Bài thuyết trình Báo cáo ngành Dược phẩm
BÁO CÁO NGÀNH
DƯỢC PHẨM
04/2014
THUỐC GENERIC CHẤT LƯỢNG
CAO - TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH
DƯỢC VIỆT NAM
“… Nâng cấp hệ thống sản xuất theo
chuẩn quốc tế đang là xu hướng tất
yếu khi các tập đoàn dược phẩm
nước ngoài đã bắt đầu quá trình thâm
nhập sâu vào thị trường nội địa …”
Hoàng Hiếu Tri
Chuyên viên Phân tích
P: (08) – 6290 8686 – Ext: 7596
Ngành Dược phẩm
MỤC LỤC
Tiêu điểm
3
A. Ngành dược phẩm thế giới
4
4
5
6
8
9
10
B. Ngành dược phẩm Việt Nam
11
11
12
13
14
16
16
16
18
20
21
25
25
26
29
31
32
34
Phụ lục
36
2
NGÀNH DƯỢC PHẨM
TIÊU ĐIỂM
Ngành dược thế giới: Có sự phân hóa lớn giữa nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển
Mỹ, Nhật Bản và Canada là 3 quốc gia có mức tiêu thụ thuốc lớn nhất trên thế giới, khoảng 800 USD/người/năm.
Tăng trưởng tiền sử dụng thuốc của các quốc gia phát triển đang có xu hướng chậm lại, bình quân 1% - 4%/năm.
Thuốc điều trị ung thư, tiểu đường, hô hấp, béo phì, hệ miễn dịch… sẽ là trọng điểm sản xuất từ nay đến 2016.
Nhóm 20 tập đoàn dược phẩm lớn chiếm 59% tổng tiền tiêu thụ thuốc toàn cầu vào năm 2016.
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của nhóm 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển (pharmerging countries),
dẫn đầu là Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Brazil. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nhóm này từ 11% - 14%/năm.
Thuốc generic vẫn là sự lựa chọn tối ưu cho các nước đang phát triển, tuy nhiên, trong dài hạn, nhóm thuốc này
chỉ có thể chiếm tỷ trọng bình quân 10% tổng tiền sử dụng thuốc toàn cầu.
Trung Quốc và Ấn Độ trở thành hai quốc gia sản xuất nguyên liệu và thuốc thành phầm lớn nhất thế giới.
Ngành dược Việt Nam: Tiềm năng tăng trưởng lớn, nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn
Tổng tiền thuốc chi tiêu bình quân đầu người tại Việt Nam năm 2013 đạt 33 USD/người.
Việt Nam chỉ mới đạt trình độ sản xuất được thuốc thành phẩm từ nguyên liệu nhập khẩu, chưa tự sản xuất
được nguyên liệu hóa dược và chưa tự phát minh được thuốc.
Tốc độ tăng trưởng của ngành giai đoạn 2008 – 2012 đạt 23%/năm, giai đoạn 2013 – 2018 đạt 17.5%/năm.
Hơn 51% nguyên liệu sản xuất thuốc tại Việt Nam đang được nhập khẩu từ Trung Quốc, 18% nhập từ Ấn Độ.
Chưa được quy hoạch bài bản, chỉ tập trung vào các dòng phổ thông, bỏ ngõ phân khúc đặc trị cho nước ngoài.
Chính sách quản lý đang được điều chỉnh theo hướng phù hợp nhằm thúc đẩy ngành dược nội địa phát triển.
Đang có xu hướng nâng cấp nhà máy sản xuất lên các tiêu chuẩn quốc tế như PIC/S - GMP, EU – GMP để sản
xuất thuốc generic chất lượng cao nhằm tăng khả năng trúng thầu kênh ETC và khai thông thị trường xuất khẩu.
Gia công thuốc và sản xuất nhượng quyền là con đường ngắn và hiệu quả nhất để học hỏi và theo kịp trình độ
phát triển của ngành dược thế giới.
Khuyến nghị đầu tư:
Toàn thị trường đang có 15 doanh nghiệp dược phẩm (+ ngành y tế) niêm yết, và hơn 180 doanh nghiệp dược
phẩm khác. Trong báo cáo này, chúng tôi đưa ra khuyến nghị đầu tư cho 5 doanh nghiệp sau:
Dược Hậu Giang (DHG – HOSE) – BÁN: Giá mục tiêu 12 tháng tới: 114.000 đ/cp (-19%)
Do quan ngại về định hướng phát triển sau giai đoạn tăng trưởng nhanh.
Do những lo ngại về quá trình chuyển giao quyền lực cho đội ngũ lãnh đạo kế cận.
Imexpharm (IMP – HOSE) – MUA: Giá mục tiêu 12 tháng tới: 73.000 đ/cp (+30%)
Do kỳ vọng vào định hướng phát triển đúng đắn của doanh nghiệp, tập trung vào chất lượng thuốc.
Do triển vọng cải thiện hiệu quả kinh doanh nhờ thay đổi thị trường mục tiêu.
Do khả năng hợp tác chiến lược với tập đoàn dược phẩm nước ngoài (đi kèm rủi ro bị thâu tón thôn tính).
Domesco (DMC – HOSE) – THÊM: Giá mục tiêu 12 tháng tới: 49.000 đ/cp (+15%)
Do kỳ vọng vào những chuyển biến tích cực với sự tham gia của cổ đông lớn CFR (Chile – 45% cổ phần).
Do phân khúc thị trường thuốc điều trị tim mạch, tiểu đường, béo phì… còn tiềm năng tăng trưởng rất lớn.
Pymepharco (chưa niêm yết) – TIỀM NĂNG: Do hiệu quả hoạt động vượt trội, định hướng đúng đắn.
Bidiphar 1 (chưa niêm yết) – TIỀM NĂNG: Do kỳ vọng vào dòng thuốc điều trị Ung thư chất lượng cao đầu
tiên do Việt Nam sản xuất.
3
NGÀNH DƯỢC PHẨM
A. TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC THẾ GIỚI
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
A
A.1
A. 1
Ngành dược phẩm thời hiện đại đã phát triển được gần 100 năm từ những năm 20 của thế kỷ
trước. Nếu tính theo quy mô phát triển công nghiệp, lĩnh vực này đã có lịch sử gần 50 năm.
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đa số các tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới hiện nay
được thành lập. Thụy Sĩ, Đức và Ý là những nước đầu tiên phát triển mạnh ngành công nghiệp
dược phẩm, theo sau đó là các quốc gia khác như Anh, Mỹ, Bỉ và Hà Lan.
Vào những năm 1960, rất nhiều loại thuốc được phát triển từ thập niên 50 được đưa vào sản
xuất đại trà và tung ra thị trường. Trong đó, nổi tiếng nhất là các thuốc như “The Pill” (thuốc
tránh thai), Cortisone (thuốc trị huyết áp) và nhiều loại thuốc tim mạch, chống trầm cảm khác.
