Tóm tắt Luận văn Thơ Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn liên văn bản

1
MỞ ĐẦU  
1.Lí do chọn đề tài  
Nửa cuối XX, khái niệm tính liên văn bản (intertextuality) ra  
đời và trở thành mối quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Cho đến  
nay, lí thuyết liên văn bản đã lan tỏa rộng khắp trong địa hạt văn học  
- nghệ thuật. Thuật ngữ này được dùng để miêu tả thuộc tính hay  
phương thức quan hệ của một văn bản với các văn bản khác trước nó;  
cùng với nó mỗi văn bản đều chứa đựng sự tham chiếu đối với các  
văn bản khác, qua đó chúng vận động và nảy nở ý nghĩa. Mối quan  
hệ này dựa trên sự nối kết giữa các văn bản với nhau bằng những  
phương thức như: ám chỉ, trích dẫn, dẫn dụ, chuyển thể, chuyển dịch,  
đạo văn, nhái, nhại, mô phỏng, pha trộn... Mặt khác, trong nội tại tác  
phẩm, cũng có những mối liên văn bản bởi những phương thức như  
trùng lặp, tái sinh… Những mối quan hệ này được người nghệ sĩ tạo  
lập bằng ý thức hoặc vô thức; được độc giả tri nhận trong thực tiễn  
giao tiếp nghệ thuật; chúng tương tác với tri thức và trải nghiệm văn  
bản của người đọc, tạo ra hứng thú diễn giải để các giá trị văn hóa  
không ngừng được sản sinh và đón nhận từ đó.  
Nguyễn Quang Thiều là một trong những nhà thơ không  
ngừng nỗ lực cách tân thơ Việt đương đại. Qua từng tập thơ được  
xuất bản đến nay, quá trình vận động, sáng tạo tư duy nghệ thuật của  
nhà thơ được định hình tương đối rõ nét. Thơ Nguyễn Quang Thiều  
luôn lắng lại những ưu tư trĩu nặng, đẫm thấm nhiều lớp trầm tích,  
nhiều vỉa tầng sâu của địa hạt văn hóa. Mỗi văn bản nghệ thuật của  
người nghệ sĩ này là một không gian của sự ảnh hưởng, thẩm thấu,  
2
tương tác, tích hợp, chuyển hóa, dẫn dụ, pha trộn, kết nối… giữa  
những văn bản nội tại và đến những văn bản khác, đồng văn hóa hoặc  
dị văn hóa vốn có trước đó. Cho đến nay, thơ Nguyễn Quang Thiều  
thực sự dự phần và có chỗ đứng trong đời sống thơ đương đại. Bằng  
việc nghiên cứu đề tài này, chúng tôi mong muốn góp một phần nhỏ  
vào việc khám phá phong cách thơ Nguyễn Quang Thiều dưới góc  
nhìn của khuynh hướng phê bình dựa trên lí thuyết liên văn bản, một  
lí thuyết văn học còn nhiều sức vẫy gọi với đề tài: Thơ Nguyễn  
Quang Thiều từ góc nhìn liên văn bản.  
2. Lịch sử vấn đề  
Nguyễn Quang Thiều là một hiện tượng khá đặc biệt trong  
nền văn học Việt Nam đương đại. Với cuộc hành hương gập ghềnh  
tìm về cõi riêng cho thơ, thi sĩ đã dấn thân trong sự trăn trở và sáng  
tạo không ngừng nghỉ. Ẩn sau lớp vỏ ngôn từ cách tân là tư duy nghệ  
thuật hiện đại có sức vẫy gọi lớn. Tìm hiểu tính liên văn bản trong  
thơ Nguyễn Quang Thiều, đã có những bài viết của các tác giả  
Nguyễn Đăng Điệp, Đông La, Chu Văn Sơn, Hồ Thế Hà, Đỗ  
Quyên,… với nhiều nhận định thuyết phục mang tính chất gợi dẫn để  
tác giả luận văn có thể tìm thấy những hướng tiếp cận, tìm tòi mới  
mẻ từ thi giới Nguyễn Quang Thiều.  
Khảo sát một số công trình nghiên cứu của nhiều tác giả,  
chúng tôi nhận thấy rằng thơ Nguyễn Quang Thiều vẫn còn nhiều  
mảng “châu thổ” ẩn hiện những lớp “phù sa” có sức ám ảnh người  
tiếp nhận. Song cảm thụ được thơ ông đòi hỏi người phê bình phải có  
vốn sống, trình độ văn hóa nhất định và vốn văn chương dày dặn…  
3
Tuy nhiên, chúng tôi cũng chưa nhận thấy công trình nào nghiên cứu  
sâu thơ Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn liên văn bản trong khi đây  
là một hướng giải mã mới, phù hợp với xu thế nghiên cứu văn học  
hậu hiện đại. Là một phương thức tiếp cận tác phẩm đầy tiềm năng  
và thích ứng với mọi văn bản nghệ thuật. Và qua đó, tiếp nhận thơ  
Nguyễn Quang Thiều dưới một góc nhìn khác.  
