô hình OCAI của Camaron  
và Quinn để thực hiện nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại Nhà nước ở Việt  
Nam, trong đó Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương được chọn làm mẫu  
nghiên cứu có tính điển hình. Kết quả nghiên cứu đã khái quát được “bức tranh” về kết  
quả đánh giá các cấp độ VHDN tại các NHTM nhà nước ở Việt Nam. Nhìn chung về  
tổng thể, các cấp độ VHDN đều được đánh giá ở mức khá tốt sau khi Việt Nam gia  
nhập WTO. Điều này cũng phản ánh tín hiệu tích cực đối với các chương trình xây  
dựng VHDN tại các ngân hàng. Vai trò của VHDN cũng được coi trọng hơn và những  
thuộc tính về tính sáng tạo trong tổ chức cũng được đề cao hơn. Nghiên cứu cũng cho  
thấy mô hình VHDN của các NHTM nhà nước ở Việt Nam có dịch chuyển từ hướng  
nội sang tính hướng ngoại nhiều hơn từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Xu hướng  
4
chung là như vậy, tuy nhiên sự dịch chuyển mô hình văn hóa cũng khá khác nhau giữa  
các ngân hàng.  
Dương thị Thanh mai, (2015), xây dựng văn hóa doanh nghiệp tại Việt Nam,  
thực trạng và giải pháp, tạp chí Khoa học và công nghệ lâm nghiệp số 1-2015. Bài viết  
đã sử dụng tiếp cận của Edar.H.Schein để đánh giá thực trạng văn hóa doanh nghiệp  
tại Việt Nam. Từ đó tác giả đã khái quát bức tranh về thực trạng xây dựng văn hóa  
doanh nghiệp tại Việt Nam và đưa ra các giải pháp mang tính khuyến nghị để các  
doanh nghiệp xây dựng văn hóa doanh nghiệp  
Đỗ Tiến Long (2015) Đánh giá văn hóa trong doanh nghiệp nhꢀ và vưa Việt  
Nam, tập chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và kinh doanh, số 1, 2015. Bài viết của tác  
giả đã thực hiện hệ thống hóa một số mô hình nghiên cứu về đánh giá văn hóa doanh  
nghiệp. Trong đó, tác giả đã sử dụng mô hình DOCS của Denison để nghiên cứu điển  
hình tại một DNVVN ở Việt Nam. Từ kết quả khảo sát, tác giả nhân rộng kết quả  
nghiên cứu để đưa ra một số khuyến nghị về phát triển văn hóa cho các DNVVN ở  
Việt Nam. Việc nghiên cứu một doanh nghiệp để đưa ra khuyến nghị cho các DNVVN  
là chưa đảm bảo về cơ sở thực tiễn  
3. Mꢋc tiêu vꢇ nhiꢌm vꢋ nghiên cꢊu:  
Mꢋc tiêu nghiên cꢊu: Tổng hợp một số lý thuyết về đánh giá sự phát triển văn hóa  
doanh nghiệp và vận dụng các lý thuyết này trong đánh giá phát triển văn hóa doanh  
nghiệp ở một số doanh nghiệp điển hình. Từ đó, đề xuất các điều chỉnh về lý thuyết  
phục vụ giảng dạy học phần Văn hóa kinh doanh và xây dựng tình huống về văn hóa  
doanh nghiệp để phục vụ giảng dạy.  
Nhiꢌm vꢋ nghiên cꢊu:  
- Tổng hợp một số mô hình đánh giá phát triển văn hóa doanh nghiệp  
- Vận dụng các mô hình này trong thực tiễn tại một số doanh nghiệp  
5
- Đề xuất điều chỉnh các nội dung lý thuyết trong giảng dạy học phần Văn hóa kinh  
doanh  
4. Đꢍi tưꢎng vꢇ phꢏm vi nghiên cꢊu.  
Đꢍi tưꢎng nghiên cꢊu: Nghiên cứu lý thuyết về phát triển văn hóa doanh nghiệp và  
đánh giá thực trạng phát triển văn hóa doanh nghiệp ở một số doanh nghiệp điển hình.  
Phꢏm vi nghiên cꢊu  
Về không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trên địa bàn HN.  