Từ thập niên 70, thuốc điều trị ung thư bắt đầu được sử dụng phổ biến. Nền công nghiệp
dược phẩm thế giới bắt đầu phát triển mạnh. Các quy định pháp lý về việc cho phép các thuốc
phát minh “bom tấn” được quyền bán với giá cao nhằm bù đắp các chi phí đầu tư nghiên cứu
trước đó bắt đầu có hiệu lực tại nhiều quốc gia
Vào giữa thập niên 80, hợp nhất sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ với các doanh nghiệp lớn
hơn trở thành xu thế và rất nhiều thương vụ M&A đã được thực hiện. Sau giai đọan này, nền
công nghiệp sản xuất dược phẩm được thu gom về dưới sự kiểm soát của một số tập đoàn
dược phẩm không lồ thống trị thị trường tiêu thụ trên toàn thế giới.
Bắt đầu từ những năm 90, môi trường kinh doanh của ngành dược phẩm có sự thay đổi
đáng kể với tiêu điểm là hoạt động mua bán sáp nhập trên quy mô toàn cầu và chiến lược đầu
tư mạnh mẽ cho hoạt động nghiên cứu phát triển các hoạt chất mới và thử nghiệm lâm sàng.
Năm 1997, hoạt động quảng cáo trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua kênh radio và TV
gia tăng nhanh chóng. Cũng trong giai đoạn này, mạng lưới Internet giúp người tiêu dùng có
thể mua thuốc trực tiếp từ các hãng dược, các hãng dược có thể mua nguyên liệu trực tiếp từ
nhà sản xuất… và làm thay đổi về căn bản môi trường kinh doanh.
Hiện nay, nhu cầu sử dụng các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng và các thuốc thay thế (dùng
để điều trị cùng 1 loại bệnh) đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà sản xuất đến sau và
làm gia tăng mức độ cạnh tranh trong ngành. Đồng thời, trong thời gian gần đây, nhiều tranh
cãi đã xuất hiện xoay quanh các tác dụng phụ của thuốc và các chiến lược marketing không
minh bạch của các hãng dược phẩm.
Hướng về tương lai, các nguyên liệu sản xuất dược phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên và
chiết xuất từ thực vật đang nổi lên như một trào lưu mới nhằm tạo ra các loại thuốc mới thân
thiện với sức khỏe con người và ít tác dụng phụ hơn.
Tóm lại, xu hướng phát triển chung của ngành dược phẩm là không ngừng tìm kiếm các loại
thuốc điều trị các căn bệnh mới và các căn bệnh ác tính hiện hữu. Hiệu quả của thuốc và mức
độ thân thiện với con người ngày càng được chú trọng.
4
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Tình hình tiêu thụ thuốc hiện tại và dự phóng trong tương lai
A
A.2
Giai đoạn 2004 – 2013, tổng doanh thu tiêu thụ thuốc trên thế giới tăng trưởng bình quân
5,8%/năm từ mức 455 tỷ USD năm 2004 lên mức 717 tỷ USD năm 2013. Giai đoạn 2014 –
2018, theo ước tính của EvaluatePharma, mức tiêu thụ thuốc toàn cầu sẽ gần chạm ngưỡng
900 tỷ USD vào năm 2018.
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2014 – 2018 khoảng 5,7%/năm. Trong đó, tăng trưởng
của các thuốc kê toa có bản quyền phát minh (patent drug) đạt khoảng 5,5%/năm, tăng trưởng
của các thuốc generic (thuốc mô phỏng theo thuốc phát minh khi hết hạn bảo hộ độc quyền)
đạt khoảng 7,1%/năm.
Tỷ trọng nhóm thuốc generic được dự báo vẫn chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong cơ cấu
tiêu thụ thuốc toàn cầu. Cụ thể, tỷ trọng doanh thu thuốc generic năm 2018 được dự phóng
chỉ chiếm khoảng 10,3%, tăng không đáng kể so với mức 9,8% của năm 2013. Nguyên nhân
chủ yếu dẫn tới xu hướng này là tình trạng bệnh tật ngày càng gia tăng do ô nhiễm môi trường,
con người thường xuyên tiếp xúc với các hóa chất độc hại, từ đó, nhiều chứng bệnh mới xuất
hiện, đáng chú ý là các bệnh liên quan đến ung thư và di truyền học.
Việc nghiên cứu tạo ra các thuốc mới vẫn là xu hướng chủ đạo trong trung hạn và dài
hạn, các thuốc generic dù có tốc độ tăng trưởng cao hơn các thuốc phát minh nhưng khó có
thể thay đổi cán cân tỷ trọng do các ràng buộc về bảo hộ bản quyền sáng chế tại các quốc gia
phát triển và kể cả các quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển (pharmerging countries).
Doanh thu tiêu thụ thuốc trên toàn thế giới giai đoạn 2004 - 2018
1000
900
800
700
600
500
400
300
200
100
0
40.0%
đvt: tỷ USD
25.0%
Nguồn: EvaluatePharma, FPTS tổng hợp
35.0%
92
88
30.0%
25.0%
20.0%
15.0%
10.0%
5.0%
83
16.6%
803
79
770
15.0%
15.2%
75
737
65
18.5%
66
70
702
59
52
670
53
660
648
647
626
46
611
597
13.5%
40
553
10.2%
32
502
27
463
7.1%
3.9%
6.0%
4.6%
428
5.3%
4.8%
5.1%
5.0%
4.5%
4.3%
11.1%
6.1%
0.4%
10.5%
9.5%
8.8%
8.5%
2.0%
1.5%
5.8%
3.3%
0.0%
-1.9%
-1.5%
-5.0%
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
Thuốc kê toa (không bao gồm Generic)
Tăng trưởng doanh thu tiêu thụ thuốc
Thuốc Generic
Tăng trưởng doanh thu generic
A.2
Tình hình tiêu thụ thuốc hiện tại và dự phóng trong tương lai
5
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Tình hình tiêu thụ thuốc theo quốc gia và dự phóng
A
A.3
Mỹ, Nhật Bản và Canada là 3 quốc gia có mức tiêu thụ thuốc lớn nhất trên thế giới (bình quân
gần 800 USD/người/năm, tương đương 55% tổng giá trị sử dụng thuốc) dù tổng dân số chỉ
hơn 486 triệu.
Mức tiêu thụ bình quân đầu người trên toàn thế giới đang ở mức 186 USD. Nếu so với mức
bình quân này, Ấn Độ đang là quốc gia có mức chi tiêu bình quân đầu người thấp nhất thế
giới dù dân số đông thứ 2 thế giới (hơn 1,2 tỷ người). Nhóm các nước đang phát triển (bao
gồm cả Việt Nam) có mức chi tiêu cho thuốc bình quân đầu người chỉ 96 USD, thấp hơn 48%
so với mức bình quân chung của thế giới. Chỉ số này tại Trung Quốc cũng khá thấp, chỉ khoảng
121 USD/người/năm.
Tương quan mức chi tiêu bình quân thế giới(USD) và dân số
các quốc gia (triệu người)
1,292
33
96
121
179
180
Ấn Độ
1,012
Các nước đang phát triển
1,349
Trung Quốc
140
201
105
50
Nga
Brazil
321
323
Các nước Châu Âu còn lại
Hàn Quốc
EU5
375
420
320
36
Canada
Nhật Bản
Mỹ
644
124
326
892
400
Chi tiêu bình quân đầu người
0
200
600
800
1000
Dân số
1200
1400
1600
Với dân số gần 3.7 tỷ người (chiếm hơn 50% tổng dân số thế giới), Ấn Độ, Trung Quốc và các
quốc gia đang phát triển đang và sẽ là thị trường tiềm năng của các hãng dược lớn. Mức chi
tiêu cho dược phẩm tại các nước này ước tính sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian sắp tới.
