Bài giảng Hành vi tổ chức (Bản đẹp)

Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ HÀNH VI TỔ CHỨC  
Nội dung  
Hành vi tổ chức là gì?  
Tầm quan trọng và các chức năng của hành  
vi tổ chức.  
Cơ hội và thách thức đối với hành vi tổ  
chức.  
Hướng dẫn học  
Mục tiêu  
Học viên nên đọc và ôn lại kiến thức  
về tổ chức, quản lý cơ bản.  
Sau khi học bài này, người học cần:  
Mô tả rõ ràng khái niệm về Hành vi tổ chức.  
Xác định tầm quan trọng của Hành vi tổ chức.  
Đọc tài liệu: Quản trị học, Nguyễn Phùng  
Minh Hằng, Chương trình đào tạo cử  
nhân trực tuyến Topica: Bài 1: Tổng  
quan về quản lý (từ trang 1 – trang 13),  
Bài 4: Chức năng lập kế hoạch, Bài 5:  
Chức năng tổ chức, Bài 6: Lãnh đạo,  
Bài 7: Chức năng kiểm tra.  
Tóm tắt và phân biệt các chức năng của  
Hành vi tổ chức.  
Đánh giá những thách thức và cơ hội đối với  
các nhà quản lý trong việc vận dụng khoa  
học Hành vi tổ chức.  
Đọc tài liệu và thảo luận với giảng  
viên và các học viên khác về các vấn  
đề chưa nắm rõ.  
Tự lấy ví dụ nhằm làm rõ các khái  
niệm.  
Trả lời các câu hỏi ôn tập ở cuối bài.  
Thời lượng học  
6 tiết  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
1
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP  
Tình huống  
Nam, một sinh viên tốt nghiệp một Trường đại học  
tại Hà Nội và hiện đang làm cho một công ty của Mỹ  
tại Việt Nam. Công việc của Nam đòi hỏi anh phải  
quản lý 8 nhân viên trong phòng.  
Nam tâm sự: “Trong quá trình học tại Trường đại  
học, tôi thực sự chưa được trang bị kiến thức và kỹ  
năng để đối mặt với những thách thức có thể gặp phải  
trong quá trình làm việc – hiểu và tạo động lực cho  
nhân viên”. “Chẳng hạn, việc lên kế hoạch làm việc  
với khách hàng cũng đủ làm cho tôi đau đầu. Cái mà tôi học hỏi được là khi công việc gặp trục  
trặc thì hầu hết nguyên nhân đều xuất phát từ vấn đề liên quan đến con người. Tôi đã phải nỗ  
lực rất nhiều để nhân viên trong phòng cảm thấy nơi làm việc như gia đình nhỏ và tôi cũng  
phải học cách tạo động lực cho họ. Tuy nhiên, tất cả điều này tôi có được qua trải nghiệm. Tôi  
chưa được học cách làm việc cùng với người khác ở trường”.  
Câu hỏi  
1. Nam đã và đang phải học kiến thức gì mà hầu hết các nhà quản lý đều phải học?  
2. Kiến thức này sẽ mang lại lợi ích gì cho công việc quản lý của Nam?  
2
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
1.1.  
Hành vi tổ chức và vai trò của hành vi tổ chức  
Hành vi tổ chức là gì?  
1.1.1.  
Hành vi tổ chức (HVTC) là môn khoa học quản lý  
nghiên cứu một cách có hệ thống về các hành vi và  
thái độ của con người trong một tổ chức và sự tương  
tác giữa hành vi của con người với tổ chức.  
Mỗi cá nhân mang đến tổ chức những đặc điểm  
riêng về tính cách, ngành nghề chuyên môn và kinh  
nghiệm của riêng mình. Tuy nhiên, các cá nhân  
không làm việc đơn lẻ trong tổ chức. Họ còn có mối liên hệ với những đồng nghiệp,  
người quản lý trực tiếp, thuộc cấp, với tổ chức thông qua các chính sách, luật lệ, quy  
định và sự thay đổi diễn ra trong tổ chức. Khi cá nhân thay đổi qua quá trình làm việc  
lâu dài trong tổ chức, thì đến lượt tổ chức sẽ chịu ảnh hưởng của sự thay đổi đó. Vì vậy,  
nghiên cứu sự tương tác giữa cá nhân và tổ chức là rất cần thiết. Tổ chức tồn tại trước  
khi cá nhân vào làm việc và tiếp tục tồn tại sau khi cá nhân rời bỏ tổ chức. Do vậy, bản  
thân tổ chức là một khía cạnh thứ ba để nhìn nhận về hành vi tổ chức.  
Chúng ta luôn có thói quen giải thích hiện tượng theo cảm tính của mình. Chẳng hạn  
một người vắng mặt tại cơ quan, chúng ta cho ngay rằng anh ta bỏ việc đi chơi mà  
chưa cần biết thực sự nguyên nhân là gì. Hành vi tổ chức đi vào giải thích các hiện  
tượng như vậy một cách khoa học. Để làm được điều đó các kết luận của HVTC phải  
dựa trên các nghiên cứu được tiến hành có hệ thống.  
Môi trường  
Hành vi của cá nhân  
trong tổ chức  
Sự tương tác giữa các cá  
nhân trong tổ chức  
Hình 1: Mô hình hành vi tổ chức  
Nghiên cứu hành động và thái độ một cách có hệ thống không có nghĩa là phải nghiên  
cứu tất cả các hành vi và thái độ mà chỉ nghiên cứu những hành vi và thái độ quyết  
định tới kết quả làm việc của người lao động. Trong HVTC, các dạng hành vi quyết  
định tới kết quả làm việc của người lao động bao gồm các hành vi liên quan trực tiếp  
tới năng suất, mức độ vắng mặt và thay đổi nhân lực. Thái độ của người lao động được đề  
cập ở đây là thoả mãn công việc. Thoả mãn có quan hệ tới năng suất lao động, tỷ lệ  
nghịch với mức độ vắng mặt của người lao động. Tạo và nâng cao sự thoả mãn công việc  
còn là trách nhiệm của nhà quản lý đối với người lao động.  
Điều cần lưu ý rằng, HVTC nghiên cứu hành vi, thái độ của người lao động liên quan tới  
công việc và do đó nó phải được diễn ra trong tổ chức. Trong khoa học HVTC, tổ chức  
được hiểu là cơ cấu chính thức của sự phối hợp có kế hoạch, đòi hỏi sự tham gia của hai  
người trở lên và để đạt mục tiêu chung của tổ chức. Do vậy, đặc trưng của tổ chức là sự  
phối hợp, tính kế hoạch mang mục tiêu chung, và có sự tham gia của nhiều người.  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
3
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
1.1.2.  
