Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây đậu xanh (Vigna vadiata) trong điều kiện sinh thái đất nhiễm mặn tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
LÊ THỊ KIM LÀNH  
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA DINH DƯỠNG  
KHOÁNG ĐẾN QUÁ TRÌNH SINH TRƯỞNG PHÁT TRIỂN  
CÂY ĐẬU XANH ( Vigna vadiata) TRONG ĐIỀU KIỆN SINH  
THÁI ĐẤT NHIỄM MẶN TẠI XÃ CẨM THANH, THÀNH  
PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM  
Chuyên ngành: SINH THÁI HỌC  
Mã số: 60.42.60  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC  
Đà Nẵng - Năm 2013  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Tấn Lê  
Phản biện 1: TS. Lê Thị Thính  
Phản biện 2: TS. Huỳnh Ngọc Thạch  
Luận văn đã được bảo vệ tại Hội đồng chấm Luận văn tốt  
nghiệp Thạc sĩ Khoa học họp tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 22  
tháng 06 năm 2013  
Có thể tìm hiểu luận văn tại:  
-
-
Trung tâm Thông tin – Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
Thư viện trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1. Tính cấp thiết của đề tài  
Trong điều kiện môi trường sinh thái hiện nay, một trong  
những vấn đề được quan tâm nhất là sự nóng lên của Trái Đất. Điều  
này sẽ dẫn đến hàng loạt vấn đề nghiêm trọng. Một trong những ảnh  
hưởng đó không thể không nhắc đến là hiện tượng mực nước biển  
dâng cao làm cho hàng ngàn ha đất đai bị nhiễm mặn.  
Nước Việt Nam với bờ biển trải dài 3.444 km, hiện trạng đất bị  
nhiễm mặn xấp xỉ 1 triệu ha, chiếm gần 3% tổng diện tích đất tự  
nhiên cả nước. Đất nhiễm mặn đang ngày càng ảnh hưởng xấu đến  
hàng ngàn ha đất nông nghiệp và là mối đe dọa lớn đối với sản xuất  
nông nghiệp trong nước, bởi lẽ nó gây tác động xấu đến đời sống cây  
trồng, làm cây sinh trưởng, phát triển kém, năng suất, chất lượng  
nông sản giảm; thậm chí cây bị chết, gây thiệt lớn cho người trồng.  
Nằm trong vùng duyên hải Miền Trung, tỉnh Quảng Nam cũng  
đã và đang chịu tác động mạnh mẽ của hiện tượng này và một trong  
các đối tượng trong vùng được đánh giá dễ bị tổn thương nhất do  
hiện tượng này chính là nông nghiệp.  
Thành phố Hội An với diện tích 65km2 nằm ven biển Cửa Đại,  
diện tích đất nhiễm mặn ngày càng tăng dần qua các năm, gây ảnh  
hưởng rất lớn đến tình hình sản xuất nông nghiệp của nhiều địa  
phương. Xã Cẩm Thanh là một minh chứng rõ rệt. Đây là một xã  
được xem là nghèo nhất thành phố Hội An, với 67ha đất nông  
nghiệp, ngoài việc chăn nuôi tôm nhỏ lẻ đời sống người dân ở đây  
chủ yếu dựa vào nghề nông là chính. Trước đây bà con có thể trồng  
được rất nhiều loại cây: bắp trắng, bắp đỏ,các loại đậu đỗ, mè, các  
cây rau màu..., nhưng những năm trở lại đây do đất đai bị nhiễm mặn  
2
quá nhiều, ngoài bắp đỏ bà con không trồng được gì khác. Chính  
quyền địa phương cũng đã thực hiện các biện pháp như chuyển đổi  
cơ cấu giống cây trồng, lập công trường làm muối, ngăn mặn, tuy  
nhiên tất cả đều không đem lại hiệu quả.  
Theo một số công trình đã được công bố, có thể sử dụng  
nguyên tố khoáng như hợp chất Kaliclorat và các nguyên tố vi lượng  
(NTVL) để bón bổ sung nhằm tăng tính chịu mặn cho cây trồng [17],  
[21].  
Trong cơ cấu thực phẩm của nhân dân ta, cây đậu xanh có giá  
trị dinh dưỡng và giá trị kinh tế, có thời gian sinh trưởng ngắn, nên  
được trồng khắp cả các vùng miền trong cả nước, vừa đáp ứng nhu  
cầu dinh dưỡng, lại vừa có tác dụng cải tạo đất.  