Theo dự phóng của IMS Health, tỷ trọng doanh thu đến từ nhóm các nước đang phát triển sẽ
tăng từ mức 20% vào năm 2011 lên mức 30% tổng tiền thuốc sử dụng vào năm 2016.
Các nước
còn lại
8%
Các nước
còn lại
7%
Doanh thu tiêu thụ thuốc
theo quốc gia
Nguồn: FPTS tổng hợp
Mỹ
2016
2011
Các nước
đang phát
triển
Mỹ
31%
34%
20%
Các nước
đang phát
triển
30%
Các
nước
Châu Âu
còn lại
7%
Hàn Quốc
1%
Hàn Quốc
Canada
2%
1%
EU5
13%
Các nước Châu
Âu còn lại
Nhật Bản
12%
EU5
17%
Canada
2%
Nhật Bản
10%
5%
6
NGÀNH DƯỢC PHẨM
50% tổng chi tiêu thuốc men toàn cầu đang dành để điều trị 5 nhóm bệnh chính: ung thư, tiểu
đường, hen suyễn hô hấp, hệ miễn dịch và kiểm soát mỡ máu với nguyên nhân chủ yếu đến
từ tình trạng ô nhiễm môi trường sống ngày một nghiêm trọng trên quy mô toàn thế giới.
Top 20 nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất vào năm 2016
Kháng sinh
Cephalosporin
Rối loạn tăng động -
Kháng virus
mất tập trung
Ung thư
17%
Tránh thai
Ức chế miễn dịch
Gây tê - Gây mê
Chống tụ cầu khuẩn
Tiểu
đường
10%
Đa xơ cứng
Chống động kinh
Chống viêm loét
Cân bằng miễn dịch
Hen
suyễn/h
ô hấp
Vaccines
Rối loạn thần kinh
Hệ miễn dịch
Kiểm soát lipid máu
Kháng virus HIV
Hóc môn huyết áp
Các doanh nghiệp dược phẩm đầu ngành và dự phóng tăng trưởng
A
A.4
Top 20 doanh nghiệp dược phẩm lớn nhất về quy mô doanh thu hầu hết tập trung tại khu vực
Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và khu vực Tây Âu (Anh, Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ…)
Tổng doanh thu của nhóm doanh nghiệp này trong năm 2012 đạt 471 tỷ USD, chiếm 66%
tổng doanh thu tiêu thụ thuốc trên toàn cầu. Theo dự phóng của tổ chức Evaluate Pharma, dự
kiến đến năm 2018, tổng doanh thu của nhóm “top 20” này sẽ đạt 529 tỷ USD (+12% so với
năm 2012 – bình quân tăng 2% mỗi năm) và chỉ chiếm tỷ trọng 59% tổng doanh thu tiêu thụ
thuốc toàn thế giới (-7% do sự trỗi dậy của các quốc gia mới nổi, dẫn đầu là Trung Quốc và
Ấn Độ, Nga, Brasil).
Top 20 công ty dược hàng đầu thế giới theo doanh thu so sánh năm
2012/2018
60
50
40
30
20
10
0
52
đvt: tỷ USD
49
47
46
40
40
2012
2018
26
22
22
21
21
21
19
18
16
16
15
13
12
12
Nguồn: FPTS tổng hợp
7
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Sau hàng trăm năm phát triển từ nửa cuối thế kỷ 19, quy mô của các tập đoàn dược phẩm
lớn đã vượt khỏi tầm quốc gia và trở thành các tập đoàn đa quốc gia có mặt trên toàn cầu.
Tốc độ tăng trưởng doanh thu của các tập đoàn này đã giảm xuống mức tăng trưởng bền
vững, bình quân khoảng 1% - 4%/năm. Trong đó hai quốc gia hàng đầu là Pháp và Tây Ban
Nha dự kiến sẽ tăng trưởng âm trong suốt giai đoạn 2012 – 2017 do nhu cầu thị trường trong
nước đã bão hòa và dân cư có xu hướng già hóa. Riêng Nhật Bản là quốc gia châu Á phát
triển duy nhất có mức tăng trưởng cao hơn bình quân ngành.
Với nhóm các quốc gia mới nổi, tốc độ tăng trưởng trong các năm sắp tới rất khả quan do
mức chi tiêu cho dược phẩm của người dân các nước này còn khá thấp. Trong đó, Trung
Quốc dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng ấn tượng 15% -18%. Việt Nam thuộc nhóm 3 của các
quốc gia đang phát triển nhưng có mức tăng trưởng cao hơn so với mức bình quân (khoảng
17.5%).
Dự phóng mức tăng trưởng bình quân của các nhóm quốc gia
CAGR 2012-2017 của các thị trường phát triển
Mỹ
Nhật Bản
Đức
1 - 4%
2 - 5%
1 - 4%
Pháp
(-1) - 2%
0 - 3%
Ý
Canada
Tây Ban Nha
Anh
1 - 4%
(-4) - (-1)%
1 - 4%
Bình quân
1 - 4%
CAGR 2012-2017 của các thị trường đang phát triển
Nhóm 1: Trung Quốc
15 - 18%
10 - 13%
11 - 14%
9 - 12%
Nhóm 2
Brazil
Nga
Ấn Độ
Nhóm 3
11 - 14%
7 - 10%
Bình quân
11 - 14%
(nguồn: IMS Health, FPTS tổng hợp)
8
NGÀNH DƯỢC PHẨM
CHUỖI GIÁ TRỊ TRONG SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM
A
A.5
BƯỚC 1: PHÁT MINH THUỐC
Phát minh thuốc là quá trình tốn kém chi phí và thời gian nhất trong chuỗi giá trị của bất kỳ loại
dược phẩm nào. Đòi hỏi phải tìm ra hoạt chất chính dùng để chữa bệnh thử nghiệm trên
động vật thử nghiệm lâm sàng trên người thử nghiệm trên cộng đồng trải qua quá
trình xét duyệt của cơ quan quản lý y tế… (xem chi tiết tại đây)
Chi phí đầu tư cho mỗi loại thuốc mới dao động từ hàng trăm triệu USD đến cả tỷ USD và tỷ
lệ thành công – thất bại khi nghiên cứu một loại thuốc mới thường là 20% - 80%. Do đó, các
thuốc phát minh thường có giá bán rất cao nhằm giúp doanh nghiệp bù đắp chi phí đầu tư và
duy trì hoạt động theo dõi an toàn thuốc sau khi thương mại hóa.
