Tóm tắt Luận văn Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm

ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ  
-----------------  
NGUYỄN THỊ THUÝ DI  
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC  
CỦA KARL POPPER TRONG MỘT SỐ  
TÁC PHẨM  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC  
Mã số: 60.22.03.01  
Đà Nẵng – Năm 2017  
Công trình được hoàn thành tại  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ, ĐHĐN  
Người hướng dẫn: PGS.TS Nguyễn Tấn Hùng  
Phản biện 1: TS. Trần Ngọc Ánh  
Phản biện 2: PGS.TS Hồ Tấn Sáng  
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm  
Luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ Triết học họp tại Đại  
học Kinh tế Đà Nẵng vào ngày 25 tháng 3 năm 2017  
Có thể tìm hiểu Luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin – Học liệu: Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Khoa học là một lĩnh vực quan trọng của ý thức xã hội.  
Những thành tựu của khoa học có vai trò vô cùng to lớn đối với sự  
phát triển sản xuất và các hoạt động của con người nhằm cải tạo tự  
nhiên và phát triển xã hội. Có một ngành của triết học đi sâu nghiên  
cứu để trả lời cho một loạt câu hỏi, như về bản chất của khoa học,  
về con đường phát triển của nhận thức khoa học; về vấn đề chân lý  
trong các khoa học, v.v.. Chuyên ngành mới này của triết học  
chuyên nghiên cứu những vấn đề chung nhất đó của khoa học và  
được gọi là Triết học về khoa học (Philosophy of science).  
Những nhà triết học theo lập trường chủ nghĩa Thực chứng là  
những người đầu tiên đã tiếp cận các vấn đề của triết học về khoa  
học. Sự phát triển tiếp theo của chủ nghĩa thực chứng mới được gọi  
là chủ nghĩa hậu thực chứng. Người đầu tiên khởi xướng cho xu  
hướng này là nhà triết học người Áo Karl Raimund Popper (1902 –  
1994) với chủ nghĩa duy lý phê phán và nguyên tắc khả phủ chứng  
rất nổi tiếng. Karl Popper đã thách thức với cách tiếp cận và nhiều  
vấn đề thuộc nội dung và phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa  
thực chứng lôgic. Ông đã đưa ra cách tiếp cận mới và nhiều nội  
dung nghiên cứu mới cho triết học về khoa học. Tuy nhiên, triết học  
về khoa học của Karl Popper cũng không tránh khỏi những thiếu sót  
nhất định. Do vậy, việc nghiên cứu những nội dung cụ thể và chỉ ra  
những đóng góp cùng hạn chế trong tư tưởng triết học về khoa học  
của Karl Popper có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của chuyên  
ngành mới này của triết học.  
Với những lý do trên và lòng mong muốn tìm hiểu tư tưởng  
triết học của Karl Popper, tôi chọn đề tài: “Tư tưởng triết học về  
khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm” làm đề tài luận  
văn của mình.  
2
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn  
2.1. Mục đích nghiên cứu  
Luận văn có mục đích là nghiên cứu tư tưởng triết học về  
khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm triết học của ông,  
từ đó chỉ ra những giá trị cùng những hạn chế của nó.  
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu  
Để thực hiện được mục đích trên, luận văn đề ra những  
nhiệm vụ sau đây:  
- Phân tích bối cảnh lịch sử và những tiền đề lý luận của  
sự ra đời tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper.  
- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng triết học về khoa  
học của Karl Popper qua một số tác phẩm của ông.  
- Phân tích những giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học  
về khoa học của Karl Popper.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn  
3.1. Đối tượng nghiên cứu  
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nội dung tư  
tưởng triết học về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm  
triết học của ông đã được xuất bản, qua đó chỉ ra những đóng góp  
và hạn chế của K. Popper trong cách tiếp cận của ông về bản chất  
và con đường của nhận thức khoa học, về vấn đề chân lý trong tri  
thức khoa học.  
3.2. Phạm vi nghiên cứu  
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình trong  
một số tác phẩm triết học về khoa học của Karl Popper, như “Lôgic  
của phát minh khoa học”, “Phỏng định và bác bỏ” và “Tri thức  
khách quan”. Đồng thời Luận văn cũng tham khảo lý luận nhận  
thức của triết học Mác-Lênin, tư tưởng của một số tác giả khác có  
liên quan, như của các nhà triết học thực chứng lôgic nhóm Viên và  
sự phát triển của triết học về khoa học của một số nhà nghiên cứu  
3
sau này để thấy được những mặt hợp lý và hạn chế của Karl Popper.  
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn  
4.1. Cơ sở lý luận  
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận và phương pháp luận của  
chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, lý luận  
nhận thức duy vật biện chứng của triết học Mác-Lênin.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu  
khác nhau. Nhưng chủ yếu sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:  
phương pháp thống nhất giữa phân tích và tổng hợp, quy nạp và  
diễn dịch, lôgic và lịch sử, đối chiếu, so sánh, trừu tượng hóa, khái  
quát hóa ...  
