Bài thuyết trình Báo cáo ngành Dược phẩm

BÁO CÁO NGÀNH  
DƯỢC PHẨM  
04/2014  
THUỐC GENERIC CHẤT LƯỢNG  
CAO - TƯƠNG LAI CỦA NGÀNH  
DƯỢC VIỆT NAM  
“… Nâng cấp hệ thống sản xuất theo  
chuẩn quốc tế đang là xu hướng tất  
yếu khi các tập đoàn dược phẩm  
nước ngoài đã bắt đầu quá trình thâm  
nhập sâu vào thị trường nội địa …”  
Hoàng Hiếu Tri  
Chuyên viên Phân tích  
P: (08) – 6290 8686 – Ext: 7596  
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
TIÊU ĐIỂM  
Ngành dược thế giới: Có sự phân hóa lớn giữa nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển  
Mỹ, Nhật Bản và Canada là 3 quốc gia có mức tiêu thụ thuốc lớn nhất trên thế giới, khoảng 800 USD/người/năm.  
Tăng trưởng tiền sử dụng thuốc của các quốc gia phát triển đang có xu hướng chậm lại, bình quân 1% - 4%/năm.  
Thuốc điều trị ung thư, tiểu đường, hô hấp, béo phì, hệ miễn dịch… sẽ là trọng điểm sản xuất từ nay đến 2016.  
Nhóm 20 tập đoàn dược phẩm lớn chiếm 59% tổng tiền tiêu thụ thuốc toàn cầu vào năm 2016.  
Sự trỗi dậy mạnh mẽ của nhóm 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển (pharmerging countries),  
dẫn đầu là Trung Quốc, Ấn Độ, Nga và Brazil. Tốc độ tăng trưởng bình quân của nhóm này từ 11% - 14%/năm.  
Thuốc generic vẫn là sự lựa chọn tối ưu cho các nước đang phát triển, tuy nhiên, trong dài hạn, nhóm thuốc này  
chỉ có thể chiếm tỷ trọng bình quân 10% tổng tiền sử dụng thuốc toàn cầu.  
Trung Quốc và Ấn Độ trở thành hai quốc gia sản xuất nguyên liệu và thuốc thành phầm lớn nhất thế giới.  
Ngành dược Việt Nam: Tiềm năng tăng trưởng lớn, nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn  
Tổng tiền thuốc chi tiêu bình quân đầu người tại Việt Nam năm 2013 đạt 33 USD/người.  
Việt Nam chỉ mới đạt trình độ sản xuất được thuốc thành phẩm từ nguyên liệu nhập khẩu, chưa tự sản xuất  
được nguyên liệu hóa dược và chưa tự phát minh được thuốc.  
Tốc độ tăng trưởng của ngành giai đoạn 2008 – 2012 đạt 23%/năm, giai đoạn 2013 – 2018 đạt 17.5%/năm.  
Hơn 51% nguyên liệu sản xuất thuốc tại Việt Nam đang được nhập khẩu từ Trung Quốc, 18% nhập từ Ấn Độ.  
Chưa được quy hoạch bài bản, chỉ tập trung vào các dòng phổ thông, bỏ ngõ phân khúc đặc trị cho nước ngoài.  
Chính sách quản lý đang được điều chỉnh theo hướng phù hợp nhằm thúc đẩy ngành dược nội địa phát triển.  
Đang có xu hướng nâng cấp nhà máy sản xuất lên các tiêu chuẩn quốc tế như PIC/S - GMP, EU – GMP để sản  
xuất thuốc generic chất lượng cao nhằm tăng khả năng trúng thầu kênh ETC và khai thông thị trường xuất khẩu.  
Gia công thuốc và sản xuất nhượng quyền là con đường ngắn và hiệu quả nhất để học hỏi và theo kịp trình độ  
phát triển của ngành dược thế giới.  
Khuyến nghị đầu tư:  
Toàn thị trường đang có 15 doanh nghiệp dược phẩm (+ ngành y tế) niêm yết, và hơn 180 doanh nghiệp dược  
phẩm khác. Trong báo cáo này, chúng tôi đưa ra khuyến nghị đầu tư cho 5 doanh nghiệp sau:  
Dược Hậu Giang (DHG – HOSE) – BÁN: Giá mục tiêu 12 tháng tới: 114.000 đ/cp (-19%)  
Do quan ngại về định hướng phát triển sau giai đoạn tăng trưởng nhanh.  
Do những lo ngại về quá trình chuyển giao quyền lực cho đội ngũ lãnh đạo kế cận.  
Imexpharm (IMP – HOSE) – MUA: Giá mục tiêu 12 tháng tới: 73.000 đ/cp (+30%)  
Do kỳ vọng vào định hướng phát triển đúng đắn của doanh nghiệp, tập trung vào chất lượng thuốc.  
Do triển vọng cải thiện hiệu quả kinh doanh nhờ thay đổi thị trường mục tiêu.  
Do khả năng hợp tác chiến lược với tập đoàn dược phẩm nước ngoài (đi kèm rủi ro bị thâu tón thôn tính).  
Domesco (DMC – HOSE) – THÊM: Giá mục tiêu 12 tháng tới: 49.000 đ/cp (+15%)  
Do kỳ vọng vào những chuyển biến tích cực với sự tham gia của cổ đông lớn CFR (Chile – 45% cổ phần).  
Do phân khúc thị trường thuốc điều trị tim mạch, tiểu đường, béo phì… còn tiềm năng tăng trưởng rất lớn.  
Pymepharco (chưa niêm yết) – TIỀM NĂNG: Do hiệu quả hoạt động vượt trội, định hướng đúng đắn.  
Bidiphar 1 (chưa niêm yết) – TIỀM NĂNG: Do kỳ vọng vào dòng thuốc điều trị Ung thư chất lượng cao đầu  
tiên do Việt Nam sản xuất.  
3
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
A. TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC THẾ GIỚI  
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển  
A
A.1  
A. 1  
Ngành dược phẩm thời hiện đại đã phát triển được gần 100 năm từ những năm 20 của thế kỷ  
trước. Nếu tính theo quy mô phát triển công nghiệp, lĩnh vực này đã có lịch sử gần 50 năm.  
Cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, đa số các tập đoàn dược phẩm hàng đầu thế giới hiện nay  
được thành lập. Thụy Sĩ, Đức và Ý là những nước đầu tiên phát triển mạnh ngành công nghiệp  
dược phẩm, theo sau đó là các quốc gia khác như Anh, Mỹ, Bỉ và Hà Lan.  
Vào những năm 1960, rất nhiều loại thuốc được phát triển từ thập niên 50 được đưa vào sản  
xuất đại trà và tung ra thị trường. Trong đó, nổi tiếng nhất là các thuốc như “The Pill” (thuốc  
tránh thai), Cortisone (thuốc trị huyết áp) và nhiều loại thuốc tim mạch, chống trầm cảm khác.  
Từ thập niên 70, thuốc điều trị ung thư bắt đầu được sử dụng phổ biến. Nền công nghiệp  
dược phẩm thế giới bắt đầu phát triển mạnh. Các quy định pháp lý về việc cho phép các thuốc  
phát minh “bom tấn” được quyền bán với giá cao nhằm bù đắp các chi phí đầu tư nghiên cứu  
trước đó bắt đầu có hiệu lực tại nhiều quốc gia  
Vào giữa thập niên 80, hợp nhất sáp nhập các doanh nghiệp nhỏ với các doanh nghiệp lớn  
hơn trở thành xu thế và rất nhiều thương vụ M&A đã được thực hiện. Sau giai đọan này, nền  
công nghiệp sản xuất dược phẩm được thu gom về dưới sự kiểm soát của một số tập đoàn  
dược phẩm không lồ thống trị thị trường tiêu thụ trên toàn thế giới.  
Bắt đầu từ những năm 90, môi trường kinh doanh của ngành dược phẩm có sự thay đổi  
đáng kể với tiêu điểm là hoạt động mua bán sáp nhập trên quy mô toàn cầu và chiến lược đầu  
tư mạnh mẽ cho hoạt động nghiên cứu phát triển các hoạt chất mới và thử nghiệm lâm sàng.  