Chính vì những lý do trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu xử lí  
một số nguyên tố khoáng nhằm tăng tính chống chịu mặn của cây  
đậu xanh khi trồng trên vùng đất nhiễm mặn thuộc xã Cẩm Thanh,  
thành phố Hội An; thông qua việc đánh giá các chỉ tiêu sinh trưởng,  
hoá sinh, năng suất, phẩm chất của cây đậu xanh qua các thời kỳ sinh  
trưởng, phát triển.  
Đề tài nghiên cứu của chúng tôi mang tên: “Nghiên cứu ảnh  
hưởng của dinh dưỡng khoáng đến quá trình sinh trưởng phát triển  
cây đậu xanh (Vigna vadiata) trong điều kiện sinh thái đất nhiễm  
mặn tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam”  
Hướng nghiên cứu này vô cùng cần thiết trong điều kiện sinh  
thái và đáp ứng việc ứng phó với tình hình biến đổi khí hậu đang tác  
động đến hoạt động nông nghiệp ở địa phương.  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài  
2.1. Mục tiêu tổng quát  
2.2. Mục tiêu cụ thể  
3
3. Ý nghĩa của đề tài  
3.1. Ý nghĩa khoa học  
Kết quả của đề tài góp phần minh họa về việc tác động, điều  
khiển nâng cao tính chống chịu mặn của cây đậu xanh trước các điều  
kiện bất lợi của môi trường.  
3. 2. Ý nghĩa thực tiễn  
Góp phần tìm biện pháp tăng năng suất và chất lượng hạt đậu  
xanh khi canh tác ở vùng đất nhiễm mặn ở địa phương.  
4. Cấu trúc của luận văn  
Cấu trúc của luận văn được chia ra các phần như sau:  
- Phần mở đầu  
- Chương 1: Tổng quan tài liệu  
- Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu  
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.  
- Kết luận và kiến nghị.  
- Tài liệu tham khảo  
- Phụ lục.  
4
CHƯƠNG 1  
TỔNG QUAN TÀI LIỆU  
1.1. KHÁI QUÁT VỀ CÂY ĐẬU XANH  
1.1.1. Giới thiệu chung về cây đậu xanh [7], [19]  
Cây đậu xanh là loại cây trồng có giá trị kinh tế cao, có nguồn  
gốc từ Ấn Độ và được phân bố rộng rãi ở các nước Châu Á.  
Cây đậu xanh (Vigna vadiata (L).Wilczek) thuộc ngành  
Magnoliopyta, lớp Magnoliopsida, bộ Fabales, họ Đậu ( Fabaceae),  
chi Vigna. Chi Vigna là một trong những chi lớn của họ Đậu, bao  
gồm 7 chi phụ là: Vigna, Plectropic, Macrohynchus, Ceratotropic,  
Lasionspron, Sigmoidotrotopis, Haydonia. Đậu xanh theo quan  
điểm lấy hạt bao gồm các loại thuộc hai chi phụ là Vigna và  
Ceratotropic. Chi phụ Ceratotropic còn được gọi là nhóm đậu Châu  
Á mang những đặc điểm điển hình thể hiện ở mức độ cao nhất cho  
Vigna. Năm 1970, Vercourt đã công bố 5 trong số 16 loài của  
Ceratotropic đã được thuần hóa là: Đậu xanh (Vigna vadiata  
(L).Wilczek), Đậu gạo ( Vigna Umbellata (thumb)), Đậu adzukia  
(Vigna angiularis (Willd)), Đậu ván (Vigna aconiti folia (Jacq)),  
Vigna trilobata(L). Wildzek.  
Thân đậu xanh thuộc loại thân thảo, mọc thẳng đứng hoặc hơi  
nghiêng, thân yếu có lớp lông mịn màu nâu sáng, chiều cao trung  
bình từ 40-70 cm, đường kính trung bình 8-12mm. Thân cây gồm 7-8  
đốt. Thân phân cành muộn và có trung bình 10-12 cành, một số  
giống có từ 9-10 cành.  
Lá thuộc loại lá kép mọc cách, lá chét có ba thùy với các hình  
dạng như ovan, thuôn dài, lưỡi mác, chẻ thùy. Trên thân chính của  
cây có 7-8 lá. Số lá, hình dạng lá có thể thay đổi tùy theo giống, đất  
5
trồng và thời vụ. Diện tích của các lá tăng từ các lá ở phía dưới lên  
các lá ở giữa thân và giảm dần lên các lá phía ngọn.  
