Tóm tắt Luận văn Học thuyết vô vi của Lão Tử và vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nước ta hiện nay

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
LÊ THỊ LIỆU  
HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ  
VÀ VẤN ĐỀ GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ  
MÔI TRƯỜNG NƯỚC TA HIỆN NAY  
Chuyên ngành : Triết học  
Mã số  
: 60 22 80  
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ  
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN  
Đà Nẵng - Năm 2013  
Công trình được hoàn thành tại  
ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Người hướng dẫn khoa học: TS. TRẦN NGỌC ÁNH  
Phản biện 1: PGS.TS. LÊ HỮU ÁI  
Phản biện 2: TS. NGUYỄN THẾ TƯ  
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận  
văn tốt nghiệp thạc sỹ Khoa học Xã hội và Nhân văn họp  
tại Đại học Đà Nẵng vào ngày 06 tháng 09 năm 2013  
Có thể tìm luận văn tại:  
- Trung tâm Thông tin - Học liệu, Đại học Đà Nẵng  
- Thư viện trường Đại học Kinh tế, Đại hoc Đà Nẵng  
1
MỞ ĐẦU  
1.Tính cấp thiết của để tài  
Phương Đông là cái nôi của văn minh nhân loại có lịch sử phát  
triển văn hóa từ thời cổ xưa, điển hình cho sự văn minh sự rực rỡ,  
phong phú đó là đất nước Trung Hoa. Thời Xuân Thu của Trung Hoa  
kéo dài từ năm 722 đến năm 481 TCN, đất nước triền miên trong bạo  
loạn, chiến tranh, dân nghèo chìm trong biển máu trước thực tiễn lịch  
sử điêu đứng như vậy xuất hiện nhiều triết gia lớn được gọi là bách  
gia chư tử. Trong đó, tư tưởng triết học “Vô vi” của Lão Tử có ý  
nghĩa quan trọng không chỉ thời đại ông sống mà đến tận bây giờ  
những tư tưởng quý giá đó vẫn còn nguyên giá trị thực tiễn thể hiện  
tầm nhìn thời đại và mang ý nghĩa sâu sắc. “Vô vi” không có nghĩa  
là không làm gì mà là làm theo lẽ tự nhiên, hợp với quy luật. Nghiên  
cứu học thuyết “vô vi” của Lão Tử giúp chúng ta hiểu thêm về tầm  
quan trọng của việc sống theo lẽ tự nhiên hợp với quy luật, chúng ta  
sống như thế nào để bảo vệ môi trường sinh thái, tầm quan trọng của  
môi trường sinh thái đối với cuộc sống của chúng ta.  
Bảo vệ môi trường sinh thái đang là nhiệm vụ toàn cầu, cấp  
bách hiện nay, vấn đề được Lão Tử đề cập trước hàng thế kỉ. Trong  
nhiều thế kỉ qua con người đã khai thác với một khối lượng lớn các  
nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho cuộc sống. Ở nước ta,  
gần một thế kỷ sống dưới ách thống trị của Pháp và trải qua hơn ba  
mươi năm đấu tranh giành độc lập môi trường tự nhiên bị phá hoại  
nghiêm trọng, hàng trăm km rừng tự nhiên và đất canh tác chất độc  
hủy diệt.  
2
Nước ta đang trong thời kì tiến hành công nghiệp hóa – hiện  
đại hóa môi trường tự nhiên đã xuống cấp nghiêm trọng. Nạn ô  
nhiễm không khí tăng lên, hạn hán xảy ra liên miên. Các nguồn tài  
nguyên thiên nhiên khai thác thiếu quy hoạch tình trạng ô nhiễm đất  
nước không khí đến mức báo động. Đất nước đang trong thời kì đẩy  
mạnh quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, song song với phát  
triển kinh tế chúng ta cần quan tâm đến bảo vệ môi trường sinh thái.  
Chúng ta cần ngoảnh lại nghiên cứu các học thuyết của bậc thánh  
hiền nhằm đưa nước ta vượt qua thử thách, nắm bắt được vận hội,  
giải quyết nguy cơ môi trường suy thoái, bệnh tật hoành hành..Nhận  
thức được tầm quan trọng của vấn đề như trên, người viết mạnh dạn  
chọn đề tài :“ Học thuyết Vô Vi của Lão Tửvà vấn đề giáo dục ý  
thức bảo vệ môi trường ở nước ta hiện nay”làm đề tài luận văn  
tốt nghiệp.  
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.  