Về thời gian: Đề tài thu thập các thông tin về tình hình phát triển văn hóa  
doanh nghiệp điển hình được lựa chọn trong khoảng thời gian từ 2013-  
2017  
Về nội dung: Đề tài tập trung làm rꢁ nội hàm của phát triển văn hóa doanh  
nghiệp, các cơ sở để đánh giá sự phát triển văn hóa doanh nghiệp trong  
các doanh nghiệp được lựa chọn trong nghiên cứu  
4. Kꢄt cꢃu đꢆ tꢇi  
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ Sꢁ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA  
DOANH NGHIỆP  
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHꢐP NGHIÊN CꢑU Vꢒ KꢓT QUꢔ NGHIÊN CꢑU  
THꢕC TRꢖNG PHꢐT TRIỂN VĂN HÓA DOANH NGHIỆP ꢁ MỘT SỐ  
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
CHƯƠNG 3: CꢐC KHUYꢓN NGHꢗ Vꢒ ĐỀ XUꢘT ĐƯꢙC RꢚT RA Tꢛ  
NGHIÊN CꢑU CƠ Sꢁ Lꢜ THUYꢓT PHꢐT TRIỂN VĂN HÓA DOANH  
NGHIỆP Vꢒ Dꢝ LIỆU KHꢔO SꢐT TꢖI CꢐC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM  
6
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ CƠ Sꢁ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA  
DOANH NGHIỆP  
1.1 Các khái niꢌm có liên quan  
1.1.1. Khái niꢇm văn hꢆa  
Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên  
quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Văn hóa gắn liền với  
sự ra đời của nhân loại, hay nói một cách khác văn hóa có từ thưở bình minh của xã  
hội loài người. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh  
một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Có thể nhắc đến một số khái niệm về văn  
hóa như sau:  
Theo E.B. Tylor (1832 – 1971) nhà nhân chủng học người Anh: “ Văn hóa là một  
tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ,  
phong tục và tất cả những khả năng, thói quen, tập quán mà con người đạt được với tư  
cách là thành viên của một xã hội”[5, tr.10]. Theo khái niệm này, văn hóa bao gồm  
những gì liên quan đến đời sống con người, từ tri thức, tín ngưỡng đến nghệ thuật, đạo  
đức, pháp luật… là các lĩnh vực sáng tạo của con người.  
Theo William Graham Sumner (1840 – 1910), viện sĩ Mỹ, giáo sư Đại học Yale  
và Albert Galloway Keller, học trò và cộng sự của ông thì: “Tổng thể những thích nghi  
của con người với các điều kiện sinh sống của họ chính là văn hóa hay văn minh.  
Những sự thích nghi này được đảm bảo bằng con đường kết hợp những thủ thuật như  
biến đổi, chọn lọc và truyền đạt bằng kế thừa”. Theo khái niệm của ông, văn hóa được  
hiểu là các yếu tố liên quan đến sự sinh tồn, thích nghi của con người.  
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống ,  
loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa  
học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc  
ở và các phương tiện, phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó  
tức là văn hóa.”[7, trang 231]. Theo cách định nghĩa này của Chủ tịch thì văn hóa sẽ  
bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo ra và phát minh ra.  
7
GS.TS Trần Ngọc Thêm định nghĩa về văn hóa: “ Văn hóa là một hệ thống hữu  
cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt  
động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội  
của mình”. [10, tr.25]. Khái niệm này đã đưa ra đầy đủ yếu tố về vật chất cũng như  
tinh thần của văn hóa và quá trình hình thành nên văn hóa.  
Thông qua việc tìm hiểu, phân tích các định nghĩa trên, ta có thể hiểu về văn hóa  
như sau: “Văn hꢆa là toàn bꢈ các giá trị về vꢀt chất và tinh thần do con người sáng  
tạo ra trong quꢄ trình lao đꢈng (từ lao đꢈng trí ꢆc đꢃn lao đꢈng chân tay), được chi  
phꢉi bởi môi trường xung quanh (môi trường tự nhiên và xã hꢈi) và tính cách của  
từng tꢈc người. Văn hꢆa ảnh hướng tới tình cảm, ꢂ nghĩ và hành vi của con  
người”.[4, tr.11-12].  
1.1.2. Khái niꢇm văn hꢆa doanh nghiꢇp  
Văn hóa doanh nghiệp như một đặc điểm để phân biệt giữa DN này với DN  
khác. Hiện nay văn hóa doanh nghiệp đã và đang được nhắc tới như là một tiêu chí để  
đánh giá DN; cũng có thể cho rằng văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình của DN.  
Tiếp cận từ các góc độ khác nhau sẽ cho ra được các định nghĩa về VHDN khác nhau,  
nhưng chưa định nghĩa nào được chính thức công nhận.  
Theo nhà xã hội học người Mỹ E.H.Shein: “văn hóa doanh nghiệp là tổng thể  
những thủ pháp và quy tắc giải quyết vấn đề thích ứng bên ngoài và thống nhất bên  
trong các nhân viên, những quy tắc đã tꢀ ra hữu hiệu trong quá khứ và vấn đề cấp thiết  
hiện tại. Những quy tắc và những thủ pháp này là yếu tố khởi nguồn trong việc các  
nhân viên lựa chọn phương thức hành động, phân tích và ra quyết định thích hợp. Các  
thành viên của tổ chức, DN không đắn đo, suy nghĩ về ý nghĩa của những quy tắc, thủ  
pháp ấy mà coi chúng là đúng đắn ngay từ đầu”.  