Năm 1997, hoạt động quảng cáo trực tiếp đến người tiêu dùng thông qua kênh radio và TV  
gia tăng nhanh chóng. Cũng trong giai đoạn này, mạng lưới Internet giúp người tiêu dùng có  
thể mua thuốc trực tiếp từ các hãng dược, các hãng dược có thể mua nguyên liệu trực tiếp từ  
nhà sản xuất… và làm thay đổi về căn bản môi trường kinh doanh.  
Hiện nay, nhu cầu sử dụng các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng và các thuốc thay thế (dùng  
để điều trị cùng 1 loại bệnh) đang tạo ra nhiều cơ hội mới cho các nhà sản xuất đến sau và  
làm gia tăng mức độ cạnh tranh trong ngành. Đồng thời, trong thời gian gần đây, nhiều tranh  
cãi đã xuất hiện xoay quanh các tác dụng phụ của thuốc và các chiến lược marketing không  
minh bạch của các hãng dược phẩm.  
Hướng về tương lai, các nguyên liệu sản xuất dược phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên và  
chiết xuất từ thực vật đang nổi lên như một trào lưu mới nhằm tạo ra các loại thuốc mới thân  
thiện với sức khỏe con người và ít tác dụng phụ hơn.  
Tóm lại, xu hướng phát triển chung của ngành dược phẩm là không ngừng tìm kiếm các loại  
thuốc điều trị các căn bệnh mới và các căn bệnh ác tính hiện hữu. Hiệu quả của thuốc và mức  
độ thân thiện với con người ngày càng được chú trọng.  
4
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Tình hình tiêu thụ thuốc hiện tại và dự phóng trong tương lai  
A
A.2  
Giai đoạn 2004 – 2013, tổng doanh thu tiêu thụ thuốc trên thế giới tăng trưởng bình quân  
5,8%/năm từ mức 455 tỷ USD năm 2004 lên mức 717 tỷ USD năm 2013. Giai đoạn 2014 –  
2018, theo ước tính của EvaluatePharma, mức tiêu thụ thuốc toàn cầu sẽ gần chạm ngưỡng  
900 tỷ USD vào năm 2018.  
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2014 – 2018 khoảng 5,7%/năm. Trong đó, tăng trưởng  
của các thuốc kê toa có bản quyền phát minh (patent drug) đạt khoảng 5,5%/năm, tăng trưởng  
của các thuốc generic (thuốc mô phỏng theo thuốc phát minh khi hết hạn bảo hộ độc quyền)  
đạt khoảng 7,1%/năm.  
Tỷ trọng nhóm thuốc generic được dự báo vẫn chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong cơ cấu  
tiêu thụ thuốc toàn cầu. Cụ thể, tỷ trọng doanh thu thuốc generic năm 2018 được dự phóng  
chỉ chiếm khoảng 10,3%, tăng không đáng kể so với mức 9,8% của năm 2013. Nguyên nhân  
chủ yếu dẫn tới xu hướng này là tình trạng bệnh tật ngày càng gia tăng do ô nhiễm môi trường,  
con người thường xuyên tiếp xúc với các hóa chất độc hại, từ đó, nhiều chứng bệnh mới xuất  
hiện, đáng chú ý là các bệnh liên quan đến ung thư và di truyền học.  
Việc nghiên cứu tạo ra các thuốc mới vẫn là xu hướng chủ đạo trong trung hạn và dài  
hạn, các thuốc generic dù có tốc độ tăng trưởng cao hơn các thuốc phát minh nhưng khó có  
thể thay đổi cán cân tỷ trọng do các ràng buộc về bảo hộ bản quyền sáng chế tại các quốc gia  
phát triển và kể cả các quốc gia thuộc nhóm các nước đang phát triển (pharmerging countries).  
Doanh thu tiêu thụ thuốc trên toàn thế giới giai đoạn 2004 - 2018  
1000  
900  
800  
700  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
0
40.0%  
đvt: tỷ USD  
25.0%  
Nguồn: EvaluatePharma, FPTS tổng hợp  
35.0%  
92  
88  
30.0%  
25.0%  
20.0%  
15.0%  
10.0%  
5.0%  
83  
16.6%  
803  
79  
770  
15.0%  
15.2%  
75  
737  
65  
18.5%  
66  
70  
702  
59  
52  
670  
53  
660  
648  
647  
626  
46  
611  
597  
13.5%  
40  
553  
10.2%  
32  
502  
27  
463  
7.1%  
3.9%  
6.0%  
4.6%  
428  
5.3%  
4.8%  
5.1%  
5.0%  
4.5%  
4.3%  
11.1%  
6.1%  
0.4%  
10.5%  
9.5%  
8.8%  
8.5%  
2.0%  
1.5%  
5.8%  
3.3%  
0.0%  
-1.9%  
-1.5%  
-5.0%  
2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018  
Thuốc kê toa (không bao gồm Generic)  
Tăng trưởng doanh thu tiêu thụ thuốc  
Thuốc Generic  
Tăng trưởng doanh thu generic  
A.2  
Tình hình tiêu thụ thuốc hiện tại và dự phóng trong tương lai  
5
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Tình hình tiêu thụ thuốc theo quốc gia và dự phóng  
A
A.3  
Mỹ, Nhật Bản và Canada là 3 quốc gia có mức tiêu thụ thuốc lớn nhất trên thế giới (bình quân  
gần 800 USD/người/năm, tương đương 55% tổng giá trị sử dụng thuốc) dù tổng dân số chỉ  
hơn 486 triệu.  
Mức tiêu thụ bình quân đầu người trên toàn thế giới đang ở mức 186 USD. Nếu so với mức  
bình quân này, Ấn Độ đang là quốc gia có mức chi tiêu bình quân đầu người thấp nhất thế  
giới dù dân số đông thứ 2 thế giới (hơn 1,2 tỷ người). Nhóm các nước đang phát triển (bao  
gồm cả Việt Nam) có mức chi tiêu cho thuốc bình quân đầu người chỉ 96 USD, thấp hơn 48%  
so với mức bình quân chung của thế giới. Chỉ số này tại Trung Quốc cũng khá thấp, chỉ khoảng  
121 USD/người/năm.  
Tương quan mức chi tiêu bình quân thế giới(USD) và dân số  
các quốc gia (triệu người)  
1,292  
33  
96  
121  
179  
180  
Ấn Độ  
1,012  
Các nước đang phát triển  
1,349  
Trung Quốc  
140  
201  
105  
50  
Nga  
Brazil  
321  
323  
Các nước Châu Âu còn lại  
Hàn Quốc  
EU5  
375  
420  
320  
36  
Canada  
Nhật Bản  
Mỹ  
644  
124  
326  
892  
400  
Chi tiêu bình quân đầu người  
0
200  
600  
800  
1000  
Dân số  
1200  
1400  
1600  
Với dân số gần 3.7 tỷ người (chiếm hơn 50% tổng dân số thế giới), Ấn Độ, Trung Quốc và các  
quốc gia đang phát triển đang và sẽ là thị trường tiềm năng của các hãng dược lớn. Mức chi  
tiêu cho dược phẩm tại các nước này ước tính sẽ tăng trưởng mạnh trong thời gian sắp tới.  
Theo dự phóng của IMS Health, tỷ trọng doanh thu đến từ nhóm các nước đang phát triển sẽ  
tăng từ mức 20% vào năm 2011 lên mức 30% tổng tiền thuốc sử dụng vào năm 2016.  