5. Bố cục của luận văn  
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, Luận  
văn có nội dung chính gồm 3 chương:  
Chương 1: Cơ sở hình thành tư tưởng triết học về khoa  
học của Karl Popper.  
Chương 2: Một số nội dung cơ bản trong tư tưởng triết  
học về khoa học của Karl Popper.  
Chương 3: Những đóng góp và hạn chế trong tư tưởng  
triết học về khoa học của Karl Popper.  
6. Tổng quan tài liệu nghiên cứu  
Các công trình nghiên cứu về Karl Popper ở nước ngoài  
khá phong phú. Trước hết phải kể đến các bài viết trong các từ điển  
và bách khoa thư được công bố trên mạng internet, các sách của Karl  
Popper có liên quan đến tư tưởng triết học về khoa học của ông được  
xuất bản bằng tiếng Anh đều được công bố trên mạng internet, nên  
rất thuận lợi cho việc tra cứu.  
Hiện nay ở nước ta, các công trình nghiên cứu về Karl  
Popper tuy không nhiều, nhưng có thể chia thành các loại:  
4
+ Một số sách dịch và giới thiệu tác phẩm của Karl Popper  
bằng tiếng Việt. Hiện nay ở nước ta mới chỉ có ba tác phẩm của Karl  
Popper được dịch ra tiếng Viêt: 1) Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch  
sử, 2) Xã hội mở và những kẻ thù của nó, 3) Tri thức khách quan:  
Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa.  
+ Một số công trình nghiên cứu chuyên khảo về Karl  
Popper được dịch ra tiếng Việt.  
+ Một số công trình nghiên cứu về lịch sử triết học phương  
Tây đương đại, trong đó có triết học Karl Popper.  
Ở nước ta trên mạng internet cũng đã xuất hiện một số bài  
(tiếng Việt) về K. Popper, hoặc ít nhiều có liên quan. Trong thời gian  
gần đây, có một vài luận văn cao học đề cập một số khía cạnh trong  
tư tưởng triết học của Karl Popper.  
CHƯƠNG I  
CƠ SỞ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC  
VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER  
1.1. ĐIỀU KIỆN KINH TẾ, CHÍNH TRỊ - XÃ HỘI CỦA  
SỰ RA ĐỜI TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA  
KARL POPPER  
1.1.1. Các điều kiện kinh tế  
Vào cuối năm 20 đầu những năm 30, cuộc khủng hoảng  
kinh tế diễn ra trong thế giới tư bản có ảnh hưởng không nhỏ đến  
đời sống của nhiều nước châu Âu. Kinh tế của các nước trong đế  
quốc Áo - Hung lạc hậu, kém phát triển nên rơi vào khủng hoảng  
nghiêm trọng trong điều kiện chiến tranh, ngoài mặt trận thì quân  
đội liên tiếp thất bại, các dân tộc nổi lên đòi độc lập khiến Đế quốc  
Áo – Hung nằm trên bờ vực sụp đổ. Hoàn cảnh lịch sử đó đã tạo  
nên sự phát triển không đồng đều và sự khác nhau về hình thức  
thống trị của các nước tư bản.  
5
1.1.2. Tình hình chính trị - xã hội  
Vào nửa đầu thế kỷ XX, tình hình chính trị - xã hội tại  
Viên diễn biến phức tạp. Đế quốc Áo – Hung có tham vọng lớn là  
làm chủ khu vực Balkan mặc dù kinh tế hết sức lạc hậu, mâu thuẫn  
dân tộc vô cùng phức tạp. Năm 1909, Đế quốc Áo – Hung thôn tính  
Bosnia và Herzegovina, làm cho sự đối địch giữa Áo – Hung và  
Serbia ngày càng gay gắt. Dưới ảnh hưởng của Cách mạng tháng  
Mười Nga, Đế quốc Áo – Hung cũng bùng lên làn sóng cách mạng  
của nhân dân. Lúc này tại Viên rất hỗn loạn, không chỉ có sự xáo  
trộn về chính trị mà nạn thất nghiệp, lạm phát, đói kém và các tệ  
nạn xã hội tràn lan.  
Tình hình chính trị Áo trở nên căng thẳng, khi nước Áo và  
Đức sát nhập vào nhau, Karl Popper buộc phải rời khỏi Áo cùng  
với vợ.  
1.2. TIỀN ĐỀ KHOA HỌC VÀ LÝ LUẬN CHO RA ĐỜI  
TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC KHOA HỌC CỦA KARL POPPER  
1.2.1. Các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã  
hội  
Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống đọc sách,  
K. Popper đã sớm tiếp cận với những thành tựu triết học và khoa  
học của thế giới. Các nhà triết học như Spinoza, Descartes, Kant  
với những quan điểm của mình đã làm K. Popper phải suy tư trong  
nhiều năm. Đặc biệt ông đã chú tâm đọc “Luân lý học” và “Nguyên  
lý triết học Descartes”.  
K. Popper đã bị khuất phục về độ chính xác sau khi lý  
thuyết của Einstein được thực nghiệm. Karl Popper so sánh ba trào  
lưu lý luận đang thịnh hành: chủ nghĩa Mác, chủ nghĩa Freud và  
thuyết tương đối của Einstein và ông rút ra kết luận chỉ có học  
thuyết của Einstein mới thực sự là khoa học.  
