Tóm tắt Luận văn Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Nam hiện nay

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
PHAN THỊ THANH NGA  
VẬN DỤNG QUY LUẬT MÂU THUẪN  
TRONG GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ BIỆN  
CHỨNG GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ  
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NAM  
HIỆN NAY  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60 22 03 01  
Đà Nẵng – Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐHĐN  
Người hướng dẫn khoa học: TS. DƯƠNG ANH HOÀNG  
Phản biện 1: TS. Trần Hồng Lưu  
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Ngọc Hòa  
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp thạc sĩ Triết học họp tại Trường Đại học Kinh tế, Đại  
học Đà Nẵng vào ngày 25 tháng 03 năm 2017.  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Quy luật mâu thuẫn hay còn gọi là quy luật thống nhất và đấu  
tranh của các mặt đối lập, là hạt nhân của phép biện chứng trong  
triết học Mác - Lênin. Mâu thuẫn biện chứng được tạo thành từ hai  
mặt đối lập có mối liên hệ vừa thống nhất, vừa đấu tranh với nhau.  
Để thúc đẩy sự phát triển của sự vật tất yếu phải xác định đúng và  
tìm cách giải quyết mâu thuẫn theo xu hướng vận động của quy luật.  
Chính vì vậy, quy luật mâu thuẫn được vận dụng làm cơ sở phương  
pháp luận trong nhiều nội dung, lĩnh vực khác nhau nhằm chỉ ra  
nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển.  
Tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường là hai yếu tố quan  
trọng của phát triển bền vững, giữa chúng có mối quan hệ biện  
chứng với nhau. Bảo vệ môi trường là cơ sở, nền tảng để tăng trưởng  
kinh tế bền vững và tăng trưởng kinh tế hợp lý là mục tiêu, động lực  
để bảo vệ môi trường. Hiện nay, giải quyết mối quan hệ giữa tăng  
trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường là yêu cầu cấp thiết đối với các  
quốc gia trên con đường phát triển và hội nhập. Một trong những vấn  
đề để giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và  
bảo vệ môi trường là nghiên cứu, vận dụng quy luật mâu thuẫn một  
cách sáng tạo, phù hợp.  
Đối với Việt Nam, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt  
trong quá trình phát triển đất nước. Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại  
biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhận định: “Bảo vệ môi  
trường tự nhiên vừa là nội dung, vừa là mục tiêu phát triển bền  
vững… Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với bảo vệ môi trường, sử  
dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên” [12].  
2
Cùng với cả nước, tỉnh Quảng Nam đã có nhiều cố gắng, nỗ  
lực trong phát triển kinh tế - xã hội, nhanh chóng vươn lên trở thành  
địa phương phát triển trong khu vực kinh tế trọng điểm miền Trung.  
Tăng trưởng kinh tế gắn liền với bảo vệ môi trường được tỉnh Quảng  
Nam xem là một trong những mục tiêu, động lực để phát triển nhanh  
và bền vững.  
Báo cáo chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng  
Nam lần thứ XXI đã khẳng định: “Phải xác định và phát huy lợi thế  
so sánh của tỉnh; coi trọng phát triển bền vững; phát triển kinh tế,  
đẩy mạnh công nghiệp hóa phải gắn liền với bảo vệ tài nguyên, môi  
trường ...” [2, tr.173].  
Thời gian qua, tỉnh Quảng Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng  
kinh tế khá với tiềm lực và quy mô mở rộng; đặc biệt là sự phát triển  
của các vùng kinh tế động lực, các khu kinh tế trọng điểm, các khu,  
cụm công nghiệp. Trong quá trình tăng trưởng kinh tế, tỉnh đã tăng  
cường công tác quản lý tài nguyên, ngăn ngừa ô nhiễm, bảo vệ môi  
trường. Tuy nhiên, do chưa tận dụng hết cơ hội và chưa vượt qua  
được hết khó khăn, thách thức nên tốc độ tăng trưởng kinh tế của  
tỉnh chậm được cải thiện, chưa tạo ra bước đột phá mới. Trong khi  
đó, công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường sinh thái còn  
nhiều hạn chế, bất cập như xảy ra hàng loạt các vi phạm về xử lý  
chất thải, rác thải, nước thải trong các doanh nghiệp, việc khai thác  
tài nguyên rừng và khoáng sản trái phép ngày càng diễn biến phức  
tạp, … gây ra tình trạng đáng báo động cho môi trường.  