Các nước  
còn lại  
8%  
Các nước  
còn lại  
7%  
Doanh thu tiêu thụ thuốc  
theo quốc gia  
Nguồn: FPTS tổng hợp  
Mỹ  
2016  
2011  
Các nước  
đang phát  
triển  
Mỹ  
31%  
34%  
20%  
Các nước  
đang phát  
triển  
30%  
Các  
nước  
Châu Âu  
còn lại  
7%  
Hàn Quốc  
1%  
Hàn Quốc  
Canada  
2%  
1%  
EU5  
13%  
Các nước Châu  
Âu còn lại  
Nhật Bản  
12%  
EU5  
17%  
Canada  
2%  
Nhật Bản  
10%  
5%  
6
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
50% tổng chi tiêu thuốc men toàn cầu đang dành để điều trị 5 nhóm bệnh chính: ung thư, tiểu  
đường, hen suyễn hô hấp, hệ miễn dịch và kiểm soát mỡ máu với nguyên nhân chủ yếu đến  
từ tình trạng ô nhiễm môi trường sống ngày một nghiêm trọng trên quy mô toàn thế giới.  
Top 20 nhóm thuốc được sử dụng nhiều nhất vào năm 2016  
Kháng sinh  
Cephalosporin  
Rối loạn tăng động -  
Kháng virus  
mất tập trung  
Ung thư  
17%  
Tránh thai  
Ức chế miễn dịch  
Gây tê - Gây mê  
Chống tụ cầu khuẩn  
Tiểu  
đường  
10%  
Đa xơ cứng  
Chống động kinh  
Chống viêm loét  
Cân bằng miễn dịch  
Hen  
suyễn/h  
ô hấp  
Vaccines  
Rối loạn thần kinh  
Hệ miễn dịch  
Kiểm soát lipid máu  
Kháng virus HIV  
Hóc môn huyết áp  
Các doanh nghiệp dược phẩm đầu ngành và dự phóng tăng trưởng  
A
A.4  
Top 20 doanh nghiệp dược phẩm lớn nhất về quy mô doanh thu hầu hết tập trung tại khu vực  
Bắc Mỹ (Mỹ, Canada) và khu vực Tây Âu (Anh, Pháp, Đức, Italia, Tây Ban Nha, Thụy Sỹ…)  
Tổng doanh thu của nhóm doanh nghiệp này trong năm 2012 đạt 471 tỷ USD, chiếm 66%  
tổng doanh thu tiêu thụ thuốc trên toàn cầu. Theo dự phóng của tổ chức Evaluate Pharma, dự  
kiến đến năm 2018, tổng doanh thu của nhóm “top 20” này sẽ đạt 529 tỷ USD (+12% so với  
năm 2012 – bình quân tăng 2% mỗi năm) và chỉ chiếm tỷ trọng 59% tổng doanh thu tiêu thụ  
thuốc toàn thế giới (-7% do sự trỗi dậy của các quốc gia mới nổi, dẫn đầu là Trung Quốc và  
Ấn Độ, Nga, Brasil).  
Top 20 công ty dược hàng đầu thế giới theo doanh thu so sánh năm  
2012/2018  
60  
50  
40  
30  
20  
10  
0
52  
đvt: tỷ USD  
49  
47  
46  
40  
40  
2012  
2018  
26  
22  
22  
21  
21  
21  
19  
18  
16  
16  
15  
13  
12  
12  
Nguồn: FPTS tổng hợp  
7
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Sau hàng trăm năm phát triển từ nửa cuối thế kỷ 19, quy mô của các tập đoàn dược phẩm  
lớn đã vượt khỏi tầm quốc gia và trở thành các tập đoàn đa quốc gia có mặt trên toàn cầu.  
Tốc độ tăng trưởng doanh thu của các tập đoàn này đã giảm xuống mức tăng trưởng bền  
vững, bình quân khoảng 1% - 4%/năm. Trong đó hai quốc gia hàng đầu là Pháp và Tây Ban  
Nha dự kiến sẽ tăng trưởng âm trong suốt giai đoạn 2012 – 2017 do nhu cầu thị trường trong  
nước đã bão hòa và dân cư có xu hướng già hóa. Riêng Nhật Bản là quốc gia châu Á phát  
triển duy nhất có mức tăng trưởng cao hơn bình quân ngành.  
Với nhóm các quốc gia mới nổi, tốc độ tăng trưởng trong các năm sắp tới rất khả quan do  
mức chi tiêu cho dược phẩm của người dân các nước này còn khá thấp. Trong đó, Trung  
Quốc dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng ấn tượng 15% -18%. Việt Nam thuộc nhóm 3 của các  
quốc gia đang phát triển nhưng có mức tăng trưởng cao hơn so với mức bình quân (khoảng  
17.5%).  
Dự phóng mức tăng trưởng bình quân của các nhóm quốc gia  
CAGR 2012-2017 của các thị trường phát triển  
Mỹ  
Nhật Bản  
Đức  
1 - 4%  
2 - 5%  
1 - 4%  
Pháp  
(-1) - 2%  
0 - 3%  
Ý
Canada  
Tây Ban Nha  
Anh  
1 - 4%  
(-4) - (-1)%  
1 - 4%  
Bình quân  
1 - 4%  
CAGR 2012-2017 của các thị trường đang phát triển  
Nhóm 1: Trung Quốc  
15 - 18%  
10 - 13%  
11 - 14%  
9 - 12%  
Nhóm 2  
Brazil  
Nga  
Ấn Độ  
Nhóm 3  
11 - 14%  
7 - 10%  
Bình quân  
11 - 14%  
(nguồn: IMS Health, FPTS tổng hợp)  
8
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
CHUỖI GIÁ TRỊ TRONG SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM  
A
A.5  
BƯỚC 1: PHÁT MINH THUỐC  
Phát minh thuốc là quá trình tốn kém chi phí và thời gian nhất trong chuỗi giá trị của bất kỳ loại  
dược phẩm nào. Đòi hỏi phải tìm ra hoạt chất chính dùng để chữa bệnh thử nghiệm trên  
động vật thử nghiệm lâm sàng trên người thử nghiệm trên cộng đồng trải qua quá  
trình xét duyệt của cơ quan quản lý y tế… (xem chi tiết tại đây)  
Chi phí đầu tư cho mỗi loại thuốc mới dao động từ hàng trăm triệu USD đến cả tỷ USD và tỷ  
lệ thành công – thất bại khi nghiên cứu một loại thuốc mới thường là 20% - 80%. Do đó, các  
thuốc phát minh thường có giá bán rất cao nhằm giúp doanh nghiệp bù đắp chi phí đầu tư và  
duy trì hoạt động theo dõi an toàn thuốc sau khi thương mại hóa.  
CHUỖI GIÁ TRỊ TRONG SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM  
A
A.5  
BƯỚC 2: SẢN XUẤT & PHÂN PHỐI  
Nguồn: FPTS  
Trong vài thập niên gần đây, hoạt động sản xuất nguyên liệu dược phẩm đã có sự thay đổi  
đáng kể. Trung Quốc, Ấn Độ, Pakistan… trỗi dậy và trở thành các quốc gia sản xuất nguyên  
liệu dược phẩm lớn nhất thế giới.  
Biên lãi gộp của  
nhóm này khoảng  
Theo các số liệu thống kê gần nhất, vào năm 2007, Trung Quốc và Ấn Độ chiếm gần 70%  
tổng sản lượng cung ứng nguyên liệu sản xuất dược phẩm trên toàn cầu so với mức 49%  
năm 2004.  
46.6%  
(Mallinckroct 2013)  
9
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Hoạt chất chính trong thuốc (active ingredients – thành phần chính có công dụng chữa bệnh):  
Nguyên liệu dùng làm hoạt chất chính càng tinh khiết thì hiệu quả càng cao… (xem thêm)  
Tá dược (excipients): Đây là thành phần không có tác dụng chữa bệnh, nhưng lại là nhân tố  
vô cùng quan trọng quyết định hiệu quả của thuốc… (xem thêm)  
Sau khi thuốc thành phẩm được tạo ra, rủi ro thất thoát hoặc bị làm giả trong quá trình phân  
phối ngày càng cao, dù tỷ trọng là không lớn… (xem thêm)  
Có rất nhiều các tổ chức tham gia vào quá trình phân phối thuốc qua nhiều tầng nấc phức tạp.  
