Tóm tắt Luận án Phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các DNNVV của ngành sản xuất thức chăn nuôi Việt Nam

Bé gi¸o dôc vµ ®µo t¹o  
Tr−êng ®¹i häc kinh tÕ quèc d©n  
‹
NGUYÔN THÞ ANH TR¢M  
PH¸T TRIÓN NGUåN C¸N Bé QU¶N Lý  
TRONG C¸C DOANH NGHIÖP NHá Vµ VõA CñA  
NGµNH S¶N XUÊT THøC ¡N CH¡N NU¤I VIÖT NAM  
Chuyªn ngµnh: qu¶n trÞ nh©n lùc  
M· sè: 62340404  
Hµ néi, n¨m 2014  
CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN  
Ng−êi h−íng dÉn khoa häc:  
PGS.TS. trÇn xu©n cÇu  
PGS.TS. PHẠM THÚY HƯƠNG  
Phản biện 1:  
pgs.ts. Ph¹m quý thä  
Phản biện 2:  
ts. NguyÔn quang huÒ  
Phản biện 3:  
pgs.ts. nguyÔn tiÖp  
Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án  
cấp trường tại Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội  
Vào hồi 16 giờ 00 ngày 16 tháng 06 năm 2014.  
Có thể tìm hiểu Luận án tại:  
Thư viện Quốc gia  
Thư viện trường Đại học Kinh tế Quốc dân  
1
MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
Theo số liệu thống kê của hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, hiện nay  
cả nước có 241 doanh nghiệp (DN) sản xuất thức ăn chăn nuôi rải đều khắp  
các tỉnh, thành phố. Khó khăn của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV)  
trong nước được đánh giá là yếu hơn, khó cạnh tranh được với các DN lớn  
nước ngoài trên ba phương diện: Năng lực quản lý, chính sách hậu mãi và  
chiến lược đầu vào. Điều đó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của cán bộ  
quản lý (CBQL). Trên thực tế các DN này chủ yếu hoạt động một cách độc  
lập, manh mún, tiềm lực kinh tế còn nhiều hạn chế. Nguồn CBQL (bao gồm  
cả ba cấp: quản lý cấp cao, cấp trung và cấp cơ sở) của các DNNVV có trình  
độ đại học chiếm khoảng 80% nhưng chủ yếu là chuyên ngành kỹ thuật,  
chuyên ngành kinh tế còn hạn chế nhất là các kỹ năng quản lý, điều hành còn  
yếu kém, không được đào tạo bài bản. Do vậy các DNNVV ngành sản xuất  
thức ăn chăn nuôi có thể tồn tại, phát triển bền vững và cạnh tranh được trong  
quá trình hội nhập kinh tế là một thách thức vô cùng to lớn.  
Thiếu hụt nguồn nhân lực (NNL), đặc biệt nguồn CBQL đang là thách thức  
lớn đối với các DNNVV. Vì vậy tác giả chọn đề tài "Phát triển nguồn CBQL  
trong các DNNVV của ngành sản xuất thức chăn nuôi Việt Nam” làm luận án  
nghiên cứu tiến sĩ của mình.  
2. Mục đích nghiên cứu  
Hệ thống hóa lý luận về phát triển NNL, phát triển nguồn CBQL trong  
các DN; Tìm hiểu nội dung phát triển nguồn CBQL và phân tích những nhân  
tố chính ảnh hưởng đến phát triển nguồn CBQL trong các DNNVV của  
ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam; Giúp các DNNVV đưa ra các  
giải pháp về phát triển nguồn CBQL đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành  
sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam đến năm 2020.  
Nhiệm vụ nghiên cứu sẽ trả lời các câu hỏi nghiên cứu:  
- Nguồn cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất  
thức ăn chăn nuôi Việt nam hiện nay được đánh giá như thế nào về số lượng,  
chất lượng và cơ cấu nguồn?  
- Hiện nay các doanh nghiệp nhỏ và vừa đã thực hiện những hoạt động  
2
nào để phát triển nguồn cán bộ quản lý? Thành công và hạn chế của những  
hoạt động đó?  
- Những nhân tố nào ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động phát triển  
nguồn cán bộ quản lý trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa?  
- Định hướng và giải pháp phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các  
doanh nghiệp nhỏ và vừa sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt nam đến năm 2020  
là gì?  
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu  
- Đối tượng nghiên cứu: Phát triển nguồn CBQL trong DNNVV của  
ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam.  