Hoa đậu xanh là hoa lưỡng tính mọc thành chùm trên các trục  
hoa. Mỗi trục hoa có thể phát triển thành hai hàng hoa mọc đối nhau,  
các hoa trên hàng xếp liên tục với nhau tạo cho hoa có hình dạng co  
rút. Hoa đậu xanh có màu tím hoặc màu vàng nhạt. Đậu xanh là loài  
thực vật tự thụ phấn, tỉ lệ hoa hình thành quả 10-25%. Thụ phấn  
xong, tràng hoa rụng, quả hình thành và phát triển.  
Quả đậu xanh thuộc loại quả giáp, hình trụ, dạng tròn, hơi dẹp,  
dài từ 8-10cm, đường kính từ 4-6 mm, có hai gân nổi rõ dọc hai bên  
cạnh quả. Qủa chín có màu vàng, nâu hoặc đen. Cũng như các bộ  
phận khác trên cây đậu xanh (thân, cành, cuống, lá) trên vỏ quả đậu  
xanh thường được bao phủ một lớp lông dài 0,3 - 0,4 mm. Những  
giống thuộc nhóm kháng virut gây bệnh khảm vàng và bệnh sâu đục  
quả thì mật độ lông khá dày, màu trắng. Mỗi cây có từ 8 - 35 quả,  
mỗi quả có từ 8 - 15 hạt.  
Rễ đậu xanh thuộc loại rễ cọc, bao gồm rễ cái và rễ con, rễ cái  
sâu khoảng 20 - 30 cm, có khi 70 - 100 cm. Đặc biệt do rễ đậu xanh  
có khả năng sống cộng sinh với vi khuẩn cố định đạm Rhizobium  
nên từ các kẽ nhánh rễ, nhất là sát rễ cái hình thành các nốt sần. Các  
nốt sần có khả năng cố định Nitơ thường có kích thước 4 - 5 mm, có  
màu đỏ, hồng hay nâu. Nốt sần bé hơn, dạng que, ruột màu xanh hay  
đen đều không có hoạt tính. Hạn chế của bộ rễ cây đậu xanh là dễ bị  
thối khi gặp úng.  
1.1.2. Tầm quan trọng của cây đậu xanh  
a. Tầm quan trọng của cây đậu xanh trong Y học  
b. Tầm quan trọng của đậu xanh trong ngành chế biến thực  
phẩm  
6
c. Tầm quan trọng của đậu xanh cho dinh dưỡng hằng ngày  
d. Tầm quan trọng của đậu xanh trong phát triển kinh tế  
e. Tầm quan trọng của đậu xanh trong việc cải tạo đất  
1.2. TÍNH CHỐNG CHỊU MẶN CỦA THỰC VẬT VÀ BIỆN  
PHÁP TĂNG KHẢ NĂNG CHỊU MẶN CỦA THỰC VẬT  
1.2.1. Đất nhiễm mặn và tác hại của đất nhiễm mặn lên đời  
sống thực vật  
a. Khái niệm và phân loại đất nhiễm mặn  
b. Tác hại của đất nhiễm mặn lên đời sống thực vật [15], [30]  
- Gây hạn sinh lý  
- Cây bị ngộ độc do các ion trong đất nhiễm mặn  
- Ảnh hưởng đến quá trình sinh tổng hợp, vận chuyển các  
chất trong cây  
- Vi sinh vật có trong đất quanh rễ và bên trong cây bị ảnh  
hưởng  
- Kìm hãm sự sinh trưởng phát triển  
1.2.2. Tính chống chịu mặn của thực vật và biện pháp khắc  
phục tác hại của môi trường mặn lên đời sống thực vật  
a. Tính chống chịu mặn của thực vật [15], [36].  
b. Biện pháp khắc phục tác hại của môi trường mặn lên đời  
sống thực vật  
+ Biện pháp giảm độ mặn của môi trường  
Biện pháp cơ học (cạo muối)  
Biện pháp thủy lợi  
Biện pháp hóa học  
Biện pháp canh tác (nông sinh)  
+Biện pháp tăng khả năng chịu mặn cho thực vật [15]  
7
c. Giải pháp làm tăng khả năng chịu mặn của thực vật  
+ Phương pháp sử dụng các nguyên tố vi lượng [10], [15], [34]  
+ Phương pháp sử dụng Kali clorat cho đất nhiễm mặn[16],  
[17],[20],[21]  
+ Bổ sung Silicon (SiO2) cho cây hòa thảo[38]  
+ Phương pháp cung cấp trực tiếp chất dinh dưỡng[30]  
+ Phương pháp cung cấp gián tiếp chất dinh dưỡng cho cây  
thông qua vi sinh vật [37]  
1.3. VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG KHOÁNG ĐỐI VỚI ĐỜI  
SỐNG THỰC VẬT  
1.3.1. Vai trò của KClO3 đối với đời sống thực vật  
Trong nông nghiệp KClO3 được dùng làm phân bón cung cấp  
nguyên tố Kali cho cây trồng. Kali có tác dụng tăng khả năng giữ  
nước của các keo sinh chất do đó làm tăng khả năng chịu hạn, chịu  
rét cho cây, đặc biệt là các loại cây trồng sống trong những vùng mà  
khả năng hút nước bị hạn chế. Mặt khác, KClO3 còn được dùng để  
kích thích cây ăn trái ra hoa trái vụ và được sử dụng như một loại  
thuốc trừ sâu. Ở Phần Lan nó được bán dưới tên thương mại Fegabit.  