Phân tích quan điểm Vô Vi của Lão Tử, vận dụng tư tưởng Vô  
Vi của Lão Tử vào giáo dục thức bảo vệ môi trường sinh thái ở Việt  
Nam hiện nay.  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
a. Đối tượng nghiên cứu  
Học thuyết Vô vi của Lão Tử và vận dụng học thuyết vào giáo  
dục ý thức bảo vệ môi trường hiện nay.  
b. Phạm vi nghiên cứu  
Lão Tử là một cây đại thụ về tư tưởng triết học của Trung Hoa  
cổ đại. Tư tưởng của ông được thể hiện ở nhiều phương diện như  
3
trong cách trị nước, kế thế an bang.. được thể hiện khá hoàn chỉnh  
trong Đạo đức kinh. Nhưng ở phạm vi đề tài chúng tôi chỉ tập trung  
nghiên cứu học thuyết Vô vi – Đồng thời vận dụng nó vào giáo dục ý  
thức môi trường hiện nay.  
4. Phương pháp nghiên cứu  
Vận dụng các phương pháp duy vật biện chứng, phương pháp  
duy vật lịch sử với các nguyên tắc: Khách quan, toàn diện, phát triển  
và lịch sử cụ thể. Trong đó chú trọng các phương pháp cụ thể như:  
phương pháp lịch sử, phương pháp lô gic, so sánh, phân tích, tổng  
hợp.  
5. Cấu trúc của khóa luận  
Đề tài khóa luận có cấu trúc bao gồm phần mở đầu, kết luân,  
danh mục tài liệu tham khảo và nội dung gồm 2 chương, 4 tiết.  
Chương 1: Học thuyết Vô vi của Lão Tử  
Chương 2. Vận dụng học thuyết vô vi của Lão Tử vào việc  
giáo dục ý thức bảo vệ môi trườngnước ta hiện nay.  
6. Tổng quan tài liệu  
Trong “Minh triết phương Đông và Triết học phương Tây” của  
Francois Jullien, (NXB Đà Nẵng, 2004) đã phân tích, giải nghĩa cụm  
từ Vô vi để người đọc có cách hiểu đúng đắn trong từng trường hợp  
cụ thể khi nói đến Vô vi. Vô cũng là thực tại ,Vô vi không mờ ảo,  
không cần thượng đế hay tạo hóa giải thích, không có sự vượt siêu  
cũng như phép lạ ở đây.  
Đến với “ Triết lý trong văn hóa Phương Đông” Nguyễn Hùng  
Hậu, (NXB Đại học sư phạm, 2006) tác giả đã đem Vôcủa Lão Tử so  
4
sánh với Không trong đạo Phật. Cả hai đều thâm trầm, huyền ảo.  
Tiếp đó tác giả đề cập Vô vi tức là không làm gì nhưng không gì  
không làm, tức là không làm nhưng lại làm tất cả( vô vi nhi vô bất  
vi). Thánh nhân dùng Vô vi mà xử sự, tức dùng bất ngôn mà dạy dỗ  
để cho vạn vật nên mà không cản, tạo ra mà không biết chiếm đoạt,  
làm ra mà không cậy công, thành công mà không ở lại. Bậc thánh  
nhân làm mà không nói, khi việc thành thì lánh đi nên dân không  
hay.  
Trong “ Lão Tử Tinh Hoa” của Thu Giang – Nguyễn Duy Cần  
(NXB Văn học, 1991) đã đề cập 97 chữ Vô vi. Vô của Lão Tử là Vô  
dục, Vô tri, Vô ưu, Vô tư..Và đăc biệt những tư tưởng về chính trị về  
trị nước, tư tưởng về Đạo..Vô vi được đề cập một cách sâu sắc và  
xác đáng. Vô vi là hành động trở về với cội nguồn, từ bỏ những gì  
phiền phức đa đoan của văn minh giả tạo, về với thuần phác của tự  
nhiên. Vô vi không phải không làm gì mà làm một cách kín đáo đem  
cái tự nhiện mà giúp một cách tự nhiên, không dư tâm, vị kỉ, người  
thi ân không biết là thi ân, người thọ ân không biết là thọ ân. Bậc trị  
nước mà dung đến cái đạo Vô vi đân không hay là mình bị trị, dĩ  
nhiên được thiên hạ, mà tự mình cũng không bao giờ bị hại..  
Trong “Đại cương triết học Trung Quốc” của Doãn Chính –  
Trương Văn Chung – Nguyễn Thế Nghĩa – Vũ Tình (NXB, Chính trị  
quốc gia, 2002) Các tác giả đã phân tích tình hình cụ thể của bối  
cảnh lịch sử Trung Hoa cổ đại để đi đến cho ra đời những tư tưởng  
chính trị, triết học. Tư tưởng của Vô Vi của Lão Tử được ra đời trong  
hoàn cảnh lịch sử đặc biệt và đầy đủ những nhân tố biến động trong  
chính trị xã hội con người. Vì thế sự ứng dụng của học thuyết có sức  
5
lan tỏa ở mọi lĩnh vực cho mọi thời đại và đặc biệt là thời đại ngày  
nay.  