CHUỖI GIÁ TRỊ TRONG SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM
A
A.5
BƯỚC 2: SẢN XUẤT & PHÂN PHỐI
Nguồn: FPTS
Trong vài thập niên gần đây, hoạt động sản xuất nguyên liệu dược phẩm đã có sự thay đổi
đáng kể. Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan… trỗi dậy và trở thành các quốc gia sản xuất nguyên
liệu dược phẩm lớn nhất thế giới.
Biên lãi gộp của
nhóm này khoảng
Theo các số liệu thống kê gần nhất, vào năm 2007, Trung Quốc và Ấn Độ chiếm gần 70%
tổng sản lượng cung ứng nguyên liệu sản xuất dược phẩm trên toàn cầu so với mức 49%
năm 2004.
46.6%
(Mallinckroct 2013)
9
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Hoạt chất chính trong thuốc (active ingredients – thành phần chính có công dụng chữa bệnh):
Nguyên liệu dùng làm hoạt chất chính càng tinh khiết thì hiệu quả càng cao… (xem thêm)
Tá dược (excipients): Đây là thành phần không có tác dụng chữa bệnh, nhưng lại là nhân tố
vô cùng quan trọng quyết định hiệu quả của thuốc… (xem thêm)
Sau khi thuốc thành phẩm được tạo ra, rủi ro thất thoát hoặc bị làm giả trong quá trình phân
phối ngày càng cao, dù tỷ trọng là không lớn… (xem thêm)
Có rất nhiều các tổ chức tham gia vào quá trình phân phối thuốc qua nhiều tầng nấc phức tạp.
Tuy nhiên, về cơ bản, trên thế giới, nhà sản xuất và nhà phân phối thường là các đơn vị độc
lập nhằm tập trung hóa chuyên môn… (xem thêm)
Các nhà bán sỉ sẽ phân phối lại dược phẩm vào kênh bệnh viện quốc gia hoặc cho nhà bán
sỉ ở quy mô nhỏ hơn hoặc các nhà phân phối thứ cấp. Các nhà phân phối thứ cấp này thường
Tại Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu, các bác sĩ tại bệnh viện và phòng mạch kê đơn theo một
phác đồ hoàn chỉnh với liều lượng phù hợp. Đơn thuốc được bán theo từng hộp để thuận tiện
THUỐC GENERIC – GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ CHO CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN
A
A.6
Thuốc Generic (hay còn gọi là thuốc gốc) là các thuốc phát minh đã hết hạn bảo hộ bản
quyền. Các thuốc này có chi phí và giá thành sản xuất thấp hơn so với thuốc phát minh
(patent drug) nhiều lần do không tốn chi phí nghiên cứu ban đầu và khá phù hợp với mặt
bằng thu nhập tại các nước đang phát triển và các nước chưa phát triển.
Trước năm 2000, thuốc generic chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu doanh thu dược
phẩm toàn cầu. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, với sự trỗi dậy của các quốc gia mới nổi
(chiếm 50% dân số thế giới), công nghiệp sản xuất thuốc generic đang tăng trưởng mạnh
mẽ hơn bao giờ hết. Vào năm 2004, tỷ trọng thuốc generic toàn cầu chỉ chiếm 5.9% tổng
giá trị sử dụng thuốc. Tỷ trọng này tăng mạnh trong một thời gian ngắn lên mức 10% vào
năm 2013.
Mặc dù vậy, theo đánh giá của giới chuyên môn, tỷ trọng thuốc generic dù tăng mạnh về
mặt số lượng nhưng không thể đuổi kịp các thuốc phát minh về mặt giá trị. Do đó, tỷ trọng
thuốc generic trên toàn cầu dự phóng sẽ duy trì ổn định ở mức 10%.
10
NGÀNH DƯỢC PHẨM
B. TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển
B
B.1
B.1
Thời Bắc thuộc, do đặc điểm địa lý và quan hệ chính trị, nền y dược Việt Nam có sự giao
thoa và chịu nhiều ảnh hưởng từ nền y dược Trung Quốc. Qua trao đổi học hỏi những vị thuốc,
kinh nghiệm chữa bệnh kết hợp với các loại thảo dược bản địa đặc thù đã tạo nền móng đầu
tiên cho mảng Đông dược nói riêng và ngành dược Việt Nam nói chung.
Năm 938, thời kì Bắc thuộc kết thúc, ngành y dược Việt Nam tiếp tục phát triển. Từ thời Lý,
Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây Sơn và triều Nguyễn, nền y dược dân độc đã được chú trọng đáng kể.
Từ năm 1858, trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã đưa Tây y vào nước ta, năm 1902
mở trường đào tạo Dược sĩ Hà Nội, tổ chức một số bệnh viện, bệnh xá ở các tỉnh, thành phố,
phủ, huyện. Dưới sức ép của Pháp, nhiều dược sĩ không được phép mở cửa hiệu, viện nghiên
cứu khai thác dược liệu trong nước cũng bị chèn ép, mảng Đông dược bị kìm hãm phát triển.
Giai đoạn 1946 – 1954 kháng chiến chống Pháp ngành dược vừa thiếu dược sĩ, công nhân,
trang thiết bị, vật tư, vừa thiếu kinh nghiệm và tổ chức quản lí. Ngành chủ yếu phát triển theo
hướng tự lực cánh sinh, tận dụng mọi nguyên liệu sẵn có từ cây thuốc trong nước. Thời kì
này, Việt Nam đã sản xuất được thuốc chiến thương, Filatov, ống tiêm, kìm kẹp máu, dao mổ,
kim khâu... Cũng ở trong giai đoạn này, tại Thanh Hóa, chính quyền đã mở các lớp trung cấp
dược, ở chiến khu Việt Bắc có viện đại học dược và mở nhiều lớp dược tá ở các liên khu.
Giai đoạn 1954 – 1975, miền Bắc tiến hành cải tạo ngành dược tự doanh, xây dựng phát triển
ngành dược quốc doanh. Năm 1965, nhu cầu sử dụng thuốc tăng nhanh, nên hầu hết các xã
đều có phong trào trồng và sử dụng cây thuốc nam, hình thành một mạng lưới sản xuất dược
hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương để có thể sản xuất thuốc men theo từng vùng theo
hướng tự cung tự cấp.
Giai đoạn sau 1975, ngành dược phát triển qua 3 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1 (1975 – 1990): Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh
nghiệp nhà nước, sức sản xuất không đáng kể. Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người
thời kỳ này đạt vào khoảng 0,5 - 1USD/năm. Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêu
chuẩn chất lượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng.
Giai đoạn 2 (1990 – 2005): Các nhà thuốc và các công ty sản xuất thuốc phát triển rất nhanh,
sản phẩm dược đa dạng, phong phú hơn. Đặc biệt sau khi có Nghị quyết Trung ương IV và
Quyết định 58 của Thủ tướng chính phủ về công nghiệp dược đã có những bước phát triển
đáng kể, đảm bảo phần lớn nhu cầu về thuốc chữa bệnh, khắc phục được tình trạng thiếu
thuốc của nhiều năm trước đây. Giai đoạn này cũng chứng kiến quá trình cổ phần hóa nhiều
doanh nghiệp dược quốc doanh theo chủ trương cổ phần hóa của nhà nước.