Tuy nhiên, về cơ bản, trên thế giới, nhà sản xuất và nhà phân phối thường là các đơn vị độc  
lập nhằm tập trung hóa chuyên môn… (xem thêm)  
Các nhà bán sỉ sẽ phân phối lại dược phẩm vào kênh bệnh viện quốc gia hoặc cho nhà bán  
sỉ ở quy mô nhỏ hơn hoặc các nhà phân phối thứ cấp. Các nhà phân phối thứ cấp này thường  
cung ứng thuốc cho các bệnh viện nhỏ, phòng mạch, các hiệu thuốc nhỏ… (xem thêm)  
Tại Mỹ và nhiều quốc gia Châu Âu, các bác sĩ tại bệnh viện và phòng mạch kê đơn theo một  
phác đồ hoàn chỉnh với liều lượng phù hợp. Đơn thuốc được bán theo từng hộp để thuận tiện  
trong việc quản lý giá thuốc theo mã vạch in trên hộp thuốc… (xem thêm)  
THUỐC GENERIC – GIẢI PHÁP HIỆU QUẢ CHO CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN  
A
A.6  
Thuốc Generic (hay còn gọi là thuốc gốc) là các thuốc phát minh đã hết hạn bảo hộ bản  
quyền. Các thuốc này có chi phí và giá thành sản xuất thấp hơn so với thuốc phát minh  
(patent drug) nhiều lần do không tốn chi phí nghiên cứu ban đầu và khá phù hợp với mặt  
bằng thu nhập tại các nước đang phát triển và các nước chưa phát triển.  
Trước năm 2000, thuốc generic chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu doanh thu dược  
phẩm toàn cầu. Tuy nhiên, trong vài năm gần đây, với sự trỗi dậy của các quốc gia mới nổi  
(chiếm 50% dân số thế giới), công nghiệp sản xuất thuốc generic đang tăng trưởng mạnh  
mẽ hơn bao giờ hết. Vào năm 2004, tỷ trọng thuốc generic toàn cầu chỉ chiếm 5.9% tổng  
giá trị sử dụng thuốc. Tỷ trọng này tăng mạnh trong một thời gian ngắn lên mức 10% vào  
năm 2013.  
Mặc dù vậy, theo đánh giá của giới chuyên môn, tỷ trọng thuốc generic dù tăng mạnh về  
mặt số lượng nhưng không thể đuổi kịp các thuốc phát minh về mặt giá trị. Do đó, tỷ trọng  
thuốc generic trên toàn cầu dự phóng sẽ duy trì ổn định ở mức 10%.  
10  
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
B. TỔNG QUAN NGÀNH DƯỢC VIỆT NAM  
Lịch sử hình thành và quá trình phát triển  
B
B.1  
B.1  
Thời Bắc thuộc, do đặc điểm địa lý và quan hệ chính trị, nền y dược Việt Nam có sự giao  
thoa và chịu nhiều ảnh hưởng từ nền y dược Trung Quốc. Qua trao đổi học hỏi những vị thuốc,  
kinh nghiệm chữa bệnh kết hợp với các loại thảo dược bản địa đặc thù đã tạo nền móng đầu  
tiên cho mảng Đông dược nói riêng và ngành dược Việt Nam nói chung.  
Năm 938, thời kì Bắc thuộc kết thúc, ngành y dược Việt Nam tiếp tục phát triển. Từ thời Lý,  
Trần, Hồ, Hậu Lê, Tây Sơn và triều Nguyễn, nền y dược dân độc đã được chú trọng đáng kể.  
Từ năm 1858, trong thời kỳ Pháp thuộc, người Pháp đã đưa Tây y vào nước ta, năm 1902  
mở trường đào tạo Dược sĩ Hà Nội, tổ chức một số bệnh viện, bệnh xá ở các tỉnh, thành phố,  
phủ, huyện. Dưới sức ép của Pháp, nhiều dược sĩ không được phép mở cửa hiệu, viện nghiên  
cứu khai thác dược liệu trong nước cũng bị chèn ép, mảng Đông dược bị kìm hãm phát triển.  
Giai đoạn 1946 – 1954 kháng chiến chống Pháp ngành dược vừa thiếu dược sĩ, công nhân,  
trang thiết bị, vật tư, vừa thiếu kinh nghiệm và tổ chức quản lí. Ngành chủ yếu phát triển theo  
hướng tự lực cánh sinh, tận dụng mọi nguyên liệu sẵn có từ cây thuốc trong nước. Thời kì  
này, Việt Nam đã sản xuất được thuốc chiến thương, Filatov, ống tiêm, kìm kẹp máu, dao mổ,  
kim khâu... Cũng ở trong giai đoạn này, tại Thanh Hóa, chính quyền đã mở các lớp trung cấp  
dược, ở chiến khu Việt Bắc có viện đại học dược và mở nhiều lớp dược tá ở các liên khu.  
Giai đoạn 1954 – 1975, miền Bắc tiến hành cải tạo ngành dược tự doanh, xây dựng phát triển  
ngành dược quốc doanh. Năm 1965, nhu cầu sử dụng thuốc tăng nhanh, nên hầu hết các xã  
đều có phong trào trồng và sử dụng cây thuốc nam, hình thành một mạng lưới sản xuất dược  
hoàn chỉnh từ trung ương đến địa phương để có thể sản xuất thuốc men theo từng vùng theo  
hướng tự cung tự cấp.  
Giai đoạn sau 1975, ngành dược phát triển qua 3 giai đoạn chính:  
Giai đoạn 1 (1975 – 1990): Ngành dược Việt Nam giai đoạn này chủ yếu bao gồm các doanh  
nghiệp nhà nước, sức sản xuất không đáng kể. Mức tiêu thụ bình quân thuốc trên đầu người  
thời kỳ này đạt vào khoảng 0,5 - 1USD/năm. Do thuốc trong thời kỳ này khan hiếm nên tiêu  
chuẩn chất lượng thuốc trong sử dụng chưa được chú trọng.  
Giai đoạn 2 (1990 – 2005): Các nhà thuốc và các công ty sản xuất thuốc phát triển rất nhanh,  
sản phẩm dược đa dạng, phong phú hơn. Đặc biệt sau khi có Nghị quyết Trung ương IV và  
Quyết định 58 của Thủ tướng chính phủ về công nghiệp dược đã có những bước phát triển  
đáng kể, đảm bảo phần lớn nhu cầu về thuốc chữa bệnh, khắc phục được tình trạng thiếu  
thuốc của nhiều năm trước đây. Giai đoạn này cũng chứng kiến quá trình cổ phần hóa nhiều  
doanh nghiệp dược quốc doanh theo chủ trương cổ phần hóa của nhà nước.  
Giai đoạn 3 (từ năm 2005 đến nay): Các công ty dược đẩy mạnh quá trình nâng cấp tiêu  
chuẩn sản xuất lên GMP-ASEAN GMP-WHO PIC/S EU-GMP… nhằm thích ứng với  
yêu cầu về chất lượng ngày càng gia tăng và phù hợp với quá trình toàn cầu hóa của ngành  
dược Việt Nam trong quá trình hội nhập với thế giới.  
11  
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Trình độ phát triển và định vị trên bản đồ thị trường dược phẩm thế giới  
B
B.2  
B.2  
Theo phân loại và xếp hạng cho ngành công nghiệp dược: Tổ chức Phát triển Công nghiệp  
Liên Hợp Quốc (UNIDO) chia công nghiệp dược theo 5 mức phát triển, Tổ chức Y tế Thế giới  
(WHO) và Hội nghị Thương mại và Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNCTAD) xác định mức độ  
phát triển công nghiệp dược của các quốc gia theo 4 cấp độ:  
Cấp độ 1: Nước đó hoàn toàn phải nhập khẩu thuốc.  
Cấp độ 2: Sản xuất được một số thuốc generic; đa số thuốc phải nhập khẩu.  
Cấp độ 3: Có công nghiệp dược nội địa; có sản xuất thuốc generic; xuất khẩu  
được một số dược phẩm.  