Ngoài ra, K. Popper còn chịu ảnh hưởng của Alfred Adler  
6
(1870 – 1937) chuyên gia tâm thần học. Về mặt vật lý học, K.  
Popper chịu ảnh hưởng thuyết bất định trong vật lý học lượng tử.  
Về mặt kinh tế, K. Popper chịu ảnh hưởng tư tưởng chủ nghĩa tự do  
của Friedrich Hayek (1899–1992).  
1.2.2. Các trào lưu triết học duy khoa học  
Karl Popper ngay từ thời niên thiếu đã tiếp xúc với trào  
lưu triết học duy khoa học. Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học  
và sự ứng dụng ngày một rộng rãi của toán học và lôgic toán trong  
khoa học, điều này đã dẫn đến khuynh hướng tuyệt đối hoá toán  
học lôgic và khoa học thực nghiệm.  
Người khởi xướng cho sự ra đời của triết học về khoa học  
và chủ nghĩa thực chứng là nhà triết học Pháp Auguste Comte (1798-  
1857). Ngoài ra, còn có các đại biểu nổi tiếng khác như Ernst Mach  
(1838-1916), Ludwing Wittgenstein (1889-1951), Rudolf Carnap  
(1891 – 1870).  
1.3. VÀI NÉT VỀ TÁC GIẢ, TÁC PHẨM  
1.3.1. Cuộc đời và sự nghiệp của Karl Popper  
Karl Popper sinh ngày 28 tháng 6 năm 1902 tại Viên,  
nước Áo, là một người mang dòng dõi Do Thái, nhưng gia đình lại  
theo Kitô giáo.  
Karl Popper lớn lên trong một gia đình mà sách và âm  
nhạc luôn đóng một vai trò quan trọng trong cuộc sống. Cha của  
Karl Popper là Simon Carl Siegmund (1856-1932), là một tiến sĩ  
luật của Đại học Viên. Mẹ của K. Popper là Jenny Schiff (1864 –  
1938), bà xuất thân từ một gia đình âm nhạc. Trong thời thơ ấu của  
K. Popper, gia đình ông có cuộc sống khá thịnh vượng.  
Ngay từ khi còn trẻ ông đã chú ý đến các câu hỏi về triết  
học. Năm 1918, K. Popper tròn 16 tuổi, ông đã bỏ học. Sau khi bỏ  
học, K. Popper bắt đầu tự học và vào học dự thính tại Trường đại  
học Viên. Bốn năm sau, ông vượt qua kỳ thi để trở thành sinh viên  
7
chính thức của Trường đại học Viên.  
Năm 1928, K. Popper đã hoàn thành luận án tiến sĩ triết  
học với đề tài: “Vấn đề phương pháp trong tâm lý học tư duy”. Năm  
1929, K. Popper nhận làm giáo viên dạy bộ môn số học và khoa học  
tự nhiên cấp trung học cơ sở. Trong thời gian là giáo viên, ông đã  
gặp và kết hôn với Josephine Henninger (Hennie), sau này bà cũng  
trở thành một người giáo viên.  
Năm 1937, Karl Popper đến New Zealand và giảng dạy  
triết học như một giảng viên cao cấp tại Đại học Canterbury. Trong  
thời gian chiến tranh ông đã hoàn thành hai tác phẩm về triết học  
chính trị là: “The Poverty of Historicissm” (Sự nghèo nàn của chủ  
nghĩa lịch sử) và “The Open Society and Its Enemies” (Xã hội mở  
và kẻ thù của nó). Năm 1949 đã trở thành một giáo sư lôgic và khoa  
học về phương pháp tại Trường Kinh tế London. Trong thời gian  
giảng dạy lôgic và khoa học về phương pháp tại Trường Kinh tế  
London, ông đã viết hai tác phẩm mang tư tưởng triết học khoa học  
nổi tiếng là “Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific  
Knowledge” (Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức  
khoa học) và “Objective Knowledge: An Evolutionarry Approach”  
(Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến hóa).  
Năm 1958, Karl Popper đã trở thành một thành viên của  
Học viện Anh và trong 1958 – 1959 ông là Chủ tịch Hội Aristotle.  
Karl Popper đã được Nữ hoàng Elizabeth II phong tước hiệp sĩ  
(Knight) vào năm 1965 và trở thành thành viên Hội Hoàng gia vào  
năm 1976.  
Năm 1979, ông ngừng giảng dạy nhưng vẫn tiếp tục viết  
sách. Năm 1992, ông được Viện Goethe của Đức trao tặng Huy  
chương Goethe. Ông là thành viên của Mont Pelerin Society do  
Hayek thành lập, đồng thời cũng là thành viên của Royal Society và  
của International Academy of Science. Ông mất vào ngày 17 tháng  
8
9 năm 1994 tại London.  