Giai đoạn 3 (từ năm 2005 đến nay): Các công ty dược đẩy mạnh quá trình nâng cấp tiêu
chuẩn sản xuất lên GMP-ASEAN GMP-WHO PIC/S EU-GMP… nhằm thích ứng với
yêu cầu về chất lượng ngày càng gia tăng và phù hợp với quá trình toàn cầu hóa của ngành
dược Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới.
11
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Trình độ phát triển và định vị trên bản đồ thị trường dược phẩm thế giới
B
B.2
B.2
Theo phân loại và xếp hạng cho ngành công nghiệp dược: Tổ chức Phát triển Công nghiệp
Liên Hợp Quốc (UNIDO) chia công nghiệp dược theo 5 mức phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới
(WHO) và Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) xác định mức độ
phát triển công nghiệp dược của các quốc gia theo 4 cấp độ:
Cấp độ 1: Nước đó hoàn toàn phải nhập khẩu thuốc.
Cấp độ 2: Sản xuất được một số thuốc generic; đa số thuốc phải nhập khẩu.
Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa; có sản xuất thuốc generic; xuất khẩu
được một số dược phẩm.
Cấp độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới.
Theo cách đánh giá này, hiện nay công nghiệp dược Việt Nam đang ở gần cấp độ 3
theo thang phân loại của WHO. Còn nếu theo thang phân loại 5 mức phát triển của UNIDO
thì công nghiệp dược của Việt Nam mới chỉ ở mức 3, nghĩa là “công nghiệp dược nội địa sản
xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập”.
Ngành công nghiệp hóa dược của Việt Nam vẫn chưa phát triển do thiếu sự đồng bộ trong
quy hoạch, chính sách, công nghiệp phụ trợ… Vì vậy, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam
chỉ mới có một nhà máy sản xuất nguyên liệu kháng sinh bán tổng hợp của Mekophar, sản
lượng thiết kế khoảng 200 tấn Amoxicillin và 100 tấn Ampicillin mỗi năm, và chủ yếu chỉ đủ
phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh từ nguyên liệu giá rẻ của Trung
Quốc và Ấn Độ.
Về định vị ngành dược Việt Nam trên bản đồ dược thế giới, theo cách đánh giá phân loại của
IMS Health, Việt Nam thuộc nhóm 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển
(pharmerging countries). Cách phân loại này dựa trên tiêu chí cốt lõi là tổng tiền thuốc tiêu thụ
hàng năm, bên cạnh đó, IMS Health cũng sử dụng các tiêu chí tham khảo khác như mức độ
năng động, tiềm năng phát triển của thị trường và khả năng thay đổi để thích nghi với các biến
động về chính sách quản lý ngành dược tại các quốc gia này. Theo đánh giá của IMS Health,
có tất cả 17 quốc gia thuộc nhóm “pharmerging”, chia thành 3 nhóm nhỏ:
Nhóm 1: Trung Quốc, quốc gia này ghi nhận hơn 40 tỷ USD tổng tiền sử dụng thuốc trong
năm 2013. Tăng trưởng chính chủ yếu đến từ các thuốc generic được sản xuất và tiếp thị bởi
các doanh nghiệp nội địa, bên cạnh nhu cầu đối với các thuốc phát minh mới ngày càng tăng
cao, đặc biệt là tại khu vực thành thị.
Nhóm 2: Brazil, Nga, Ấn Độ. Nhóm quốc gia này ghi nhận tổng tiền sử dụng thuốc từ 5 – 15
tỷ USD trong năm 2013. Brazil và Nga đang đạt được mức tăng trưởng “hai con số” trong các
năm gần đây, trong khi Ấn Độ ghi nhận sự nổi lên của nhóm dân cư thuộc tầng lớp trung lưu
với sự cải thiện đáng kể của hệ thống cơ sở hạ tầng y tế và nhận thức về chăm sóc sức khỏe.
Nhóm 3: Gồm 13 quốc gia: Venezuela, Ba Lan, Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Việt Nam,
Nam Phi, Thái Lan, Indonesia, Rumani, Ai Cập, Pakistan và Ucraina. Các quốc gia này ghi
nhận tổng tiền thuốc sử dụng từ 1 – 5 tỷ USD trong năm 2013. Nhóm này cũng có mức tăng
trưởng nhanh nhất trong 3 nhóm, có thể đến 20%/năm với sự linh hoạt và chủ động thay đổi
để thích nghi với các biến động trong chính sách, vốn chưa được hoàn thiện, của cơ quan
quản lý sở tại.
12
NGÀNH DƯỢC PHẨM
So sánh trình độ phát triển với các quốc gia khác trong khu vực
B
B.3
B.3
Theo dự phóng của IMS Health, tốc độ tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp dược
phẩm Việt Nam đạt khoảng 23% trong giai đoạn 2008 – 2012. Đây là mức tăng trưởng cao
thứ 2 trong nhóm các quốc gia mới nổi, chỉ xếp sau Argentina (24.8%) và cao hơn cả Trung
Quốc (22.3%) và các nước khác trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Indonesia.
Trong giai đoạn 2013 – 2018, tốc độ tăng trưởng bình quân chung của các nước mới nổi có
xu hướng chậm lại sau giai đoạn 2008 – 2012 tăng trưởng mạnh, bình quân ở mức 11% -
14%. Trong đó, Việt Nam có mức tăng trưởng cao thứ 2 trong nhóm (17.5%).
nguồn: FPTS tổng hợp
Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam và mức chi tiêu
bình quân đầu người cho dược phẩm
35
30
25
20
15
10
5
300
250
200
150
100
50
248
217
190
nguồn: FPTS
166
145
127
111
97
85
75
65
57
50
44
38
33
29
28
22
20
17
13
11
10
-
-
Tổng tiền thuốc sử dụng
Tổng tiền thuốc SX trong nước
Chi tiêu bình quân đầu người
13
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Tổng hợp số liệu thống kê của BMI, IMS Health và Cục Quản lý Dược Việt Nam, FPTS dự
phóng mức chi tiêu một số chỉ tiêu tăng trưởng trọng yếu trong giai đoạn 2014 – 2028 như
sau:
Tăng trưởng dân số Việt Nam: Bình quân 2%/năm và vượt mốc 120 triệu người vào
năm 2028.
Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam: Bình quân 17%/năm (bao gồm hai
yếu tố cốt lõi là nhu cầu và mức tăng giá thuốc bình quân 8,6% mỗi năm).
Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam: 14,3%.
Các quy định pháp lý của cơ quan quản lý trong lĩnh vực dược phẩm
B
B.4
B
Các cơ quan tham gia quản lý thị trường dược phẩm Việt Nam:
•
•
•
•
•
•
Các quy định pháp lý điều chỉnh và quản lý thị trường dược phẩm Việt Nam
Luật Dược số 34/2005/QH11: Đây là bộ luật nền tảng của ngành dược Việt Nam, luật này
quy định việc kinh doanh thuốc; đăng ký, lưu hành thuốc; sử dụng thuốc; cung ứng thuốc;
thông tin, quảng cáo thuốc; thử thuốc trên lâm sàng; quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng
tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc và thuốc phóng xạ; tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm
nghiệm thuốc. Luật này đang được lấy ý kiến để xây dựng Dự Thảo “Luật sửa đổi, bổ sung
một số điều của Luật dược năm 2005”.