Theo Georges de Saite Mairie, chuyên gia Pháp về DN vừa và nhꢀ: “văn hóa  
doanh nghiệp là tổng hợp các giá trị, biểu tượng, huyền thoại, nghi thức, các điều cấm  
kị, các quan điểm triết học, đạo đức tạo thành nền móng sâu xa của doanh nghiệp”.  
Khái niệm này đã nêu tương đối đầy đủ các đặc điểm và thành tố cấu thành văn hóa  
8
doanh nghiệp, tuy nhiên vẫn chưa đề cập đến quá trình tồn tại và phát triển của văn  
hóa doanh nghiệp .  
Theo tổ chức lao động quốc tế ( ILO) thì văn hóa doanh nghiệp được định nghĩa  
như sau: “Văn hóa doanh nghiệp là sự trộn lẫn đặc biệt các giá trị, các tiêu chuẩn, thói  
quen và truyền thống, những thái độ ứng xử và lễ nghi mà toàn bộ chúng là duy nhất  
đối với một tổ chức đã biết”. [4, tr.233]. ILO đã nói đúng về văn hóa doanh nghiệp, nó  
là duy nhất và khác nhau của mỗi tổ chức, tạo nên nét riêng của các tổ chức.  
Theo Edgar Schein, chuyên gia nghiên cứu các tổ chức: “Văn hóa công ty là tổng  
hợp các quan niệm chung mà các thành viên trong công ty học được trong quá trình  
giải quyết các vấn đề nội bộ và xử lý các vấn đề với môi trường xung quanh”. [ 4,  
tr.233]. Khái niệm này chỉ mới nói nói đến một phần nhꢀ của văn hóa doanh nghiệp,  
còn thiếu nhiều nhân tố khác về cả vật chất lẫn tinh thần của văn hóa doanh nghiệp.  
Theo quan điểm của 2 học giả Rolff Bergman và Ian Stagg đồng thời là giảng  
viên khoa quản trị kinh doanh trường đại học Monash – Úc cho rằng: “văn hóa doanh  
nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa biểu đạt chung bao trùm lên toàn bộ DN, có tính  
chất quyết định tới mọi hành vi và hoạt động của toàn bộ các thành viên trong DN đó”.  
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về văn hóa doanh nghiệp, các khái niệm này  
đều đề cập đến những nhân tố tinh thần của văn hóa doanh nghiệp như: các quan niệm  
chung, các giá trị, các huyền thoại, các nghi thức,...của doanh nghiệp mà ít đề cập đến  
yếu tố vật chất – nhân tố quan trọng của văn hóa doanh nghiệp. Dù đề cập đến khía  
cạnh nào của văn hóa doanh nghiệp đi nữa thì ta vẫn phải công nhận rằng văn hóa  
doanh nghiệp định hướng cho DN và tạo nên sự khác biệt cho DN. Ta có thể hiểu về  
văn hóa doanh nghiệp như sau: “văn hóa doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hóa  
được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp,  
trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động  
của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên  
của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích”.[4, tr.233-234]  
9
1.1.2 Khái niꢇm phát triꢅn văn hꢆa doanh nghiꢇp  
Ngày nay, văn hóa của mỗi quốc gia đã được định hình một cách rõ ràng qua  
quá trình phát triển từ vài trăm năm đến hàng nghìn năm. Mỗi quốc gia có một nét văn  
hóa đặc trưng riêng biệt, tạo ra sự khác biệt giữa các quốc gia. Ngay cả những quốc gia  
láng giềng, cùng phát triển trên nền văn hóa của một khu vực cũng vẫn tạo ra những  
nét đặc trưng riêng biệt bên cạnh những nét văn hóa tương đồng. Giữa các quốc gia  
láng giềng luôn có sự giao thoa và trộn lẫn về văn hóa nhưng mỗi quốc gia đều cố  
gắng tạo lập những nét đặc trưng cho riêng mình. Văn hóa dân tộc nằm trong mỗi con  
người của một dân tộc và được duy trì, củng cố, phát triển cùng với thời gian.  
Mỗi doanh nghiệp là một tổ chức trong một xã hội nhất định, tại đó những con  
người cùng nhau làm việc và chia sẻ các giá trị văn hóa. Chính vì vậy, không cần bất  
cứ hoạt động có chủ đích của các chủ thế quản lý thì các yếu tố văn hóa doanh nghiệp  
vẫn được các cá nhân mang vào hoạt động trong tổ chức. Do vậy, văn hóa doanh  
nghiệp được hình thành một cách tự phát, rời rạc ở các doanh nghiệp khi mới được  
thành lập. Cùng với thời gian, các yếu tố văn hóa doanh nghiệp dần có những điều  
chỉnh dưới sự tác động của môi trường và chủ thể hoạt động kinh doanh. Môi trường  
kinh doanh biến động tạo ra những tác động tới hoạt động kinh doanh nói chung và tác  
động tới sự phát triển văn hóa của mỗi doanh nghiệp nói riêng. Khi các yếu tố môi  
trường kinh doanh phát triển tích cực hơn thì các doanh nghiệp sẽ quan tâm tới phát  
triển văn hóa doanh nghiêp nhiều hơn. Bên cạnh đó, các chủ thể của hoạt động kinh  
doanh từng bước sẽ điều chỉnh các yếu tố văn hóa doanh nghiệp theo định hướng phát  
triển của doanh nghiệp đã được xác định. Khi đó, sự phát triển văn hóa doanh nghiệp  
dần sẽ đi vào một quỹ đạo ổn định.  