1.3.2. Một số tác phẩm tiêu biểu của Karl Popper về triết  
học khoa học  
Hai tác phẩm tiêu biểu cho quan điểm chính trị - xã hội của  
K. Popper là: “Sự nghèo nàn của chủ nghĩa lịch sử” và “Xã hội mở  
và những kẻ thù của nó”. Trong hai tác phẩm này cũng chứa đựng  
một số tư tưởng triết học về khoa học của ông.  
Các tác phẩm chủ yếu thể hiện quan điểm triết học về khoa  
học của Karl Popper gồm có:  
1) “Lôgic của phát minh khoa học” [46]. Cuốn sách được  
ông viết bằng tiếng Đức có tựa đề Logik der Forschung – xuất bản  
lần đầu tại Nhà xuất bản Julius Springer Verlag, Vienna, 1934 – sau  
đó được chính tác giả dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề The Lôgic of  
Scientific Discovery – Nxb Hutchinson, London, 1959.  
2) “Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức  
khoa học” (Conjectures and Refutations: The Growth of Scientific  
Knowledge) [49], được xuất bản lần đầu năm 1963, do Nxb  
Routledge & Kegan Paul. Đây là tác phẩm được viết bằng tiếng Anh,  
thể hiện quan điểm của Karl Popper về hai quá trình chủ yếu của  
hoạt động nghiên cứu khoa học.  
3) “Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ  
tiến hóa” (Objective Knowledge: An evolutionary Approach) [50].  
Cuốn sách là tập hợp 9 bài viết và tham luận quan trọng của ông do  
chính ông chủ biên và xuất bản lần đầu do Nxb Oxford University  
Press, 1972, dưới nhan đề “Objective Knowledge: An Evolutionary  
Approach”. Sách này được Chu Lan Đình dịch do Nxb Tri thức, Hà  
Nội, xuất bản năm 2012 [34].  
Ngoài ra, còn một tác phẩm khác cũng quan trọng cho việc  
nghiên cứu về Karl Popper. Đó là tác phẩm “Unended Quest: An  
9
Intellectual Autobiography (Sự sưu tầm chưa kết thúc: Một tự tiểu sử  
của người tri thức) [45].  
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1  
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper được hình  
thành vào cuối những năm 20 đầu những năm 30 với sự ra đời của  
tác phẩm “Lôgic của phát minh khoa học”.  
Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper ra đời khi  
nước Áo lâm vào khó khăn và tình trạng kinh tế khó khăn, ông phải  
di tản sang nước ngoài. Đồng thời, trong thời đại của ông xuất hiện  
nhiều thành tựu khoa học mới.  
Ngoài những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị - xã hội  
của mình, quan điểm triết học về khoa học của Karl Popper được  
trình bày trong một loạt các tác phẩm tiêu biểu như: “Lôgic của phát  
minh khoa học”, “Phỏng định và Bác bỏ: Sự tăng trưởng của tri thức  
khoa học”, “Tri thức khách quan: Một cách tiếp cận dưới góc độ tiến  
hóa”. Tất cả những tác phẩm này đã được công bố trên mạng internet  
và một số tác phẩm đã được dịch ra tiếng Việt là cơ sở để chúng tôi  
đi sâu nghiên cứu về tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper.  
CHƯƠNG II  
MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN TRONG TƯ TƯỞNG  
TRIẾT HỌC VỀ KHOA HỌC CỦA KARL POPPER  
2.1. VỀ VẤN ĐỀ PHÂN RANH GIỮA KHOA HỌC VÀ  
PHI KHOA HỌC  
Đối với các nhà triết học về khoa học, vì tuyệt đối hóa vai trò  
của khoa học nên họ đặt ra vấn đề phân định ranh giới (gọi tắt là  
phân ranh, tiếng Anh: demarcation) giữa khoa học và những hình  
thái khác mà họ gọi là siêu hình học (metaphysics), phi khoa học  
(non-science), khoa học giả hiệu (pseudo-science). Theo Karl  
Popper, đây là vấn đề trung tâm của triết học về khoa học.  
10  
Theo ông, để phân biệt một phát biểu (một mệnh đề) hay một  
lý thuyết là khoa học hay không khoa học không phải ở chỗ “khả  
năng chứng thực” (khả năng chứng minh sự chân thực, hay tính khả  
thực chứng – verifiability), mà ở “khả năng chứng sai” (khả năng  
chứng tỏ sự giả dối, khả năng bị bác bỏ, hay tính khả phủ chứng –  
falsifiability hay refutability).  
Trong tác phẩm “Phỏng định và bác bỏ”, K. Popper viết: “Tiêu  
chuẩn tính khả phủ chứng (falsifiability) là giải pháp cho vấn đề  
phân ranh, vì nó nói rằng những phát biểu (statements) hay những hệ  
thống các phát biểu, để được xếp vào hàng ngũ khoa học, phải có  
khả năng xung đột với những quan sát có thể có hay có thể tiến hành  
được” [49, tr.51].  
Đối với Popper, khả năng kiểm nghiệm là khả năng phủ  
chứng, khả năng bị bác bỏ bằng quan sát.  