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu các DNNVV của  
ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam.  
- Giới hạn nghiên cứu: Luận án chỉ nghiên cứu các loại hình DN là DN tư  
nhân, công ty TNHH, công ty liên danh, công ty cổ phần không có vốn nhà  
nước, không nghiên cứu các DN có vốn nhà nước, DN nước ngoài, liên doanh.  
Phát triển nguồn CBQL trong DNNVV là phát triển những CBQL hiện có  
trong DN, không thu hút, tuyển dụng từ bên ngoài. Đối tượng phát triển nguồn  
CBQL là CBQL thực hiện những chức năng quản lý nhất định trong bộ máy  
DNNVV của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam bao gồm CBQL cấp  
cao (giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng), CBQL cấp trung gian (cấp phó  
phòng trở lên), CBQL cấp cơ sở (quản đốc, tổ trưởng sản xuất).  
Như vậy hoạt động phát triển nguồn cán bộ quản lý trong DNNVV là phát  
triển những cán bộ quản lý hiện có trong DN. Hoạt động phát triển sẽ bao gồm  
3 nội dung: Kế hoạch hóa nguồn cán bộ quản lý; Đào tạo nguồn cán bộ quản lý;  
Phát triển cá nhân và đề bạt cán bộ quản lý; sẽ không có hoạt động thu hút,  
tuyển dụng cán bộ quản lý từ bên ngoài.  
- Giới hạn về thời gian nghiên cứu: nghiên cứu thực trạng từ năm 2005  
– 2012. Thời kỳ lựa chọn để nghiên cứu đưa ra định hướng, mục tiêu và các  
giải pháp phát triển nguồn cán bộ quản lý cho các DNNVV của ngành sản  
xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam là giai đoạn từ 2014 – 2020.  
4. Tổng quan nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và nguồn cán bộ  
quản lý  
3
Từ khi thuật ngữ phát triển NNL được sử dụng, có ít nhất hai phương  
pháp chính đã được phát triển liên quan đến việc hiện thực hóa phát triển  
NNL trong lý thuyết tổ chức:  
- Các nhà nghiên cứu Anh theo phương pháp học tập và phát triển mô  
hình, trong đó tập trung vào các vấn đề tăng cường đào tạo và phát triển.  
- Các nhà nghiên cứu Mỹ đã nhấn mạnh mô hình hiệu suất kết quả, trong  
đó tập trung vào phát triển nhân viên để tăng cường và cải thiện hiệu quả công  
việc. Hầu hết các phương pháp tiếp cận của Mỹ đều thông qua phát triển lý  
thuyết tổ chức và nhấn mạnh về phát triển huấn luyện, tư vấn và lãnh đạo.  
Jason Cope, năm 2000 đã tìm hiểu quá trình học tập của các doanh nhân liên  
quan đến các quá trình song song của phát triển cá nhân và kinh doanh.  
Nghiên cứu này làm nổi bật sự cần thiết phải tư vấn các chương trình hỗ trợ  
giúp các doanh nhân tăng hiệu quả của kết quả học tập. Một số nghiên cứu  
khác đã đề cập tới cách học của chủ DN (David Rae, năm 2000), đào tạo và  
phát triển cho chủ DN (Douglas D. Durand).  
Janice Jones, năm 2004 khi nghiên cứu về đào tạo và phát triển và sự  
phát triển DN trong các DNNVV ở Úc đã phân tích cho thấy sự khác biệt rất  
quan trọng trong đào tạo quản lý và trình độ chuyên môn. Thay đổi phương  
pháp đào tạo sao cho phù hợp với sự phát triển DNNVV. David Devins và  
Steven Johnson, năm 2003 nghiên cứu hoạt động đào tạo và phát triển trong  
DNNVV ở Anh, hỗ trợ phát triển NNL và các giải pháp can thiệp vào hoạt  
động đào tạo và phát triển trong các DNNVV.  
Trong những năm gần đây đã có một số đề tài nghiên cứu khoa học cấp  
Bộ, luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu về doanh nhân Việt nam,  
năng lực quản lý, đào tạo và phát triển đội ngũ CBQL trong các tổ chức, DN.  
Các nghiên cứu đó chủ yếu đi vào phân tích và đánh giá thực trạng về đào tạo  
và phát triển đội ngũ cán bộ lao động quản lý, cán bộ chuyên môn nghiệp vụ  
hoặc giảng viên trong các tổ chức, DN hoặc các cơ sở đào tạo. Đây là một  
trong những hoạt động rất quan trọng của tổ chức, DN để nâng cao năng lực  
đội ngũ CBQL, chuyên môn nghiệp vụ của mình.  
Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã hệ thống hóa các lý luận về đào  
tạo và phát triển NNL nói chung và nguồn CBQL nói riêng. Tuy nhiên, các  
nghiên cứu chủ yếu đánh giá thực trạng đào tạo và đưa ra các giải pháp để  
nâng cao chất lượng lực lượng lao động quản lý cũng như lao động kỹ thuật  
4
trong một ngành nhất định, hoặc kiến nghị các chính sách quản lý vĩ mô. Các  
nghiên cứu trên chưa xem xét đưa ra các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh  
hưởng đến phát triển nguồn CBQL trong DN và mức độ ảnh hưởng của các  
yếu tố đó.  
5. Phương pháp nghiên cứu  
Quy trình nghiên cứu được mô hình hóa qua sơ đồ sau:  
Tổng quan các công trình  
nghiên cứu  
Hệ thống hóa lý thuyết  
Thiết kế bảng hỏi để  
phỏng vấn  
Các hoạt động thực hiện phát  
triển nguồn CBQL hiện nay  
trong các DNNVV  
- Kế hoạch hóa nguồn CBQL  
- Đào tạo CBQL  
Các nhân tố ảnh hưởng  
- Chính sách vĩ mô  
- Chiến lược và kế hoạch  
SXKD  
- Quan điểm của lãnh đạo  
- Khả năng tài chính  
Làm rõ các nguyên  
nhân kìm hãm phát  
triển nguồn CBQL  
- Phát triển cá nhân CBQL  
- Đề bạt CBQL  
Đưa ra các giải  
pháp phát triển  
nguồn CBQL  
Làm rõ những hạn chế  
trong thực hiện phát  
triển nguồn CBQL  
Khảo sát về số  
lượng nguồn CBQL  
hiện có  
Thực trạng nguồn  
CBQL trong các  
DNNVV  
Làm rõ yêu cầu  
về  
- Số lượng  
CBQL  
- Năng lực thực  
hiện công việc  
của CBQL  
- Cơ cấu nguồn  
CBQL  
Nội dung phát  
triển nguồn  
CBQL:  
- Về số lượng  
- Về chất  
Khảo sát về chất  
lượng nguồn CBQL  
hiện có  
lượng  
- Về cơ cấu  
Khảo sát về cơ cấu  
nguồn CBQL hiện có  
Sơ đồ 0.1 Quy trình nghiên cứu  
Theo đó, nghiên cứu sử dụng chủ yếu các nhóm phương pháp:  
(1) Các phương pháp thu thập thông tin:  
5
- Thu thập thông tin từ các tài liệu thứ cấp: Những vấn đề lý luận đã  
được đúc rút trong sách giáo khoa chuyên ngành trong nước và quốc tế; Các  
số liệu thông kê đã được xuất bản, các báo cáo tổng hợp từ các tổ chức, cơ  
quan quản lý có liên quan; Kết quả các nghiên cứu trước đây được công bố  
trên các tạp chí khoa học trong nước và quốc tế.  
- Thu thập thông tin sơ cấp bằng phương pháp nghiên cứu định tính và  
nghiên cứu định lượng. Phương pháp nghiên cứu định tính được sử dụng  
trong giai đoạn nghiên cứu khám phá: thảo luận với một số chủ doanh nghiệp  
và các cán bộ quản lý của doanh nghiệp để khám phá, điều chỉnh, bổ sung  
các biến quan sát, xây dựng thang đo sơ bộ về các nhân tố ảnh hưởng đến  
phát triển nguồn cán bộ quản lý và thực trạng phát triển nguồn cán bộ quản  
lý. Phương pháp này được thực hiện thông qua phỏng vấn sâu theo một nội  
dung được chuẩn bị trước. Phương pháp nghiên cứu định lượng được sử  
dụng để thu thập dữ liệu bằng bảng câu hỏi thông qua khảo sát một số (theo  
mẫu chọn ngẫu nhiên n = 75) chủ/giám đốc và cán bộ quản lý của DNNVV  
chủ yếu ở Hà nội, Hưng Yên, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương... bằng bảng  
câu hỏi chi tiết.  