Ngoài ra các sách: “ Đại cương Triết học sử Trung Quốc” của  
Phùng Hữu Lan (NXB, Thanh niên, 1999), “Lịch sử triết học”Bùi  
Thanh Quất – Vũ Tình (NXB Giáo dục) đề cập đến tư tưởng Vô vi  
và nêu lên các cánh đánh giá khác nhau về Đạo, đường lối xử thế, về  
lý thuyết chính trị của Lão Tử.  
Trong “Xây dựng đạo đức sinh thái một trách nhiệm của con  
người với tự nhiên” của Phạm Thị Ngọc Trầm (Tạp chí triết học,  
2009) Tác giả nêu lên những đặc trưng cơ bản của đạo đức sinh thái  
khác với đạo đức xã hội nói chung. Trong quan hệ đạo đức sinh thái,  
con người bao giờ cũng là chủ thể, còn tự nhiên bao giờ cũng là  
khách thể; sự tác động giữa chúng chỉ đi theo một chiều là mang lại  
lợi ích cho con người và xã hội, bỏ quên lợi ích và giá trị nội tại của  
các khách thể tự nhiên. Vì vậy, con người đã mang lại hậu quả khôn  
lường cho môi trường sống. Bài viết đã chỉ ra rằng, đạo đức sinh thái  
đòi hỏi một sự tự ý thức rất cao.  
Ở phương trời Tây vào thời kì cận đại những nhà duy vật Pháp  
thế kỉ 18 đã đề cập đến vấn đề con người nhận thức và chinh phục  
giới tự nhiên dựa trên cơ sở hiểu biết và tôn trọng những quy luật của  
tự nhiên.  
Trong chủ nghĩa Mác đặc biệt nhấn mạnh đến ý thức bảo vệ  
môi trường tự nhiên. Trong tác phẩm Bản thảo kinh tế triết học  
(1844) Mác đã khẳng định: Con người sống bằng tự nhiên. Và đặc  
biệt trong Biện chứng của tự nhiên Ăngghen đã cảnh báo: con người  
không thể thống trị tự nhiên như một kẻ đi xâm lược đi thống trị một  
6
dân tộc khác, nếu chúng ta khai thác tự nhiên không có kế hoạch thì  
sẽ để lại đằng sau những hoang mạc. Trong khoảng vài thập kỉ qua  
đã nảy sinh nhiều vấn đề về môi trường chung cho toàn cầu đòi hỏi  
các nước trên thế giới cần quan tâm giải quyết.  
Năm 1987, trong báo cáo: “ Tương lai chung của chúng ta”,  
Uỷ ban quốc tế về môi trường đã nêu những quan điểm về sự phụ  
thuộc lẫn nhau trên toàn thế giới. Cũng trong năm này chính phủ các  
nước đã chấp nhận “ Triển vọng môi trường đến năm 2000 và sau  
đó” Văn bản này đã xác định khuôn mẫu rộng rãi để hướng dẫn hành  
động quốc gia và phát triển quốc tế về phát triển bền vững.  
Hội nghị Rio Dejanero (6/1992) ở Braxin, là hội nghị thế giới  
về môi trường, quy tụ những nhà lãnh đạo có trách nhiệm của các  
nước trên thế giới, đã ra tuyên bố về bảo vệ môi trường và phát triển  
bền vững. Hội nghị đã ban hai hiệp ước quan trọng là hiệp ước về đa  
dạng sinh học và Hiệp ước về thay đổi khí hậu. Văn bản về thay đổi  
khí hậu được chính thức thực hiện vào tháng 4/1994. Mục đích của  
hiệp ước là ổn định các khí nhà kính trong khí quyển ở mức độ  
không gây hại đến sinh thái tự nhiên và con người. Nghị định thư  
Kyoto về thay đổi khí hậu 12/1997 đưa ra kế hoạch giảm thiểu sự  
khuếch tán khí cacbonic ở các nước phát triển ít nhất bằng 55% của  
năm 1990.  
Dựa vào những kết quả nghiên cứu trên đây, qua đề tài nghiên  
cứu của khóa luận người viết muốn tiếp tục làm sáng tỏ thêm học  
thuyết Vô Vi của Lão Tử và luận chứng về tầm quan trọng của việc  
bảo vệ môi trường sinh thái ở nước ta hiện nay.  