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu  
3.1. Đối tượng nghiên cứu: thơ Nguyễn Quang Thiều qua  
các tập Ngôi nhà tuổi 17 (1990), Sự mất ngủ của lửa (1992), Những  
người đàn bà gánh nước sông (1995), Những người lính của làng  
(1996), Thơ Nguyễn Quang Thiều (1996), Nhịp điệu châu thổ mới  
(1997), Bài ca những con chim đêm (1999), Cây ánh sáng (2009),  
Châu thổ (Tuyển tập, 2010)  
3.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu  
thơ Nguyễn Quang Thiều từ các yếu tố liên văn bản, tập trung một số  
biểu hiện ở phương diện tư duy nghệ thuật và phương thức trữ tình.  
4. Giới thuyết thuật ngữ  
Từ những quan niệm của các nhà khoa học Bakhtin, Kristeva,  
Barthes,… chúng tôi nhận ra sự phức tạp, đa nguyên của lí thuyết  
liên văn bản. Liên văn bản được hiểu là sự tương tác giữa các văn  
bản, ở đó một văn bản được dẫn dụ từ nhiều ý tưởng của các tiền văn  
bản, là sự đan dệt bởi rất nhiều những mối tương hệ khác nhau. Các  
yếu tố trong văn bản đều ít nhiều có quan hệ với một hệ thống liên  
văn bản rộng lớn vượt ra ngoài tầm kiểm soát của tác giả so với văn  
bản khai sinh. Trong một khung cảnh văn bản, có nhiều thông tin  
4
được vay mượn “từ những tiền văn bản; chúng tự “đối thoại’ và  
“đáp ứng” lẫn nhau. Liên văn bản của các văn bản văn học được  
biểu hiện ở mạng lưới từ cấp độ vi mô đến vĩ mô; qua các phương  
thức như ảnh hưởng, kí ức ngôn ngữ; sự biến tấu và tái sinh các thủ  
pháp, motif, hình tượng; sự mô phỏng, nhại, vay mượn, trích dẫn,  
dẫn dụ, ám chỉ, chuyển dịch, biến đổi, pha trộn thể loại, đọc sai,…  
5. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Luận văn sử dụng phối hợp một số phương pháp sau: phương  
pháp cấu trúc - hệ thống; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương  
pháp so sánh; phương pháp loại hình.  
6. Đóng góp của luận văn  
Luận văn là một tập hợp có hệ thống, có chọn lọc và có nhiều  
phát hiện về đời sống thi ca của hiện tượng thơ Nguyễn Quang Thiều  
qua cái nhìn nghiên cứu liên văn bản.  
Nghiên cứu thơ Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn liên văn  
bản, chúng tôi mong rằng sẽ giúp người đọc tiếp nhận thơ Nguyễn  
Quang Thiều với một tâm thế mới. Từ đó, cảm nhận được một tiếng  
thơ hiện đại lấp lánh trí tuệ, sâu thẳm tâm hồn và biến hoá linh hoạt;  
tạo ra những trường nghĩa mới lạ mang sắc màu huyền ảo, đa nghĩa.  
Tiếng thơ ấy được lạ hóa, gọt rũa công phu bởi hành trình miệt mài  
của “con lạc đà thơ” cõng trên lưng cơn khát thi ca bất tận đã kích  
thích khả năng tư duy nối dài sâu thẳm của tinh thần liên văn bản gọi  
mời bạn đọc đồng sáng tạo và đến với những liên tưởng bất ngờ từ  
giá trị thẩm mĩ của thế giới nghệ thuật thơ “châu thổ”.  
5
7. Bố cục luận văn  
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm  
ba chương:  
Chương 1. Hiện tượng Nguyễn Quang Thiều trong tiến trình  
thơ Việt Nam đương đại  
Chương 2. Thơ Nguyễn Quang Thiều - Tính đối thoại trong  
tư duy nghệ thuật  
Chương 3. Thơ Nguyễn Quang Thiều - Sự tương tác giữa các  
mã hình thức nghệ thuật  
CHƢƠNG 1  
HIỆN TƢỢNG NGUYỄN QUANG THIỀU  
TRONG TIẾN TRÌNH THƠ VIỆT NAM ĐƢƠNG ĐẠI  
1.1. NGUYỄN QUANG THIỀU VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO  
1.1.1. Thi sĩ của châu thổ mang phù sa sông Đáy  
Nguyễn Quang Thiều mang trong mình nội lực được đắp bồi  
từ đất đai ngôi làng thơ bên bờ sông Đáy, là một làng quê nghèo, hồn  
hậu; nơi chứa đầy những nghi lễ, những huyền thoại, những tù túng  
và huyễn hoặc. Trong bản chất những thi phẩm của ông, có thể gọi  
Nguyễn Quang Thiều là người con của làng, là thi sĩ của châu thổ  
chở mang phù sa sông Đáy.  