(2) Các phương pháp tổng hợp, xử lý, trình bày thông tin và kết  
quả nghiên cứu  
Dữ liệu thu thập được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0. Dữ  
liệu sau khi được mã hóa và làm sạch sẽ tiến hành phân tích thông qua các  
bước sau:  
- Đánh giá sơ bộ độ tin cậy của thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach  
Alpha thông qua phần mềm phân tích và xử lý số liệu SPSS 13.0. Lee  
Cronbach (1916 – 2001) đề nghị một hệ số đo độ tin cậy của dữ liệu định  
lượng trong các cuộc khảo sát trên cơ sở ước lượng tỷ lệ thay đổi của mỗi  
biến mà các biến khác không giải thích được (không thể hiện trong các biến  
khác). Hệ số này được mang tên ông và gọi là Hệ số Cronbach’s Alpha (α).  
Đây là một độ đo, không phải là một mô hình dùng để kiểm định, vì vậy  
zgười ta thống nhất một mức giá trị mà khi α vượt qua mức này thì có thể  
cho rằng số liệu là đáng tin cậy. Trong ứng dụng, mức α chấp nhận được là  
0,6 - 0,7 đối với số liệu kinh tế xã hội, giá trị xấp xỉ 0,8 được coi là rất tốt  
(Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008). Vì vậy, đối với luận án này  
thì Cronbach’s Alpha từ 0,6 trở lên là chấp nhận được.  
6
- Phương pháp phân tích thống kê mô tả, thống kê phân tích để đánh  
giá các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn cán bộ quản lý và thực trạng  
hoạt động phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các DNNVV của ngành sản  
xuất thức ăn chăn nuôi.  
(3) Các phương pháp phân tích, đánh giá, dự báo và quyết định.  
Phương pháp hệ thống hóa, tổng quát hóa được sử dụng để tổng kết  
các lý thuyết, các nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và nguồn cán bộ  
quản lý; các kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực và nguồn cán bộ quản lý  
của các nước trên thế giới; đặc điểm và tình hình phát triển của các DNNVV  
trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam; đánh giá tình hình thực  
hiện phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các DNNVV của ngành sản xuất  
thức ăn chăn nuôi Việt Nam; đồng thời dự báo điều kiện và hoạch định các  
giải pháp phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các DNNVV giai đoạn 2014  
– 2020.  
6. Những đóng góp của luận án  
™Về lý luận  
- Luận án đã tổng hợp những vấn đề lý luận liên quan đến phát triển  
NNL, nguồn CBQL nói chung và phát triển nguồn CBQL trong DNNVV nói  
riêng. Luận án đưa ra quan điểm riêng về nội dung và các hoạt động phát  
triển nguồn CBQL trong DN: phát triển nguồn CBQL không chỉ là tập trung  
vào đào tạo mà còn các hoạt động quan trọng khác, đó là kế hoạch hóa nguồn  
CBQL (đánh giá thực trạng nguồn CBQL, dự báo nguồn CBQL); phát triển  
cá nhân và đề bạt CBQL.  
- Luận án đã nghiên cứu và tìm hiểu được kinh nghiệm quốc tế về vấn đề  
phát triển nguồn CBQL trong DNNVV và rút ra những bài học kinh nghiệm  
cho các DNNVV Việt Nam.  
™ Về thực tiễn  
- Phát triển nguồn CBQL trong các DNNVV là nội dung nghiên cứu mới  
đối với các DNNVV của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam. Kết quả  
nghiên cứu đã chỉ ra những mặt hạn chế trong hoạt động phát triển nguồn  
CBQL: (i) Chưa có bộ phận chuyên trách về phát triển NNL nói chung và  
nguồn CBQL nói riêng; (ii) Chưa xây dựng kế hoạch phát triển nguồn CBQL  
trong ngắn hạn và dài hạn; (iii) Chưa có sự phối hợp với các cơ sở đào tạo bên  
7
ngoài DN; (iv) Chưa có kế hoạch phát triển cá nhân CBQL; (v) Chính sách đề  
bạt CBQL chưa có tiêu chuẩn, quy trình rõ ràng, cụ thể.  
- Đề xuất các nhóm giải pháp về phát triển nguồn CBQL trong đó giải  
pháp mới trọng tâm vào nâng cao năng lực nguồn CBQL cho từng cấp cụ thể  
do năng lực CBQL các cấp yêu cầu khác nhau. Đào tạo sẽ đóng vai trò quan  
trọng trong giải pháp này.  