Quyết định 10/2007/QĐ-BTM ban hành năm 2007: Quyết định này quy định danh mục hàng
hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không được quyền trực tiếp phân phối tại
Việt Nam, trong đó có nhóm dược phẩm.
Tuy nhiên, để tạo môi trường cạnh tranh và thúc đẩy các doanh nghiệp phân phối trong nước
phát triển, ông Nguyễn Tiến Vỵ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ Công thương), đơn vị chấp bút
“Dự thảo Thông tư Công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động
liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)”
cho biết: “mặt hàng dược phẩm sẽ nằm trong Danh mục hàng hóa được thực hiện quyền
phân phối, thay vì thuộc Danh mục Hàng hóa không được quyền phân phối như đã được quy
định tại Quyết định 10/2007/QĐ-BTM. Theo kế hoạch, Thông tư mới dự kiến sẽ có hiệu lực từ
năm 2014. (nguồn: baodautu.vn)
Quyết định số 12/2007/QĐ-BYTban hành nguyên tắc “Thực hành tốt phân phối thuốc - GDP”.
Mục đích là để bảo đảm cung cấp thuốc có chất lượng đến tay người sử dụng thông qua các
yêu cầu cần thiết cho việc vận chuyển, bảo quản, phân phối thuốc để bảo đảm việc cung cấp
thuốc đến tay người tiêu dùng một cách kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng.
14
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC ngày 11/11/2013 (thay thế Thông tư liên tịch
số 01/2012/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế) và Thông
tư số 37/2013/TT-BYT ngày 11/11/2013 của Bộ Y tế (hướng dẫn lập Hồ sơ mời thầu mua
Luật số 43/2013/QH13 của Quốc hội: Luật đấu thầu đã được quốc hội khóa XIII thông qua
ngày 26/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014 (nguồn: baodientu.chinhphu.vn). Đặc biệt,
điều 50 mục 3 chương V của luật này quy định rõ: “Đối với thuốc trong nước được Bộ Y
tế công bố đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp thì trong hồ sơ
mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định nhà thầu không được chào thuốc nhập khẩu”
nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ nhiều loại thuốc giá rẻ của Trung Quốc và Ấn Độ
trong đầu thầu.
Thông tư 23/2013/TT-BYT ban hành ngày 13/08/2013: Thông tư này quy định về gia công
thuốc, hồ sơ đăng ký gia công thuốc, trình tự, thủ tục đăng ký, tạm ngừng và rút số đăng ký
thuốc gia công. Để được đứng tên là bên gia công, cơ sở sản xuất tại Việt Nam phải có giấy
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc và giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GMP (Thực
hành tốt sản xuất thuốc), có dạng bào chế phù hợp với thuốc dự định gia công.
Thông tư số 05/2014/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 14/02/2014: Quy định việc sử dụng
dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền trong cơ sở khám chữa bệnh. Thông tư này quy định: Dược
liệu, vị thuốc y học cổ truyền chỉ được đưa vào trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi
đạt yêu cầu về chất lượng. Thông tư này được kỳ vọng sẽ góp phần kiểm soát tốt hơn chất
lượng các thuốc y học cổ truyền đang được sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh trọng
nước và có tác động tích cực đến các doanh nghiệp lớn, có uy tín trong mảng Đông dược
như: Traphaco, OPC, BVpharma…
Luật thuế TNDN sửa đổi, có hiệu lực từ 1/1/2014, cũng nâng mức giới hạn chi phí quảng
cáo của doanh nghiệp từ 10% lên 15%, từ đó tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp dược phẩm
trong nước có thể cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài và duy
trì ổn định tỷ trọng kênh điều trị trong cơ cấu doanh thu, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc
phân khúc thuốc chất lượng cao như Imexpharm, Stada, Bidiphar, Pymerpharco…
Nghị định 181/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật quảng cáo, quy định về quảng cáo thuốc, mỹ
phẩm, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, trang thiết bị y tế, sữa và sản phẩm dinh dưỡng cho
trẻ em, dịch vụ khám chữa bệnh… Trong đó, chỉ có các loại thuốc thuộc danh mục 225 hoạt
chất thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành và có số đăng ký đang còn hiệu lực được quảng
cáo trên sách, báo, tạp chí, tờ rơi, báo điện tử, website của doanh nghiệp… Hoàn toàn
15
NGÀNH DƯỢC PHẨM
B*. CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DƯỢC VIỆT NAM
TỔNG QUAN CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DƯỢC VIỆT NAM
B*
B*.1
Chuỗi giá trị của ngành công nghiệp dược Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính:
Nhóm sản xuất: Bao gồm các nhà cung ứng nguyên liệu sản xuất dược phẩm, các
công ty dược nội địa, các công ty dược FDI.
Nhóm phân phối: Bao gồm các nhà phân phối sỉ, phân phối lẻ nội địa và nước
ngoài, hệ thống chợ sỉ.
Nhóm bán lẻ: Bao gồm bệnh viện, nhà thuốc, các phòng mạch tư nhân… Đây là
nhóm trực tiếp phân phối thuốc tến tay người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị.
Nguồn: FPTS
NHÀ CUNG ỨNG NGUYÊN LIỆU
B*
B*.2
Việt Nam vẫn chưa phát triển công nghệ hóa dược, do đó hầu hết nguyên liệu sản xuất dược
phẩm tại Việt Nam đều phải nhập khẩu.
Theo các số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, Bộ Y tế và Cục quản lý dược, 90% nguyên
liệu sản xuất dược phẩm tại Việt Nam đang phải nhập khẩu. Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ
là hai quốc gia có kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu dược phẩm vào Việt Nam lớn nhất trong
nhiều năm, lần lượt chiếm 51,4% và 18,3% tổng giá trị nhập khẩu năm 2013.
Nguyên liệu đông dược: Theo báo cáo của Cục quản lý dược và Bộ Y tế, đến 90% nguồn
nguyên liệu đông dược sử dụng tại Việt Nam được nhập khẩu từ Trung Quốc do nguồn cung
tại Việt Nam không đủ đáp ứng và nhiều loại thảo dược không thể trồng tại Việt Nam do khí
hậu không phù hợp. 10% nguyên liệu còn lại chủ yếu tập trung vào các loại thảo dược khá
phổ biến tại Việt Nam như Artiso, Đinh Lăng, Cam Thảo, Cao Ích Mẫu, Diệp Hạ Châu…
16
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Các nguyên liệu sản xuất dược phẩm này thường thông qua 2 con đường để tiếp cận với
công ty dược.
Con đường trực tiếp: Làm việc và thỏa thuận trực tiếp với các công ty có văn phòng đại
diện tại Việt Nam hoặc đặt hàng trực tiếp từ nước ngoài và nhập khẩu về Việt Nam.
Con đường gián tiếp: Thông qua các công ty trung gian chuyên về cung ứng nguyên
liệu dược phẩm.