1.3.2.Vai trò của các nguyên tố vi lượng đối với đời sống  
thực vật [10], [15]  
a. Vai trò của Cu đối với đời sống thực vật [10], [15]  
Hàm lượng trung bình của đồng trong cây là 0.0002% hoặc  
0.2%mg/kg chất khô và phụ thuộc đặc điểm của loại cây, điều kiện  
đất.  
Đồng xâm nhập vào cây ở dạng Cu2+ . Trong tế bào, 2/3 lượng  
đồng có thể ở dạng liên kết không hòa tan. Khoảng 70% tổng lượng  
đồng ở trong lá tập trung trong lục lạp và gần một nửa số lượng đó ở  
8
trong thành phần của plastoxyanin là chất mang điện tử từ quang hệ  
thống II sang quang hệ thống I.  
b. Vai trò của Zn đối với đời sống thực vật [10], [15]  
Hàm lượng kẽm trong các phần trên mặt đất của cây họ Đậu  
và hòa thảo gồm khoảng 15-60 mg/1kg chất khô.  
Thiếu kẽm sự trao đổi photpho sẽ bị hủy hoại : photpho sẽ tích  
lại trong hệ rễ, sự vận chuyển photpho lên các cơ quan trên mặt đất  
bị kìm hãm, sự chuyển hóa photpho vô cơ thành photpho hữu cơ bị  
chậm lại, giảm hàm lượng photpho trong thành phần của các  
nucleotit, lipit và nucleic.Khi thiếu kẽm sự sinh trưởng của các lóng  
đốt và lá bị kìm hãm.  
c. Vai trò của Mn đối với đời sống thực vật [10], [15]  
Mangan cần cho tất cả các loài cây. Hàm lượng trung bình của  
mangan khoảng 0.001% hay 1mg/kg chất khô. Mangan xâm nhập  
vào cây ở dạng Mn2+, mangan tích tũy trong lá. Ion Mn2+ tham gia  
vào phản ứng quang phân li nước giải phòng ôxi và khử CO2 trong  
quang hợp. Mangan là thành phần của các hệ thống men (enzyme)  
trong cây. Nó hoạt hóa một số phản ứng trao đổi chất quan trọng  
trong cây và có vai trò trực tiếp trong quang hợp, bằng cách hỗ trợ sự  
tổng hợp Diệp lục.  
d. Vai trò của B đối với đời sống thực vật [10], [15]  
Bo là một trong các nguyên tố vi lượng quan trọng nhất đối với  
thực vật. Hàm lượng trung bình của Bo trong cơ thể thực vật gồm  
khoảng 0.0001% hay 0.1mg/1kg chất khô.  
Bo làm tăng sinh trưởng của ống phấn, kích thích hạt nẩy  
mầm, tăng số lượng hoa quả. Bo làm giảm haotj tính của một số  
enzin hô hấp , gây ảnh hưởng đến sự trao đổi gluxit, protein và axit  
nucleic .  
9
Thiếu Bo, quá trình tổng hợp, chuyển hóa, vận chuyển gluxit,  
sự hình thành các cơ quan sinh sản, thụ phấn và kết quả bị phá hoại.  
Bo cần cho cây trong suốt cả quá trình phát triển.  
1.4. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ TÍNH CHỐNG CHỊU  
MẶN CỦA CÂY TRỒNG  
1.4.1. Trên thế giới  
Hiện nay các nhà nghiên cứu thuộc Đại học Western Australia  
hợp tác với các nhà nghiên cứu khác đã xác định được giống đậu  
xanh có thể trồng ở đất mặn. Giáo sư Kadambot Siddique, Giám đốc  
Viện Nông nghiệp cho biết các nhà khoa học đã xác định được kiểu  
di truyền của đậu xanh có tính thích ứng tốt hơn với độ mặn của đất  
và đã sử dụng trong chương trình lai tạo giống tại miền tây Ôxtrâylia  
và Ấn Độ.  