1.1.2. Cây bút góp mặt vào lộ trình cách tân thơ Việt  
đƣơng đại  
6
Từ những năm 1990, thơ Việt Nam đương đại thực sự bắt  
đầu biến chuyển. Cùng hòa mình vào dòng chảy chung của thơ ca sau  
đổi mới, có thể nói Nguyễn Quang Thiều đã thể hiện những bước  
chuyển mới trên nhiều phương diện từ tư duy nghệ thuật đến hình  
thức thể hiện. Ông được đánh giá là “thi sĩ tiên phong của dòng chảy  
thơ ca cách tân đương đại trong nước…”, là nhà thơ đầu tiên, bằng  
những nỗ lực vượt bậc và tài năng xuất sắc của mình, đã xác lập một  
giọng điệu mới ảnh hưởng mạnh mẽ đến dòng chảy thơ Việt.  
Với trí tưởng tượng hoang dại và những cơn mơ bất tận đầy  
nhạc tính, sáng tác của ông đã phôi thai và sinh hạ từ một trực giác  
nghệ thuật mãnh liệt trước đời sống đầy biến ảo; vươn tỏa ngòi bút  
của mình để với tới thế giới tâm linh - vùng miền thẳm sâu của tâm  
hồn để cất lên vẻ huyền diệu của cuộc sống, để khẳng định những  
khả năng kì diệu của thi ca, để tuyên ngôn những sứ mệnh cao cả của  
thi ca trong thế giới hiện đại bằng cái tôi suy tưởng. Nguyễn Quang  
Thiều bằng trái tim nhiệt huyết lao động miệt mài và luôn sôi nổi,  
bao quát rộng trên thi đàn quả thực xứng đáng là một người cầm lá  
cờ làm mới ngôn ngữ thi ca Việt Nam cuối thế kỉ XX.  
1.2. QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT THƠ  
1.2.1. Chủ thể và nguồn cảm xúc thẩm mĩ thơ ca  
Điều dễ nhận thấy là nguồn cảm xúc thi ca của Nguyễn  
Quang Thiều luôn gợi dậy từ những giấc mơ, những ám ảnh cuộc  
đời. Ông cho rằng quá trình sáng tạo trong thơ là quá trình phục hồi  
kí ức, phục hồi những phần sống từ những kiếp trước của chúng ta.  
Những bài thơ đưa ông gia nhập làng thơ thuở ban đầu là cảm xúc về  
7
tình mẫu tử, tình phụ tử, tình yêu tha thiết với quê hương. Khúc tâm  
tình ấy thấp thoáng hay quyện sâu, bện chặt trong Dâng trà, Nghe  
tiếng chim cuốc, Mưa thu, Những con thuyền sông Đáy… hay trong  
nhiều thi phẩm khác nữa. Nguồn cảm xúc ấy còn được khơi nguồn từ  
hồi ức của những năm tháng đau thương của đất nước; từ cõi thương  
nhớ ngôi làng với những cánh đồng rau khúc, rộng ra là lòng thương  
nhớ những làng quê Việt dần mờ phai bóng dáng đó đây, đã trở thành  
cố hương.  
Gắn bó với quê hương và những giá trị tinh thần cội nguồn,  
nặng lòng với thế sự nhân sinh, khát khao kiếm tìm cái mới trong cái  
đẹp, Nguyễn Quang Thiều rất hay tự hiển hiện mình qua một con  
người bất an đến là thống thiết. Thi sĩ hát vang bài ca về sức sống  
mãnh liệt và quằn quại của cái đẹp, của thơ trước một cõi thế dung  
tục và đầy lỗi tội. Tất cả điều đó chi phối những sáng tác thơ của  
Nguyễn Quang Thiều có tác động vào đời sống dân tộc, cộng đồng  
cũng như lay động vào nhận thức, lối sống, tư tưởng con người. Từ  
đó, làm ra giấc mơ cho người gieo trồng.  
1.2.2. Thơ ca là ngũ cốc trên cánh đồng ngƣời  
Với Nguyễn Quang Thiều, sứ mệnh của thơ ca trong thời đại  
hiện nay là sự lan tỏa của thế giới tâm linh trong mỗi con người đang  
sống trên thế gian này. Mục đích của thơ Nguyễn Quang Thiều là cố  
gắng lưu giữ lại cho người đọc cái khoảnh khắc của đời sống: “Thơ  
ca không làm ra lúa vàng, gạo trắng, nhưng thơ ca làm ra giấc mơ  
cho người gieo trồng. Chỉ có giấc mơ thiêng liêng và lộng lẫy mới  
giúp con người đi qua được bóng tối của dục vọng và tội lỗi và tìm  
8
đến đồng loại để chia sẻ và dâng hiến những vẻ đẹp và những khát  
vọng sống cho mọi con người”.  