Hiện nay, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường là  
vấn đề thời sự nóng hổi, vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu  
dài và là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại. Vậy, để  
đáp ứng đòi hỏi bức thiết này, một câu hỏi lớn được đặt ra cho tỉnh  
3
Quảng Nam là: Cần làm gì để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và  
bền vững nhằm vươn lên trở thành địa phương phát triển nhưng vẫn  
bảo vệ được môi trường sinh thái?  
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về kết hợp tăng trưởng kinh  
tế với bảo vệ môi trường trên phạm vi cả nước, vùng và một số tỉnh,  
thành phố nhưng cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào  
dành riêng cho tỉnh Quảng Nam. Dưới góc nhìn triết học, với mong  
muốn nghiên cứu và góp phần tìm ra lời giải đáp cho câu hỏi trên,  
tác giả chọn đề tài “Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải  
quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo  
vệ môi trường tỉnh Quảng Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc  
sĩ Triết học của mình.  
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu  
Mục tiêu nghiên cứu  
Nghiên cứu vận dụng quy luật mâu thuẫn và từ thực trạng tỉnh  
Quảng Nam, từ đó đề xuất phương hướng và một số giải pháp nhằm  
giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi  
trường tỉnh Quảng Nam hiện nay.  
Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn có nhiệm vụ:  
- Làm rõ những nội dung cơ bản của quy luật mâu thuẫn, tăng  
trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường.  
- Phân tích thực trạng mối quan hệ biện chứng giữa tăng  
trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Nam hiện nay.  
- Xây dựng một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm  
góp phần giải quyết tốt mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng  
kinh tế và bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Nam.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
4
Đối tượng nghiên cứu: một số vấn đề lý luận chung về mâu  
thuẫn, tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường; nghiên cứu thực trạng  
và chỉ ra các mâu thuẫn, từ đó đưa ra các giải pháp để giải quyết mối  
quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường ở tỉnh Quảng  
Nam hiện nay.  
Phạm vi nghiên cứu:  
- Phạm vi không gian: nghiên cứu trên địa bàn Quảng Nam.  
- Phạm vi thời gian: nghiên cứu các thông tin, số liệu, dữ liệu  
về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường trên địa bàn Quảng Nam  
trong giai đoạn 2010-2015.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng phương pháp luận chung của chủ nghĩa duy  
vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử và các phương pháp  
nghiên cứu khoa học khác như: tổng hợp và phân tích tài liệu, hệ  
thống dữ liệu, kế thừa và phát triển, đánh giá và tổng kết kinh  
nghiệm, logic và lịch sử, thống kê mô tả, quy nạp và diễn dịch, …  
5. Bố cục của luận văn  
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo;  
Luận văn được trình bày gồm 3 chương, 8 tiết.  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình nghiên cứu về quy  
luật mâu thuẫn, mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và  
bảo vệ môi trường, gồm:  
Nhóm các công trình nghiên cứu về quy luật mâu thuẫn, như:  
“Đại cương lịch sử triết học phương Đông cổ đại” của tập thể các tác  
giả Doãn Chính, Trương Văn Chung, Nguyễn Thế Nghĩa, Vũ Tình,  
Nxb Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1992; “Giáo trình  
triết học Mác - Lênin” của Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn  
5
giáo trình quốc gia các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ  
Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003; “Giới thiệu tác  
phẩm biện chứng của tự nhiên của Ph. Ăngghen” (2010) và“Giới  
thiệu tác phẩm Bút ký triết học của V.I. Lênin” (2009), Nxb Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, do tác giả Nguyễn Bằng Tường chủ biên; “Lịch sử  
triết học phương Tây” của tác giả Lê Tôn Nghiêm, Nxb thành phố  
Hồ Chí Minh, 2000; “Chủ nghĩa Mác - Lênin học thuyết về sự phát  
triển và sáng tạo không ngừng”(xuất bản lần thứ hai) của GS. Trần  
Nhâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011; “Mâu thuẫn - một số  
vấn đề lý luận và thực tiễn” của PGS. TS Nguyễn Tấn Hùng, 2013.  
Nhóm các công trình nghiên cứu về vấn đề tăng trưởng kinh  
tế, bảo vệ môi trường, như: “Kỷ yếu về Hội nghị phát triển bền  
vững”, Hà Nội, 2004; “Giáo trình kinh tế chính trị Mác - Lênin” của  
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006;  
“Giáo trình Kinh tế phát triển”do PGS. TS Phan Thúc Huân chủ  
biên, Nxb Thống kê thành phố Hồ Chí Minh, 2006; “Giáo trình kinh  
tế môi trường” của GS. Lê Thạc Cán, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2009.  