1.4.2. Tại Việt Nam  
Tại Việt Nam có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến đề  
tài, trong đó có các công trình đã tập trung nghiên cứu tác hại của  
mặn đến đời sống một số loại cây trồng và tìm ra các biện pháp nhằm  
tăng cường tính chịu mặn cho cây để từ đó cải thiện năng suất và  
phẩm chất của cây.  
1.4.3. Tại xã Cẩm Thanh - TP. Hội An  
Hiện nay chưa có công trình nghiên cứu nào liên quan đến đề  
tài tại xã Cẩm Thanh được công bố. Do vậy tôi thiết nghĩ đây là  
hướng nghiên cứu cần thiết để tìm ra biện pháp giúp bà con khôi  
phục lại nền nông nghiệp và yên tâm sản xuất.  
1.5. VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TẠI KHU VỰC  
NGHIÊN CỨU  
1.5.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thành phố Hội An  
[31], [32], [33]  
10  
1.5.2. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên xã Cẩm Thanh, TP  
Hội An [31], [32], [33]  
1.6. HIỆN TRẠNG SẢN XUẤT ĐẬU XANH TẠI XÃ CẨM  
THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN  
Số liệu thống kê về hiện trạng sản xuất đậu xanh tại xã Cẩm  
Thanh, TP. Hội An cho thấy:  
- Tổng diện tích đất nông nghiệp: 358,17ha  
- Tổng diện tích đất bị nhiễm mặn: 336,48ha  
- Tổng diện tích đất nông nghiệp bị nhiễm mặn: 250,72ha  
- Tổng diện tích đất trồng hoa màu bị nhiễm mặn: 63,45ha  
- Tổng diện tích đất trồng đậu xanh bị nhiễm mặn: 7,67ha  
- Năng suất trồng đậu xanh bình quân thu được qua các năm:  
4,83 tạ/ha. Trong đó, tổng số hộ sản xuất đậu xanh được mùa chiếm  
0,3%, hoàn vốn 4,3%, mất mùa chiếm 95,4%.  
11  
CHƯƠNG 2  
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU  
Đối tượng nghiên cứu là giống đậu xanh cao sản đang được  
canh tác tại địa phương: giống ĐX 208.  
Đặc điểm giống đậu xanh ĐX 208:  
Là giống chín sớm, thích hợp sản xuất ở cả vụ Xuân và vụ Hè.  
Thời gian từ gieo đến chín từ 70 - 75 ngày, chiều cao trung bình 50 -  
65 cm. Ra hoa tập trung, sai quả, trung bình đạt 20 - 25 quả/cây, hạt  
to, khối lượng 1000 hạt 65 - 70 g, dạng xanh mỡ bóng, ruột vàng,  
thơm, bở, phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng. ĐX 208 còn có khả  
năng tái sinh rất mạnh,vì vậy cho tiềm năng năng suất cao. Năng suất  
đạt 20 - 25 tạ/ha. Chịu hạn, chịu nóng, chịu mặn tốt, chống đổ và  
chống bệnh đốm lá rất tốt.  
2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU  
Đề tài được nghiên cứu trên khu vực đất trồng nông nghiệp bị  
nhiễm mặn tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An – Quảng Nam.  
Thí nghiệm được tiến hành trong vụ Hè Thu năm 2012 (từ  
tháng 5/2012 đến 8/2012).  
2.3. CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.3.1. Cách tiếp cận  
2.3.2. Phương pháp nghiên cứu  
a. Phương pháp thu thập, tổng hợp tài liệu  
b. Phương pháp khảo sát thực địa, điều tra người dân địa  
phương  
c. Phương pháp bố trí thí nghiệm  
12  
d. Phương pháp xử lý gia tăng tính chịu mặn  
Để tăng cường tính chịu mặn cho cây đậu xanh, chúng tôi đã  
sử dụng tổ hợp muối Kali Clorat (nồng độ 0,005%) và các nguyên tố  
vi lượng (NTVL) dưới dạng CuSO4 (nồng độ 0,03%), ZnSO4 (nồng  
độ 0,05%), MnSO4 (nồng độ 0,03%), H3BO3 (nồng độ 0,025%).  