Trong suốt hành trình cày xới, gặt hái ngũ cốc trên cánh đồng  
thi ca, các tác phẩm của ông luôn tồn tại một hệ thống ngôn ngữ, hình  
ảnh, hình tượng nghệ thuật… mang đậm dấu ấn của mối quan hệ liên  
văn bản vô thức/ ý thức của nhà thơ. Từ đó, người đọc không ngừng  
so sánh, đối chiếu, liên tưởng và tưởng tượng; thậm chí là đồng sáng  
tạo để tìm ra được những mối liên hệ giữa văn bản đang đọc với các  
mã văn hóa, văn học tiền văn bản. Chính kiểu quan hệ liên văn bản  
tương tác các mã văn bản này, đã đưa sáng tác của Nguyễn Quang  
Thiều đến sát với nền văn hóa của nhân loại và đến được thật gần với  
độc giả.  
CHƢƠNG 2  
THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU -  
TÍNH ĐỐI THOẠI TRONG TƢ DUY NGHỆ THUẬT  
2.1. DUNG HỢP CÁC MÃ VĂN HÓA  
2.1.1. Biểu tƣợng cổ mẫu - đối thoại với tâm thức văn hóa  
Khai chạm vào các cổ mẫu trong thơ là tìm hiểu, lắng nghe  
tiếng nói ngàn xưa của tổ tiên, nguồn cội. Đặt cái nhìn đó vào thơ  
Nguyễn Quang Thiều, ta thấy những vết tích nguyên thủy ăn sâu  
trong tiềm thức con người hiện đại trong ông, thể hiện tính đối thoại  
sâu sắc với tâm thức văn hóa nhân loại. Và hiện thân của cổ mẫu  
nước, đất, lửa ám ảnh suốt đường thơ của Nguyễn Quang Thiều,  
9
chính là những tiếng nói ngàn xưa vọng về đã được bảo chứng mà cái  
tôi trữ tình thấm thía máu thịt từ thuở ấu thơ.  
Sức sống của cổ mẫu, của cải chung của nhân loại trong thơ  
Nguyễn Quang Thiều, minh chứng sâu sắc cho sự níu kéo, giăng mắc  
tâm thức văn hóa vào hành trình sáng tạo nghệ thuật. Từ hệ thống  
những cổ mẫu đặc trưng nhất trong thi giới Nguyễn Quang Thiều, ta  
thấy hé lộ cứu cánh khai triển một lối vào miền mộng mơ nghệ thuật  
không ngừng nghỉ tìm về cội nguồn của thi sĩ, là dòng chảy làm hồi sinh  
những thức cảm văn hóa đẹp đẽ bị ngủ quên. Mặt khác, thế giới cổ mẫu  
trong thi giới Nguyễn Quang Thiều được thời sự hóa càng về sau càng  
như một kháng cự, kêu cứu với những mảng tối của cuộc đời tha hóa  
của một thế giới hỗn mang. Chúng tồn tại bên cạnh sự sống và mang  
một sức mạnh đầy lôi cuốn, ám ảnh bởi thi sĩ đã mê đắm gửi vào đó  
những ước mơ dữ dội: đi tìm sự hồi sinh một sức mạnh vô tận đỡ dìu  
những tâm hồn, để triển hiện giấc mộng cải hóa một xã hội ngày càng  
nhiều những chồng chất tội lỗi, dối lừa, bất trắc, vô cảm...  
Khai phá, giải mã các lớp trầm tích văn hóa thể hiện qua các  
cổ mẫu trong thi giới Nguyễn Quang Thiều, người đọc không những  
được sống lại không khí văn hóa dân gian quá khứ - đương đại; trải  
nghiệm cùng bao nỗi suy tư, trăn trở của chủ thể trữ tình mà còn có  
thể vào vai chủ thể - chủ thể tiếp nhận trong đối thoại với vấn đề  
nhân cách trong cộng đồng con người/ nhân tính Việt.  
2.1.2. Châu thổ mang phù sa sông Đáy - sự đan bện các  
mã văn hóa cội nguồn  
Đọc thơ Nguyễn Quang Thiều dưới góc nhìn tương tác mã  
10  
văn bản, bạn đọc sẽ tiếp nhận được va chạm giữa những mã văn hóa  
cội nguồn trong mạng lưới văn bản thơ: biểu tượng của văn hóa Bắc  
Bộ, cội nguồn uyên nguyên mộng mơ... Trong thơ Nguyễn Quang  
Thiều, người đọc có thể chiêm ngưỡng “triển lãm văn hóa dân tộc”, ở  
đó ám ảnh phận người và cả khát vọng giải phóng phận người. Tư  
duy thơ, hình tượng thơ, kĩ thuật viết đều gợi tưởng về không gian  
châu thổ, nơi đan bện ngổn ngang, hỗn độn, ám ảnh ma mị của tín  
ngưỡng làng; là kí ức phục dựng nguồn cội, là những ngôi mộ tổ tiên  
gợi nhớ cố hương.  