2.2. VỀ MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ VÀ BẢN CHẤT CỦA  
NHẬN THỨC KHOA HỌC  
2.2.1.Về mục đích và nhiệm vụ của nhận thức khoa học  
Popper cho rằng: “Trong khoa học điều mà chúng ta muốn  
đạt tới là miêu tả và cắt nghĩa thực tại” [34, tr.72]. Thay cho việc  
nghiên cứu quy luật, Karl Popper coi mục đích của khoa học chỉ là  
đưa ra những kiến giải (giải thích) thoả đáng. Theo Karl Popper,  
mục đích của nghiên cứu khoa học không chỉ đưa ra những kiến giải,  
mà quan trọng hơn là sáng tạo ra những lý thuyết khoa học.  
K. Popper cũng cho rằng mục đích chính của khoa học là  
truy tìm chân lý. Ông nói: “Trong khoa học cũng như trong triết học,  
mục đích chính của chúng ta là truy tìm chân lý bằng cách đưa ra  
những phỏng định táo bạo, và bằng việc nghiên cứu phê phán nhằm  
tìm ra cái sai trong những lý thuyết cạnh tranh đa dạng” [34, tr.419].  
Khi nói đến nhiệm vụ của khoa học, Ông nói: “Nhiệm vụ  
của khoa học không chỉ giới hạn ở việc tìm kiếm những kiến giải  
11  
thuần tuý lý thuyết; nó còn có cả những mặt thực tiễn nữa”.“Chẳng  
hạn nhiệm vụ ở đây là xây một chiếc cầu, cần tuân thủ một số đòi hỏi  
kỹ thuật nhất định được ghi trong một danh mục chi tiết”. [34,  
tr.462].  
2.2.2.Về bản chất của sự nhận thức khoa học  
Karl Popper lại không dùng những thuật ngữ như “phản ánh”,  
“quy luật khách quan” mà ông thay vào đó bằng các thuật ngữ  
“phỏng định và bác bỏ” (conjecture and refutation) và “tri thức khách  
quan” (objective knowledge). Đây cũng là những tiêu đề của hai  
công trình nghiên cứu quan trọng của ông. Trong “Phỏng định và bác  
bỏ” (Conjectures and Refutations), K. Popper viết: “Cách thức phát  
triển của tri thức, và nhất là tri thức khoa học của chúng ta, là bằng  
những dự kiến (anticipations), tiên đoán (guesses), bằng những giải  
pháp thăm dò (tantative solutions), bằng những phỏng định  
(conjectures). Những phỏng định này được kiểm soát bằng sự phê  
phán; nghĩa là bằng những bác bỏ có chủ định (attempted  
refutations)” [49, tr.11].  
Karl Popper coi những cố gắng của triết học và khoa học xã  
hội đi tìm những quy luật cho sự phát triển lịch sử chỉ là “ảo tưởng”.  
Ông nói: “Niềm hy vọng đặc biệt hơn cả là một ngày nào đó chúng ta  
sẽ tìm ra những “quy luật vận động của xã hội”, giống hệt như  
Newton đã tìm ra những quy luật vận động của các vật thể vật lý  
(laws of motion of physical bodies), hoàn toàn chỉ là kết quả của  
những sự nhầm lẫn nói trên. Bởi vì không có sự vận động xã hội nào  
giống hoặc tương tự với vận động của các vật thể vật lý, cho nên  
chẳng thể có những quy luật như vậy” [48, tr.115].  
Như vậy, theo Karl Popper, bản chất nhận thức khoa học  
không phải là phản ánh thế giới khách quan, không phải là tìm ra quy  
luật, mà quá trình chủ thể đưa ra những phỏng đoán, dự báo, sau đó  
12  
tìm cách bác bỏ chúng. Tri thức khoa học chính là những phỏng  
định, dự báo đó.  
2.3. VỀ TRI THỨC KHÁCH QUAN VÀ BA THẾ GIỚI  
2.3.1. Về tri thức khách quan  
“Tri thức khách quan” của Karl Popper không phải là tri thức  
phản ánh đúng đắn hiện thực khách quan. Ông nói: “Tri thức khách  
quan, chẳng hạn như tri thức khoa học, bao gồm những lý thuyết  
phỏng định, những bài toán để ngỏ, những tình huống có vấn đề và  
những luận cứ.” [34, tr.174].  
Theo Karl Popper, tri thức khách quan là kết quả của nhận  
thức khoa học, nhưng không phụ thuộc vào chủ thể nhận thức. Ông  
cho rằng. Popper phân biệt hai loại tri thức: 1) Tri thức chủ quan,  
theo ông là “tri thức gắn liền với cơ thể”, nghĩa là những tri thức  
bẩm sinh có tính bản năng, “bao gồm một số khuynh hướng bẩm  
sinh nhất định trong hành động và những biến thể của chúng” [34,  
tr.174]. 2) Tri thức khách quan, là tri thức khoa học, “bao gồm nội  
dung lôgic của những lý thuyết…”, là “những lý thuyết phỏng định,  
những bài toán để ngỏ, những tình huống có vấn đề và những luận  
cứ”, “những lý thuyết được đăng trên tạp chí, được in thành sách, và  
được lưu giữ trong các thư viện”, “những nội dung lôgic của sách vở,  
thư viện, bộ nhớ máy tính và những thứ đại loại như thế” [34,  
tr.113,174].  