7
CHƯƠNG 1  
HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ  
1.1. LÃO TỬ VÀ ĐẠO ĐỨC KINH  
1.1.1. Lão tử - Thân thế và sự nghiệp  
Thân thế và sự nghiệp  
Theo sử kí Tư Mã Thiên, Lão Tử người nước Sở, tên thật là  
Lý Nhĩ, tự là Bá Dương, hiệu là Lão Đan là người sống cùng thời với  
Khổng Tử. Lão Tử vốn người huyện Khổ, Hưng Lệ, làng Khúc  
Nhân, nước Sở (thuộc miền Nam tỉnh Hà Nam bây giờ). Ông làm  
quan sử, giữ kho chứa sách, tàng trữ thất sử nhà Chu. Toàn bộ tư  
tưởng của ông, được trình bày ngắn gọn và súc tích trong cuốn Đạo  
Đức Kinh, gồm 81 chương, chia làm hai thiên Thượng và Hạ,  
khoảng 5000 từ Trung Quốc.  
1.1.2. Tác phẩm Đạo đức kinh  
Bối cảnh lịch sử ra đời của Đạo đức kinh  
Về kinh tế.  
Tuy tình hình chính trị rối ren, chiến tranh luên miên nhưng  
nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng sang thời  
đại đồ sắt. Nền sản xuất Nông nghiệp và Tiểu thủ Công nghiệp phát  
triển. Sự phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất ngày càng  
cao, tiền tệ đã xuất hiện. Về khoa học, họ đã phát minh ra chữa viết  
và dựa vào sự quan sát của mặt trăng, các vì sao, chu kì của nước  
sông và quy luật sinh trưởng của cây trồng mà họ đã viết ra lịch.  
8
Về chính trị  
Đây là thời kì bạo loạn nhất trong lịch sử Trung Quốc có  
khoảng 242 năm thì đã xảy ra 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ.  
Tình trạng lễ nghĩa, cương thường, đảo lộn, đạo đức suy đồi  
dân đen phải chịu cảnh cùng cực thì các vương hầu quý tộc sống rất  
xa hoa. Các nước xâm chiếm lẫn nhau làm cho nhiều nước bị mất  
nhiều nhà phân tán, xã hội phân biệt giàu nghèo sâu sắc. Chính trị  
của các nước thời ấy đều tối tăm. Cùng với thực tiễn lịch sử xã hội  
cho ta thấy chân tướng của thời đại Xuân Thu, Chiến Quốc cùng với  
sự phát triển về thiên văn, địa lý, cơ học, văn học… làm tiền đề nảy  
sinh tư tưởng học thuyết triết học ở Trung Quốc cổ đại.  
Về văn hóa tư tưởng  
Sự phong phú, đa dạng của các hệ thống triết học thời Xuân  
Thu- Chiến Quốc, khiến người ta phải gọi là thời kì “ Bách gia chư  
tử”, như “Trăm hoa đua nở, muông chim cùng hót”. Chính trong quá  
trình ấy đã sản sinh ra nhà tư tưởng lớn và hình thành nên các trường  
phái triết học khá hoàn chỉnh như : Nho gia, Mặc gia, Âm dương gia,  
Danh gia, Pháp gia, Nông gia, Đạo gia cũng được ra đời trong bối  
cảnh này.  
Lão Tử là nhà triết học lớn với học thuyết Vô Vi. Ông là người  
sáng lập trường phái triết học Đạo gia, một trong ba trường phái triết  
học lớn thời Xuân Thu. Ông đã đúc kết nhiều tư tưởng phổ biến từ  
thời nhà Chu như vũ trụ luận về thiên địa, ngũ hành, chân khí, thuyết  
âm dương và Kinh Dịch, ông đã học thuyết hóa những tư tưởng triết  
lí của truyền thống văn hóa phương Nam. Triết lí của ông có ảnh  
hưởng rất lớn đến xã hội đương thời và sau này được các học trò ông  
9
phát triển nên. Trong lĩnh vực nhận thức phát triển tư tưởng biện  
chứng của Lão Tử, Trang Tử đã tuyệt đối hóa sự vân động, xóa nhòa  
mọi ranh giới giữa con người với thiên nhiên, giữa phải và trái, giữa  
tồn tại và hư vô.  
Nội dung Đạo đức kinh  
Tác phẩm Đạo đức kinh của Lão Tử là cuốn sách khoảng 5000  
chữ, gồm hai phần. Thượng là Đạo Kinh gồm 37 chương, bàn về  
Đạo lớn của vũ trụ. Hạ là Đức Kinh gồm 44 chương bàn về Đức. Với  
cách diễn dạt vắn tắt và thâm trầm, gợi mở bằng những châm ngôn,  
ngạn ngữ có tính ẩn dụ, Lão Tữ đã trình bày ba vấn đề triết học căn  
bản là: Học thuyết về “Đạo”, tư tưởng về phép biện chứng và học  
thuyết “Vô Vi”.  