Tìm hiểu thơ Nguyễn Quang Thiều từ sự đối thoại giữa các  
mã văn hóa nguyên thủy cũng là khuynh hướng mĩ học tiếp nhận liên  
văn hóa. Qua đó, người đọc chạm đến mĩ cảm cội nguồn, không gian  
văn hóa mang đậm nhân tính Việt. Từ đó, những mĩ cảm về văn hóa  
cội nguồn đó được dịp hồi cố và lan rộng mãi.  
2.1.3. Liên văn hóa Đông Tây, cái nhìn dung nạp văn hóa  
Thơ Nguyễn Quang Thiều phảng phất nét văn hóa của các  
nền văn minh nhân loại. Trong khi chịu ảnh hưởng, ông biết dựa vào  
những phông nền văn hóa/ văn học quốc tế và bản địa để phát huy  
văn bản cá nhân, chủ động tích hợp nghĩa liên văn bản. Một tinh thần  
phương Đông bao choáng lại dung nạp các sắc màu văn hóa phương  
Tây, hai dòng thi cảm phương Đông và phương Tây cùng hòa chảy  
trong thơ.  
Ở góc độ thơ thiền, tinh thần phương Đông nhập thân trong  
nhiều lời thơ mộc mạc hòa vào thiên nhiên của Nguyễn Quang. Nét  
ấn tượng nhất trong thơ ông còn là sự tạo dựng hệ thống thi ảnh dồn  
11  
nén lớp lớp xô đẩy từ những kí ức tự do, hoang dại kiểu châu Mĩ một  
cách cuốn hút; nhiều hình ảnh, biểu tượng và các động tác nhân vật  
phảng phất dòng thơ siêu thực phương Tây; các hình ảnh trái quy luật  
mà vẫn tạo nhạc tính và thi tứ bởi những liên tưởng bất thường và  
cảm tính tâm linh của thơ tượng trưng Pháp; quan niệm về sự sống -  
chết, hiện tại - hồi tưởng, thời gian - phi thời gian, tái sinh, hóa thân  
của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo; ám ảnh hiện sinh qua sự cô đơn,  
cái chết…  
2.2. SỰ ĐỐI THOẠI GIỮA CÁC MÃ CẢM THỨC TÂM LINH  
2.2.1. Qua tín ngƣỡng dân gian  
Tín ngưỡng dân gian trở thành một “thuộc tính” trong thơ  
Nguyễn Quang Thiều, được chủ thể trữ tình phục hiện lại một cách  
sinh động và độc đáo. Nhà thơ đã lột tả hết tinh thần và đời sống tâm  
linh của người Việt được gửi gắm trong các phong tục tập quán đậm  
chất bản địa. Một thế giới thơ ca mở ra huyền ảo mà ở đó, không gian  
làng Chùa trở thành một miền tâm linh của con người, là ngọn nguồn  
của những cảm thức sâu xa về cuộc sống. Thơ ông dày đặc những  
câu thơ đẫm trĩu cảm giác, thế giới xung quanh ngập những điều  
thiêng. Tất cả giao hòa với nhau trong một cuộc đối thoại bất tận.  
Những mảnh vụn đính ghép trong “bức khảm ghép” của thiên sử thi  
mang tên là Châu thổ trong thơ Nguyễn Quang Thiều rậm rạp, phong  
phú và nhiều bí ẩn được bện kết và bật ra từ cổ họng nóng bỏng, ngổn  
ngang, hỗn độn, ma mị của những tín ngưỡng làng; là ngọn nguồn của  
những cảm thức sâu xa về cuộc sống, cho thấy một thực tại mà con  
người có lẽ bị vò xé thê thiết bởi những mặc cảm đạo đức thầm kín.  
12  
2.2.2. Nhìn từ cảm quan tôn giáo  
Tôn giáo là thành tố đan dệt nên bức tranh văn hóa của dân  
tộc, vì vậy nó trở thành yếu tố liên văn bản trong các sáng tác văn  
chương. Thi giới Nguyễn Quang Thiều được tương tác trực tiếp với  
nhiều nền văn hóa nhân loại. Qua cảm quan của một đứa con sinh ra  
từ làng Chùa, vùng thi giới ấy thoáng đượm màu sắc của nhiều  
tôn giáo.  
Đối thoại với tư tưởng đạo Phật, cuộc sống trong thơ Nguyễn  
Quang Thiều không chỉ nước mắt, khổ đau bởi tư tưởng con người  
điên đảo hay tham muốn những điều không chính đáng, mà cuộc  
sống còn vốn dĩ rất khắc nghiệt bởi sự đấu tranh ác nghiệt của sinh  
tồn: Bầy chó gầy bẩn thỉu ốm đau/ Ngày lùng sục kiếm ăn/ Liếm cả  
vào lưỡi dao sắc ngọt/ Lưỡi bị cứa máu trào ra ở đó/ Con đến sau lại  
liếm máu bầy mình (Bầy chó của tôi). Mượn kiếp luân hồi, mượn  
cách quy hướng về cõi Phật: Hỡi người hái hoa kiếp trước/ Kiếp này  
có hóa bình không?(Lễ tạ), nhà thơ gửi gắm sự thôi thúc trở về và  
sống lại một miền nước lặng của hồ nước cũ quyến rũ của kí ức cội  
nguồn sáng trong và thánh thiện. Theo tinh thần của đạo Phật, sự ra  
đi của con người có thể trở thành nhà thơ nhưng sự trở về của con  
người có thể trở thành đức Phật. Nhà thơ trong niệm thức luôn khao  
khát trở về hồ nước cũ, trở về với tâm hồn nguồn cội: Kiếp này tôi là  
người/ Kiếp sau phải là vật/ Tôi xin ở kiếp sau làm một con chó nhỏ/  
Để canh giữ nỗi buồn - báu vật cố hương tôi (Bài hát về cố hương).  