Vai trò của HVTC  
Hành vi tổ chức hướng tới việc xem xét mối quan hệ  
giữa người lao động với tổ chức trong những vai trò  
khác nhau của người lao động trong tổ chức đó. Do  
đó, HVTC có vai trò quan trọng nhằm đảm bảo duy  
trì và phát triển quan hệ này một cách hiệu quả, giúp  
người lao động gắn bó hơn với tổ chức của mình, và  
có thể điều chỉnh thái độ và hành vi của mình cho  
phù hợp với mục tiêu và các giá trị mà tổ chức theo  
đuổi. Ngược lại tổ chức cũng phải điều chỉnh để tạo  
sự gắn bó hơn giữa người lao động với tổ chức và để khuyến khích tính sáng tạo và  
tạo động lực cho người lao động. Vai trò của HVTC được thể hiện cụ thể như sau:  
Thứ nhất, HVTC có vai trò quan trọng trong việc tạo sự gắn kết giữa người lao  
động và tổ chức trên cơ sở đảm bảo mục tiêu và các giá trị theo đuổi của tổ chức,  
sự tôn trọng, đảm bảo các giá trị và lợi ích cá nhân của người lao động.  
Thứ hai, HVTC giúp cho các nhà quản lý có được cách nhìn đầy đủ và toàn diện  
về người lao động để đưa ra được các chính sách, biện pháp phù hợp nhằm khuyến  
khích đổi mới, sáng tạo và tạo động lực cho người lao động. Đây là cơ sở quan  
trọng để tăng năng suất lao động và hiệu quả công việc của người lao động.  
Thứ ba, HVTC giúp các nhà quản lý tạo lập môi trường làm việc hiệu quả trong tổ  
chức, trên cơ sở sự chia sẻ trách nhiệm và hợp tác chặt chẽ giữa các thành viên  
trong tổ chức.  
Thứ tư, HVTC có vai trò quan trọng trong đảm bảo sự cân bằng, tin tưởng và gắn  
kết người lao động với tổ chức nói chung và lãnh đạo tổ chức nói riêng. HVTC  
giúp cho người lao động thay đổi được nhận thức, thái độ và do đó có hành vi ứng  
xử phù hợp với mục tiêu và giá trị của tổ chức.  
Kiến thức về HVTC rất cần thiết đối với các nhà quản lý nói chung và quản lý nhân sự  
nói riêng. HVTC giúp nâng cao hiệu quả của công tác quản lý, phát huy vai trò con  
người trong tổ chức, khai thác một cách tối ưu nguồn nhân lực, phát huy tính sáng tạo  
của con người và tạo nên mối quan hệ gắn bó giữa con người với tổ chức.  
1.2.  
Hành vi tổ chức với chức năng, vai trò và các kỹ năng cơ bản của quản lý  
Các chức năng cơ bản của quản lý  
1.2.1.  
Lập kế hoạch là một quá trình bao gồm việc  
xác định mục tiêu, thiết lập chiến lược và quyết  
định phương án hành động để đạt được mục  
tiêu đã đặt ra.  
Tổ chức là quá trình thiết kế công việc, xác định  
những nhiệm vụ công việc cần phải thực hiện,  
nhóm những công việc thành những bộ phận,  
phân công người thực hiện những nhiệm vụ công việc đó, thiết lập mối quan hệ báo  
cáo quyền lực giữa công việc các bộ phận.  
4
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
Lãnh đạo là quá trình chỉ đạo, hướng dẫn, tạo động cơ làm việc cho các thành  
viên trong tổ chức, khuyến khích phối hợp làm việc, lựa chọn các kênh giao tiếp  
hiệu quả nhất và giải quyết xung đột.  
Kiểm soát là quá trình quản lý, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức, hướng dẫn  
các thành viên trong tổ chức thực hiện đúng mục tiêu đề ra.  
1.2.2.  
Vai trò cơ bản của quản lý  
Vai trò quan hệ con người: Bất kỳ nhà quản lý  
nào cũng đều phải thực hiện nhiệm vụ ở vị trí mà  
họ đảm nhiệm. Nghĩa là họ có quyền lực nhất định  
trong tổ chức. Bên cạnh đó, tất cả các nhà quản lý  
đều có vai trò lãnh đạo. Họ có quyền tuyển dụng,  
đào tạo, tạo động lực làm việc cho người lao động,  
hay khen thưởng và kỷ luật người lao động. Các  
nhà quản lý còn có vai trò duy trì mạng lưới quan  
hệ với những người bên ngoài, những người cung  
cấp thông tin cho các nhà quản lý.  
Chẳng hạn, khi cán bộ phụ trách marketing muốn có thông tin về nhân sự trong bộ  
phận của mình từ cán bộ quản lý nhân sự, khi đó anh ta có vai trò quan hệ nội bộ.  
Khi cán bộ marketing của doanh nghiệp liên hệ với những người phụ trách  
marketing của các doanh nghiệp khác thông qua hiệp hội marketing, thì anh ta có  
quan hệ giao tiếp với bên ngoài.  
“ Một thập kỷ trước, Ed Ludwig đảm nhận vai trò CEO của Becton Dickinson, một  
công ty công nghệ y tế toàn cầu và ông đã cho thấy sự cởi mở và minh bạch hiếm có  
ở một lãnh đạo cấp cao nhưng đó cũng sẽ là một đặc tính cần thiết của một nhà lãnh  
đạo trong tương lai.  
Ông cho phép mọi người toàn quyền nói lên sự thật dù điều này vốn rất khó khăn vì  
những người cấp dưới luôn ngần ngại phải nói sự thật và những người cấp trên thì  
cảm thấy bị đe dọa bởi điều đó. Nhưng Ed Ludwig thì không như vậy.  
Quay trở lại năm 2000, công ty đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng  
về hiệu quả. Thay vì thuê tư vấn và đưa ra quyết định từ nhóm quản lý cấp cao, ông  
triệu tập những nhà quản lý giỏi nhất để giao nhiệm vụ cho họ phỏng vấn 100 người  
trên khắp thế giới về việc điều gì cản trở việc đạt được hiệu quả tốt hơn. Sau đó ông  
yêu cầu họ chia sẻ những gì họ tìm được trong một cuộc họp nơi các nhà quản lý  
cấp cao ngồi ngoài và không được tham gia tranh luận với những kết quả hoặc đặt  
ra những câu hỏi có thể làm cho những người được giao nhiệm vụ cảm thấy rằng tốt  
hơn hết họ không nên nói ra sự thật.  
Một phát hiện được đưa ra là sự phát triển của hệ thống doanh nghiệp 50 triệu đô  
từng thuộc trách nhiệm của ông khi làm giám đốc tài chính đang gặp rắc rối nghiêm  
trọng. Phản ứng của Ludwig là công khai nhận trách nhiệm cho thất bại này và vạch  
ra một kế hoạch nhằm thay đổi tình hình. Ông cũng áp dụng biện pháp tương tự cho  
những phát hiện khác…”  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
5
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
Vậy vai trò quan hệ con người đã được Ed Ludwig thực hiện như thế nào? Bạn hãy  
tìm hiểu về kết quả tiếp theo của câu chuyện nhé!  