Phát triển văn hóa doanh nghiệp sẽ tạo ra những yếu tố văn hóa riêng biệt cho  
mỗi doanh nghiệp. Các yếu tố văn hóa này tiếp tục được củng cố, duy trì cùng với sự  
phát triển của doanh nghiệp. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, các yếu tố văn hóa  
sẽ tác động tới hành vi của các cá nhân trong doanh nghiệp, từ đó sẽ tác động tới kết  
quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các yếu tố văn hóa doanh  
nghiệp còn ảnh hưởng tới hành vi của các đối tượng có liên quan tới hoạt động kinh  
doanh của doanh nghiệp như khách hàng, nhà cung cấp, đối tác chiến lược…  
10  
Tꢆm lại, phát triꢅn văn hꢆa doanh nghiꢇp là mꢈt quꢄ trình chuyꢅn biꢃn mꢈt cꢄch  
tích cực của cꢄc yꢃu tꢉ văn hꢆa doanh nghiꢇp theo mꢈt định hướng chiꢃn lược nhất  
định mà cꢄc chủ thꢅ quản trị doanh nghiꢇp đꢊ xꢄc định, thông qua đꢆ văn hꢆa  
doanh nghiꢇp sꢋ tꢄc đꢈng tích cực hơn tới hành vi của cꢄc cꢄ nhân trong doanh  
nghiꢇp và từ đꢆ sꢋ tꢄc đꢈng tới kꢃt quả hoạt đꢈng kinh doanh của doanh nghiꢇp, tạo  
dựng hình ảnh trong cꢈng đꢌng.  
Một là, doanh nghiệp tꢀng bưꢁc định hꢂnh cꢃc yếu tố văn hóa cho doanh  
nghiệp mꢂnh.Tùy thuộc vào các yếu tố chủ quan và khách quan khác nhau mà mỗi  
doanh nghiệp có thể tập trung phát triển một số yếu tố văn hóa nhất định trong doanh  
nghiệp của mình. Lựa chọn và phát triển những yếu tố văn hóa nào cho doanh nghiệp  
phụ thuộc vào:  
+ Quan điểm của chủ doanh nghiệp về văn hóa doanh nghiệp. Có chủ doanh  
nghiệp chỉ coi trọng các yếu tố hữu hình nhưng cũng có chủ doanh nghiệp chỉ coi  
trọng các yếu tố vô hình và cũng có những chủ doanh nghiệp coi trọng cả hai nhóm  
yếu tố hữu hình và vô hình. Do vậy, tùy thuộc vào quan điểm của chủ doanh nghiệp ở  
những thời điểm khác nhau sẽ phát triển số lượng các yếu tố văn hóa doanh nghiệp  
khác nhau.  
+ Về điều kiện ngân sách của doanh nghiệp. Để phát triển đầy đủ, toàn diện các  
yếu tố văn hóa doanh nghiệp đòi hꢀi phải có ngân sách tương đối dồi dào mà không  
phải doanh nghiệp nào cũng đáp ứng được. Có nhiều chủ doanh nghiệp nhận thức rất  
rꢁ tầm quan trọng của phát triển văn hóa doanh nghiệp nhưng do tài chính khó khăn  
nên buộc phải cân nhắc lựa chọn một số các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp để đầu tư  
phát triển, các biểu hiện khách doanh nghiệp phải chấp nhận bꢀ qua hoặc dự kiến đầu  
tư phát triển ở những thời điểm thuận lợi trong tương lai. Trong trường hợp này, người  
ta gọi là “lực bất tòng tâm”.  
+ Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp như kiến trúc nội thất, ngoại thất đòi  
hꢀi doanh nghiệp phải có hệ thống cơ sở vật chất tốt, thuộc quyền sử dụng lâu dài.  
Hiện nay, phần lớn doanh nghiệp đang sử dụng các cơ sở vật chất đi thuê nên rất khó  
có thể đầu tư phát triển các yếu tố kiến trúc nội thất, ngoại thất. Bên cạnh đó, một số  
11  
doanh nghiệp khác có quyền sở hữu hoặc sử dụng lâu dài cơ sở vật chất nhưng bị hạn  
chế về mặt bằng nên khó có thể thiết kế kiến trúc nội thất, ngoại thất tương thích với  
sự phát triển văn hóa doanh nghiệp  
+ Về quy mô doanh nghiệp. Ngày nay, các doanh nghiệp có quy mô nhꢀ, siêu  
nhꢀ đang có xu hướng ngày càng tăng do tính linh hoạt của chúng trong quá trình hoạt  
động. Nhiều doanh nghiệp có số nhân sự khoảng trên dưới 10 người. Với quy mô quá  
nhꢀ, các doanh nghiệp khó có thể phát triển các yếu tố như lễ nghi, giai thoại….  