Ngoài ra còn có nhiều bài báo, đề tài liên quan đến vấn đề kết  
hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, như: bài báo “Cơ sở  
triết học nghiên cứu mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ  
môi trường” của TS. Bùi Văn Dũng (Tạp chí triết học số 4, 2005);  
“Tư tưởng của Ăngghen về mối quan hệ con người - tự nhiên” của  
GS. TS Nguyễn Hùng Hậu (Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, số  
10, 2013);“Phát triển bền vững ở Việt Nam” của GS. TS Vũ Văn  
Hiền (Tạp chí cộng sản, 2014); Luận án Tiến sĩ triết học “Kết hợp  
tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở các tỉnh Bắc Trung Bộ  
Việt Nam hiện nay” của tác giả Đỗ Trọng Hưng, Hà Nội, 2015.  
Nhóm các công trình nghiên cứu về kinh nghiệm gắn tăng  
6
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, như:“Xử lý rác thải ở một số  
nước châu Á” đăng trên Tạp chí Khoa học và Công nghệ, 2008;  
“Chiến lược tăng trưởng xanh: xu hướng của thời đại” của PGS. TS  
Nguyễn Thế Chinh và tác giả Đặng Quốc Thắng đăng trên Tài  
nguyên số Đại học kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011; Chuyên  
đề “Kinh nghiệm một số nước trên thế giới trong xây dựng pháp luật  
về bảo vệ môi trường” của Viện nghiên cứu lập pháp - Ủy ban  
thường vụ Quốc hội, 2013; sách“Chính sách thúc đẩy tăng trưởng  
xanh - kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn Việt Nam” của TS. Trần  
Ngọc Ngoạn, Nxb Chính trị quốc gia, 2016.  
Nghiên cứu vấn đề này tại tỉnh Quảng Nam có các công trình  
quan trọng như: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Nam giai  
đoạn 2011-2015, Báo cáo Tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết số  
41-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về bảo vệ môi trường trong  
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, sách  
“Niên giám thống kê Quảng Nam năm 2015”, hai bài viết định  
hướng tuyên truyền: “Nâng cao hiệu quả công tác quản lý tài nguyên  
và bảo vệ môi trường, tích cực ứng phó với biến đổi khí hậu” và  
“Nâng cao hiệu quả, hiệu lực bảo vệ tài nguyên và môi trường trên  
địa bàn tỉnh Quảng Nam” của tác giả Nguyễn Viễn đăng trên Sổ tay  
truyên truyền Quảng Nam năm 2015, 2016.  
Đây là những nguồn tài liệu vô cùng quý giá, có vai trò định  
hướng giúp tác giả nghiên cứu, phân tích, đánh giá, bổ sung, phát  
triển làm phong phú cho đề tài luận văn.  
7
CHƯƠNG 1  
LÝ LUẬN CHUNG VỀ MÂU THUẪN,  
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
1.1. QUY LUẬT MÂU THUẪN  
1.1.1. Nội dung của quy luật mâu thuẫn  
Trong ba quy luật của phép biện chứng duy vật thì quy luật  
mâu thuẫn là hạt nhân của phép biện chứng. Nội dung cơ bản của  
quy luật mâu thuẫn đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác -  
Lênin làm sáng tỏ thông qua các phạm trù: “mặt đối lập”, “sự thống  
nhất” và “sự đấu tranh” của các mặt đối lập.  
“Mâu thuẫn” là sự tác động lẫn nhau của các mặt, các khuynh  
hướng đối lập, là hiện tượng tất yếu, khách quan và là nguồn gốc của  
sự vận động và phát triển. “Đối lập”, “mặt đối lập” là phạm trù dùng  
để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính có khuynh  
hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự  
nhiên, xã hội và tư duy [16, tr.321, 322]. Các mặt đối lập vừa thống  
nhất, vừa đấu tranh, vừa chuyển hóa cho nhau và là những nhân tố  
cấu thành nên mâu thuẫn biện chứng. Sự thống nhất của các mặt đối  
lập là tương đối, sự đấu tranh của các mặt đối lập là tuyệt đối.  
1.1.2. Một số vấn đề phương pháp luận khi nghiên cứu và  
vận dụng quy luật mâu thuẫn  
Quy luật mâu thuẫn có ý nghĩa phương pháp luận to lớn đối  
với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người.  
Nghiên cứu quy luật mâu thuẫn để phát hiện, nhận thức, phân tích  
mâu thuẫn và tìm ra con đường đúng đắn để giải quyết mâu thuẫn.  