Ánh sắc Phật giáo lóe lên trong những giấc mơ đầy nhân bản luôn  
khao khát kiếm tìm một thế giới thanh khiết và bình an giữa cõi tạm.  
13  
Đó là cõi mông lung tồn tại mà mỗi người cần phải soi rọi, phải  
hướng đến trong tiếng gọi tha thiết từ bến mê lòng mình. Nói như  
Kristeva, trong đối thoại liên văn bản, sức mạnh của nhà thơ - người  
đối thoại là chính nhà thơ, nhưng đó còn là người đọc những văn bản  
khác; nhà thơ cũng giống như độc giả. Thơ Nguyễn Quang Thiều vì  
thế phát lộ một tâm thức thời đại.  
Mặt khác, Nguyễn Quang Thiều tìm thấy sự thăng hoa trong  
tôn giáo KiTô. Thế giới thi ca của ông thường hiện lên cảm thức quy  
hướng về Thiên Chúa. Thi sĩ có nhiều câu thơ mang dáng dấp Kinh  
thánh, kí thác những khát khao được mặc khải trong một thứ ánh  
sáng vô lượng huyền linh của các giá trị sống. Thơ ông cũng ngập  
ngụa hình ảnh bóng tối như một ẩn dụ chứa đựng nhiều ám ảnh sợ  
hãi như nỗi khiếp hãi của loài người trong cơn đại hồng thủy: Ra đi...  
đó là ánh sáng/ Dựng lên tất cả những cái thây của bóng tối đầm đìa,  
Bóng tối phủ lên người tấm vải đen, người vẫn không thức dậy  
(Người Thổi Kèn Rắn). Nguyễn Quang Thiều cảm nhận được, trong  
bản thể cái tôi có sự giằng kéo của hai lực đối lập mà thống nhất: ánh  
sáng và bóng tối thể hiện mong muốn được mặc khải và được cứu rỗi  
bởi ánh sáng của đức tin. Nguyễn Quang Thiều đối sánh với những gì  
mình dung nạp được từ bản chất cuộc sống hiện đại qua cảm quan  
tôn giáo để nghĩ suy và thức nhận chúng thành tiếng nói thi ca, để  
hiện hữu cuộc sống trong sự cảnh báo và níu giữ, trong bất an và  
niềm tin. Chúa Trời trong thơ ông được xác tín là Đức tin về những  
giá trị Người giữa cuộc sống suy đồi và tràn ngập sự vô cảm cần  
được thanh tẩy.  
14  
Nguyễn Quang Thiều là “kẻ viết có tín tâm nhưng không hề  
là tín đồ của bất cứ giáo phái hiện hành nào, tôn giáo chỉ đơn thuần  
như một cảm quan, một cái nhìn nghệ thuật về thực tại. Nó tồn tại  
trong thơ và bằng thơ, chứ không thể xé rào ra ngoài thơ để thành tôn  
giáo của thế tục”. Qua cảm quan tôn giáo, khám phá, trải nghiệm tư  
tưởng nhân văn trong Phật giáo, Thiên Chúa giáo về con đường đau  
khổ, về tinh thần Phục sinh là điều thật mới mẻ và táo bạo mà hết sức  
ý nghĩa trong hành trình “vác thập giá” sáng tạo của nhà thơ. Đó là  
những “khớp nối” trong thơ với nền văn hóa nhân loại, một thứ liên  
văn bản hết sức nhân sinh và huyền nhiệm.  
CHƢƠNG 3  
THƠ NGUYỄN QUANG THIỀU - SỰ TƢƠNG TÁC  
GIỮA CÁC MÃ HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT  
3.1. LIÊN THỂ LOẠI, SỰ NỚI LỎNG HÌNH THỨC TRỮ TÌNH  
3.1.1. Xâu chuỗi giữa trƣờng ca, văn xuôi trong văn  
bản thơ  
Với hiện tượng Nguyễn Quang Thiều, ta thấy có sự xâu  
chuỗi văn xuôi trong văn bản thơ, có xâm lấn của yếu tố huyền thoại,  
kì ảo... Văn xuôi trong thơ Nguyễn Quang Thiều là là sự kết dính văn  
bản thơ một cách tự nhiên và đa dạng. Về sau dù được trình bày theo  
lối liền hàng hay ngắt hàng, nó vẫn cứ là thơ văn xuôi. Chúng tuôn  
chảy một cách hết sức tự nhiên, nhuần nhuyễn đến không ngờ. Ta  
thấy rõ nhất trong thơ ông không chỉ thơ dung chứa văn xuôi mà bản  
15  
thân thơ cũng bị văn xuôi hóa. Nguyễn Quang Thiều chủ trương một  
lối thơ mà với mỗi người đọc, tùy theo cảm nhận và trình độ, sẽ hình  
thành trong họ “một văn bản khác”. Ông cho rằng đấy mới là đích  
đến của thơ ông. Ông chờ mong một lối đọc liên văn bản từ phía  
người đọc.  