Về mặt bản thể luận, Đạo được Lão Tử trình bày theo ba mặt:  
thể, tướng và dụng.  
Về mặt thể của đạo Lão Tử đã dùng nhiều thuật ngữ để diễn  
đạt, như “Đạo huyền”, “đại đạo”, “đạo thường”…tính khách quan  
của tự nhiên được Lão Tử đưa lên hàng đầu, nó vốn như thế, mộc  
mạc, không bị nhào nặn gọt giũa bởi con người và nó hoàn toàn độc  
lập với ý muốn. Nó sinh ra vạn vật nhưng không có ý chí không có  
dục vọng và mục đích.  
Đạo là cái vĩnh hằng, có trước trời đất, theo Lão Tử đạo là cái  
vô cực. Đạo sinh ra vạn vật nhưng không cho vạn vật là của mình.  
Nó vô tình “ coi vạn vật như loài chó rơm”[ 26, tr. 54]. Tính khách  
quan của đạo là để mọi vật theo hướng tự nhiên, sinh sinh hóa hóa,  
chẳng cậy, chẳng khoe. Tính tự nhiên của đạo không giống với cách  
hiểu của các nhà duy vật phương Tây là lấy nó đối lập với ý thức mà  
10  
là nó tồn tại nó chứa cả cái tồn tại, cái không tồn tại cái động và tình,  
thay dổi và không thay đổi. Vì thế chúng ta không thể tự nhận định  
được rằng là ôngngười duy vật hay duy tâm.  
Về mặt tướng của đạo, ông cho rằng đạo cơ sở đầu tiên của  
vạn vật không phải là một thể đặc biệt cố định, mà là thực thể của  
khối hỗn độn, không có một tính quy định nào, ngoài tính chất khách  
quan, tự nhiên chất phác. Đạo không bao giờ mất, nó tồn tại đầy  
khắp cả vũ trụ là đầu của trời đất, là mẹ của muôn vật. Nó là một  
thực thể, tồn tại một cách sâu kín sâu kín, mập mờ, không thống nhất  
hòa hợp giữa sáng và tối, không có hình dạng, không nhìn thấy,  
không nghe thấy, không nắm được. Trong chương đầu của Đạo Đức  
kinh ông viết: “Đạo nói được không phải là đạo thường, danh gọi  
được không phải là danh thường”. Ông cũng nói: “ Đạo kín không  
tên” [ 26, tr. 208] nhưng từ xưa đến nay tên của nó không mất, nó là  
đầu của muôn vật. Lão Tử thường lấy nước để diễn đạt các trạng của  
Đạo, ông viết : “dưới trời không có gì mềm yếu trong nước mà công  
phá vật rắn mạnh thì không gì hơn được nó” [ 26, tr. 379]. Nước  
mềm mại không tranh chấp ganh đua, có thể làm vua các dòng nước  
vì khéo biết ở chỗ thấp. Trong đạo không có một ví dụ nào là không  
có hình ảnh của nước, nước len lỏi khắp mọi nơi có thể làm vua vì nó  
biết ở chỗ thấp, trăm dòng rót tới, trở thành biển cả rộng rãi bao trùm  
lên tất cả, chữa đựng tất cả.  
Mặt dụng của đạo chính là công dụng, năng lực của nó. Đạo  
có sức sáng tạo vĩ đại, bao quát, ngự trị trái đất. Nhận được Đạo tắm  
tưới vạn vật hiển thiện ra trong trái đất bằng muôn loài hình dạng  
khác nhau. Cái khoảng giữa trời đất, giống như ống bễ của người thợ  
11  
rèn để diễn đạt năng lực của đạo, từ trong ống bễ, khi vận động vạn  
vật sinh sôi , nảy nở như hơi thoát ra từ ống bể. Tuy đạo bao trùm  
che chở và nuôi dưỡng vạn vật nhưng nó không khoe khoang, ỷ thế  
mà cứ thản nhiên như không làm gì. Ở chương 37 ông nói ‘Đạo  
thường không làm nhưng không gì không làm.” [ 26, tr. 186].Năng  
lực của đạo là ở chỗ không làm, yên tĩnh, nhưng thực ra không có gì  
mà đạo không làm, không có gì mà không cậy đến đạo để phát sinh,  
tồn tai và nuôi dưỡng.  