Nhận thức mâu thuẫn tức là phân đôi cái thống nhất và nhận  
thức các mặt đối lập để nắm bắt sự vật trong sự thống nhất, đồng  
8
nhất của các mặt đối lập. Khi phân tích mâu thuẫn phải hiểu rõ  
nguồn gốc, điều kiện tồn tại và quá trình phát triển của mâu thuẫn.  
Giai đoạn cuối cùng là tìm ra phương pháp đúng đắn để giải quyết  
mâu thuẫn. Việc giải quyết mâu thuẫn là kết quả của quá trình đấu  
tranh của các mặt đối lập. Giải quyết mâu thuẫn không có nghĩa là  
xóa bỏ mâu thuẫn mà là kết hợp hài hòa các mặt đối lập.  
1.2. TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG  
1.2.1. Tăng trưởng và phát triển kinh tế  
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về số lượng, chất lượng, tốc  
độ, quy mô và sản lượng của một nền kinh tế trong một thời gian  
nhất định. So với tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế có nội dung,  
ý nghĩa rộng hơn; đó là sự hoàn thiện cơ cấu, thể chế kinh tế, nâng  
cao chất lượng cuộc sống và đảm bảo công bằng xã hội.  
Tăng trưởng kinh tế có vai trò quan trọng để thực hiện hàng  
loạt các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội như xóa đói giảm nghèo, giải  
quyết việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi xã hội, tăng cường quốc  
phòng an ninh, củng cố chế độ chính trị.  
Tăng trưởng kinh tế nhanh và liên tục là khát vọng thường  
xuyên của các quốc gia trên thế giới nhưng sẽ là không đúng và nguy  
hiểm nếu tìm cách đẩy nhanh tăng trưởng bằng mọi giá. Thực tế cho  
thấy, tăng trưởng kinh tế bền vững là mục tiêu tăng trưởng có hiệu  
quả nhất đã và đang được các quốc gia trên thế giới hướng đến.  
1.2.2. Bảo vệ môi trường  
Ngày nay, bảo vệ môi trường không chỉ là vấn đề ở phạm vi  
địa phương, vùng, quốc gia, khu vực mà nó đã trở thành vấn đề cấp  
bách mang tính toàn cầu. Ở nước ta, Khoản 3, Điều 3 Luật bảo vệ  
môi trường khẳng định: “Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động  
giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng  
9
phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục  
hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên  
nhằm giữ môi trường trong lành” [22, tr.1].  
Để bảo vệ môi trường, cần kiểm soát các tác nhân tác động lên  
môi trường; nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ môi  
trường; đồng thời, xây dựng tư duy nhận thức về đạo đức môi trường  
sinh thái.  
1.2.3. Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và  
bảo vệ môi trường  
Mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ  
môi trường chính là mối quan hệ biện chứng giữa con người với tự  
nhiên. Mối quan hệ này được hình thành thông qua lao động sản xuất  
và các hoạt động cải biến, chinh phục tự nhiên của con người.  
Bảo vệ môi trường là cơ sở để thực hiện tăng trưởng kinh tế  
bền vững. Môi trường tự nhiên cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các  
hoạt động kinh tế, cung cấp những điều kiện cần thiết cho phát triển  
hạ tầng kinh tế - xã hội, cung cấp không gian cho các khu vực kinh  
tế, các hoạt động du lịch, vui chơi giải trí. Đồng thời, môi trường là  
nơi tiếp nhận và chứa đựng các phế thải từ quá trình sản xuất và sinh  
hoạt của con người.  
Tăng trưởng kinh tế hợp lý là điều kiện thiết yếu để bảo vệ  
môi trường. Tăng trưởng kinh tế tạo ra của cải vật chất, thành tựu  
khoa học công nghệ hiện đại để kiểm soát và xử lý ô nhiễm, suy  
thoái và sự cố môi trường, cải tạo môi trường tự nhiên.  
1.3. MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN  
GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI  
TRƯỜNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA CHÂU Á VÀ VIỆT NAM  
1.3.1. Kinh nghiệm của Hàn Quốc  
10  
Thứ nhất, pháp luật về bảo vệ môi trường của Hàn Quốc tạo  
hành lang pháp lý giúp kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ môi trường trong  
phát triển kinh tế.  
Thứ hai, Hàn Quốc là một trong những quốc gia đi tiên phong  
trong việc triển khai Chiến lược tăng trưởng xanh và thực hiện  
chuyển đổi nền kinh tế từ “nâu” sang “xanh”.  