2.3.2. Về vấn đề “ba thế giới”  
Trên cơ sở phân biệt giữa tri thức chủ quan và tri thức khách  
quan, Karl Popper chia tồn tại thành ba thế giới: 1) thế giới vật lý  
(vật chất), 2) thế giới ý thức thông thường (tâm lý, kinh nghiệm), và  
3) thế giới khoa học, nghệ thuật.  
13  
Ba thế giới này có tác động liên tục đến nhau theo tuần tự thế  
giới 1 đến thế giới 2, thế giới 2 đến thế giới 3, và thế giới 3 và thế  
giới 1 có tác động thông qua trung gian là thế giới 2.  
Tri thức khách quan của Karl Popper thuộc về “thế giới thứ  
ba”. Theo Popper: “Mặc dù thoạt tiên là sản phẩm của chúng ta, thế  
giới thứ ba đó lại hoạt động độc lập xét ở góc độ bản thể luận”. Mọi  
người đều có thể góp phần làm cho nó phát triển, nhưng không ai có  
thể “nắm bắt”, “làm chủ” nó [34, tr.222-225].  
2.4. VỀ NGUỒN GỐC VÀ TIẾN TRÌNH CỦA NHẬN  
THỨC KHOA HỌC  
2.4.1. Về nguồn gốc của tri thức khoa học  
- Bác bỏ vai trò của quan sát như là nguồn gốc của tri thức  
khoa học và quy nạp từ quan sát như là phương pháp để rút ra tri  
thức. Karl Popper phê phán lý luận kinh nghiệm chủ nghĩa coi nhận  
thức cảm tính là nguồn gốc của lý tính, nhất là dưới dạng lời khẳng  
định sau: “Không có gì ở tâm trí mà trước đó không từng đến thông  
qua các giác quan” [34, tr.23].  
- Khẳng định điểm xuất phát của nhận thức khoa học là các  
“vấn đề” nảy sinh trong thực tiễn hoặc trong một lý thuyết có trước.  
Karl Popper lập luận rằng quan sát không phải là cái đầu tiên  
của quá trình nghiên cứu, vì trước khi tiến hành quan sát, người  
nghiên cứu đã có những cái gì đó xác định mục đích, quan điểm,  
phương pháp định hướng cho quan sát đó. Do đó, ta có thể nói rằng  
“con đường tăng trưởng tri thức là con đường đi từ những vấn đề củ  
đến những vấn đề mới, thông qua những phỏng định và những sự bác  
bỏ” [34, tr.345].  
- Về vai trò của ý thức thông thường đối với nhận thức khoa  
học. Karl Popper khẳng định lý luận khoa học, tư duy lý tính đều  
xuất phát từ “ý thức thông thường” (common sense), rằng “Mọi khoa  
học và triết học đều là ý thức thông thường được khai tỏ  
14  
(enlightened).  
- Về vai trò của tri thức bẩm sinh. K. Popper tìm cách chứng  
minh vai trò của tri thức bẩm sinh như là một trong những nguồn gốc  
quan trọng nhất của nhận thức. Theo K. Popper, mỗi loại động vật,  
kể cả thực vật đều có tri thức bẩm sinh xuất phát từ cấu tạo cơ thể,  
giác quan của chúng biểu hiện thành những thiên hướng (bản năng),  
những mong muốn, niềm tin, chương trình của cơ thể… Tri thức còn  
bắt nguồn từ truyền thống và các hoạt động thực tiễn của chúng ta,  
“Do chúng ta học hỏi từ tấm gương, từ những điều được người ta  
nói, từ việc đọc sách, từ việc học cách phê phán, cách tiến hành và  
chấp nhận phê phán, cách tôn trọng sự thật”[49, tr.36].  
2.4.2. Về tiến trình của nhận thức khoa học  
Karl Popper khái quát sự tăng trưởng của tri thức khoa học  
(rộng hơn là sự tăng trưởng của tri thức) làm bốn bước:  
Một là, Khoa học bắt đầu từ các “vấn đề” (problem). Nhà khoa  
học phải suy nghĩ, tìm hiểu vấn đề đó. Đây là bước đầu tiên: đặt vấn  
đề; Hai là, Nhà khoa học đưa ra những phỏng định (giả định, giả  
thuyết) có thể giải quyết được vấn đề đó. Đây là bước thứ hai, đưa ra  
một giả thyết thăm dò; Ba là, Các giả thuyết, giả định khác nhau  
được đưa ra; tiếp thu và cạnh tranh với nhau, trải qua sự kiểm  
nghiệm nghiêm ngặt của quan sát và thực nghiệm, dần dần loại bỏ  
các sai lầm. Đây là bước thứ ba: loại bỏ sai lầm trong các giả thuyết  
đưa ra; Bốn là, Một vấn đề mới được đưa ra (quay lại bước 1).  