Cấp độ 4: Sản xuất được nguyên liệu và phát minh thuốc mới.  
Theo cách đánh giá này, hiện nay công nghiệp dược Việt Nam đang ở gần cấp độ 3  
theo thang phân loại của WHO. Còn nếu theo thang phân loại 5 mức phát triển của UNIDO  
thì công nghiệp dược của Việt Nam mới chỉ ở mức 3, nghĩa là “công nghiệp dược nội địa sản  
xuất đa số thành phẩm từ nguyên liệu nhập”.  
Ngành công nghiệp hóa dược của Việt Nam vẫn chưa phát triển do thiếu sự đồng bộ trong  
quy hoạch, chính sách, công nghiệp phụ trợ… Vì vậy, tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam  
chỉ mới có một nhà máy sản xuất nguyên liệu kháng sinh bán tổng hợp của Mekophar, sản  
lượng thiết kế khoảng 200 tấn Amoxicillin và 100 tấn Ampicillin mỗi năm, và chủ yếu chỉ đủ  
phục vụ nhu cầu của doanh nghiệp trước áp lực cạnh tranh từ nguyên liệu giá rẻ của Trung  
Quốc và Ấn Độ.  
Về định vị ngành dược Việt Nam trên bản đồ dược thế giới, theo cách đánh giá phân loại của  
IMS Health, Việt Nam thuộc nhóm 17 nước có ngành công nghiệp dược đang phát triển  
(pharmerging countries). Cách phân loại này dựa trên tiêu chí cốt lõi là tổng tiền thuốc tiêu thụ  
hàng năm, bên cạnh đó, IMS Health cũng sử dụng các tiêu chí tham khảo khác như mức độ  
năng động, tiềm năng phát triển của thị trường và khả năng thay đổi để thích nghi với các biến  
động về chính sách quản lý ngành dược tại các quốc gia này. Theo đánh giá của IMS Health,  
có tất cả 17 quốc gia thuộc nhóm “pharmerging”, chia thành 3 nhóm nhỏ:  
Nhóm 1: Trung Quốc, quốc gia này ghi nhận hơn 40 tỷ USD tổng tiền sử dụng thuốc trong  
năm 2013. Tăng trưởng chính chủ yếu đến từ các thuốc generic được sản xuất và tiếp thị bởi  
các doanh nghiệp nội địa, bên cạnh nhu cầu đối với các thuốc phát minh mới ngày càng tăng  
cao, đặc biệt là tại khu vực thành thị.  
Nhóm 2: Brazil, Nga, Ấn Độ. Nhóm quốc gia này ghi nhận tổng tiền sử dụng thuốc từ 5 – 15  
tỷ USD trong năm 2013. Brazil và Nga đang đạt được mức tăng trưởng “hai con số” trong các  
năm gần đây, trong khi Ấn Độ ghi nhận sự nổi lên của nhóm dân cư thuộc tầng lớp trung lưu  
với sự cải thiện đáng kể của hệ thống cơ sở hạ tầng y tế và nhận thức về chăm sóc sức khỏe.  
Nhóm 3: Gồm 13 quốc gia: Venezuela, Ba Lan, Argentina, Thổ Nhĩ Kỳ, Mexico, Việt Nam,  
Nam Phi, Thái Lan, Indonesia, Rumani, Ai Cập, Pakistan và Ucraina. Các quốc gia này ghi  
nhận tổng tiền thuốc sử dụng từ 1 – 5 tỷ USD trong năm 2013. Nhóm này cũng có mức tăng  
trưởng nhanh nhất trong 3 nhóm, có thể đến 20%/năm với sự linh hoạt và chủ động thay đổi  
để thích nghi với các biến động trong chính sách, vốn chưa được hoàn thiện, của cơ quan  
quản lý sở tại.  
12  
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
So sánh trình độ phát triển với các quốc gia khác trong khu vực  
B
B.3  
B.3  
Theo dự phóng của IMS Health, tốc độ tăng trưởng doanh thu của các doanh nghiệp dược  
phẩm Việt Nam đạt khoảng 23% trong giai đoạn 2008 – 2012. Đây là mức tăng trưởng cao  
thứ 2 trong nhóm các quốc gia mới nổi, chỉ xếp sau Argentina (24.8%) và cao hơn cả Trung  
Quốc (22.3%) và các nước khác trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Indonesia.  
Trong giai đoạn 2013 – 2018, tốc độ tăng trưởng bình quân chung của các nước mới nổi có  
xu hướng chậm lại sau giai đoạn 2008 – 2012 tăng trưởng mạnh, bình quân ở mức 11% -  
14%. Trong đó, Việt Nam có mức tăng trưởng cao thứ 2 trong nhóm (17.5%).  
nguồn: FPTS tổng hợp  
Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam và mức chi tiêu  
bình quân đầu người cho dược phẩm  
35  
30  
25  
20  
15  
10  
5
300  
250  
200  
150  
100  
50  
248  
217  
190  
nguồn: FPTS  
166  
145  
127  
111  
97  
85  
75  
65  
57  
50  
44  
38  
33  
29  
28  
22  
20  
17  
13  
11  
10  
-
-
Tổng tiền thuốc sử dụng  
Tổng tiền thuốc SX trong nước  
Chi tiêu bình quân đầu người  
13  
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Tổng hợp số liệu thống kê của BMI, IMS Health và Cục Quản lý Dược Việt Nam, FPTS dự  
phóng mức chi tiêu một số chỉ tiêu tăng trưởng trọng yếu trong giai đoạn 2014 – 2028 như  
sau:  
Tăng trưởng dân số Việt Nam: Bình quân 2%/năm và vượt mốc 120 triệu người vào  
năm 2028.  
Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc tại Việt Nam: Bình quân 17%/năm (bao gồm hai  
yếu tố cốt lõi là nhu cầu và mức tăng giá thuốc bình quân 8,6% mỗi năm).  
Tăng trưởng tổng tiền sử dụng thuốc sản xuất tại Việt Nam: 14,3%.  
Các quy định pháp lý của cơ quan quản lý trong lĩnh vực dược phẩm  
B
B.4  
B
Các cơ quan tham gia quản lý thị trường dược phẩm Việt Nam:  
•
•
•
•
•
•
Bộ Y tế Việt Nam: www.moh.gov.vn  
Cục quản lý dược (trực thuộc Bộ Y tế): www.dav.gov.vn  
Bộ Công thương: www.moit.gov.vn  
Bộ Kế hoạch và Đầu tư: www.mpi.gov.vn  
Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn  
Cục quản lý giá Bộ Tài chính: www.mof.gov.vn/portal/page/portal/qlg  
Các quy định pháp lý điều chỉnh và quản lý thị trường dược phẩm Việt Nam  
Luật Dược số 34/2005/QH11: Đây là bộ luật nền tảng của ngành dược Việt Nam, luật này  
quy định việc kinh doanh thuốc; đăng ký, lưu hành thuốc; sử dụng thuốc; cung ứng thuốc;  
thông tin, quảng cáo thuốc; thử thuốc trên lâm sàng; quản lý thuốc gây nghiện, thuốc hướng  
tâm thần, tiền chất dùng làm thuốc và thuốc phóng xạ; tiêu chuẩn chất lượng thuốc và kiểm  
nghiệm thuốc. Luật này đang được lấy ý kiến để xây dựng Dự Thảo “Luật sửa đổi, bổ sung  
một số điều của Luật dược năm 2005”.  
Quyết định 10/2007/QĐ-BTM ban hành năm 2007: Quyết định này quy định danh mục hàng  
hóa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) không được quyền trực tiếp phân phối tại  
Việt Nam, trong đó có nhóm dược phẩm.  