1.3.2. Kinh nghiệm của Nhật Bản  
Thứ nhất, Nhật Bản xây dựng các mục tiêu và chương trình  
hành động để hướng tới xã hội cácbon thấp.  
Thứ hai, chính sách xử lý rác thải hiệu quả của Nhật Bản.  
1.3.3. Kinh nghiệm tăng trưởng xanh của Việt Nam  
Trong những năm qua, Việt Nam đã ban hành “Chiến lược  
quốc gia về tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến  
năm 2050” (2009) và nhiều luật hỗ trợ cho tăng trưởng xanh. Đến  
nay, Chiến lược đã được triển khai thực hiện ở nhiều bộ, ngành và  
địa phương trong cả nước, trong đó điển hình như thành phố Đà  
Nẵng và tỉnh Quảng Ninh, có thể rút ra một số kinh nghiệm tại các  
địa phương này như sau:  
- Thành phố Đà Nẵng đã triển khai nhiều chương trình thực  
hiện Chiến lược như: quản lý rác thải bền vững, phát triển giao thông  
xanh, công nghiệp hóa xanh, khu công nghệ cao Đà Nẵng kết hợp  
với công nghiệp xanh, xây dựng thành phố xanh kiểu mẫu.  
- Tỉnh Quảng Ninh đã ban hành Kế hoạch hành động triển  
khai thực hiện Chiến lược kịp thời, có hiệu quả. Triển khai các  
chương trình hành động hướng đến kinh tế xanh như: Chiến lược sản  
xuất sạch hơn trong công nghiệp, xây dựng du lịch xanh bền vững.  
Kết luận chương 1  
11  
CHƯƠNG 2  
THỰC TRẠNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ  
MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
2.1. CÁC ĐIỀU KIỆN TÁC ĐỘNG ĐẾN KINH TẾ VÀ MÔI  
TRƯỜNG TỰ NHIÊN TỈNH QUẢNG NAM  
2.1.1. Điều kiện tự nhiên  
Tỉnh Quảng Nam có vị trí địa lý rất thuận lợi nhưng địa hình  
tương đối phức tạp. Lợi thế của tỉnh là có nguồn tài nguyên thiên  
nhiên đất, nước, biển, rừng, khoáng sản đa dạng và phong phú.  
2.1.2. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Nam hiện nay  
Giai đoạn 2011-2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của  
Quảng Nam đạt 11,53%. Năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt  
11,56%, (tăng 2,66% so với năm 1997), GRDP bình quân đầu người  
đạt 41,4 triệu đồng/ người/ năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực:  
tỷ trọng khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản trong GRDP  
giảm từ 20,67% năm 2011 xuống còn 15,9% năm 2015; tỷ trọng khu  
vực công nghiệp, xây dựng tăng từ 40,5% lên 42% và khu vực dịch  
vụ, du lịch tăng từ 38,83% năm 2011 lên 42,1% năm 2015 [8] [9].  
Sự phát triển của vùng kinh tế Đông Nam, vùng kinh tế phía  
Tây và các khu, cụm công nghiệp đã đóng góp lớn cho phát triển  
kinh tế - xã hội của tỉnh.  
Kết cấu hạ tầng Quảng Nam tương đối đồng bộ với hệ thống  
giao thông vận tải phát triển rộng khắp. Dân số Quảng Nam khá  
đông 1.480.790 người (2015); trong đó, dân tộc kinh chiếm 93,6% và  
dân tộc ít người chiếm 6,4% dân số toàn tỉnh. Năm 2015, toàn tỉnh  
có khoảng 900.743 người trong độ tuổi lao động, chiếm 60% tổng  
dân số toàn tỉnh. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm còn 9%, tỷ  
12  
lệ hộ cận nghèo giảm còn khoảng 7% [9].  
2.2. THỰC TRẠNG GIẢI QUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ  
VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TẠI TỈNH QUẢNG NAM HIỆN  
NAY  
2.2.1. Những thành tựu  
Thứ nhất, chủ trương, cơ chế, chính sách chỉ đạo gắn tăng  
trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường được tăng cường.  
Thứ hai, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ môi  
trường được đẩy mạnh thực hiện quyết liệt.  
Thứ ba, công tác quản lý, bảo vệ rừng và tài nguyên khoáng  
sản đạt được những kết quả tích cực.  
Thứ tư, hạ tầng xử lý nước thải, chất thải rắn bước đầu được  
đầu tư góp phần ngăn ngừa, xử lý ô nhiễm môi trường.  
Thứ năm, gia tăng nguồn kinh phí và thu hút nhiều dự án hợp  
tác quốc tế đầu tư cho lĩnh vực bảo vệ môi trường.  