Phong cách Nguyễn Quang Thiều thường hướng về hình  
thức thơ văn xuôi giàu tính tự sự và càng ngày yếu tố kể, tả càng trở  
nên dày, rậm lắm lúc nem kín, cố ý không thu gọn lại mà cứ để tràn  
ra những dòng tự sự, miêu tả. Trong nhiều bài còn có cốt truyện đóng  
vai trò làm khung đỡ cho những liên tưởng, so sánh một cách chậm  
rãi, chi tiết cụ thể đầy phóng túng bất chấp hệ quả rườm lời. Ông đã  
xây dựng liên tiếp các chuỗi ẩn dụ và trình hiện nó trong hình hài của  
những câu thơ đậm chất văn xuôi mang tính hoán dụ. Nó như tự động  
kể những giấc mơ câm lặng song chất chứa nhiều tiếng nói bên trong  
mà kì thực là sự cố ý sắp đặt nhòe nhập, miên man, hỗn loạn của các  
trạng thái tinh thần. Chỉ đến khi bài thơ hoàn chỉnh, tính ẩn dụ mới  
trở lại trong hình hài toàn khối.  
Về trường ca, do cách tạo kích thước thơ bằng văn xuôi, nên  
Nguyễn Quang Thiều đã chọn trường ca như là sự nối tiếp về tư duy  
thể loại. Đó là một xâu chuỗi đẹp trong hành trình sáng tạo của  
Nguyễn Quang Thiều. Giữa văn xuôi và trường ca, ông xâu chuỗi  
bằng cách biến dạng thể loại đã có. Có nghĩa là biến thơ thành trường  
ca. Trên bản đồ nghệ thuật thơ trường ca, Nguyễn Quang Thiều đã  
làm chủ và phần nào phát triển tư duy thể loại. Các đề tài theo đó  
cũng biến hóa mang tinh thần và nội dung không của cá thể, mà  
16  
thuộc về giá trị cộng đồng, dân tộc, nhân loại... Nhịp điệu trường ca  
phụ thuộc nhiều vào liên tưởng. Trong trường ca của mình, Nguyễn  
Quang Thiều hầu hết diễn đạt đối tượng theo kiểu tự sự. Ông không  
cố bộc lộ thế giới nội tâm của mình mà dùng giọng tả lại, kể lại  
những gì xảy ra bên ngoài mình, khiến cho người đọc có cảm giác  
rằng mỗi trường ca mở ra một thế giới hiện thực được tạo hình đang  
tự tồn tại, phát triển bên ngoài tác giả; không phụ thuộc vào tình cảm,  
ý muốn của tác giả. Có thể nói, ở một giới hạn nào đó, nhà thơ luôn  
thể hiện một cốt truyện trong trường ca khiến tính truyện và ngôn  
ngữ kể gần với ngôn ngữ đời, nói một cách nghệ thuật.  
Có thể khẳng định với việc tích hợp văn xuôi vào thơ ca,  
Nguyễn Quang Thiều đã trong hành trình sáng tạo bền bỉ của mình  
đã dự phần tái tạo thể loại thơ, mang lại cho thi ca khả năng nghệ  
thuật với nhiều chiều kích tươi mới, kích hoạt vận động quá trình đưa  
thể loại thơ chiếm lĩnh trung tâm của đời sống văn học ở Việt Nam.  