(Nguồn: Michael Beer trên Harvard Business Publishing. Michael Beer là giáo sư  
quản trị kinh doanh và giáo sư danh dự tại trường Kinh tế Harvard và chủ tịch của  
TruePoint - một công ty tư vấn.)  
Nguyễn Tuyến dịch  
Vai trò thông tin: các nhà quản lý nhận, quản lý thông tin, truyền tải thông tin  
nhận được từ bên ngoài tới các thành viên trong tổ chức và ngược lại. Họ thu thập  
thông tin bằng cách đọc báo, tạp chí, thăm dò đối thủ cạnh tranh... Theo  
Mintzberg, đó là vai trò quản lý thông tin. Họ cũng là người thực hiện vai trò đại  
biểu, đại diện cho tổ chức trong quan hệ với những người bên ngoài tổ chức.  
Vai trò ra quyết định: các nhà quản lý đóng vai trò là những sáng lập viên. Họ tìm  
kiếm cơ hội và thiết lập các chiến lược phát triển cho tổ chức. Họ cũng là người chịu  
trách nhiệm về việc thực hiện các chiến lược đã đề ra thông qua việc phân bổ nguồn  
lực, ra các quyết định nhằm thực hiện tốt các hoạt động của tổ chức.  
1.2.3.  
Các kỹ năng quản lý then chốt  
Kỹ năng chuyên môn: đó là khả năng áp dụng  
những kiến thức và kỹ năng được đào tạo nhằm  
thực hiện tốt công việc.  
Kỹ năng quan hệ con người: đó là khả năng  
hiểu và làm việc cùng với người khác theo nhóm  
hoặc với từng cá nhân. Rất nhiều người có đầy  
đủ kỹ năng chuyên môn nhưng lại không có kỹ  
năng quan hệ con người. Họ có thể là những người không biết lắng nghe ý kiến  
của người khác, không hiểu nhu cầu của người khác, và gặp khó khăn khi phải giải  
quyết những xung đột xảy ra trong tổ chức. Do nhà quản lý là những người làm  
việc thông qua người khác nên họ cần phải có kỹ năng quan hệ con người như giao  
tiếp, khuyến khích và giao việc cho người khác.  
Kỹ năng nhận thức, suy luận và giải quyết vấn đề: đó là khả năng phân tích,  
phán đoán các tình huống và các vấn đề phức tạp. Việc ra quyết định yêu cầu nhà  
quản lý phải có khả năng xử lý thông tin, xác định đúng vấn đề, đưa ra các phương  
án lựa chọn giải quyết vấn đề, xem xét đánh giá các phương án và lựa chọn  
phương án phù hợp nhất.  
1.3.  
Chức năng của hành vi tổ chức  
Hành vi tổ chức có 3 chức năng cơ bản đó là giúp "Giải thích, Dự đoán, Kiểm soát"  
hành vi của con người trong tổ chức. Sau đây chúng ta sẽ đi vào tìm hiểu rõ hơn các  
chức năng này của HVTC.  
Chức năng giải thích  
Khi tìm kiếm câu trả lời cho câu hỏi: "Tại sao một cá nhân hay một nhóm cá nhân  
làm một điều gì đó?" là khi chúng ta đang thực hiện chức năng giải thích. Theo  
6
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
quan điểm quản lý thì "giải thích" có thể là chức  
năng ít quan trọng nhất trong số ba chức năng của  
HVTC bởi vì nó diễn ra khi sự việc đã xảy ra. Tuy  
nhiên, muốn hiểu được một hiện tượng, chúng ta  
phải bắt đầu bằng cách tìm ra lời giải thích cho  
hiện tượng đó. Sau đó chúng ta sử dụng hiểu biết  
này để xác định nguyên nhân.  
Ví dụ: Trong doanh nghiệp đột nhiên có một số  
nhân viên xin thôi việc, chắc chắn các nhà quản lý  
muốn biết "tại sao" để đưa ra các giải pháp hữu hiệu có thể ngăn chặn được tình  
trạng này. Rõ ràng việc chúng ta tìm câu trả lời cho câu hỏi "tại sao" diễn ra sau  
khi hành vi xin thôi việc của nhân viên đã diễn ra. Mặc dù vậy, tìm được câu trả  
lời có ý nghĩa hết sức quan trọng giúp nhà quản lý biết được nguyên nhân của hiện  
tượng xin thôi việc và từ đó có thể đưa ra những biện pháp để khắc phục hiện  
tượng này. Có thể có nhiều nguyên nhân xin thôi việc khác nhau nhưng nếu lời  
giải thích cho tỷ lệ bỏ việc cao là do lương thấp và công việc nhàm chán thì các  
nhà quản lý phải có những biện pháp điều chỉnh chính sách tiền lương, thu nhập và  
bố trí lại công việc, có như vậy mới có thể loại bỏ được hiện tượng này trong  
tương lai.  
Chức năng dự đoán  
Dự đoán là nhằm vào các sự kiện sẽ diễn ra trong tương lai. Nó tìm cách xác định  
một hành động cho trước sẽ dẫn đến những kết cục nào. Khi một nhà quản lý của  
một nhà máy cố gắng dự đoán xem công nhân sẽ phản ứng như thế nào với việc  
đưa các thiết bị tự động để thay thế lao động thủ công là lúc nhà quản lý đó đang  
làm một bài tập dự đoán.  
Dựa vào tri thức về HVTC, nhà quản lý này có khả năng dự đoán các hành vi phản  
ứng nào đó của người lao động đối với sự thay đổi. Đương nhiên, có thể có rất  
nhiều phương án khác nhau để tiến hành một sự thay đổi nào đó vì vậy nhà quản lý  
sẽ đánh giá các phản ứng của công nhân đối với từng phương án khác nhau. Theo  
cách này, nhà quản lý có thể dự đoán được phương án tối ưu nhất tức là phương án  
sẽ gây ra mức độ phản kháng thấp nhất của công nhân và sử dụng thông tin đó để  
ra quyết định.  
Chức năng kiểm soát  
Khi một nhà quản lý đặt câu hỏi “Tôi có thể làm gì để cho anh A nỗ lực hơn trong  
công việc” là khi nhà quản lý đã quan tâm đến thực hiện chức năng kiểm soát.  
Chức năng kiểm soát của HVTC là chức năng gây tranh cãi nhiều nhất. Có quan  
điểm cho rằng việc kiểm soát hành vi của người lao động là vi phạm tự do cá nhân.  