Bốn bước trên sẽ được lặp đi lặp lại đến vô cùng, mà nhờ đó  
khoa học phát triển không ngừng. Karl Popper diễn đạt tiến trình của  
khoa học bằng một công thức được ông nhắc lại nhiều lần như sau:  
P1 → TT → EE→ P2 [34, tr. 171, 173, 203, 229, 379].  
Quá trình nghiên cứu quay lại bước đầu với một chu kỳ mới  
cao hơn đến vô tận, trong đó quá trình nhận thức khoa học là quá  
15  
trình đặt ra vấn đề, đưa ra giả thuyết và bác bỏ sai lầm, nhưng không  
bao giờ có thể đạt được chân lý hoàn toàn.  
Ông khẳng định: “Vấn đề trung tâm của nhận thức luận luôn  
luôn đã và sẽ còn là vấn đề về sự tăng tiến của tri thức.”[46, tr.21].  
Karl Popper cho rằng sự tăng trưởng của tri thức nhờ vào phê phán  
và hoạt động phát minh. Ông cho rằng: “Con đường tăng trưởng tri  
thức là con đường đi từ những vấn đề cũ đến những vấn đề mới,  
thông qua những phỏng định và những sự bác bỏ”[34, tr.345]  
Theo K. Popper, sự tăng tiến của tri thức chủ yếu là do sự sửa  
đổi những tri thức đã có trước đây. “Nhận thức không thể bắt đầu từ  
con số không – từ một tấm bảng trắng (tabula rasa), cũng không phải  
từ quan sát. Sự tăng tiến của tri thức chủ yếu là do sự sửa đổi những  
tri thức đã có trước đây” [49, tr.36-37].  
2.5. VỀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH VÀ KIỂM  
NGHIỆM LÝ THUYẾT KHOA HỌC  
2.5.1. Bác bỏ phương pháp quy nạp và nhấn mạnh phương  
pháp suy diễn (diễn dịch)  
Karl Popper bác bỏ quan niệm và niềm tin thông thường cho  
rằng quy nạp từ quan sát để rút ra tri thức là phương pháp phổ biến  
trong việc hình thành và kiểm nghiệm một lý thuyết khoa học. Ông  
nói: “Không có một lý thuyết khoa học nào đã được suy diễn từ  
những phát biểu do quan sát” [34, tr.53].  
Ông lấy ví dụ về ba định luật đã được xác lập dựa trên  
phương pháp quy nạp nhưng đến nay đã bị chứng tỏ là sai lầm:  
a) Trong 24 giờ mặt trời mọc một lần và lặn một lần” bị bác bỏ  
khi Pytheas ở xứ Marseille phát hiện ra “biển băng và mặt trời  
lúc nửa đêm”. b) Aristotle cho rằng mọi sinh vật đều sinh ra và  
sau một thời gian tuy dài ngắn khác nhau, nhưng đều phải  
chết. Kết luận này bị bác bỏ khi người ta phát hiện ra rằng vi  
khuẩn không chết vì nó nó nhân giống bằng cách phân đôi.  
16  
c) “Bánh mì là thức ăn bổ dưỡng” bị bác bỏ khi có một số  
nông dân chết vì nhiễm độc nấm ergo trong bánh mì” [34,  
tr.32-33].  
Bác bỏ phương pháp quy nạp, Karl Popper cho rằng phương  
pháp chủ yếu của nhận thức khoa học là phương pháp suy diễn (diễn  
dịch). Theo Karl Popper, nhiều khi chỉ quan sát một lần mà nhà khoa  
học có thể rút ra một định luật, chính là do yếu tố “trực giác” (Ví dụ,  
trường hợp Archimedes, Newton). K. Popper cũng nói nhiều về vai  
trò của trực giác khoa học.  
2.5.2. Về phương pháp kiểm nghiệm một lý thuyết khoa  
học – nguyên tắc kiểm sai hay phủ chứng, bác bỏ  
Theo quan điểm Karl Popper, bằng lôgic diễn dịch hoặc nhiều  
khi bằng trực giác khoa học mà hình thành nên những dự kiến, tiên  
đoán, phỏng định….. sau đó bằng nhiều con đường để kiểm nghiệm  
những giả thuyết đó.  
Theo Popper có 4 cách kiểm nghiệm: “Thứ nhất, đó là cách so  
sánh về mặt lôgic giữa những kết luận với nhau, nhờ đó mà tính nhất  
quán của hệ thống được kiểm tra. Thứ hai, đó là sự nghiên cứu hình  
thức lôgic của lý thuyết, với mục đích xác định xem nó có tính chất  
của một lý thuyết kinh nghiệm hay một lý thuyết khoa học hoặc  
chẳng hạn, một lý thuyết thừa lặp vô dụng. Ba là, đó là sự so sánh  
với các lý thuyết khác, chủ yếu với mục đích xác định xem lý thuyết  
này có bao hàm sự phát triển đi lên về mặt khoa học có thể đứng  
vững trước nhiều sự kiểm nghiệm khác nhau của chúng ta. Và cuối  
cùng, đó là sự kiểm nghiệm lý thuyết bằng con đường áp dụng trong  
kinh nghiệm thực tế những kết luận có thể có xuất phát từ lý thuyết  
đó”[46, tr.9].  