Dù có nhiều rào cản nhưng xu hướng chung các doanh nghiệp sẽ cố gắng phủ  
đầy các yếu tố văn hóa doanh nghiệp ở đơn vị của mình cùng với quá trình phát triển  
của doanh nghiệp  
Hai là, phꢃt triển văn hóa doanh nghiệp hưꢁng tꢁi nâng cao khả năng định  
hưꢁng hành vi cꢃ nhân trong doanh nghiệp  
Ngày nay, trong xu thế văn hóa doanh nghiệp được coi là một trong những yếu  
tố quan trọng để tạo lập sự phát triển bền vững của mỗi doanh nghiệp, nhiều doanh  
nghiệp đang ào ạt xây dựng và phát triển các yếu tố văn hóa doanh nghiệp tại đơn vị  
của mình. Họ lầm tưởng rằng cứ có một slogan, một triết lý, một bộ đồng phục hay  
một lễ nghi của doanh nghiệp tức là có văn hóa doanh nghiệp. Đó là một quan điểm  
sai lầm, bởi vì văn hóa là yếu tố sống, văn hóa doanh nghiệp không chỉ tồn tại về mặt  
hình thức mà văn hóa doanh nghiệp phải ngấm vào từng cá nhân trong tổ chức và có  
khả năng chi phối hành vi của các cá nhân trong phạm vi tổ chức đó một cách có định  
hướng.  
Khi xây dựng các yếu tố văn hóa doanh nghiệp các chủ doanh nghiệp đã có  
những chủ đích nhất định và mong muốn các yếu tố văn hóa doanh nghiệp đó được  
mọi cá nhân trong tổ chức chấp nhận và hành động theo các định hướng đã được định  
hình trong văn hóa doanh nghiệp. Chꢂng hạn như khi doanh nghiệp xây dựng triết lý  
kinh doanh về sự trung thực, tức là chủ doanh nghiệp mong muốn sự trung thực hiện  
diện trong phạm vi toàn bộ tổ chức, trong mọi hành động của mọi cá nhân trong tổ  
chức.  
12  
Để các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp có thể định hướng hành vi các cá nhân  
trong doanh nghiệp thì trước tiên các yếu tố văn hóa doanh nghiệp ấy phải được sự  
chấp nhận của các cá nhân trong doanh nghiệp. Khi mọi người chấp nhận các yếu tố  
văn hóa doanh nghiệp đó thì họ mới sẵn sàng hành động theo định hướng của các yếu  
tố văn hóa đó. Trong quá trình phát triển các yếu tố văn hóa doanh nghiệp thường gặp  
phải một số tình huống sau:  
+Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp như triết lý, chuẩn mực đạo đức, niềm  
tin, lễ nghi, giai thoại… được phát triển quá trừu tượng, chung chung nên các cá nhân  
trong doanh nghiệp không hiểu đầy đủ và không có khả năng hành động phù hợp với  
các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp đó.  
+Một số biểu hiện văn hóa doanh nghiệp như triết lý, chuẩn mực đạo đức, niềm  
tin, lễ nghi, giai thoại… được xây dựng không phù hợp với chuẩn mực đạo đức xã hội,  
phong tục tập quán, truyền thống dân tộc thì dẫn đến việc các cá nhân khó chấp nhận  
và hành động theo  
Theo Noe (2013), văn hóa doanh nghiệp ngày nay được xem là một phần trong  
vốn xã hội tạo nên tài sản vô hình quyết định sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.  
Văn hóa doanh nghiệp xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong  
doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao, và ứng xử theo các giá trị đó. Qua đó, văn  
hóa doanh nghiệp góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp, và được coi là  
nguồn của lợi thế cạnh tranh. Theo công bố nghiên cứu của Kotter, Giáo sư tại Đại học  
Harvard, những doanh nghiệp tạo dựng được văn hóa mạnh có hiệu quả hoạt động rất  
khác biệt so với các doanh nghiệp có văn hóa yếu (Bảng 2).  