2.2.2. Những hạn chế  
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thực trạng trên còn  
bộc lộ nhiều hạn chế cần được khắc phục:  
Thứ nhất, công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo vệ  
môi trường chưa chặt chẽ, hiệu lực, hiệu quả chưa cao. Việc lồng  
ghép công tác bảo vệ môi trường vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã  
hội của Quảng Nam chưa hợp lý. Năng lực quản lý môi trường chưa  
được nâng cao. Hệ thống tổ chức bộ máy quản lý môi trường còn  
thiếu và yếu, chưa đáp ứng yêu cầu đặt ra hiện nay.  
Thứ hai, xảy ra nhiều điểm nóng về khai thác gỗ, khoáng sản  
trái phép. Điển hình là vụ phá rừng gỗ quý pơ mu trăm tuổi ở huyện  
Nam Giang, phá rừng phòng hộ sông Tranh; khai thác vàng trái phép  
ở khu vực mỏ vàng Bồng Miêu, mỏ vàng Phước Sơn, Khu bảo tồn  
13  
thiên nhiên sông Tranh; chế biến thiếc gây ô nhiễm môi trường ở  
huyện Nam Trà My.  
Thứ ba, hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường còn thiếu và lạc  
hậu, chưa đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường. Quảng Nam còn tới  
5/7 khu công nghiệp và 47/51 cụm công nghiệp chưa có hệ thống xử  
lý nước thải tập trung đạt Quy chuẩn Việt Nam [27].  
Thứ tư, ô nhiễm môi trường do phát triển kinh tế chưa được  
kiểm soát và xử lý triệt để. Các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ra  
ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí đáng kể.  
2.2.3. Những nguyên nhân cơ bản  
Nguyên nhân khách quan: tỉnh Quảng Nam có địa bàn rộng,  
địa hình phức tạp, chịu nhiều thiên tai, kinh tế còn nghèo nên nguồn  
kinh phí đầu tư cho bảo vệ môi trường còn hạn hẹp, không có điều  
kiện để đầu tư mở rộng, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật bảo vệ môi trường  
hiện đại cũng như tăng cường đội ngũ cán bộ chuyên trách bảo vệ  
môi trường.  
Nguyên nhân chủ quan: Do nhận thức, ý thức trách nhiệm của  
chính quyền, doanh nghiệp và người dân trong tỉnh còn nhiều hạn  
chế. Về phía các cơ quan chức năng, do chưa phát huy hết chức  
trách, nhiệm vụ được giao nên công tác quản lý môi trường còn bất  
cập, chồng chéo, hiệu quả, hiệu lực chưa cao. Về phía các doanh  
nghiệp, vì chạy theo lợi nhuận nên gây ra ô nhiễm môi trường.  
2.3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TỪ THỰC TRẠNG GIẢI  
QUYẾT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI  
TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
Trong điều kiện cơ chế thị trường, quan hệ giữa tăng trưởng và  
bảo vệ môi trường Quảng Nam phát sinh một số mâu thuẫn sau:  
2.3.1. Mâu thuẫn trong lợi ích giữa cá nhân, tập thể và  
14  
cộng đồng  
Lợi ích cá nhân là lợi ích của doanh nghiệp, nhà đầu tư, cán bộ  
thực thi công vụ quản lý môi trường và người dân Quảng Nam. Lợi  
ích tập thể, cộng đồng là lợi ích của cả hệ thống chính trị, toàn thể  
doanh nghiệp và cộng đồng người dân đang sinh sống, hoạt động  
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.  
Mâu thuẫn trong lợi ích giữa cá nhân với lợi ích của tập thể,  
cộng đồng Quảng Nam là mâu thuẫn giữa lợi ích riêng và lợi ích  
chung. Lợi ích cá nhân dẫn đến những hành vi vi phạm pháp luật về  
bảo vệ môi trường của một số doanh nghiệp, hành vi khai thác tài  
nguyên trái phép của người dân, hành vi tiếp tay cho các đối tượng  
gây ô nhiễm môi trường của một số cán bộ thực thi công vụ trong  
lĩnh vực bảo vệ môi trường. Trong những trường hợp này, khi một  
thiểu số cá nhân được hưởng lợi lớn thì cộng đồng xã hội lại phải  
gánh chịu những thiệt hại do những cá nhân đó gây ra.  
Vì lợi ích là động lực để tăng trưởng kinh tế nên để giải quyết  
mâu thuẫn trên cần phát huy mọi lợi ích: lợi ích cá nhân, lợi ích tập  
thể và lợi ích cộng đồng.  