KClO3 và các nguyên tố vi lượng Cu, Zn, Mn, B được sử dụng dưới  
dạng các hợp chất tinh khiết KClO3 , CuSO4.5H2O và ZnSO4.H2O,  
H3BO3. Nồng độ xử lý các chất được thăm dò qua theo dõi tỉ lệ nảy  
mầm của hạt, được trình bày ở Chương 3  
e. Quy trình chăm sóc  
2.3.3. Phương pháp theo dõi và phân tích các chỉ tiêu  
* Tỉ lệ nảy mầm của hạt  
* Thời gian sinh trưởng (ngày)  
* Chiều cao cây  
* Diện tích lá  
* Số lượng lá/m2 đất  
* Trọng lượng tươi  
* Trọng lượng khô  
* Số lượng nốt sần  
* Hàm lượng nước trong cây  
* Hàm lượng diệp lục tổng số  
* Tỉ lệ diệp lục liên kết trong phức hệ diệp lục - proteit - lipoit  
* Các yếu tố cấu thành năng suất  
- Số quả/cây  
- Số quả chắc/cây.  
- Số hạt chắc/ quả  
- Tỉ lệ lép  
- Trọng lượng khô của số quả chắc/cây  
13  
- Năng suất thực (quy ra tạ/ha)  
* Phẩm chất hạt  
- Hàm lượng protein trong hạt (theo Bradford)  
- Hàm lượng chất xơ trong hạt  
- Hàm lượng hydrat cacbon trong hạt  
* Xác định độ mặn và thành phần của đất  
2.3.4. Phương pháp xử lí số liệu  
Các số liệu được xử lý theo phương pháp thống kê sinh học.  
x
∑
i
+ Tính trung bình số học: x =  
n
(x − x)2  
∑
i
+ Sai số bình quân số học: m =  
n (n −1)  
(x − x)2  
∑
i
+ Độ lệch chuẩn:  
δ
=
n −1  
δ
m n  
x
+ Hệ số biến động: CV% = .100 =  
.100  
x
+ So sánh cặp số liệu theo t- Student:  
Hiệu các trung bình số học: d = x2 − x1  
(với x1 là số liệu của lô đối chứng, x2 là số liệu của lô thực  
nghiệm)  
2
2
Sai số của hiệu các trung bình số học: md = m1 + m2  
d
Độ tin: t =  
md  
Tra bảng tìm t với bậc tự do f = n1 + n2 -2 ở các mức xác  
α
suất tin cậy P khác nhau, với t > t ).  
α
14  
CHƯƠNG 3  
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN  
3.1. PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ SINH THÁI TẠI KHU VỰC  
NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG ĐẾN ĐỜI SỐNG CÂY ĐẬU XANH  
3.1.1. Phân tích các yếu tố khí hậu tại khu vực nghiên cứu  
tác động đến đời sống cây đậu xanh  
a. Nhiệt độ  
- Tháng 5: Nhiệt độ trung bình này vẫn nằm trong giới hạn  
sinh trưởng phát triển thuận lợi của đậu xanh. Trong thời điểm này  
đậu xanh đang ở giai đoạn nảy mầm, mọc mầm và ra lá thật, vì vậy  
vào những ngày nhiệt độ cao trên 300C cần tưới nước dặm để giữ cho  
chân đất ẩm nhằm giúp hạt nảy mầm đều và phát triển tốt.  
- Tháng 6: Trong thời gian này, đậu xanh đang ở giai đoạn 3  
lá, 5 lá và 7 lá, nhiệt độ tăng đã giúp cây sinh trưởng phát triển  
nhanh, tuy nhiên cần duy trì chế độ tưới tiêu hợp lí, thường xuyên để  
tránh cây héo vì hạn.  
- Tháng 7 và tháng 8: Đây là giai đoạn đậu xanh tạo quả và  
thu hoạch. Nhiệt độ dao động từ 22,20C đến 37,30C và đạt trung bình  
ở 28,50C và 28,80C, có thời điểm nhiệt độ tối đa là 37,30C. Như vậy,  
yếu tố nhiệt độ qua các tháng thực nghiệm trong vụ hè có tác động  
không mấy thuận lợi đến sự sinh trưởng phát triển của cây đậu xanh.  
b. Bức xạ nhiệt, số giờ nắng  
Bức xạ nhiệt trong tháng tỉ lệ thuận với số giờ nắng và sự bốc  
hơi nước. Số giờ nắng nhiều nhất là 260 giờ ở tháng 7, cao hơn so  
với tháng 5 (188 giờ), cao hơn tháng 6 (190,5 giờ) và cao hơn tháng  
8 (217 giờ).  
15  
c. Độ ẩm  
Biên độ về độ ẩm trung bình nằm trong khoảng từ 79 –  
80,25%. Như vậy, độ ẩm tương đối cao, không có sự chênh lệch  
nhiều giữa các tháng và có sự chênh lệch so với giới hạn cây cần để  
phát triển tốt.  
d. Lượng mưa, bốc hơi  
Qua bảng 3.1 và hình 3.5 cho thấy lượng mưa cao nhất trong  
tháng 8 đạt 196,5 mm và thấp nhất ở tháng 5 và tháng 6, tháng 7.  