Bảng 1.1: So sánh Kꢄt quả Kinh doanh cꢅa Công ty có Văn hóa Doanh nghiꢌp mꢏnh vꢇ  
Công ty có Văn hóa doanh nghiꢌp yꢄu  
Văn hóa doanh nghiꢌp Văn hóa doanh nghiꢌp  
mꢏnh  
762%  
901%  
756%  
yꢄu  
166%  
74%  
1%  
Tăng trưởng trung bꢂnh về doanh thu  
Tăng trưởng về giꢃ trị cố phiếu  
Lợi nhuận ròng  
(Theo Kotter, 2011)  
13  
Như vậy, văn hóa doanh nghiệp có mối liên hệ chặt chẽ với hiệu quả hoạt động  
và sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Củng cố và phát triển được văn hóa doanh nghiệp  
sẽ giúp cho doanh nghiệp gia tăng được sức cạnh tranh. Bởi vì, văn hoá doanh nghiệp  
được xem là động lực quan trọng của doanh nghiệp trong quá trình tạo dựng niềm tin,  
uy tín đối với khách hàng và thị trường; được coi như thanh nam châm, giúp doanh  
nghiệp thu hút và duy trì đội ngũ nhân sự tài năng; và giúp xác lập bộ gien để doanh  
nghiệp phát triển trường tồn. Mặt khác, các mô hình cắt lớp văn hóa doanh nghiệp ở  
trên đều chỉ ra rằng, các quan niệm ngầm định hoặc các giá trị, là phần cốt lõi, quyết  
định bản chất văn hóa hoanh nghiệp. Phần cốt lõi này không dễ dàng nhận biết hoặc  
quan sát, mà phải được phân tích, đánh giá thông qua nhận thức và hành vi của các  
thành viên trong doanh nghiệp để hiểu rꢁ hơn về bản chất của văn hóa doanh nghiệp,  
từ đó đề ra các giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp.  
Ba là, khả năng tꢃc động tích cực của văn hóa doanh nghiệp đến cộng đồng  
Các biểu hiện văn hóa doanh nghiệp được phát triển không chỉ hướng đích tới  
các cá nhân trong doanh nghiệp mà còn giúp tạo dựng hình ảnh của doanh nghiệp  
trong cộng đồng. Do vậy, đánh giá phát triển văn hóa doanh nghiệp mà chỉ đánh giá từ  
góc nhìn nội bộ là chưa đủ, cần có đánh giá từ góc độ cộng đồng. Một số biểu hiện văn  
hóa doanh nghiệp sẽ được cộng đồng biết đến như kiến trúc ngoại thất, đồng phục,  
slogan, triết lý kinh doanh, lễ nghi, giai thoại. .. Các biểu hiện này phải được phát triển  
phải phù hợp với văn hóa dân tộc, được cộng đồng đánh giá tích cực, không vi phạm  
các quy định của pháp luật. Trước đây một doanh nghiệp có quy mô lớn đã “chế” bài  
hát quốc ca của Việt Nam thành bài hát của riêng doanh nghiệp. Hành động này trước  
hết vi phạm quy định của pháp luật Việt Nam. Hơn thế nữa hành động đó của doanh  
nghiệp bị cộng đồng phê phán vì đã đụng chạm tới một nét văn hóa dân tộc.  
1.2 Mô hꢉnh đánh giá văn hóa doanh nghiꢌp cꢅa Schein  
Theo Schein, Văn hóa doanh nghiệp được chia làm 3 lớp bao gồm: Cấu trúc hữu  
hữu, các giá trị công bố, các niềm tin được ngầm định. Sự phát triển văn hóa doanh  
nghiệp được đánh giá dựa trên sự phát triển của các cấp độ văn hóa trong mô hình của  
Schein.  
14  
Hꢉnh 1.1: Cꢃu trúc các cꢃp độ văn hóa doanh nghiꢌp  
(Theo Schein, 2004)  
1.2.1 Phꢄt triꢅn cấu trꢍc hữu hình  
Cấu trúc hữu hình: những cái có thể nhìn thấy, nghe thấy hoặc cảm nhận thấy  
được khi tiếp xúc với doanh nghiệp. Đây là những giá trị biểu hiện bên ngoài của hệ  
thống văn hoá doanh nghiệp, bao gồm: Kiến trúc, sản phẩm, máy móc, công nghệ, các  
nghi lễ nội bộ, biểu tượng, ngôn ngữ, khẩu hiệu, phong cách giao tiếp. Những yếu tố  
này cũng dễ thay đổi theo thời gian, hoặc khi chiến lược, ngành nghề, hay sản phẩm  
của doanh nghiệp thay đổi.  
1.2.1.1 Kiến trúc: là tổ hợp các không gian được sắp xếp có chủ ý của người thiết kế.  
bao gồm kiến trúc ngoại thất và kiến trúc nội thất. Kiến trúc ngoại thất và nội thất phải  
tương thích, tránh tình trạng mâu thuẫn, rời rạc.  
Căn cứ đꢅ xây dựng và phát triꢅn kiꢃn trúc của doanh nghiꢇp:  
- Doanh nghiệp sở hữu hoặc có quyền sử dụng trong một thời gian ổn định đối  
với một không gian nhất định. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp đi thuê mặt bằng  
và thuê trong một khoảng thời gian ngắn, do ràng buộc trong hợp đồng thuê mặt  
15  
bằng nên doanh nghiệp không thể đầu tư xây dựng ngoại thất theo mong muốn.  