2.3.2. Mâu thuẫn giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh  
nghiệp  
Giữa lợi ích và trách nhiệm của doanh nghiệp có mâu thuẫn  
nhau do chịu sự tác động của cơ chế thị trường. Để đạt được mục  
tiêu tối đa hóa lợi nhuận, việc thiếu trách nhiệm, không quan tâm đầu  
tư chi phí để nâng cấp hạ tầng bảo vệ môi trường là nguyên nhân  
chính đẩy các doanh nghiệp Quảng Nam gây ô nhiễm môi trường.  
Hoạt động gây ô nhiễm môi trường do đặt nặng vấn đề lợi ích dẫn  
đến thiếu ý thức trách nhiệm của các doanh nghiệp đã làm thiệt hại  
cho các ngành, lĩnh vực kinh tế của cả tỉnh Quảng Nam nói chung và  
15  
doanh nghiệp Quảng Nam nói riêng lên đến hàng chục tỷ đồng để xử  
lý ô nhiễm, khắc phục, cải tạo môi trường, kiểm soát dịch bệnh.  
Rõ ràng, doanh nghiệp sẽ không thể phát triển bền vững khi  
không quan tâm đến vấn đề bảo vệ môi trường. Do vậy, để giải quyết  
mâu thuẫn trên cần kết hợp hài hòa lợi ích kinh tế và trách nhiệm bảo  
vệ môi trường của doanh nghiệp, góp phần vào tăng trưởng kinh tế  
nhanh và bền vững ở Quảng Nam.  
2.3.3. Mâu thuẫn giữa mục đích của tăng trưởng kinh tế  
với khả năng của tỉnh Quảng Nam  
Quảng Nam hướng tới mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế  
nhanh và bền vững nhưng việc thực hiện mục tiêu này có thể mâu  
thuẫn với khả năng hiện có của tỉnh.  
- Về khía cạnh kinh tế: Các chính sách thúc đẩy tăng trưởng  
kinh tế của tỉnh Quảng Nam đều bao hàm việc đảm bảo các vấn đề  
môi trường, bình đẳng, công bằng xã hội. Song, nhiệm vụ chính của  
các chính sách kinh tế là phải giải quyết tốt các vấn đề kinh tế, đảm  
bảo hiệu quả kinh tế cao. Do đó, chính sách kinh tế dù có gắn với các  
vấn đề môi trường và xã hội thì cũng không thể giải quyết hết được  
những vấn đề này.  
- Về khía cạnh xã hội và môi trường: tăng trưởng kinh tế  
Quảng Nam đạt tốc độ khá cao nhưng chưa bền vững nên ngân sách  
tích lũy chưa nhiều, trong khi đó trình độ khoa học công nghệ còn  
lạc hậu, chất lượng nguồn nhân lực chưa được nâng cao nên tỉnh khó  
có thể thực hiện được mục đích tích lũy ngân sách từ tăng trưởng  
kinh tế để giải quyết tốt các vấn đề xã hội và môi trường.  
Kết luận chương 2  
16  
CHƯƠNG 3  
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN MỐI QUAN HỆ GIỮA  
TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH  
QUẢNG NAM HIỆN NAY  
3.1. PHƯƠNG HƯỚNG TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ GẮN VỚI  
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NAM  
Từ nay đến năm 2020, Quảng Nam sẽ phấn đấu sớm trở thành  
tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại. Để góp phần thực hiện thành  
công mục tiêu trên, xin đề xuất các phương hướng cơ bản nhằm thực  
hiện tốt việc kết hợp tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường ở  
tỉnh Quảng Nam hiện nay:  
Một là, tiếp tục nghiên cứu, quán triệt và tổ chức thực hiện tốt  
hơn nữa quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước  
về kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với quản lý tài nguyên,  
bảo vệ môi trường; cụ thể hóa trong từng nghị quyết, chỉ thị, chiến  
lược, kế hoạch, định hướng phát triển của tỉnh với lộ trình và bước đi  
thích hợp.  
Hai là, xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình hành  
động quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường trong từng ngành, từng  
lĩnh vực kinh tế, đặc biệt là trong các khu công nghiệp, cụm công  
nghiệp; giảm thiểu tối đa sức ép từ các hoạt động kinh tế lên môi  
trường.  
Ba là, tăng cường đầu tư các nguồn lực triển khai các đề tài,  
dự án cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong  
dự báo, phòng ngừa, cải tạo, phục hồi và xử lý ô nhiễm môi trường.  