Tuy nhiên, để tạo môi trường cạnh tranh và thúc đẩy các doanh nghiệp phân phối trong nước  
phát triển, ông Nguyễn Tiến Vỵ, Vụ trưởng Vụ Kế hoạch (Bộ Công thương), đơn vị chấp bút  
“Dự thảo Thông tư Công bố lộ trình thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động  
liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI)”  
cho biết: “mặt hàng dược phẩm sẽ nằm trong Danh mục hàng hóa được thực hiện quyền  
phân phối, thay vì thuộc Danh mục Hàng hóa không được quyền phân phối như đã được quy  
định tại Quyết định 10/2007/QĐ-BTM. Theo kế hoạch, Thông tư mới dự kiến sẽ có hiệu lực từ  
năm 2014. (nguồn: baodautu.vn)  
Quyết định số 12/2007/QĐ-BYTban hành nguyên tắc “Thực hành tốt phân phối thuốc - GDP”.  
Mục đích là để bảo đảm cung cấp thuốc có chất lượng đến tay người sử dụng thông qua các  
yêu cầu cần thiết cho việc vận chuyển, bảo quản, phân phối thuốc để bảo đảm việc cung cấp  
thuốc đến tay người tiêu dùng một cách kịp thời, đầy đủ và đảm bảo chất lượng.  
14  
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Thông tư liên tịch số 36/2013/TTLT-BYT-BTC ngày 11/11/2013 (thay thế Thông tư liên tịch  
số 01/2012/TTLT-BYT-BTC hướng dẫn đấu thầu mua thuốc trong các cơ sở y tế) và Thông  
tư số 37/2013/TT-BYT ngày 11/11/2013 của Bộ Y tế (hướng dẫn lập Hồ sơ mời thầu mua  
thuốc trong các cơ sở y tế thay thế cho Thông tư số 11/2012/TT-BYT). (xem chi tiết tại đây)  
Luật số 43/2013/QH13 của Quốc hội: Luật đấu thầu đã được quốc hội khóa XIII thông qua  
ngày 26/11/2013, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014 (nguồn: baodientu.chinhphu.vn). Đặc biệt,  
điều 50 mục 3 chương V của luật này quy định rõ: “Đối với thuốc trong nước được Bộ Y  
tế công bố đáp ứng yêu cầu về điều trị, giá thuốc và khả năng cung cấp thì trong hồ sơ  
mời thầu, hồ sơ yêu cầu phải quy định nhà thầu không được chào thuốc nhập khẩu”  
nhằm giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực từ nhiều loại thuốc giá rẻ của Trung Quốc và Ấn Độ  
trong đầu thầu.  
Thông tư 23/2013/TT-BYT ban hành ngày 13/08/2013: Thông tư này quy định về gia công  
thuốc, hồ sơ đăng ký gia công thuốc, trình tự, thủ tục đăng ký, tạm ngừng và rút số đăng ký  
thuốc gia công. Để được đứng tên là bên gia công, cơ sở sản xuất tại Việt Nam phải có giấy  
chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc và giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GMP (Thực  
hành tốt sản xuất thuốc), có dạng bào chế phù hợp với thuốc dự định gia công.  
Thông tư số 05/2014/TT-BYT do Bộ Y tế ban hành ngày 14/02/2014: Quy định việc sử dụng  
dược liệu, vị thuốc y học cổ truyền trong cơ sở khám chữa bệnh. Thông tư này quy định: Dược  
liệu, vị thuốc y học cổ truyền chỉ được đưa vào trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi  
đạt yêu cầu về chất lượng. Thông tư này được kỳ vọng sẽ góp phần kiểm soát tốt hơn chất  
lượng các thuốc y học cổ truyền đang được sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh trọng  
nước và có tác động tích cực đến các doanh nghiệp lớn, có uy tín trong mảng Đông dược  
như: Traphaco, OPC, BVpharma…  
Luật thuế TNDN sửa đổi, có hiệu lực từ 1/1/2014, cũng nâng mức giới hạn chi phí quảng  
cáo của doanh nghiệp từ 10% lên 15%, từ đó tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp dược phẩm  
trong nước có thể cạnh tranh công bằng với các doanh nghiệp dược phẩm nước ngoài và duy  
trì ổn định tỷ trọng kênh điều trị trong cơ cấu doanh thu, đặc biệt là các doanh nghiệp thuộc  
phân khúc thuốc chất lượng cao như Imexpharm, Stada, Bidiphar, Pymerpharco…  
Nghị định 181/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật quảng cáo, quy định về quảng cáo thuốc, mỹ  
phẩm, thực phẩm, phụ gia thực phẩm, trang thiết bị y tế, sữa và sản phẩm dinh dưỡng cho  
trẻ em, dịch vụ khám chữa bệnh… Trong đó, chỉ có các loại thuốc thuộc danh mục 225 hoạt  
chất thuốc không kê đơn do Bộ Y tế ban hành và có số đăng ký đang còn hiệu lực được quảng  
cáo trên sách, báo, tạp chí, tờ rơi, báo điện tử, website của doanh nghiệp… Hoàn toàn  
nghiêm cấm quảng cáo thuốc kê đơn, vắc xin, sinh phẩm y tế dùng để phòng bệnh… (tham  
15  
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
B*. CHUỖI GIÁ TRỊ CỦA NGÀNH CÔNG NGHIỆP DƯỢC VIỆT NAM  
TỔNG QUAN CHUỖI GIÁ TRỊ NGÀNH CÔNG NGHIỆP DƯỢC VIỆT NAM  
B*  
B*.1  
Chuỗi giá trị của ngành công nghiệp dược Việt Nam được chia làm 3 nhóm chính:  
Nhóm sản xuất: Bao gồm các nhà cung ứng nguyên liệu sản xuất dược phẩm, các  
công ty dược nội địa, các công ty dược FDI.  
Nhóm phân phối: Bao gồm các nhà phân phối sỉ, phân phối lẻ nội địa và nước  
ngoài, hệ thống chợ sỉ.  
Nhóm bán lẻ: Bao gồm bệnh viện, nhà thuốc, các phòng mạch tư nhân… Đây là  
nhóm trực tiếp phân phối thuốc tến tay người tiêu dùng cuối cùng trong chuỗi giá trị.  
Nguồn: FPTS  
NHÀ CUNG ỨNG NGUYÊN LIỆU  
B*  
B*.2  
Việt Nam vẫn chưa phát triển công nghệ hóa dược, do đó hầu hết nguyên liệu sản xuất dược  
phẩm tại Việt Nam đều phải nhập khẩu.  
Theo các số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, Bộ Y tế và Cục quản lý dược, 90% nguyên  
liệu sản xuất dược phẩm tại Việt Nam đang phải nhập khẩu. Trong đó, Trung Quốc và Ấn Độ  
là hai quốc gia có kim ngạch xuất khẩu nguyên liệu dược phẩm vào Việt Nam lớn nhất trong  
nhiều năm, lần lượt chiếm 51,4% và 18,3% tổng giá trị nhập khẩu năm 2013.  
Nguyên liệu đông dược: Theo báo cáo của Cục quản lý dược và Bộ Y tế, đến 90% nguồn  
nguyên liệu đông dược sử dụng tại Việt Nam được nhập khẩu từ Trung Quốc do nguồn cung  
tại Việt Nam không đủ đáp ứng và nhiều loại thảo dược không thể trồng tại Việt Nam do khí  
hậu không phù hợp. 10% nguyên liệu còn lại chủ yếu tập trung vào các loại thảo dược khá  
phổ biến tại Việt Nam như Artiso, Đinh Lăng, Cam Thảo, Cao Ích Mẫu, Diệp Hạ Châu…  
16  
     
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Các nguyên liệu sản xuất dược phẩm này thường thông qua 2 con đường để tiếp cận với  
công ty dược.  
Con đường trực tiếp: Làm việc và thỏa thuận trực tiếp với các công ty có văn phòng đại  
diện tại Việt Nam hoặc đặt hàng trực tiếp từ nước ngoài và nhập khẩu về Việt Nam.  
Con đường gián tiếp: Thông qua các công ty trung gian chuyên về cung ứng nguyên  
liệu dược phẩm.  