3.1.2. Tích hợp các yếu tố sử thi  
Trong văn thơ hiện đại, khuynh hướng sử thi không còn đóng  
khung với những gì liên quan đến lịch sử vẻ vang, hào hùng, trọng  
đại của dân tộc. Mà nó thể hiện ở cảm quan của người sáng tác về  
những gì mang tính chất kì vĩ. Đối tượng thẩm mĩ của cảm quan sử  
thi trong những sáng tác hiện đại là “cái kì vĩ”. Nói như Chu văn  
Sơn: “Khi thơ trữ tình dùng quy mô lớn để thể hiện cái kì vĩ, thì ấy là  
sử thi”. Nói như vậy, có nghĩa mọi sự vật và vận động lớn lao trong  
vũ trụ này đều thuộc về “cái kì vĩ”. Nhà thơ biểu hiện được cái kì vĩ  
ấy là đã mang được cái tinh thần sử thi vào cảm quan của mình. Với  
17  
Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ đặc biệt mê say và ngưỡng vọng cái kì  
vĩ trong tầm phổ quát của cuộc sống con người. Nó choáng ngợp  
trong rất sáng tác của ông thể hiện qua linh hồn, nhan sắc của rất  
nhiều những thi ảnh, hình tượng, thi liệu... Điều đó đem lại sắc màu  
riêng biệt khiến khó ai có thể nhầm lẫn giọng thơ ông. Người đọc có  
thể nhận ra vẻ đẹp kì vĩ, tính chất sử thi thể hiện rõ rệt qua nhãn quan  
trong những trường ca/ sử thi hiện đại như Con bống đen đẻ trứng, Hồi  
tưởng, Nhân chứng của một cái chết, Nhịp điệu châu thổ mới, Cây ánh  
sáng. Cùng với đó và trong suốt chiều dài thơ ông, yếu tố sử thi trong  
các bài thơ như những mảnh vụn đính ghép trong “bức khảm ghép”  
của thiên sử thi mang tên Châu thổ.  
Ngoài cảm quan sử thi mang tính chất tôn giáo như đã trình  
bày ở phần trước, chúng tôi thấy rằng viết về cái chết, Nguyễn Quang  
Thiều cũng chở mang cảm quan sử thi bằng những yếu tố thơ đẹp kì  
vĩ. Ông thường viết về sự chết bằng cả niềm hân hoan giống như chết  
là sẽ được trở lại điểm khởi đầu sự sống như là tinh thần của lí thuyết  
hiện sinh: Chúng ta thường chăm sóc những ngôi mộ/ bằng niềm sợ  
hãi và tiếc thương/ Nhưng ít người trong chúng ta nhìn thấy/ cỗ xe  
tang lộng lẫy/ trong tiếng trống tưng bừng/ làm thần chết cũng hết  
phiền muộn… Cái kì vĩ, lớn lao còn thể hiện ở những cuộc ra đi, lên  
đường hướng về phía cái chân - thiện - mĩ. Đi là để đi cầu tự cho  
tương lai của xứ sở mình. Đó là hành trình đến với cuộc sống. Cho  
dù người khách lữ thứ có băn khăn, lưỡng lự về con đường phía  
trước: Ta sẽ bắt đầu điều gì khi bình minh thức dậy/ Đi về phía biển  
khơi hay trở lại rừng. Thì hành trình sống đó vẫn mang theo tiếng  
18  
cười lạc quan: Nấc lên, cười lên đẩy chiếc xe số phận một bánh lên  
đường (Chiếc xe một bánh), dẫu “xe một bánh”. Cái đẹp cứu chuộc  
mọi ngả đường của thế gian. Tin vào cái đẹp, cái nhân bản chính là tư  
tưởng lớn của cảm quan sử thi hiện đại trong thơ ông: Còn một hạt  
giống là còn cánh đồng/ Còn một giọt nước là còn dòng sông/ Còn  
một người có đức tin là cả thế giới được cứu rỗi (Bài ca trong đêm  
cuối cùng của năm cũ). Tích hợp các yếu tố sử thi trong thơ Nguyễn  
Quang Thiều là một trong số các biểu hiện rõ nét của hình thức nghệ  
thuật có mục đích vận dụng, dung hòa và sáng tạo trong ngữ cảnh các  
văn bản xã hội/ văn hóa/ văn học nhằm đạt đến sự tinh tế của liên văn  
3.2. SỰ VA CHẠM CÁC PHONG CÁCH NGÔN NGỮ  
3.2.1. Dung nạp ngôn ngữ đời thƣờng  
Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ hiện đại/ hậu hiện đại với  
khá nhiều thể nghiệm những xu hướng cách tân, lẽ dĩ nhiên thơ ông  
cũng rất bụi bặm, đời thường với một kho ngôn ngữ phong phú, ám  
gợi: Buồn teo, đói móp, rát ruột, tê cứng, bẩn thỉu, sằng sặc, đen xì,  
nham nhở, lõa lồ,… Đó là một kiểu phá bỏ mọi luật lệ của thơ cũng  
như ngôn ngữ nói chung để đạt tới sự tự do tuyệt đối, để hướng tới  
thứ ngôn ngữ thơ đa nghĩa đòi hỏi sự đồng sáng tạo trong tiếp nhận.  
Điều đặc biệt, ngôn ngữ đời thường trong thơ ông gợi cảm, kích thích  
sự liên tưởng, không khắc họa, mô tả hiện thực, mà đưa người đọc  
thơ hướng tới một hiện thực thứ hai, đó là thế giới nội tâm của riêng  
mình. Chất thơ không phải ở bề mặt ngôn từ mà thu vào bên trong  
gắn với những chiêm nghiệm suy tư của nhà thơ về cuộc sống.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 46340 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Thơ Nguyễn Quang Thiều từ góc nhìn liên văn bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_tho_nguyen_quang_thieu_tu_goc_nhin_lien_van.pdf