Cố gắng kiểm soát người khác khi mà bản thân người đó không biết mình bị kiểm  
soát, điều này nhiều người cho rằng là không có đạo đức, không trong sáng. Đối  
lập với quan điểm này, đa số các nhà quản lý và các nhà nghiên cứu hiện nay cho  
rằng kiểm soát hành vi trong khuôn khổ tổ chức là điều hết sức cần thiết, không vi  
phạm quyền tự do cá nhân mà ngược lại nó có tác dụng bảo vệ cá nhân và đảm bảo  
đạt được mục tiêu của tổ chức.  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
7
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
Trên thực tế, các nhà quản lý áp dụng ngày càng nhiều các công nghệ, kỹ thuật  
hiện đại để kiểm soát người lao động trong tổ chức của mình và nhà quản lý đều  
nhận thức được rằng mục tiêu kiểm soát là đóng góp giá trị nhất của HVTC nhằm  
đảm bảo tính hiệu quả trong công việc của tổ chức.  
1.4.  
Các cơ hội và thách thức đối với hành vi tổ chức  
Ngày nay, HVTC có ý nghĩa quan trọng hơn bao  
giờ hết đối với các nhà quản lý. Chỉ cần điểm  
qua một số thay đổi đang diễn ra trong các tổ  
chức, sự phức tạp và biến động nhanh chóng của  
môi trường kinh doanh cũng thấy được sự xác  
đáng của nhận định này. Phần này sẽ đề cập đến  
một vài vấn đề nổi bật nhất mà các nhà quản lý  
(chủ yếu là các nhà quản trị doanh nghiệp) đang phải đối mặt mà từ đó HVTC có thể  
giúp các nhà quản lý đưa ra được các giải pháp hoặc đưa ra những gợi mở có ý nghĩa  
để đi tới giải pháp.  
1.4.1.  
Những thách thức về phía tổ chức  
Sự mở rộng hoặc giảm biên chế lao động trong tổ chức là một trong những thách  
thức quan trọng đối với các tổ chức.  
Việc giảm biên chế của các tổ chức trong những năm gần đây đòi hỏi tổ chức phải  
quan tâm đến việc quản lý những tác động của việc giảm biên chế đến người lao  
động buộc phải rời bỏ tổ chức và những người lao động tiếp tục làm việc cho tổ  
chức với nỗi ám ảnh về sự bất ổn trong công việc của họ. Tuy nhiên, ngoài những  
tác động tiêu cực của việc giảm biên chế như: một số người lao động sẽ lâm vào  
tình trạng thất nghiệp, giảm biên chế cũng giúp tổ chức cắt giảm chi phí, tạo cơ hội  
cho một số người lao động có cơ hội tìm được những việc làm ở những nơi đáp  
ứng nhu cầu và mục tiêu của họ tốt hơn.  
Ngược lại với việc giảm biên chế là sự mở rộng lực lượng lao động trong tổ chức,  
nhất là trong các ngành công nghệ thông tin. Nhu cầu này đòi hỏi tổ chức phải có  
biện pháp thích hợp nhằm thu hút, giữ người lao động có kỹ năng và khả năng,  
đồng thời quản lý lực lượng lao động mới và lao động cũ.  
Sự đa dạng của lực lượng lao động  
Một trong những thách thức quan trọng và phổ biến nhất mà các tổ chức hiện đang  
phải đối mặt đó là phải bố trí "những con người khác nhau" vào cùng một tổ chức.  
Đó chính là sự đa dạng của nguồn nhân lực. Sự đa dạng của lực lượng lao động có  
nghĩa là nguồn nhân lực trong các tổ chức đang trở nên ngày một phong phú, phức  
tạp hơn xét về mặt văn hoá, giới tính, chủng tộc và sắc tộc. Sự đa dạng này còn  
gồm ngày càng có nhiều người lao động có những đặc điểm khác với những gì  
được coi là “chuẩn mực”.  
Trước đây, người ta từng sử dụng phương pháp “chiếc nồi hỗn tạp” để tiếp cận  
những khác biệt trong các tổ chức với giả thuyết rằng những người khác nhau bằng  
cách này hay cách khác tự động muốn hòa đồng. Nhưng giờ đây các nhà quản lý  
nhận ra rằng các nhân viên không hề gạt ra một bên các giá trị văn hóa và lối sống  
8
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
của họ khi họ làm việc. Vì vậy, thách thức đối với các tổ chức là phải làm cho họ  
hòa đồng hơn với các nhóm đa dạng bằng cách xét tới các lối sống khác nhau, nhu  
cầu gia đình và lề lối làm việc của họ. Giả thuyết “chiếc nồi hỗn tạp” đang được  
thay thế bằng một giả thuyết khác – đó là thừa nhận sự khác biệt giữa các cá nhân  
và coi trọng sự khác biệt này.  
Sự đa dạng của nguồn nhân lực có tác động mạnh mẽ tới công tác quản lý. Các nhà  
quản lý sẽ cần phải chuyển triết lý của họ từ chỗ đối xử với mọi người như nhau  
sang nhìn nhận lại những khác biệt và phản ứng trước những khác biệt đó theo  
hướng giữ được người lao động và tăng năng suất nhưng đồng thời lại không có sự  
phân biệt đối xử. Nếu được quản lý tích cực, sự đa dạng có thể làm tăng tính sáng  
tạo và đổi mới trong các doanh nghiệp cũng như nâng cao tính hiệu quả của việc ra  
quyết định do sử dụng các góc nhìn khác nhau cho cùng một vấn đề. Ngược lại, nếu  
doanh nghiệp không quan tâm hoặc quan tâm không đúng mức tới sự đa dạng của  
nguồn nhân lực trong quản lý có thể doanh nghiệp sẽ có tỷ lệ bỏ việc của người lao  
động cao, xung đột xảy ra thường xuyên hơn giữa các cá nhân ngày càng đa dạng và  
phức tạp, trong khi đó năng suất lao động và hiệu quả công tác bị giảm sút.  
Sự thay đổi của tổ chức  
Trong một môi trường kinh doanh thay đổi nhanh chóng như hiện nay, các nhà  
quản lý cần phải chuẩn bị để đối mặt với những thay đổi của tổ chức nhằm thích  
nghi với môi trường. Hơn nữa, họ còn phải tìm kiếm những cơ hội nhằm phát triển  
tổ chức, nâng cao lợi thế cạnh tranh của tổ chức.  
Sự phát triển của công nghệ thông tin  
Sự phát triển của công nghệ thông tin và sự  
xuất hiện của các công nghệ mới trở thành  
thách thức lớn đối với các nhà quản lý. Đó là  
sự tăng lên của lượng thông tin cần phải xử lý,  
tốc độ xử lý thông tin cũng phải tăng lên nhằm  
giúp ích cho quá trình ra quyết định hiệu quả  
và nắm bắt những cơ hội trên thị trường. Tuy  
nhiên, nó cũng làm tăng sự rủi ro đối với các quyết định của các nhà quản lý.  
Xu hướng phân quyền cho nhân viên  
Cầm lấy bất kỳ tạp chí doanh nghiệp phổ biến nào ngày nay bạn cũng có thể đọc  
thấy việc nhào nặn lại mối quan hệ giữa các nhà quản lý và những người được coi  
là đối tượng quản lý của họ. Bạn sẽ thấy các nhà quản lý được gọi là huấn luyện  
viên, cố vấn, hoặc người hướng dẫn. Trong nhiều tổ chức, các nhân viên giờ đây  
được gọi là cộng sự.  