Kết quả của kiểm nghiệm là sự bác bỏ một lý thuyết. Còn  
nếu lý thuyết đó qua được sự kiểm tra thì có thể tạm thời được chấp  
17  
nhận, nhưng không phải là đã được chứng thực, vì nó có thể bị bác  
bỏ bất cứ lúc nào trong những kiểm nghiệm về sau.  
Ông giải quyết bài toán quy nạp bằng cách biện minh cho quy  
nạp là một “tập quán tâm lý” chứ không phải vấn đề lôgic hay nhận  
thức. Từ gợi ý của Hume, Popper tiến tới một phủ định triệt để bài  
toán quy nạp truyền thống và tiến đến việc xây dựng khái  
niệm “kiểm sai”. Quan điểm của ông như sau:  
(P1) Giả thuyết tồn tại trước quan sát. Khi đã phỏng đoán ra  
giả thuyết, các nhà khoa học tiến hành quan sát để trắc nghiệm lại giả  
thuyết đó.  
(P2) Một giả thuyết chỉ đứng vững khi người ta chưa tìm được  
các quan sát đi ngược lại nó.  
(P3) Khi tìm được các quan sát chứng tỏ giả thuyết là sai, thì  
giả thuyết đó bị bác bỏ, từ đó một giả thuyết mới được sinh ra.  
Tóm lại, ông cho rằng khoa học chỉ có thể tiến bộ bằng con  
đường kiểm sai các lý thuyết: “Khoa học chỉ có thể tiến bộ bằng con  
đường kiểm sai các lý thuyết”[34, tr.474].  
2.6. VẤN ĐỀ CHÂN LÝ TRONG KHOA HỌC  
Karl Popper tuy thừa nhận chân lý khách quan, nhưng ông  
không thừa nhận tính tuyệt đối của chân lý. Karl Popper mặc dù thừa  
nhận mục đích của nhận thức khoa học là đi tìm chân lý, nhưng ông  
cũng cho rằng chúng ta không bao giờ có thể đạt được chân lý hoàn  
toàn. Như vậy, chân lý chỉ là một khái niệm có tính chất định hướng  
mà thôi; chúng ta đi tìm nó, nhưng không thể sở hữu được nó.  
Khi nói về chân lý ông đưa ra định nghĩa: “Một phát biểu được  
coi là đúng khi và chỉ khi nó tương ứng với các thực kiện” [34,  
tr.79]. Ông cho rằng chúng ta không thể sở hữu chân lý mà phải tìm  
kiếm nó, “Ý niệm về chân lý là một ý niệm duy tuyệt đối, nhưng  
không thể có một yêu sách nào về tính chắc chắn tuyệt đối: chúng ta  
tìm kiếm chân lý chứ không sở hữu nó” [34, tr.80].  
18  
Từ cách tiếp cận thiên lôgic học, Popper đặt ra vấn đề rằng  
nhiệm vụ của khoa học không phải là đạt được chân lý, mà là hướng  
tới các phỏng định cận chân (gần với chân lý).  
Đối với ông, chân lý chỉ là khái niệm chỉ mục đích nhận thức  
của chúng ta là tìm ra cái đúng, nhưng không bao giờ có thể đạt được  
một cách hoàn toàn vì: “Mọi lý thuyết đều là những giả thuyết; tất cả  
đều có khả năng bị lật đổ… Chúng ta không đủ khả năng đưa ra lời  
biện minh – hoặc tìm ra những lý do đầy đủ - cho những phỏng đoán  
của chúng ta – điều đó không có nghĩa là chúng ta chưa bao giờ  
phỏng đoán đúng; hoàn toàn có thể một số giả thuyết của chúng ta  
đưa ra là rất đúng” [34, tr.58].  
Như vậy, theo Karl Popper, khoa học trên con đường đi tìm  
chân lý, nhưng chưa bao giờ đạt được chân lý.  
TIỂU KẾT CHƯƠNG II  
Qua các tác phẩm của mình, đặc biệt là ba tác phẩm “Lôgic  
của phát minh khoa học”, “Phỏng định và bác bỏ” và “Tri thức khách  
quan”, K. Popper đã phát triển một cách sâu sắc tư tưởng triết học  
khoa học của mình. Tư tưởng triết học khoa học của ông được thể  
hiện ở các nội dung cơ bản là: vấn đề phân ranh giữa khoa học và  
phi khoa học; mục đích, nhiệm vụ và bản chất của nhận thức khoa  
học; tri thức khách quan và ba thế giới; nguồn gốc và tiến trình của  
nhận thức khoa học; phương pháp tiến hành và kiểm nghiệm lý  
thuyết khoa học; vấn đề chân lý khoa học.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 17100 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Tư tưởng triết học về khoa học của Karl Popper trong một số tác phẩm", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_tu_tuong_triet_hoc_ve_khoa_hoc_cua_karl_pop.pdf