Tóm lại, các yếu tố thời tiết tại xã Cẩm Thanh trong các tháng  
thực nghiệm đề tài tác động không thuận lợi đến sự sinh trưởng và  
phát triển của cây đậu xanh.  
3.1.2. Phân tích đặc điểm nông hóa của đất trồng đậu xanh  
tại khu vực nghiên cứu  
Qua kết quả phân tích, thành phần cơ giới của đất phân loại  
theo USDA (Harry Bucknarn- Nyle C. Brady, 1980) có thể thấy đây  
là loại đất pha cát, nghèo mùn, tỉ lệ sét thấp [38].  
Về thành phần hóa học, mẫu đất thí nghiệm là loại đất trồng  
nghèo dinh dưỡng, đặc biệt là đối với các nguyên tố đa lượng ở dạng  
dễ tiêu như N, P, K có hàm lượng khá thấp. Đất có độ pH là 5,98  
thuộc loại đất chua nhẹ, nằm trong khoảng pH thích hợp trồng đậu  
xanh. Về độ mặn là 60/00, thuộc chân đất có độ mặn trung bình, có  
thể canh tác một số cây cố định đạm, trong đó có cây đậu xanh.  
3.2. KẾT QUẢ THĂM DÒ NỒNG ĐỘ DUNG DỊCH KClO3 VÀ  
CÁC NTVL Cu, Zn, Mn, B  
Đối với dung dịch KClO3, ở nồng độ 50 ppm cho tỉ lệ nảy  
mầm tốt nhất (90,5%), do đó chúng tôi chọn nồng độ này để xử lý  
tiếp theo.  
16  
Đối với dung dịch CuSO4, ở nồng độ 300 ppm cho tỉ lệ nảy  
mầm tốt nhất (83,4%), do đó chúng tôi chọn nồng độ này để xử lý  
tiếp theo.  
Đối với dung dịch ZnSO4, ở nồng độ 500 ppm cho tỉ lệ nảy  
mầm tốt nhất (89,3%), do đó chúng tôi chọn nồng độ này để xử lý  
tiếp theo.  
Đối với dung dịch MnSO4, ở nồng độ 300 ppm cho tỉ lệ nảy  
mầm tốt nhất (84,4%), do đó chúng tôi chọn nồng độ này để xử lý  
tiếp theo.  
Đối với dung dịch H3BO3, ở nồng độ 250 ppm cho tỉ lệ nảy  
mầm tốt nhất (75,9%), do đó chúng tôi chọn nồng độ này để xử lý  
tiếp theo.  
3.3. ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ HỢP KClO3 VÀ CÁC NGUYÊN  
TỐ VI LƯỢNG Cu, Zn, Mn, B ĐẾN QUÁ TRÌNH SINH  
TRƯỞNG PHÁT TRIỂN CỦA CÂY ĐẬU XANH TRỒNG TẠI  
XÃ CẨM THANH, THÀNH PHỐ HỘI AN  
3.3.1. Ảnh hưởng của tổ hợp KClO3 và các NTVL Cu, Zn,  
Mn, B đến thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng phát  
triển của cây đậu xanh  
Qua kết quả thu được cho thấy, nhìn chung thời gian sinh  
trưởng của đậu xanh trong lô đối chứng và thực nghiệm có sự chênh  
không nhiều, chỉ chênh lệch nhau ở giai đoạn nảy mầm và bắt đầu ra  
lá thật. Điều này có thể lí giải trong 2 giai đoạn này đậu xanh phụ  
thuộc rất nhiều vào chất lượng và hiệu quả nảy mầm của hạt giống,  
do đó việc xử lí hạt giống trước khi gieo đã làm cho hạt ở lô thực  
nghiệm nảy mầm nhanh hơn so với lô đối chứng.  
17  
3.3.2. Ảnh hưởng của tổ hợp KClO3 và các NTVL Cu, Zn,  
Mn, B đến chiều cao cây đậu xanh  
Kết quả cho thấy cho thấy trong 3 giai đoạn sinh trưởng phát  
triển thì chiều cao cây tăng dần và đạt tối đa ở giai đoạn 7 lá. Trong  
vụ Hè thu 2012 khi cây đậu xanh được xử lý bổ sung tổ hợp KClO3  
và các NTVL Cu, Zn, Mn, B qua các giai đoạn sinh trưởng, chiều  
cao thân đã tăng lên so với đối chứng. Sự chênh lệch chiều cao cây  
giữa lô đối chứng và thực nghiệm thể hiện rõ nhất là ở giai đoạn cây  
được 5 lá (tăng 29,52% so với đối chứng) và giai đoạn cây được 7 lá  
(tăng 20, 74% so với đối chứng), còn trong giai đoạn 3 lá thì không  
có sự chênh lệch đáng kể.  