Việc ra quyết định đang được đẩy xuống cấp thừa hành, tức là những người công  
nhân đang được trao quyền lựa chọn về lịch trình và các thủ tục giải quyết các vấn  
đề liên quan đến công việc. Các nhà quản lý đang phân quyền cho nhân viên, họ  
đang buộc các nhân viên phải chịu trách nhiệm về những gì họ làm. Các nhà quản  
lý đang học cách từ bỏ quyền kiểm soát, các nhân viên đang học cách chịu trách  
nhiệm về công việc của mình và đưa ra những quyết định thích hợp.  
Khuyến khích tính sáng tạo  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
9
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
Các tổ chức thành công ngày nay phải khuyến  
khích đổi mới và làm chủ được nghệ thuật đổi  
mới, nếu không họ sẽ bị đào thải. Thắng lợi sẽ  
đến với những tổ chức nào biết duy trì sự linh  
hoạt, liên tục cải tiến chất lượng và chiến thắng  
được trên thị trường cạnh tranh bằng cách liên  
tục đổi mới các sản phẩm và dịch vụ. Các nhân  
viên của một tổ chức có thể là động lực đổi mới  
và ngược lại họ cũng có thể là một lực lực lượng  
cản trở sự đổi mới. Thách thức đối với nhà quản  
lý là phải thúc đẩy sự sáng tạo của nhân viên và  
khả năng thích ứng được với thay đổi do chính các nhân viên của mình tạo ra.  
Khoa học HVTC sẽ giúp cho các nhà quản lý những ý tưởng và kỹ thuật cần thiết  
để thực hiện được mục tiêu này.  
Sự trung thành của nhân viên đối với tổ chức giảm sút  
Trước đây, các tập đoàn công ty luôn luôn khuyến khích lòng trung thành và sự tận  
tụy trong công việc của nhân viên bằng sự bảo đảm công việc, tiền thưởng và tăng  
lương. Nhưng bắt đầu từ giữa những năm 1980, trước tình trạng cạnh tranh toàn  
cầu, mua lại công ty, chuyển nhượng quyền sở hữu, v.v.., các tập toàn bắt đầu vứt  
bỏ các chính sách truyền thống bảo đảm công việc, thù lao và thâm niên. Họ đã trở  
nên “chặt chẽ hơn” bằng cách thực hiện hàng loạt các biện pháp như đóng cửa các  
nhà máy, chuyển hoạt động đến những nước có chi phí thấp hơn, bán hoặc dẹp bỏ  
các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả và thay thế các nhân viên làm việc lâu  
dài bằng các nhân viên tạm thời. Điều quan trọng  
là đây không chỉ là một hiện tượng Bắc Mỹ. Các  
công ty châu Âu và Nhật Bản cũng đang hành  
động tương tự. Chẳng hạn, Barclays, một ngân  
hàng lớn của Anh quốc, mới đây đã cắt giảm 20%  
nhân viên ở các cấp. Hãng TOYOTA, hãng Fujitsu  
cũng phải sa thải hàng ngàn lao động. Một số hãng  
của Đức cũng đã giảm mạnh lực lượng lao động và  
các cấp quản lý của mình: Siemens, một tập toàn  
kỹ thuật điện tử khổng lồ, đã cắt bỏ hơn 3000 công  
việc chỉ riêng vào năm 1993.  
Những thay đổi này đã làm suy giảm lòng trung thành của nhân viên đối với công ty  
một cách nhanh chóng. Chẳng hạn, trong một cuộc khảo sát về công nhân vào năm  
1993, hơn 70% số người được hỏi nói rằng lòng trung thành giữa các công ty và  
nhân viên đã trở nên thấp hơn so với năm 1988. Các nhân viên hiểu được rằng  
những người tuyển dụng họ ít cam kết hơn với họ và do đó họ phản ứng bằng việc ít  
tận tụy hơn với công ty của mình.  
Ở Việt Nam, những năm gần đây lòng trung thành của người lao động nhất là lao  
động quản lý ngày càng giảm sút, hiện tượng di chuyển lao động từ doanh nghiệp  
nhỏ đến các doanh nghiệp lớn trở thành phổ biến và trở nên báo động đối với các  
doanh nghiệp nhỏ. Hiện tượng chảy máu chất xám từ doanh nghiệp có vốn đầu tư  
10  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
trong nước nhất là các doanh nghiệp nhà nước sang các doanh nghiệp có vốn đầu  
tư nước ngoài chiếm tỷ lệ khá cao.  
Một bài toán quan trọng là các nhà quản lý phải đưa ra được các biện pháp thích  
hợp, khuyến khích động lực của người lao động, tạo sự gắn bó giữa người lao  
động với doanh nghiệp trong hoàn cảnh mà chính người lao động ngày càng "ít  
gắn bó hơn với doanh nghiệp". Hành vi tổ chức sẽ giúp cho các nhà quản lý tìm ra  
những lời giải cho bài toán này.  
1.4.2.  
Những thách thức thuộc về môi trường  
Chiến lược cạnh tranh  
Chiến lược cạnh tranh của tổ chức giải thích  
việc tổ chức đó dự định sẽ cạnh tranh với  
những đối thủ của mình theo các cách khác  
nhau. Tổ chức có thể sử dụng “chiến lược phân  
biệt hóa” nghĩa là tạo nên sự khác biệt giữa sản  
phẩm của tổ chức với sản phẩm của các đối thủ  
cạnh tranh. Tổ chức cũng có thể theo đuổi  
chiến lược tối thiểu hoá chi phí, hoặc cũng có  
thể theo chiến lược tập trung. Với mỗi loại chiến lược, các nhà quản lý sẽ có  
những cách thức tuyển dụng và sử dụng người lao động khác nhau.  
Xu thế toàn cầu hoá  
Một điều dễ nhận thấy trong quản trị kinh doanh ngày nay là quản lý không còn bị  
giới hạn bởi biên giới quốc gia. Burger King thuộc quyền sở hữu của một hãng ở  
Anh, còn McDonald’s bán hamburger ở Matxcơva. Exxon, một công ty của Mỹ,  
thực chất thu được 75% lợi nhuận nhờ doanh thu bên ngoài nước Mỹ. Toyota chế  
tạo ô tô ở Kentucky; General Motors chế tạo ô tô ở Braxin; và Ford sản xuất xe hơi  
của họ ở Việt Nam. Những ví dụ này nói lên rằng thế giới đã trở thành một thị  
trường toàn cầu, các nhà quản lý buộc phải có khả năng làm việc trong các môi  
trường kinh doanh khác nhau, với những con người thuộc các nền văn hóa khác  
nhau. Toàn cầu hóa ảnh hưởng đến kỹ năng con người của nhà quản lý ít nhất theo  
hai cách sau:  
o
Thứ nhất, các nhà quản lý có khả năng phải đảm nhận một vị trí làm việc ở  
nước ngoài. Họ sẽ được chuyển đến các chi nhánh hoặc công ty trực thuộc  
công ty mẹ ở một nước khác. Làm việc ở nước ngoài, điều đó có nghĩa là họ  
quản lý một nguồn nhân lực có thể khác rất nhiều với nguồn nhân lực ở công ty  
mẹ về nhu cầu, nguyện vọng và thái độ...vv.  
o
Thứ hai, ngay cả khi ở nước mình thì các nhà quản lý cũng có thể phải làm việc  
với những người chủ, đồng nghiệp, nhân viên dưới quyền thuộc các nền văn  
hóa khác nhau. Để làm việc một cách có hiệu quả, nhà quản lý cần phải hiểu  
văn hóa của người lao động, tôn trọng cá nhân người lao động, tôn trọng sự  
khác biệt giữa những người lao động và làm cho công việc quản lý của bạn  
thích hợp được với những khác biệt đó.  