Phần quý giá trong triết học của Lão Tử đó là phép biện chứng  
chất phác. Ông cho rằng toàn bộ vũ trụ vạn vật do sự chi phối của  
đạo luôn trong quá trình vận động biến hóa không ngừng không nghỉ  
theo ông mọi sự vật hiện tượng trong vũ trụ đều bao hàm hai mặt đối  
lập dựa vào nhau, liên hệ, tương tác lẫn nhau: “thiên hạ đều biết tốt  
là tốt, nên có cái là xấu, đều biết lành là lành nên có cái là chẳng  
lành” [ 26, tr.41].  
Ông đi đến khẳng định, chính sự liên hệ tác động giữa các  
khuynh hướng đã tạo sự biến đổi không ngừng giữa các vũ trụ chúng  
tuân theo một quy luật tất yếu –“Đạo”, ông viết “lưới trời lồng lộng,  
thưa mà khó lọt” [ 26, tr. 361]. Toàn bộ vũ trụ được chi phối bỏi hai  
quy luật quân bình và phản phục. Quân bình là làm cho mọi thứ  
chuyển động, biến hóa trong trạng thái cân bằng. Phản phục là mọi  
sự vật đều phát triển theo chiều hướng đi lên đến độ chín muồi sẽ đối  
lập với chính nó.  
1.2. HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ - MẶT TÍCH CỰC  
VÀ HẠN CHẾ  
1.2.1. Cơ sở triết học của học thuyết vô vi  
12  
* Học thuyết về đạo và bản thể thế giới  
- Theo Lão Tử, Đạo là nguồn gốc của trời đất, là mẹ của vạn  
vật. Nó là cái vĩnh hằng, huyền bí và không thể giải thích được  
không kêu tên đươc.  
- Đạo mang tính khách quan, chất phác, tự nhiên, thuần phác.  
Đạo hoàn toàn độc lập với ý muốn nguyện vọng của con người.  
- Theo Lão Tử vì không biết nguồn gốc vũ trụ tên gì nên tạm  
đặt tên là đạo.  
- Toàn bộ vũ trụ do sự chi phối của đạo luôn trong quá trình  
biến hóa không ngừng, có sự liên hệ tác động của các mặt, khuynh  
hướng đối lập.  
* Đặc tính của đạo và đức  
- Đạo, Đức là hai mặt thể và dụng của Đạo vì đạo là thể của  
đức và đức là dụng của đạo. Đạo Đức với nghĩa là đạo của trời, đức  
của trời, còn đạo đức của con người là vô vi.  
“Đạo sinh ra vạn vật, Đức thì nuôi dưỡng vạn vật..”  
- Không có Đức,Đạo mất cân bằng.  
* Sự vận hành của đạo và đạo pháp tự nhiên  
- Đạo sinh ra nguyên khí, nguyên khí sinh ra khí âm và dương,  
khí âm và dương sinh ra trời, đất, người. Trời, đất, người sinh ra vạn  
vật.  
- Đạo vận động trong hai mặt âm và dương, trong mọi vật đều  
có hai mặt âm và dương, kết hợp hai mặt tạo nên sự hài hòa của vũ  
trụ.  
13  
- Hai mặt âm và dương gắn bó với nhau, làm tiền đề cho nhau,  
có mặt này thì mới có mặt kia.  
- Trong mỗi quan hệ giữa hai mặt đối lập, mặt này tất yếu sinh  
mặt kia khi đã phát triển lên cực điểm.  
1.2.2. Nội dung cơ bản học thuyết vô vi – Mặt tích cực và  
hạn chế  
Vô Vi là học thuyết triết học - đạo đức của người Trung Hoa  
cổ đại đã được Lão Tử phát triển lên thành học thuyết về nghệ thuật  
sống của người trong sự hòa nhập với tự nhiên.  
Vô vi là hoạt động một cách tự nhiên, không làm trái với quy  
luật tự nhiên, không can thiệp vào guồng máy của tự nhiên, không  
hoạt động có tính giả tạo gò ép, không thái quá và bất cập. Ông viết “  
Đạo thường không làm gì mà không gì không làm, bậc hầu  
vươngnếu giữ được đạo, vạn vật sẽ tự mình chuyển hóa… không  
ham muốn để được yên” [26, tr. 186] Nếu can thiệp vào guồng máy  
tự nhiên sẽ mang lại những tai họa: “ năm màu làm cho mờ mắt, năm  
giọnglàm cho điếc tai, năm vịlàm cho miệng chán…” [26, tr. 80].  