Thống kê giá trị nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc
theo quốc gia đến hết năm 2013
đvt: USD
Quốc gia
Trung Quốc
Nguyên liệu
142,780,525
%
51.4%
18.3%
7.0%
5.1%
4.3%
3.2%
2.4%
2.3%
1.6%
1.5%
1.3%
1.2%
0.3%
Ấn Độ
50,806,757
19,356,558
14,202,821
12,019,388
8,893,851
6,622,173
6,337,115
4,316,946
4,272,509
3,629,746
3,376,554
944,269
Áo
Tây Ban Nha
Thái Lan
Đức
Pháp
Italia
Thụy Sỹ
Hàn Quốc
Singapore
Anh
Nhật Bản
Phân loại nguyên liệu dược phẩm:
Dựa vào các tiêu chí chủ yếu sau: độ tinh khiết, tác dụng dược lý, công nghệ sản xuất, uy
tín của nhà sản xuất…, có thể phân loại nguyên liệu dược phẩm thành 2 nhóm chính, bao
gồm:
Nguyên liệu chất lượng cao: Được sản xuất bởi các nhà sản xuất có uy tín, kinh nghiệm
sản xuất lâu năm, áp dụng công nghệ sản xuất hiện tại để đảm bảo nguyên liệu sản xuất ra
có độ tinh khiết cao, thân thiện với sức khỏe con người và được các tổ chức lớn về dược
phẩm như USFDA (Mỹ) hoặc EMA (Châu Âu) cấp giấy chứng nhận chất lượng. Hiện nay,
chứng nhận CEP là một tiêu chí khá phổ biến để đánh giá chất lượng của nhà sản xuất
(chứng chỉ cho phép xuất khẩu nguyên liệu dược phẩm vào thị trường Châu Âu).
Nguyên liệu giá rẻ: Đa phần được sản xuất bởi các nhà sản xuất Trung Quốc và Ấn Độ với
giá thành rẻ hơn nhiều lần so với nguyên liệu chất lượng cao. Do hạn chế về trình độ công
nghệ cũng như kinh phí đầu tư lớn cho hệ thống cơ sở hạng tầng, máy móc thiết bị, kỹ thuật
sản xuất… nên các nguồn nguyên liệu này thường có độ tinh khiết không cao, tồn dư các
hóa chất phụ trợ xúc tác trong quá trình sản xuất khá lớn.
Với đặc thù của ngành dược phẩm, giá nguyên liệu đầu vào thường chiếm từ 50% - 80% giá
vốn hàng bán của thành phẩm. Do đó, chênh lệch trong giá nguyên liệu đầu vào ảnh hưởng
rất lớn đến biên lãi gộp của các doanh nghiệp, cụ thể như sau:
17
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Giá vốn còn bao gồm các khoản khác như:
Chi phí bao bì (trong nhiều trường hợp cao hơn
cả chi phí nguyên liệu), chi phí khấu hao, vận
chuyển...
Giả sử doanh thu
Biên lợi nhuận gộp bình quân
Giá vốn hàng bán
Nguyên liệu chiếm
Chênh lệch nguyên liệu
Giá vốn hàng bán
Biên lãi gộp
1,000 tỷ đồng
45%
550 tỷ đồng
60% Giá vốn hàng bán
-30%
451
-20%
484
-10%
517
0%
550
10%
583
20%
616
30%
649
55%
52%
48%
45%
42%
38%
35%
Nguyên liệu chiếm
Chênh lệch nguyên liệu
Giá vốn hàng bán
Biên lãi gộp
80% Giá vốn hàng bán
-30%
418
-20%
462
-10%
506
0%
550
10%
594
20%
638
30%
682
58%
54%
49%
45%
41%
36%
32%
(nguồn: FPTS)
các nhà cung ứng nước ngoài (chủ yếu xoay quay 3 nhóm: Châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc).
Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa cũng đang chạy đua trong việc tìm
kiếm các nguồn nguyên liệu mới nhằm cân đối giữa chất lượng với giá thành sản xuất phù
hợp với định hướng phát triển và phân khúc khách hàng của từng doanh nghiệp.
Nhận định
Trong dài hạn, tôi cho rằng những nhà cung ứng nguyên liệu chất lượng thấp giá rẻ sẽ dần
bị đào thải và thay thế bởi các nhà cung ứng đảm bảo chất lượng nguyên liệu và được nhiều
cơ quan chức năng uy tín như FDA hay EMA công nhận.
NHÀ SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM
B*
B*.3
Các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam có tuổi đời khá trẻ so với thế giới và chỉ thực sự
phát triển từ sau năm 1990. Do đó, ảnh hưởng từ giai đoạn chiến tranh kéo dài và thời kỳ
bao cấp khó khăn vẫn còn hiện hữu. Việc mỗi tỉnh thành phố đều có ít nhất một doanh
nghiệp dược nhà nước (hoặc có gốc nhà nước) phụ trách cả sản xuất và phân phối dược
phẩm là một trong những hệ quả để lại từ thời bao cấp.
Cả nước hiện có khoảng 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc (trong đó có khoảng 100 doanh
nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược, ngoài ra có
trên 300 cơ sở sản xuất thuốc đông dược). Hầu hết các doanh nghiệp này đều tập trung sản
xuất các dòng thuốc phổ biến thông thường trong khi đó các thuốc chuyên khoa, đặc trị, yêu
cầu kỹ thuật bào chế hiện đại lại không được quan tâm. Do đó, xảy ra tình trạng sản xuất
chồng chéo, tranh giành một phân khúc thị trường nhỏ giữa hầu hết các doanh nghiệp nội
địa. Phân khúc thuốc đặc trị, chuyên khoa…với giá trị cao hoàn toàn do các doanh nghiệp
nước ngoài chiếm lĩnh.
Tại Việt Nam, các nhà sản xuất dược phẩm có thể chia thành nhiều nhóm theo các tiêu chí
phân loại như sau:
Phân loại theo hình thức sở hữu:
Nhóm doanh nghiệp sản xuất dược phẩm có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đại
diện cho nhóm này là các doanh nghiệp như: Sanofi Aventis Việt Nam, Euvipharm,
United Pharma (Philippines), OPV, Thai Nakorn Patana…
18
NGÀNH DƯỢC PHẨM
Nhóm doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa. Đa phần các doanh nghiệp
nhóm này đều có gốc gác nhà nước với cổ đông lớn là SCIC hoặc Tổng công ty
dược Việt Nam (Vinapharm). Đại diện là các doanh nghiệp đang niêm yết như: Dược
Hậu Giang, Imexpharm, Domesco, Traphaco… hoặc một số doanh nghiệp chưa
niêm yết như: Pymepharco, Bidiphar, Mekophar…
Phân loại theo phân khúc sản phẩm:
Nhóm sản phẩm chất lượng cao: các doanh nghiệp đại diện cho nhóm này bao
gồm: Sanofi Aventis, Euvipharm, United Pharma, Thai Nakon Patana…(FDI),
Imexpharm, Domesco (niêm yết), Pymepharco, Stada, Bidiphar, Savipharm… (chưa
niêm yết).