Đạo đức và trách nhiệm đối với xã hội  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
11  
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
Thành viên của các tổ chức thấy ngày càng phải đối mặt nhiều hơn với tình trạng  
khó xử về đạo đức, là tình huống mà trong đó họ buộc phải xác định hành vi đúng  
và sai. Chẳng hạn, liệu họ có nên “thổi còi” nếu họ phát hiện được các hoạt động  
bất hợp pháp diễn ra trong công ty họ? Liệu họ  
có nên tuân theo những mệnh lệnh mà cá nhân  
họ không nhất trí? Liệu họ có thổi phồng một  
đánh giá kết quả công việc cho một nhân viên  
mà họ thích khi biết rằng đánh giá đó có thể  
bảo đảm công việc cho nhân viên đó? Liệu họ  
có cho phép mình “chơi trò chính trị” trong tổ  
chức nếu như điều đó giúp họ thăng tiến nhanh  
trong sự nghiệp?  
Các nhà quản lý và các tổ chức đang phản ứng với tình trạng này theo một số  
hướng. Họ soạn thảo và phổ biến các bộ quy tắc đạo đức để hướng dẫn nhân viên  
vượt qua tình trạng khó xử. Họ tổ chức các hội thảo và các chương trình đào tạo về  
các bộ quy tắc này để cố gắng cải thiện hành vi đạo đức. Họ cũng cung cấp các cố  
vấn “trong nhà” và nhân viên có thể liên lạc với các cố vấn này, nhiều khi không  
cần phải khai tên, để nhận được sự giúp đỡ khi phải đối phó với các vấn đề về đạo  
đức. Họ đang tạo ra các cơ chế bảo hộ cho những nhân viên nào dũng cảm tiết lộ  
những hoạt động phi đạo đức nội bộ.  
Các nhà quản lý ngày nay cần phải tạo ra một môi trường lành mạnh về đạo đức  
cho các nhân viên của mình để họ có thể làm việc một cách năng suất và ít gặp  
chuyện mờ ám liên quan đến hành vi đúng hay sai.  
12  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
TÓM LƯỢC CUỐI BÀI  
Các nhà quản lý cần phải phát triển kỹ năng quan hệ con người nếu họ muốn thực hiện công việc  
của mình một cách hiệu quả.  
Hành vi tổ chức là lĩnh vực nghiên cứu ảnh hưởng của cá nhân, nhóm và cấu trúc đến hành vi  
trong tổ chức, sau đó ứng dụng các kiến thức này để giúp cho tổ chức hoạt động hiệu quả hơn.  
Cụ thể, hành vi tổ chức tập trung vào việc làm thế nào để cải thiện năng suất lao động, giảm sự  
vắng mặt nơi làm việc và sự luân chuyển lao động, tăng sự thỏa mãn của người lao động đối với  
công việc. Hành vi tổ chức cũng góp phần giúp các nhà quản lý thích nghi và vượt qua những  
thách thức do sự thay đổi của môi trường và tổ chức đem lại.  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
13  
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
CÂU HỎI ÔN TẬP  
1. Thế nào là Hành vi tổ chức?  
2. Nêu tác dụng của việc hiểu biết những kiến thức về hành vi tổ chức đối với các nhà quản lý  
trong tổ chức?  
3. “Nhìn chung, hành vi của cá nhân trong tổ chức là có thể dự đoán được”. Anh/chị đồng ý hay  
không đồng ý với nhận định này? Hãy giải thích rõ quan điểm của mình.  
4. Trình bày các chức năng của Hành vi tổ chức?  
5. Những thách thức đang đặt ra với các nhà quản lý và vai trò của HVTC trong việc giúp các  
nhà quản lý vượt qua các thách thức đó?  
14  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
BÀI TẬP TÌNH HUỐNG 1  
Kết cục sau 24 năm làm việc tại General Motor  
Russ Mc Donald tốt nghiệp thạc sỹ quản trị kinh doanh của Đại  
học Michigan vào năm 1969. Lúc đó, nhiều công ty mời ông  
đến làm việc nhưng Mc Donald quyết định làm cho công ty  
General Motor (GM) vì một số lí do. Ngành công nghiệp ô tô  
mang đến nhiều cơ hội nghề nghiệp đáng giá và GM là một  
trong những công ty sản xuất xe hơi hàng đầu thế giới. Mức  
lương mà GM trả cho nhân viên là cao nhất trong số các công  
ty của Mỹ. Về mức độ an toàn công việc tại công ty GM thì các  
công ty khác khó có thể sánh được. Một công việc hành chính hay quản lý ở GM có thể coi như  
một công việc có tính ổn định lâu dài gần bằng viên chức chính phủ.  