Như vậy Lão Tử chủ trương huỷ bỏ mĩ nghệ, nghệ thuật, là nhứng  
sản phẩm của văn minh. Lão tử để cho con người trở về với chất  
phác, không sa đoạ, tranh nhau. “Vô Vi”, không chỉ là sống tự nhiên  
thuần phát, không ham muốn dục vọng mà còn không cần đến tri  
thức, văn hóa, kỹ thuật và cả sự tiến bộ xã hội. Ông nói: “Trí tuệ sinh  
có dối trá ” [26, tr. 106]. Tư tưởng Vô Vi còn chống lại những chuẩn  
mực đạo đức và thể chế pháp luật. Ông coi đó là sự áp đặt, cưỡng  
chế, can thiệp vào bản tính tự nhiên của con người. Còn tất cả những  
14  
cái gọi là nhân, nghĩa, lễ, trí theo Lão Tử chỉ là giả tạo trái với tự  
nhiên.  
Đạt tới Vô Vi có thể làm cho con người tuyệt vời. Họ huôn  
hòa mình vào khoảng không nhưng vẫn biết dành cho người khác.  
Họ biết giảm ánh sáng của mình để tràn vào bóng tối của người khác.  
Họ ngập ngừng như kẻ phải lội qua sông trong mùa đông, lưỡng lự  
như kẻ e ngại người láng giềng, run rẩy như tuyết sắp tan, giản dị  
như miếng gỗ chưa đẽo và bất dạng như nước: “bậc toàn thiện xưa  
tinh tế, nhiệm màu, siêu huyền thông suốt, sâu chẳng khả giò…thận  
trọng như dường qua sông lạnh, do dự giường sợ bốn bên, nghiêm  
kính giường khách lạ, chảy ra giường băng tan, quê mùa giường gỗ  
chưa đẽo gọt, pha lẫn giường như nước đục” [ 26, tr.93]  
Mặt tích cực  
Lão Tử đã nhìn ra quy luật khách quan của vạn vật. Cơ sở đầu  
tiên của vạn vật là khách quan, không có sự quy định nào.  
Phần quý giá nhất trong triết học của Lão Tử là phép biện  
chứng chất phác  
Mọi vật đều có sự liên hệ tác động qua lại.  
Từ đạo ông đưa nâng lên thành nghệ thuật sống của con người  
đó là: Từ ái, khiêm nhường, tri túc, ri chỉ.  
Từ đạo ông đề ra học thuyết vô vi với các vấn đề nhân sinh,  
chính trị , đạo đức hết sức đặc sắc.  
15  
Mặt hạn chế  
Do hạn chế về mặt lịch sử cũng như thời đại cho nên trong  
quan niệm về thế giới vê chính trị xã hội cũng có cái nhìn tiêu cực  
như:  
Quan điểm về nhận thức của Lão Tử mang đậm màu sắc chủ  
nghĩa duy tâm tiên nghiệm, thong qua đạo và chỉ dựa vào đạo không  
cần kiểm nghiệm qua thực tiễn.  
Ông coi thường tri thức, cái mới, khoa học, vì ông cho rằng nó  
có hại với đạo. Ông chủ trương “ dứt thánh bỏ trí”, “ tuyệt học vô  
ưu”, về với đức tính trẻ thơ.  
16  
CHƯƠNG 2  
VẬN DỤNG HỌC THUYẾT VÔ VI CỦA LÃO TỬ VÀO VIỆC  
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC TA HIỆN NAY  
2.1. VAI TRÒ CỦA MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN ĐỐI VỚI SỰ  
TỒN TẠI VÀ PHÁT TRIỂN XÃ HỘI  
Khái niệm môi trường được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau,  
môi trường tự nhiên và vật chất nhân tạo, môi trường xã hội, môi  
trường giáo dục trong phạm vi đề tài người viết đề cập đến môi  
trường tự nhiên và vật chất nhân tạo.  
Môi trường là các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo có quan  
hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người,có ảnh hưởng đến đời  
sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và tự nhiên.  
Môi trường cũng được hiểu là các yếu tố do con người tạo ra,  
gọi là yếu tố vật chất nhân tạo như: công viên, sông đào, kênh đào,  
hồ ao, các công trình thủy lợi, hệ thống đường giao thông, nhà máy,  
khói bụi và chất thải từ nhà máy..  