3.3.3. Ảnh hưởng của tổ hợp KClO3 và các NTVL Cu, Zn,  
Mn, B đến sự sinh trưởng lá của cây đậu xanh  
Kết quả thu được cho thấy số lá/m2 đất ở giai đoạn 3 lá đạt giá  
trị nhỏ nhất và đạt giá trị cao nhất ở giai đoạn 7 lá (ra hoa). Qua các  
giai đoạn sinh trưởng phát triển số lượng lá ở lô thực nghiệm cao hơn  
so với lô đối chứng, khác biệt rõ nhất ở giai đoạn 7 lá: 140,60 lá ở lô  
đối chứng và 165,00 lá ở lô thực nghiệm. Điều này có thể lí giải do  
môi trường đất bị nhiễm mặn, số lượng cây ở lô đối chứng héo chết  
và phát triển không đều nhiều vì vậy làm cho số lượng lá cũng giảm  
đi đáng kể.  
3.3.4. Ảnh hưởng của tổ hợp KClO3 và các NTVL Cu, Zn,  
Mn, B đến tổng số nốt sần ở rễ của cây đậu xanh  
Kết quả được trình bày ở bảng 3.7 cho thấy dưới tác động của  
việc bổ sung thêm KClO3 và các NTVL vào thành phần dinh dưỡng  
của cây đã tạo điều kiện cho hệ vi sinh vật cộng sinh với rễ cây đậu  
xanh phát triển tốt hơn so với đối chứng. Cụ thể, số lượng nốt sần ở  
lô thực nghiệm cao hơn 36,95% so với đối chứng. Đây là yếu tố  
18  
thuận lợi giúp cây đậu xanh được bổ sung thêm nguồn đạm tự nhiên,  
làm cho quá trình sinh trưởng phát triển tiến hành có hiệu quả.  
3.3.5. Ảnh hưởng của tổ hợp KClO3 và các NTVL Cu, Zn,  
Mn, B đến sinh khối tươi và khô của cây đậu xanh  
Cùng với sự tăng trưởng các chỉ tiêu sinh trường của cây đậu  
xanh, kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy tổ hợp KClO3  
và các NTVL đã có tác dụng tăng sinh khối tươi cũng như sinh khối  
khô của cây đậu xanh.  
Qua kết quả ta thấy, trọng lượng tươi của cây đậu xanh khi  
trồng trong vụ Hè Thu 2012 ở lô thực nghiệm tăng cao hơn hẳn so  
với lô đối chứng là 34,63%.  
3.4. ẢNH HƯỞNG CỦA TỔ HỢP KClO3 VÀ CÁC NGUYÊN  
TỐ VI LƯỢNG Cu, Zn, Mn, B ĐẾN MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH  
LÝ CỦA CÂY ĐẬU XANH TRỒNG TẠI XÃ CẨM THANH,  
THÀNH PHỐ HỘI AN  
3.4.1. Ảnh hưởng của tổ hợp KClO3 và các NTVL Cu, Zn,  
Mn, B đến hàm lượng diệp lục tổng số của cây đậu xanh  
Bên cạnh chỉ số diện tích lá, việc đánh giá hàm lượng diệp lục  
là một chỉ tiêu quan trọng, là cơ sở thể hiện cơ sở vật chất của bộ  
máy quang hợp, là tiền đề để đánh giá quá trình tổng hợp chất hữu cơ  
cung cấp cho cơ thể dẫn đến sự hình thành năng suất và phẩm chất ở  
giai đoạn tiếp theo.  
Theo dõi hàm lượng diệp lục tổng số ở cây đậu xanh ở giai  
đoạn cây được 7 lá (ra hoa) kết quả thu được cho thấy hàm lượng  
diệp lục tổng số ở lá đậu xanh có phun bổ sung tổ hợp KClO3 và các  
NTVL đã tăng lên 26,38% so với đối chứng.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 15620 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Nghiên cứu ảnh hưởng của dinh dưỡng khoáng đến quá trình sinh trưởng phát triển cây đậu xanh (Vigna vadiata) trong điều kiện sinh thái đất nhiễm mặn tại xã Cẩm Thanh, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_nghien_cuu_anh_huong_cua_dinh_duong_khoang.pdf