Russ đã bắt đầu sự nghiệp của ông tại GM ở vị trí người phân tích chi phí tại một chi nhánh của  
công ty. Từ đó, Russ đảm nhiệm nhiều trách nhiệm công việc ngày càng nặng nề hơn. Đến dịp  
kỷ niệm 20 năm làm việc cho công ty GM, ông đã lên tới vị trí trợ lý tài chính cho Phó tổng  
giám đốc tại bộ phận tài chính của công ty. Mức lương trung bình của ông là 124.000 USD/năm;  
và trong những năm kinh doanh khấm khá, ông có thể nhận được khoản tiền thưởng trị giá từ  
10.000 USD đến 25.000 USD. Tuy nhiên, khoản tiền thưởng này ngày càng hiếm vì lợi nhuận  
của công ty GM từ những năm của thập kỷ 80 đang có xu hướng giảm xuống. Do gặp phải sự  
cạnh tranh gay gắt từ các công ty sản xuất xe hơi của nước ngoài, những hành động táo bạo của  
Ford và Chrysler và do sự phản ứng chậm chạp của GM đối với sự thay đổi nên vị thế của công  
ty GM trên thị trường bị suy giảm nghiêm trọng. Khi Russ bước vào công ty, cứ hai chiếc xe hơi  
mới được bán ra thị trường Mỹ thì có một cái là sản phẩm của  
công ty GM. Đến những năm cuối của thập kỷ 80, tỷ lệ này  
giảm xuống còn 1/4 (nghĩa là cứ 4 xe hơi được bán ra thị  
trường Mỹ thì có 1 xe hơi là sản phẩm của GM). Kết quả là ban  
lãnh đạo của GM đã quyết định có những hành động kiên quyết  
cố gắng chấm dứt sự suy giảm về thị phần của GM trên thị  
trường. Ban quản trị đã quyết định đóng cửa những nhà máy  
hoạt động không hiệu quả, tổ chức lại các bộ phận giới thiệu  
công nghệ sản xuất mới và giảm một số lượng lớn nhân viên. Hàng vạn vị trí công việc gián tiếp  
bị bỏ đi. Một trong số những vị trí đó là công việc của Russ Mc Donald. Hè năm 1993, sắp đến  
dịp kỷ niệm năm thứ 25 làm việc cho GM, công ty tạo cơ hội cho Russ nghỉ hưu sớm. Nếu ông  
không nghỉ hưu sớm thì vấn đề chỉ còn là thời gian – có thể một hoặc hai năm là cùng – ông sẽ bị  
buộc thôi việc và về hưu với khoản lương hưu ít hấp dẫn hơn. Ông sẽ chỉ nhận được 9 tháng  
lương cộng với khoản bảo hiểm sức khoẻ cho bản thân ông và gia đình. Russ cố gắng lạc quan  
về tình trạng hiện tại của mình. Russ mới 49 tuổi và ông đã có 24 năm kinh nghiệm làm việc cho  
một công ty hàng đầu thế giới. Ông đã từng làm việc cho GM - một công ty đã có một thời gian  
kinh doanh rất thành công và mang tới cho ông nhiều cơ hội nhưng giờ đây những cơ hội này  
không còn nữa.  
Russ đã không có việc làm trong gần 3 tháng nay. Ông đã tìm việc qua những quảng cáo việc  
làm và gửi hơn 200 bộ hồ sơ đến các công ty. Ông cũng đã nói chuyện với một số công ty tuyển  
dụng cán bộ quản lý và tiêu tốn hơn 7000 USD cho việc tư vấn việc làm. Tuy nhiên, cái mà ông  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
15  
Bai 1: Tổng quan về hành vi tổ chức  
liên tục được nghe là kinh nghiệm của ông không còn phù hợp với những việc làm hiện nay. Ông  
không có cơ hội làm việc cho các công ty lớn nữa, còn các công ty nhỏ thì lại muốn tuyển những  
người linh hoạt và họ cho những người như kiểu Russ là “cứng nhắc về trí tuệ”.  
Nếu có một công việc phù hợp với trình độ của Russ thì ông phải chấp nhận ít nhất 50% cắt giảm  
về khoản thù lao và những người thuê lao động cảm thấy không thật thoải mái khi trả mức thù  
lao thấp như vậy, họ nhận thấy rằng Russ sẽ có thể không có động lực làm việc và cũng có thể  
ông sẽ bỏ qua cơ hội này.  
Câu hỏi  
1. Theo bạn, những lời nhận xét mà Russ nghe được có ảnh hưởng như thế nào đến ông?  
2. Nếu bạn là người điều hành một công ty kinh doanh nhỏ và đang cần một số người có kinh  
nghiệm về tài chính, bạn có quan tâm đến việc sẽ chọn Russ không? Giải thích rõ lập luận  
của bạn.  
3. Bạn có những góp ý gì đối với Russ để giúp ông ta tìm được việc làm phù hợp?  
16  
MAN403_Bai 1_v1.0010112211  
Bài 2: Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức  
BÀI 2: CƠ SỞ CỦA HÀNH VI CÁ NHÂN TRONG TỔ CHỨC  
Nội dung  
Mô hình về cơ sở hành vi cá nhân trong tổ  
chức: Thái độ, tính cách, nhận thức và học hỏi.  
Ứng dụng hiểu biết về cơ sở hành vi cá nhân  
trong quản lý con người.  
Hướng dẫn học  
Mục tiêu  
Đọc tài liệu và các ví dụ kèm theo để  
hiểu rõ mặt lý luận.  
Sau khi học bài này, học viên cần:  
Xác định những cơ sở của hành vi cá nhân,  
các biến số chủ yếu tác động đến hành vi của  
cá nhân trong tổ chức;  
Thảo luận với giáo viên và các học  
viên khác về các vấn đề chưa nắm rõ.  
Sử dụng các lý thuyết về tính cách để  
tự phân tích bản thân học viên, tìm ra  
một mô hình phù hợp cho bản thân.  
Giải thích được các hành vi và thái độ của  
các nhân trong tổ chức;  
Đưa ra, đánh giá các giải pháp thích hợp để  
điều chỉnh hành vi và thái độ của cá nhân  
trong tổ chức và các biện pháp để khuyến  
khích người lao động.  
Chia thành từng nhóm nhỏ (mỗi nhóm  
4 – 6 người), thảo luận trong nhóm để  
đưa ra các phương án cho câu hỏi gợi  
mở của ví dụ trong bài. Một câu hỏi  
gợi mở có thể có nhiều phương án  
thích hợp khác nhau. Các thành viên  
cùng so sánh, tìm ưu, nhược điểm của  
mỗi phương án được chọn.  
Thời lượng học  
7 tiết  
MAN403_Bai 2_v1.0010112211  
17  
Bai 2: Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức  
TÌNH HUỐNG DẪN NHẬP  
Tình huống  
Quang là giám đốc điều hành của một công ty sản xuất  
vật liệu nhựa ở Hà Nội. Trong thời gian qua, công ty  
đã phải đối mặt với tình trạng suy thoái tồi  
tệ - Quang phải sa thải những nhân viên có trình độ và  
có động lực làm việc. Không chỉ có thế, cứ mỗi khi  
hoạt động kinh doanh của công ty khấm khá lên là một  
số nhân viên của công ty lại đi tìm việc làm ở nơi  
khác. Trong những hoàn cảnh như vậy, Quang lại phải  
tuyển những nhân viên mới chưa có kinh nghiệm vào  
làm việc và hoạt động kinh doanh của công ty lại có chiều hướng đi xuống. Dường như đây là  
một vòng luẩn quẩn ảnh hưởng rất lớn đến công việc kinh doanh của công ty.  
Sau khi tìm hiểu về cách thức quản lý của các công ty Nhật Bản, Quang đưa ra một số thay  
đổi. Anh thuyết phục nhân viên làm thêm giờ và tập trung vào đào tạo nhân viên để họ có thể  
đảm nhiệm được nhiều công việc. Trong những lúc nhiều việc, Quang huy động cả những  
nhân viên đã nghỉ hưu hay những sinh viên tham gia thực hiện công việc. Kết quả đạt được  
vượt quá sự mong đợi của Quang. Hoạt động kinh doanh của công ty được cải thiện hơn nhiều,  
người lao động cảm thấy rất phấn khởi. Chi phí bảo hiểm thất nghiệp và y tế giảm mạnh vì  
công ty có lực lượng lao động ổn định và vừa đủ để thực hiện nhiệm vụ sản xuất kinh doanh.  