Bốn là, xây dựng hệ thống các quy định, quy chế, tiêu chí để  
lựa chọn các dự án đầu tư có công nghệ sản xuất hiện đại, đảm bảo  
17  
các yêu cầu về bảo vệ môi trường; nâng cao năng lực đánh giá tác  
động môi trường và kiểm định chất lượng môi trường trong kêu gọi  
và thu hút đầu tư phát triển kinh tế.  
Năm là, tiếp tục đẩy mạnh triển khai thực hiện có hiệu quả Đề  
án Quy hoạch chất thải rắn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2011-2020;  
nâng cao năng lực quản lý, kiểm soát và xử lý hoạt động xả thải của  
các doanh nghiệp.  
Sáu là, hoạch định chính sách để chuyển đổi mô hình tăng  
trưởng kinh tế từ chiều rộng sang chiều sâu với các định hướng và  
mục tiêu hướng tới tăng trưởng xanh tầm nhìn trung hạn và dài hạn.  
Bảy là, có cơ chế, chính sách đột phá xã hội hóa, thu hút các  
nguồn lực trong xã hội đầu tư cho công tác bảo vệ môi trường, giảm  
áp lực chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp bảo vệ môi trường.  
Tám là, tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy  
đảng; quản lý, điều hành của chính quyền các cấp; phát huy vai trò,  
trách nhiệm và sự tham gia giám sát, phản biện của các tổ chức đoàn  
thể, doanh nghiệp, cộng đồng người dân Quảng Nam trong việc kết  
hợp chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với quản lý tài nguyên, bảo vệ  
môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.  
3.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM GIẢI QUYẾT  
MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ BẢO  
VỆ MÔI TRƯỜNG TỈNH QUẢNG NAM HIỆN NAY  
3.2.1. Giải quyết lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của  
cộng đồng Quảng Nam  
Về cơ bản, việc giải quyết mâu thuẫn giữa lợi ích của doanh  
nghiệp với lợi ích của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường ở  
tỉnh Quảng Nam hiện nay không phải xóa bỏ một trong hai lợi ích,  
hoặc xóa bỏ cả hai lợi ích mà là kết hợp hài hòa giữa lợi ích của  
18  
doanh nghiệp với lợi ích của cộng đồng, không được coi trọng lợi ích  
này mà xem nhẹ hoặc bỏ qua lợi ích kia. Để làm được điều này, cần  
thực hiện đồng bộ nhiều biện pháp:  
Thứ nhất, xây dựng mô hình sản xuất sạch, ít ảnh hưởng đến  
môi trường vừa đem lại lợi nhuận cho doanh nghiệp, vừa đem lại  
hạnh phúc và chất lượng sống cho cộng đồng.  
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện “Chiến lược sản xuất sạch hơn  
trong công nghiệp đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê  
duyệt năm 2009. Về phía chính quyền Quảng Nam, cần ban hành văn  
bản hướng dẫn các doanh nghiệp xây dựng và triển khai mô hình sản  
xuất sạch với từng nội dung cụ thể. Về phía các doanh nghiệp Quảng  
Nam, cần phải nâng cao ý thức trách nhiệm, tiến hành đổi mới mô  
hình sản xuất, cách thức quản lý và tiếp cận thị trường.  
Thứ hai, có chính sách hỗ trợ về tài chính để các doanh nghiệp  
đầu tư công nghệ xử lý chất thải hiện đại, không gây ô nhiễm môi  
trường.  
Các hạng mục cần được ưu tiên cấp kinh phí hỗ trợ cho doanh  
nghiệp: kinh phí đầu tư công nghệ phân loại chất thải rắn công  
nghiệp (chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại, chất  
thải rắn có thể tái chế, chất thải rắn thải bỏ); kinh phí hợp đồng với  
các công ty dịch vụ môi trường trong và ngoài tỉnh thu gom, vận  
chuyển và xử lý chất thải rắn; kinh phí nâng cấp các bãi chôn lấp, các  
lò đốt chất thải rắn công nghiệp hợp vệ sinh, nhà máy sản xuất phân  
compost hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn về môi trường, đem lại hiệu  
quả cao về kinh tế, kỹ thuật và môi trường.  
Thứ ba, giải quyết những điểm nóng về ô nhiễm môi trường để  
đảm bảo gắn kết hài hòa lợi ích của doanh nghiệp với lợi ích của  
cộng đồng.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 10640 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Vận dụng quy luật mâu thuẫn trong giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường tỉnh Quảng Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_van_dung_quy_luat_mau_thuan_trong_giai_quye.pdf