2.1.1 Vai trò môi trường tự nhiên  
Môi trường tự nhiên, hay còn gọi là môi trường sinh thái là  
điều kiện thường xuyên và tất yếu đối với sự tồn tại và phát triển của  
xã hội. Môi trường có tầm quan trọng đặc biệt đối với đời sống con  
người và sinh vật, đối với sự phát triển kinh tế , văn hóa - xã hội của  
đất nước và của toàn nhân loại. Môi trường trong sạch lành mạnh là  
điều kiện vô cùng cần thiết cho sức khỏe, cho việc duy trì và phát  
triển nòi giống con người và sinh vật. Môi trường được giữ gìn, tạo  
17  
ra những tiền đề vật chất cần thiết, an toàn cho sự phát triển các  
nghành sản xuất kinh doanh, giúp cho việc phát triển kinh tế - xã hội  
của đất nước.  
Môi trường là nơi sinh sống và hoạt động của con người, nơi  
tồn tại của xã hội. Trong lich sử, con người đã sử dụng những nguồn  
năng lượng khác nhau, thời kì đầu sử dụng sức gió, sức nước, sau là  
sức hơi nước, điện năng lượng của các quá trình hóa học, vật lý… Có  
thể nói rằng con người không thể tìm ở đâu những thứ cần thiết cho  
sự tồn tại của mình ngoài giới tự nhiên. Những trình độ khác nhau,  
mức độ ảnh hưởng của tự nhiên đối với xã hội cũng khác nhau. Ở  
trình độ mông muội con người chỉ biết hái lượm những thứ có sẵn  
trong tự nhiên, hầu như họ bị tự nhiên thống trị, cuộc sống của họ  
phụ thuộc vào tự nhiên. Ở trình độ văn minh cao hơn, nhất là khi  
khoa học kĩ thuật phát triển thì con người đã từng bước chế ngự được  
tự nhiên, biết khai thác tự nhiên, phục vụ cho nhu cầu của mình.  
2.1.2 Vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường ở nước ta  
hiện nay  
Nước ta đang trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện  
đại hóa. Xuất phát điểm nước ta đi lên thấp, thu nhập bình quân đầu  
người vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới. Trong khi  
đó tài nguyên thiên nhiên và môi trường đã biểu hiện sự suy thoái, có  
những yếu tố biểu hiện sự cạn kiệt. Ô nhiễm môi trường tự nhiên và  
môi trường xã hội đã xuất hiện ở đô thị, khu công nghiệp và khu  
đông dân cư.  
Ở nước ta như đã nói ở trên trong thời kì chiến tranh môi  
trường tự nhiên đã bị phá hoại nghiêm trọng, cộng với sự phát triển  
18  
của xã hội với sự phát triển của khoa học công nghệ trong những  
năm qua môi trường nước ta vẫn chưa được bảo vệ đúng mức.  
Một số khu công nghiệp có xây dựng hệ thống xử lý nước thải  
tập trung nhưng hầu như không vận hành vì để giảm chi phí. Đến  
nay, mới có 60 khu công nghiệp đã hoạt động có trạm xử lý nước  
thải tập trung (chiếm 42% số khu công nghiệp đã vận hành) và 20  
khu công nghiệp đang xây dựng trạm xử lý nước thải(3). Bình quân  
mỗi ngày, các khu, cụm, điểm công nghiệp thải ra khoảng 30.000 tấn  
chất thải rắn, lỏng, khí và chất thải độc hại khác)  
Tình trạng ô nhiễm không khí, chủ yếu là do nhiên liệu sử  
dụng trong các làng nghề là than, lượng bụi và khí CO, CO2, SO2thải  
ra trong quá trình sản xuất khá cao. Không gian nông thôn ngày càng  
bị thu hẹp do đất bị chiếm dụng để xây dựng cơ sở sản xuất, chứa  
nguyên vật liệu, chất đốt, sản phẩm và nhất là chất thải đủ các loại...  
Theo điều tra lập bản đồ làng nghề thủ công toàn quốc của tổ chức  
JICA (Nhật Bản) phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông  
thôn, Việt Nam có 2.017 làng nghề, thu hút khoảng 11 triệu lao  
động. Các làng nghề được phân bố rộng khắp cả nước, trong đó các  
khu vực tập trung phát triển nhất là Đồng bằng sông Hồng, Bắc  
Trung Bộ, Tây Bắc Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long. Riêng ở Đồng  
bằng sông Hồng có 866 làng nghề, chiếm 42,9% cả nước. Do sản  
xuất vẫn mang tính tự phát ở từng địa phương, không có kế hoạch,  
lại thiếu một cơ chế quản lý, giám sát của các cơ quan chức năng của  
Nhà nước, nên các làng nghề đang phải đối mặt với những thách  
thức lớn về môi trường.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 26 trang yennguyen 12960 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận văn Học thuyết vô vi của Lão Tử và vấn đề giáo dục ý thức bảo vệ môi trường nước ta hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_van_hoc_thuyet_vo_vi_cua_lao_tu_va_van_de_giao.pdf