Thống kê giá trị nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc  
theo quốc gia đến hết năm 2013  
đvt: USD  
Quốc gia  
Trung Quốc  
Nguyên liệu  
142,780,525  
%
51.4%  
18.3%  
7.0%  
5.1%  
4.3%  
3.2%  
2.4%  
2.3%  
1.6%  
1.5%  
1.3%  
1.2%  
0.3%  
Ấn Độ  
50,806,757  
19,356,558  
14,202,821  
12,019,388  
8,893,851  
6,622,173  
6,337,115  
4,316,946  
4,272,509  
3,629,746  
3,376,554  
944,269  
Áo  
Tây Ban Nha  
Thái Lan  
Đức  
Pháp  
Italia  
Thụy Sỹ  
Hàn Quốc  
Singapore  
Anh  
Nhật Bản  
Phân loại nguyên liệu dược phẩm:  
Dựa vào các tiêu chí chủ yếu sau: độ tinh khiết, tác dụng dược lý, công nghệ sản xuất, uy  
tín của nhà sản xuất…, có thể phân loại nguyên liệu dược phẩm thành 2 nhóm chính, bao  
gồm:  
Nguyên liệu chất lượng cao: Được sản xuất bởi các nhà sản xuất có uy tín, kinh nghiệm  
sản xuất lâu năm, áp dụng công nghệ sản xuất hiện tại để đảm bảo nguyên liệu sản xuất ra  
có độ tinh khiết cao, thân thiện với sức khỏe con người và được các tổ chức lớn về dược  
phẩm như USFDA (Mỹ) hoặc EMA (Châu Âu) cấp giấy chứng nhận chất lượng. Hiện nay,  
chứng nhận CEP là một tiêu chí khá phổ biến để đánh giá chất lượng của nhà sản xuất  
(chứng chỉ cho phép xuất khẩu nguyên liệu dược phẩm vào thị trường Châu Âu).  
Nguyên liệu giá rẻ: Đa phần được sản xuất bởi các nhà sản xuất Trung Quốc và Ấn Độ với  
giá thành rẻ hơn nhiều lần so với nguyên liệu chất lượng cao. Do hạn chế về trình độ công  
nghệ cũng như kinh phí đầu tư lớn cho hệ thống cơ sở hạng tầng, máy móc thiết bị, kỹ thuật  
sản xuất… nên các nguồn nguyên liệu này thường có độ tinh khiết không cao, tồn dư các  
hóa chất phụ trợ xúc tác trong quá trình sản xuất khá lớn.  
Với đặc thù của ngành dược phẩm, giá nguyên liệu đầu vào thường chiếm từ 50% - 80% giá  
vốn hàng bán của thành phẩm. Do đó, chênh lệch trong giá nguyên liệu đầu vào ảnh hưởng  
rất lớn đến biên lãi gộp của các doanh nghiệp, cụ thể như sau:  
17  
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Giá vốn còn bao gồm các khoản khác như:  
Chi phí bao bì (trong nhiều trường hợp cao hơn  
cả chi phí nguyên liệu), chi phí khấu hao, vận  
chuyển...  
Giả sử doanh thu  
Biên lợi nhuận gộp bình quân  
Giá vốn hàng bán  
Nguyên liệu chiếm  
Chênh lệch nguyên liệu  
Giá vốn hàng bán  
Biên lãi gộp  
1,000 tỷ đồng  
45%  
550 tỷ đồng  
60% Giá vốn hàng bán  
-30%  
451  
-20%  
484  
-10%  
517  
0%  
550  
10%  
583  
20%  
616  
30%  
649  
55%  
52%  
48%  
45%  
42%  
38%  
35%  
Nguyên liệu chiếm  
Chênh lệch nguyên liệu  
Giá vốn hàng bán  
Biên lãi gộp  
80% Giá vốn hàng bán  
-30%  
418  
-20%  
462  
-10%  
506  
0%  
550  
10%  
594  
20%  
638  
30%  
682  
58%  
54%  
49%  
45%  
41%  
36%  
32%  
(nguồn: FPTS)  
Thị trường nguyên liệu dược phẩm trong nước đang chứng kiến sự cạnh tranh khốc liệt từ  
các nhà cung ứng nước ngoài (chủ yếu xoay quay 3 nhóm: Châu Âu, Ấn Độ, Trung Quốc).  
Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa cũng đang chạy đua trong việc tìm  
kiếm các nguồn nguyên liệu mới nhằm cân đối giữa chất lượng với giá thành sản xuất phù  
hợp với định hướng phát triển và phân khúc khách hàng của từng doanh nghiệp.  
Nhận định  
Trong dài hạn, tôi cho rằng những nhà cung ứng nguyên liệu chất lượng thấp giá rẻ sẽ dần  
bị đào thải và thay thế bởi các nhà cung ứng đảm bảo chất lượng nguyên liệu và được nhiều  
cơ quan chức năng uy tín như FDA hay EMA công nhận.  
NHÀ SẢN XUẤT DƯỢC PHẨM  
B*  
B*.3  
Các doanh nghiệp dược phẩm Việt Nam có tuổi đời khá trẻ so với thế giới và chỉ thực sự  
phát triển từ sau năm 1990. Do đó, ảnh hưởng từ giai đoạn chiến tranh kéo dài và thời kỳ  
bao cấp khó khăn vẫn còn hiện hữu. Việc mỗi tỉnh thành phố đều có ít nhất một doanh  
nghiệp dược nhà nước (hoặc có gốc nhà nước) phụ trách cả sản xuất và phân phối dược  
phẩm là một trong những hệ quả để lại từ thời bao cấp.  
Cả nước hiện có khoảng 178 doanh nghiệp sản xuất thuốc (trong đó có khoảng 100 doanh  
nghiệp sản xuất thuốc tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất thuốc đông dược, ngoài ra có  
trên 300 cơ sở sản xuất thuốc đông dược). Hầu hết các doanh nghiệp này đều tập trung sản  
xuất các dòng thuốc phổ biến thông thường trong khi đó các thuốc chuyên khoa, đặc trị, yêu  
cầu kỹ thuật bào chế hiện đại lại không được quan tâm. Do đó, xảy ra tình trạng sản xuất  
chồng chéo, tranh giành một phân khúc thị trường nhỏ giữa hầu hết các doanh nghiệp nội  
địa. Phân khúc thuốc đặc trị, chuyên khoa…với giá trị cao hoàn toàn do các doanh nghiệp  
nước ngoài chiếm lĩnh.  
Tại Việt Nam, các nhà sản xuất dược phẩm có thể chia thành nhiều nhóm theo các tiêu chí  
phân loại như sau:  
Phân loại theo hình thức sở hữu:  
Nhóm doanh nghiệp sản xuất dược phẩm có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Đại  
diện cho nhóm này là các doanh nghiệp như: Sanofi Aventis Việt Nam, Euvipharm,  
United Pharma (Philippines), OPV, Thai Nakorn Patana…  
18  
 
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
Nhóm doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa. Đa phần các doanh nghiệp  
nhóm này đều có gốc gác nhà nước với cổ đông lớn là SCIC hoặc Tổng công ty  
dược Việt Nam (Vinapharm). Đại diện là các doanh nghiệp đang niêm yết như: Dược  
Hậu Giang, Imexpharm, Domesco, Traphaco… hoặc một số doanh nghiệp chưa  
niêm yết như: Pymepharco, Bidiphar, Mekophar…  
Phân loại theo phân khúc sản phẩm:  
Nhóm sản phẩm chất lượng cao: các doanh nghiệp đại diện cho nhóm này bao  
gồm: Sanofi Aventis, Euvipharm, United Pharma, Thai Nakon Patana…(FDI),  
Imexpharm, Domesco (niêm yết), Pymepharco, Stada, Bidiphar, Savipharm… (chưa  
niêm yết).  
Nhóm sản phẩm phân khúc bình dân: các doanh nghiệp tiêu biểu cho nhóm này:  
Dược Hậu Giang, Traphaco, Dược Cửu Long (niêm yết)… và hầu hết các doanh  
nghiệp dược phẩm nội địa còn lại.  