Đặc biệt với các doanh nghiệp nhꢀ ở nước ta chỉ coi trụ sở kinh doanh là nơi để  
thực hiện các giao dịch và đảm bảo yêu cầu tối thiểu trong quy định của pháp  
luật nên không đủ điều kiện để đầu tư xây dựng ngoại thất. Ngoài ra, trong một  
số trường hợp do không gian ngoại thất không phù hợp để phát triển ý tưởng  
của chủ doanh nghiệp về ngoại thất.  
- Doanh nghiệp phải có đủ tài chính để xây dựng và phát triển ngoại thất theo  
mong muốn. Để có ngoại thất đẹp, ấn tượng, có ý tưởng rõ ràng, phù hợp với  
lĩnh vực hoạt động và mục tiêu của doanh nghiệp cần có một ngân sách không  
nhꢀ. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng, ngoại thất cũng cần có kinh phí để duy  
trì và sửa chữa.  
- Lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp. Mỗi doanh nghiệp với các sản phẩm  
kinh doanh đặc trưng là căn cứ để hình thành ý tưởng ngoại thất.  
- Yêu cầu công việc, nhiệm vụ của các bộ phận trong doanh nghiệp sẽ chi phối  
nội thất của doanh nghiệp phải phù hợp  
Cách thức xây dựng và phát triꢅn kiꢃn trúc:  
Cách 1: Doanh nghiệp tự xây dựng ngoại thất và nội thất. Phương pháp này ít  
được sử dụng ngoại trừ các doanh nghiệp xây dựng- do có chuyên môn về kỹ thuật  
thiết kế và xây dựng nên có thể tự thiết kế và thi công ngoại thất và nội thất cho  
bản thân doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp ngoài ngành xây dựng, thường  
không có đủ năng lực để tự thiết kế và xây dựng kiến trúc . Một số ít doanh nghiệp  
có thể tự đầu tư phần nội thất nếu yêu cầu nội thất không quá phức tạp.  
Ưu điểm:  
+ Tiết kiệm chi phí. Bởi doanh nghiệp không mất chi phí tư vấn thiết kế  
+ Đúng ý tưởng của chủ doanh nghiệp  
+ Nội thất sẽ thích hợp với yêu cầu công việc của từng bộ phận trong doanh  
nghiệp.  
Nhược điểm  
16  
+ Cách thể hiện kiến trúc mặc dù đúng ý tưởng nhưng bố cục và phối cảnh  
không đúng logic kiến trúc nên có thể không gây ấn tượng mạnh mẽ với công chúng  
+ Các thiết kế có tính chuyên nghiệp không cao  
Cách 2: Thuê thiết kế và thi công từ các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn kiến trúc. Khi  
yêu cầu về kiến trúc doanh nghiệp ngày càng đòi hꢀi cao cấp thì cách làm này khá phổ  
biến, được đa số các doanh nghiệp lựa chọn.  
Ưu điểm:  
+Tính chuyên nghiệp cao. Do thiết kế và thi công bởi các công ty kiến trúc thực  
hiện  
+ Các kiến trúc sư có thể làm nổi bật ý tưởng của chủ doanh nghiệp và nâng ý  
tưởng đó trở thành một công trình nghệ thuật  
Nhược điểm:  
+ Ý tưởng của chủ doanh nghiệp đôi khi bị chi phối, ảnh hưởng bởi các kiến  
trúc sư  
+ Chi phí lớn  
1.2.1.2 Biểu tượng  
Căn cứ đꢅ xây dựng và phát triꢅn các biꢅu tượng  
- Lĩnh vực kinh doanh/sản phẩm kinh doanh. Biểu tượng phải chuyển tải đến  
công chúng lĩnh vực kinh doanh/ sản phẩm kinh doanh. Với các doanh nghiệp  
kinh doanh các sản phẩm có tính đặc thù riêng, thường sẽ đưa vào biểu tượng  
những hình ảnh gắn liền với lĩnh vực kinh doanh đó như : kinh doanh dược  
phẩm thì có thể sử dụng hình ảnh con rắn quấn trên chiếc ly; kinh doanh sản  
phẩm âm nhạc thì có thể sử dụng hình ảnh khuôn nhạc….  
- Những giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp hướng tới. Biểu tượng có thể sử dụng  
hình ảnh, màu sắc để chuyển tải phần nào các giá trị cốt lõi mà doanh nghiệp  
đã và đang xây dựng.  