Thái độ làm việc của người lao động được cải thiện. Nhân viên sẵn sàng và nỗ lực hết mình để  
thực hiện công việc. Họ coi công ty như là gia đình của mình. Kết quả là, trong vòng tám năm  
liên tiếp, công ty không phải sa thải nhân viên nào, mọi người đều gắn bó và nỗ lực hết mình  
để hoàn thành công việc.  
Câu hỏi  
1. Theo bạn, những thay đổi nào tại công ty đã mang đến thành công của công ty sau 8 năm?  
2. Trong những thay đổi đó, thay đổi nào có tính quyết định nhất?  
18  
MAN403_Bai 2_v1.0010112211  
Bài 2: Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức  
2.1.  
Tính cách  
2.1.1.  
Khái niệm  
Tính cách là phong thái tâm lý cá nhân quy định cách  
thức hành động và sự phản ứng của cá nhân đối với môi  
trường xung quanh.  
Tính cách được biểu hiện trong hệ thống thái độ của cá  
nhân và trong các phẩm chất ý chí của con người. Hay  
nói cách khác, tính cách của một cá nhân là sự kết hợp  
của các đặc điểm tâm lý mà dựa vào đó, chúng ta có thể  
phân biệt cá nhân này với những người khác.  
2.1.2.  
Các yếu tố ảnh hưởng đến tính cách  
Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành tính cách của cá nhân:  
Bẩm sinh, gien di truyền: có những người khi mới sinh ra đã có khuôn mặt dễ gần.  
Những người này thường là những người cởi mở, vui vẻ, thân thiện.  
Môi trường nuôi dưỡng, học tập, văn hóa xã hội: thứ tự được sinh ra trong gia đình  
cũng ảnh hưởng đến đặc tính tính cách của cá nhân. Chẳng hạn, nếu bạn là con út  
trong gia đình, bạn có thể được nuông chiều hơn và có thể bạn sẽ là người ít có  
tính độc lập bằng anh hay chị của mình.  
Hoàn cảnh, tình huống: khi một sinh viên tham dự tiệc sinh nhật của một người  
bạn thì sinh viên này có thể thể hiện những đặc điểm tâm lý như vui vẻ, hòa đồng,  
sôi nổi, hài hước... Những đặc tính tâm lý này rất khác với những đặc tính tâm lý  
như nghiêm túc, căng thẳng, khi sinh viên này đi thi.  
2.1.3.  
Các mô hình tính cách  
Mười sáu đặc điểm tính cách phổ biến  
Con người thường có những nét tính cách đối lập  
nhau. Các nhà tâm lý học đã nghiên cứu sâu rộng các  
đặc điểm tính cách, từ đó nhận diện được 16 đặc  
điểm tính cách chủ yếu thể hiện trong Bảng 2.1.  
Mỗi đặc điểm đều có hai thái cực (chẳng hạn: dè dặt  
đối lập với cởi mở). Mười sáu đặc điểm này được  
phát hiện là các cơ sở hành vi liên tục và ổn định,  
cho phép dự đoán hành vi của một cá nhân trong các  
tình huống cụ thể bằng cách đối chiếu các đặc điểm  
này với các tình huống tương ứng.  
Bảng 2.1 Mười sáu cặp tính cách chủ yếu  
1.  
2.  
3.  
4.  
dè dặt  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
cởi mở  
không thông minh  
hay dao động tình cảm  
tuân thủ  
thông minh  
ổn định về tình cảm  
bướng bỉnh  
MAN403_Bai 2_v1.0010112211  
19  
Bai 2: Cơ sở của hành vi cá nhân trong tổ chức  
5.  
nghiêm trọng hóa  
tương đối  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
đối lập với  
vô tư  
6.  
cầu toàn  
dũng cảm  
nhạy cảm  
tin tưởng  
thực tế  
7.  
nhút nhát  
8.  
cứng nhắc  
ngờ vực  
9.  
10.  
11.  
12.  
13.  
14.  
15.  
16.  
không thực tế  
giữ ý  
thẳng thắn  
tự tin  
không tự tin  
bảo thủ  
thích thử nghiệm  
độc lập  
dựa vào nhóm  
buông thả  
căng thẳng  
tự kiềm chế  
thoải mái  
Mô hình “Năm tính cách lớn”  
Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng có năm tính  
cách cơ bản làm nền tảng cho tất cả các tính cách khác. Năm tính cách đó là:  
o
o
o
o
Tính hướng ngoại: dễ hội nhập, hay nói và quyết đoán  
Tính hoà đồng: hợp tác và tin cậy  
Tính chu toàn: trách nhiệm, cố chấp và định hướng thành tích  
Tính ổn định tình cảm: bình tĩnh, nhiệt tình, tích cực, chắc  
chắn (tích cực) đến căng thẳng, hay lo lắng, chán nản và  
không chắc chắn (tiêu cực)  
o
Tính cởi mở: có óc tưởng tượng, nhạy cảm về nghệ thuật và  
có tri thức  
Mô hình Chỉ số tính cách Myers-Briggs  
Mô hình Chỉ số tính cách Myers-Briggs (MBTI) là một trong những mô hình tính  
cách được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay. Chỉ riêng ở Mỹ, một năm có hơn hai  
triệu người sử dụng chỉ số MBTI. Nhiều công ty ở Mỹ như Apple Computer,  
AT&T, Citicorp, Exxon, General Electric, 3M Co., và nhiều bệnh viện, trường học  
đều sử dụng mô hình chỉ số tính cách này trong hoạt động tuyển dụng và bố trí  
nhân sự trong nội bộ công ty.  
Dựa trên nhiều nghiên cứu, các nhà tâm lý học người Thụy Sĩ đã phân loại tính  
cách của cá nhân thành 16 loại dựa trên các yếu tố sau đây:  
o
Cách thức mà cá nhân tìm kiếm năng lượng để giải quyết  
vấn đề: Hướng ngoại (E), hay Hướng nội (I)  
o
Cách thức mà cá nhân tìm hiểu và nhận thức về thế giới  
xung quanh: Cảm quan (S) hay Trực giác (N)  
o
o
Cách thức ra quyết định: Lý trí (T) hay Tình cảm (F)  
Cách thức hành động: Quyết đoán (J) hay Lĩnh hội (P)  
Chẳng hạn, INTJ là những người nhìn xa trông rộng. Họ thường  
có suy nghĩ ban đầu, có động lực to lớn đối với các ý tưởng và  
20  
MAN403_Bai 2_v1.0010112211  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 160 trang yennguyen 19640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Bài giảng Hành vi tổ chức (Bản đẹp)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfbai_giang_hanh_vi_to_chuc_ban_dep.pdf