Nhóm sản phẩm phân khúc bình dân: các doanh nghiệp tiêu biểu cho nhóm này:
Dược Hậu Giang, Traphaco, Dược Cửu Long (niêm yết)… và hầu hết các doanh
nghiệp dược phẩm nội địa còn lại.
Phân loại theo chiến lược kinh doanh:
Nhóm tăng trưởng nhanh nhờ đầu tư mạng lưới và marketing: Dẫn đầu nhóm
này là Dược Hậu Giang và Traphaco: Trọng tâm của chiến lược này là tập trung vào
một nhóm sản phẩm chủ lực với các đặc điểm chính: dễ sản xuất, phổ thông, giá rẻ,
dễ sử dụng, chủ yếu bán ở kênh thương mại, vòng quay sản phẩm nhanh… đi kèm
với một chiến lược marketing, quảng bá sản phẩm trên diện rộng với kinh phí đầu tư
lớn nhằm tăng độ phủ, độ nhận diện sản phẩm trên phạm vi lớn.
Nhóm tăng trưởng ổn định và bền vững nhờ đầu tư có chiều sâu vào chất lượng
sản phẩm: Dẫn đầu nhóm này các doanh nghiệp FDI như: Sanofi Aventis, United
Pharma… và các doanh nghiệp nội địa như: Imexpharm, Domesco (niêm yết),
Pymepharco, Stada, Bidiphar, Mekophar…
Nhóm còn lại: Đặc điểm chung của nhóm này là tiềm năng tăng trưởng không rõ ràng
do nhiều vấn đề như: định hướng chiến lược của ban lãnh đạo, sản xuất dàn trải nhiều
dòng sản phẩm, không có các dòng sản phẩm mới nổi bật để tạo lực đẩy tăng trưởng,
quy mô hoạt động còn quá nhỏ và chỉ dừng lại ở tầm địa phương…
Các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm đáng chú ý:
Tham khảo thêm chi tiết về các doanh nghiệp sản xuất khác
Ngành dược Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường khi phải giải quyết vấn đề lớn nhất
về định hướng phát triển: phát triển theo chiều rộng hay phát triển theo chiều sâu, chiến
lược nào sẽ giúp doanh nghiệp đi được xa hơn và phát triển bền vững hơn?
Nhận định
DHG và TRA đã và đang thu hút các nhà đầu tư tài chính nhờ các con số tăng trưởng ấn
tượng, nhưng vẫn chưa thể thu hút được sự quan tâm của các tập đoàn dược phẩm nước
19
NGÀNH DƯỢC PHẨM
ngoài nào vì nguyên nhân: sau khi thị trường đã tăng trưởng mạnh trong một thời gian ngắn,
lúc thị trường đã bão hòa với các dòng sản phẩm phổ thông dễ sản xuất và dễ bị cạnh tranh,
DHG và TRA có thể sáng tạo ra dòng sản phẩm mới có tính đột phá, có hàm lượng đầu tư
chất xám cao, hay có thể chuyển sang sản xuất/có khả năng sản xuất/có kinh nghiệm sản
xuất các dòng sản phẩm đặc trị hay không?
Do đó, tôi cho rằng phát triển theo chiều sâu là sự lựa chọn đúng đắn khi doanh nghiệp tạo
ra được nền tảng vững chắc cho mình và phù hợp với xu hướng phát triển chung của các
doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trên thế giới. Minh chứng cụ thể là việc DMC đã có sự
tham gia của cổ đông chiến lược CFR Pharmaceutical S.A (Chile) trong khi IMP đã và đang
được nhiều tập đoàn dược phẩm nước ngoài đặt vấn đề muốn trở thành cổ đông lớn/cổ
đông chi phối (rào cản duy nhất đang giới hạn room 49% của khối ngoại) khi các tập đoàn
này thấy được khả năng biến hai doanh nghiệp trên thành nhà sản xuất dược phẩm cho họ
ngay tại Việt Nam vói chi phí thấp hơn. Ngoài 2 doanh nghiệp nêu trên, các doanh nghiệp
chưa niêm yết như Pymepharco, Bidiphar, Euvipharm, Savipharm cũng đã thu hút được
dòng vốn đầu tư của các cổ đông chiến lược là các tập đoàn dược phẩm nước ngoài.
CÁC DOANH NGHIỆP GIA CÔNG – SẢN XUẤT NHƯỢNG QUYỀN
B*
B*.4
GIA CÔNG: Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam, gia công là thực hiện gia công một, một
số hoặc toàn bộ công đoạn của quá trình sản xuất thuốc (nhận nguyên liệu, công đoạn chế
biến, đóng gói kể cả đóng gói vào bao bì cuối cùng và dán nhãn).
Đây là hình thức sản xuất khá phổ biến tại Việt Nam, thường xảy ra giữa các doanh nghiệp
dược quy mô nhỏ và các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm quy mô lớn. Doanh thu từ loại
hình sản xuất này thường được ghi nhận trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp dưới
dạng doanh thu từ cung cấp dịch vụ, doanh thu khác… và thường chiếm tỷ trọng không lớn
trong cơ cấu doanh thu. Chất lượng sản phẩm trong hoạt động gia công thường có sự biến
động rất lớn và phụ thuộc hoàn toàn vào yêu cầu của bên đặt gia công.
SẢN XUẤT NHƯỢNG QUYỀN: Đây là một hình thức gia công cao cấp, trong đó, đơn vị
nhượng quyền sản xuất thường là các tập đoàn dược phẩm lớn nước ngoài, mục đích là
muốn sản xuất các loại thuốc của họ ngay tại thị trường Việt Nam với chi phí thấp hơn so
với thuốc nhập khẩu, phù hợp với mặt bằng giá cả tại Việt Nam và vẫn đảm bảo được chất
lượng hiệu quả như thuốc nguyên bản.
Doanh nghiệp sản xuất nhượng quyền phải đáp ứng các yêu cầu về nhà máy, trình độ sản
xuất, bảo quản… Tập đoàn nhượng quyền sẽ chuyển giao toàn bộ bí quyết công nghệ sản
xuất cho doanh nghiệp (phải ký hợp đồng bảo mật). Giá thành các dược phẩm nhượng
quyền sẽ thấp hơn khoảng 30% so với dược phẩm gốc. Điểm khác biệt lớn nhất giữa thuốc
gia công và thuốc sản xuất nhượng quyền là chất lượng dược phẩm. Một số các doanh
nghiệp đang có hoạt động sản xuất nhượng quyền mạnh tại Việt Nam: Imexpharm,
Pymerpharco, Savipharm, Bidiphar, OPV…
Biên lợi nhuận của hoạt động gia công dao động trong khoảng 1 - 10% tùy theo mức độ phức
tạp. Biên lợi nhuận của hoạt động sản xuất nhượng quyền dao động trong ngưỡng 20 - 30%.
Tôi cho rằng sản xuất nhượng quyền đang là hướng phù hợp với ngành dược Việt Nam hiện
nay, giúp các doanh nghiệp nội địa có thể học hỏi và áp dụng ngược lại các kinh nghiệm kiến
Nhận định
20
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài thuyết trình Báo cáo ngành Dược phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
bai_thuyet_trinh_bao_cao_nganh_duoc_pham.pdf