17  
- Các giá trị vật chất mà công ty đang sở hữu. Trong một số trường hợp khi xây  
dựng biểu tượng, doanh nghiệp có thể đưa những giá trị vật chất nổi bật, mang  
tính đặc trưng của doanh nghiệp vào trong biểu tượng như doanh nghiệp hàng  
hải có thể đưa hình ảnh con tàu vào trong biểu tượng  
Cách thức đꢅ xây dựng và phát triꢅn các biꢅu tượng  
Tự thiết kế các biểu tượng. Nếu chủ doanh nghiệp là người có năng khiếu về  
thiết kế, hoặc rất tâm huyết với xây dựng biểu tượng thì có thể tự thiết kế. Trong  
trường hợp chủ doanh nghiệp không tự thiết kế biểu tượng có thể tổ chức thi thiết  
kế biểu tượng trong nội bộ công ty. Đây cũng là cách mà nhiều doanh nghiệp đã  
thực hiện  
Ưu điểm:  
+ Biểu tượng được xây dựng từ tâm huyết của chủ doanh nghiệp/thành viên của  
doanh nghiệp. Thiết kế biểu tượng sẽ có “màu sắc” riêng biệt, ít bị trùng lắp ý  
tưởng.  
+ Các giá trị tinh thần trong biểu tượng dễ được truyền tải và phát triển sâu rộng  
trong nội bộ doanh nghiệp  
+ Tiết kiệm chi phí  
Nhược điểm  
+ Thiết kế biểu tượng có thể mang tính công nghiệp, do được các chuyên gia  
thiết kế  
Thuê thiết kế của các công ty chuyên nghiệp. Chủ doanh nghiệp đưa ý tưởng, và các  
căn cứ để xây dựng biểu tượng cho người thiết kế chuyên nghiệp. Người thiết kế sẽ  
chuyển tải các yêu cầu đó sang dạng thức hình ảnh một cách phù hợp và có nghệ thuật.  
Ưu điểm:  
+ Quá trình thiết kế biểu tượng được thực hiện mang tính chuyên nghiệp cao  
Nhược điểm:  
+ Chi phí cao  
18  
+ Thiết kế có thể không mang được những giá trị cốt lõi của doanh nghiệp,  
do nhà thiết kế không hiểu biết sâu sắc về văn hóa doanh  
1.2.1.3 Khẩu hiệu  
Yêu cầu xây dựng các khẩu hiꢇu:  
- Ngắn gọn: Các khẩu hiệu phải được xây dựng một cách ngắn gọn, lời văn xúc  
tích, không diễn đạt dài dòng. Do số lượng từ có thể đưa vào mỗi khẩu hiệu rất  
giới hạn nên doanh nghiệp phải lựa chọn từ ngữ rất cẩn thận, chọn từ “đắt”  
nhưng để chọn từ đưa vào khẩu hiệu, người xây dựng khẩu hiệu phải rất hiểu  
các giá trị cốt lõi của doanh nghiệp, đặc biệt là những giá trị mà doanh nghiệp  
sẽ mang tới cho khách hàng  
- Thiết thực: Khẩu hiệu phải truyền tải được các lợi ích mà doanh nghiệp mang  
tới cho khách hàng. Do đó, khi truyền thong các khẩu hiệu đến với khách hàng  
sẽ có khả năng kích thích hành vi mua của khách hàng. Bên cạnh đó, các khẩu  
hiệu còn giúp khách hàng phân biệt và gợi nhớ về doanh nghiệp trong bối cảnh  
có nhiều đối thủ cạnh tranh cùng ngành nghề kinh doanh.  
- Dễ hiểu: Khẩu hiệu được sử dụng để truyền thong rộng rãi trong công chúng  
với mặt bằng dân trí và sự hiểu biết khác nhau. Do vậy các khẩu hiệu phải ở  
dạng giản đơn để mọi người đều có thể hiểu về chúng.  
- Khơi gợi trí tưởng tượng của công chúng: Khẩu hiệu biểu hiện dưới hình thức  
lời văn nhưng lại phải có khả năng khơi gợi trí tưởng tượng của công chúng.  
Hay nói khác đi, chỉ với một slogan ngắn gọn chứa đựng vài từ nhưng công  
chúng có thể tưởng tượng ra nhiều điều. Một khẩu hiệu càng ngắn gọn nhưng  
công chúng càng tưởng tượng đa dạng phong phú thì khẩu hiệu đó đạt được  
mục tiêu ở mức cao nhất trong phát triển khẩu hiệu. Để đạt được yêu cầu này,  
doanh nghiệp cần lựa chọn các hình thức truyền thong khẩu hiệu phù hợp và  
hiệu quả. Sử dụng các hình ảnh quảng cáo nhằm hỗ trợ trí tưởng tượng của  
công chúng  
Yêu cầu trong phát triꢅn khẩu hiꢇu  
19  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 63 trang yennguyen 19280 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Báo cáo Đề tài Vận dụng lý thuyết phát triển văn hóa doanh nghiệp cho một số doanh nghiệp Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbao_cao_de_tai_van_dung_ly_thuyet_phat_trien_van_hoa_doanh_n.pdf