Phân loại theo chiến lược kinh doanh:  
Nhóm tăng trưởng nhanh nhờ đầu tư mạng lưới và marketing: Dẫn đầu nhóm  
này là Dược Hậu Giang và Traphaco: Trọng tâm của chiến lược này là tập trung vào  
một nhóm sản phẩm chủ lực với các đặc điểm chính: dễ sản xuất, phổ thông, giá rẻ,  
dễ sử dụng, chủ yếu bán ở kênh thương mại, vòng quay sản phẩm nhanh… đi kèm  
với một chiến lược marketing, quảng bá sản phẩm trên diện rộng với kinh phí đầu tư  
lớn nhằm tăng độ phủ, độ nhận diện sản phẩm trên phạm vi lớn.  
Nhóm tăng trưởng ổn định và bền vững nhờ đầu tư có chiều sâu vào chất lượng  
sản phẩm: Dẫn đầu nhóm này các doanh nghiệp FDI như: Sanofi Aventis, United  
Pharma… và các doanh nghiệp nội địa như: Imexpharm, Domesco (niêm yết),  
Pymepharco, Stada, Bidiphar, Mekophar…  
Nhóm còn lại: Đặc điểm chung của nhóm này là tiềm năng tăng trưởng không rõ ràng  
do nhiều vấn đề như: định hướng chiến lược của ban lãnh đạo, sản xuất dàn trải nhiều  
dòng sản phẩm, không có các dòng sản phẩm mới nổi bật để tạo lực đẩy tăng trưởng,  
quy mô hoạt động còn quá nhỏ và chỉ dừng lại ở tầm địa phương…  
Các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm đáng chú ý:  
Dược Hậu Giang: Doanh nghiệp sản xuất tân dược lớn nhất Việt Nam  
Imexpharm: Doanh nghiệp sản xuất thuốc chất lượng cao chuyên về kháng sinh tiêm  
Domesco: Doanh nghiệp mạnh về sản xuất thuốc tim mạch, tiểu đường, béo phì…  
Traphaco: Doanh nghiệp sản xuất đông dược lớn nhất Việt Nam.  
Pymepharco: Doanh nghiệp sản xuất tân dược chất lượng cao (chưa niêm yết)  
Bidiphar 1: Doanh nghiệp có dây chuyền sản xuất thuốc ung thư (chưa niêm yết)  
Tham khảo thêm chi tiết về các doanh nghiệp sản xuất khác  
Ngành dược Việt Nam đang đứng trước ngã ba đường khi phải giải quyết vấn đề lớn nhất  
về định hướng phát triển: phát triển theo chiều rộng hay phát triển theo chiều sâu, chiến  
lược nào sẽ giúp doanh nghiệp đi được xa hơn và phát triển bền vững hơn?  
Nhận định  
DHG và TRA đã và đang thu hút các nhà đầu tư tài chính nhờ các con số tăng trưởng ấn  
tượng, nhưng vẫn chưa thể thu hút được sự quan tâm của các tập đoàn dược phẩm nước  
19  
NGÀNH DƯỢC PHẨM  
ngoài nào vì nguyên nhân: sau khi thị trường đã tăng trưởng mạnh trong một thời gian ngắn,  
lúc thị trường đã bão hòa với các dòng sản phẩm phổ thông dễ sản xuất và dễ bị cạnh tranh,  
DHG và TRA có thể sáng tạo ra dòng sản phẩm mới có tính đột phá, có hàm lượng đầu tư  
chất xám cao, hay có thể chuyển sang sản xuất/có khả năng sản xuất/có kinh nghiệm sản  
xuất các dòng sản phẩm đặc trị hay không?  
Do đó, tôi cho rằng phát triển theo chiều sâu là sự lựa chọn đúng đắn khi doanh nghiệp tạo  
ra được nền tảng vững chắc cho mình và phù hợp với xu hướng phát triển chung của các  
doanh nghiệp sản xuất dược phẩm trên thế giới. Minh chứng cụ thể là việc DMC đã có sự  
tham gia của cổ đông chiến lược CFR Pharmaceutical S.A (Chile) trong khi IMP đã và đang  
được nhiều tập đoàn dược phẩm nước ngoài đặt vấn đề muốn trở thành cổ đông lớn/cổ  
đông chi phối (rào cản duy nhất đang giới hạn room 49% của khối ngoại) khi các tập đoàn  
này thấy được khả năng biến hai doanh nghiệp trên thành nhà sản xuất dược phẩm cho họ  
ngay tại Việt Nam vói chi phí thấp hơn. Ngoài 2 doanh nghiệp nêu trên, các doanh nghiệp  
chưa niêm yết như Pymepharco, Bidiphar, Euvipharm, Savipharm cũng đã thu hút được  
dòng vốn đầu tư của các cổ đông chiến lược là các tập đoàn dược phẩm nước ngoài.  
CÁC DOANH NGHIỆP GIA CÔNG – SẢN XUẤT NHƯỢNG QUYỀN  
B*  
B*.4  
GIA CÔNG: Theo định nghĩa của Bộ Y tế Việt Nam, gia công là thực hiện gia công một, một  
số hoặc toàn bộ công đoạn của quá trình sản xuất thuốc (nhận nguyên liệu, công đoạn chế  
biến, đóng gói kể cả đóng gói vào bao bì cuối cùng và dán nhãn).  
Đây là hình thức sản xuất khá phổ biến tại Việt Nam, thường xảy ra giữa các doanh nghiệp  
dược quy mô nhỏ và các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm quy mô lớn. Doanh thu từ loại  
hình sản xuất này thường được ghi nhận trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp dưới  
dạng doanh thu từ cung cấp dịch vụ, doanh thu khác… và thường chiếm tỷ trọng không lớn  
trong cơ cấu doanh thu. Chất lượng sản phẩm trong hoạt động gia công thường có sự biến  
động rất lớn và phụ thuộc hoàn toàn vào yêu cầu của bên đặt gia công.  
SẢN XUẤT NHƯỢNG QUYỀN: Đây là một hình thức gia công cao cấp, trong đó, đơn vị  
nhượng quyền sản xuất thường là các tập đoàn dược phẩm lớn nước ngoài, mục đích là  
muốn sản xuất các loại thuốc của họ ngay tại thị trường Việt Nam với chi phí thấp hơn so  
với thuốc nhập khẩu, phù hợp với mặt bằng giá cả tại Việt Nam và vẫn đảm bảo được chất  
lượng hiệu quả như thuốc nguyên bản.  
Doanh nghiệp sản xuất nhượng quyền phải đáp ứng các yêu cầu về nhà máy, trình độ sản  
xuất, bảo quản… Tập đoàn nhượng quyền sẽ chuyển giao toàn bộ bí quyết công nghệ sản  
xuất cho doanh nghiệp (phải ký hợp đồng bảo mật). Giá thành các dược phẩm nhượng  
quyền sẽ thấp hơn khoảng 30% so với dược phẩm gốc. Điểm khác biệt lớn nhất giữa thuốc  
gia công và thuốc sản xuất nhượng quyền là chất lượng dược phẩm. Một số các doanh  
nghiệp đang có hoạt động sản xuất nhượng quyền mạnh tại Việt Nam: Imexpharm,  
Pymerpharco, Savipharm, Bidiphar, OPV…  
Biên lợi nhuận của hoạt động gia công dao động trong khoảng 1 - 10% tùy theo mức độ phức  
tạp. Biên lợi nhuận của hoạt động sản xuất nhượng quyền dao động trong ngưỡng 20 - 30%.  
Tôi cho rằng sản xuất nhượng quyền đang là hướng phù hợp với ngành dược Việt Nam hiện  
nay, giúp các doanh nghiệp nội địa có thể học hỏi và áp dụng ngược lại các kinh nghiệm kiến  
Nhận định  
20  
 
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 66 trang yennguyen 23320 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài thuyết trình Báo cáo ngành Dược phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_thuyet_trinh_bao_cao_nganh_duoc_pham.pdf