7. Kết cấu của luận án  
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục, luận án  
gồm 3 chương. Chương 1. Cơ sở lý luận về phát triển nguồn cán bộ quản lý;  
Chương 2. Thực trạng phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các DNNVV  
của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt nam; Chương 3. Giải pháp và kiến  
nghị.  
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN  
NGUỒN CÁN BỘ QUẢN LÝ  
1.1. Các khái niệm  
1.1.1. Nguồn nhân lực: NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người  
lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của  
mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực.  
1.1.2. Nguồn cán bộ quản lý: Trong phạm vi nghiên cứu của luận án này thì  
nguồn CBQL được hiểu là sự gắn kết chặt chẽ giữa những người thực hiện  
những chức năng quản lý nhất định trong bộ máy DNNVV của ngành SN  
TACN Việt Nam, bao gồm CBQL cấp cao (giám đốc, phó giám đốc, kế toán  
trưởng), CBQL cấp trung gian (cấp phó phòng trở lên), CBQL cấp cơ sở  
(quản đốc) để phát huy tối đa khả năng về nguồn lực con người phục vụ cho  
mục tiêu phát triển của DN.  
1.1.3. Phát triển nguồn nhân lực: là quá trình tăng lên về số lượng (quy mô)  
NNL và nâng cao về mặt chất lượng NNL, tạo ra cơ cấu NNL ngày càng hợp  
lý. Cả ba mặt số lượng, chất lượng và cơ cấu trong phát triển NNL gắn chặt  
với nhau, trong đó yếu tố quyết định nhất của phát triển là chất lượng NNL  
phải được nâng cao.  
1.1.4. Phát triển nguồn cán bộ quản lý: Phát triển nguồn CBQL là một hoạt  
động của phát triển NNL. Phát triển nguồn CBQL là phát triển sao cho đảm  
8
bảo số lượng CBQL, nâng cao chất lượng CBQL nhằm giúp họ hoàn thành  
tốt vai trò, nhiệm vụ của người quản lý.  
1.2. Nội dung và các hoạt động chủ yếu phát triển nguồn CBQL  
1.2.1. Nội dung phát triển nguồn CBQL  
1.2.1.1. Về phát triển số lượng  
Đánh giá về số lượng đề cập tới vấn đề hiện tại có bao nhiêu người và sẽ  
có bao nhiêu nữa trong tương lai. Số lượng phản ánh quy mô nguồn CQBL  
trong một DN được xem xét gắn liền với cơ cấu nguồn CBQL.  
1.2.1.2. Về phát triển chất lượng  
Chất lượng nguồn CBQL được đánh giá thông qua năng lực thực hiện,  
thể hiện qua trình độ chuyên môn, kỹ năng quản lý, phẩm chất, sức khỏe…của  
CBQL. Đánh giá chất lượng nguồn CBQL là một yêu cầu quan trọng để phân  
tích, đánh giá nhu cầu nâng cao năng lực của từng vị trí công tác đáp ứng mục  
tiêu phát triển của DN. Nâng cao chất lượng nguồn CBQL cũng chính là phát  
triển nguồn CBQL về mặt chất lượng.  
1.2.1.3. Cơ cấu nguồn cán bộ quản lý  
Cơ cấu nguồn CBQL thể hiện trên các phương diện khác nhau như: cơ  
cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi... Cơ cấu nguồn CBQL phản ánh mối  
quan hệ giữa các bộ phận trong tổng thể NNL của DN. Cơ cấu quan trọng nhất  
phản ánh chất lượng tổng thể nguồn CBQL trong DN là cơ cấu theo lĩnh vực  
hoạt động, theo trình độ chuyên môn, năng lực theo vị trí công tác.  
1.2.2. Các hoạt động chủ yếu phát triển nguồn cán bộ quản lý  
1.2.2.1. Kế hoạch hóa nguồn CBQL  
Kế hoạch hóa NNL là quá trình đánh giá, xác định nhu cầu NNL để đáp  
ứng mục tiêu công việc của tổ chức và xây dựng các kế hoạch lao động để đáp  
ứng được các nhu cầu đó. Thực chất của kế hoạch hóa NNL nói chung và kế  
hoạch hóa nguồn CBQL nói riêng là lập kế hoạch nguồn CBQL ngắn hạn, trung  
hạn và dài hạn cho DN. Kế hoạch hóa nguồn CBQL sẽ dự báo nhu cầu nguồn  
CBQL, sẽ là cơ sở định hướng phát triển nguồn CBQL của DN.  
9
1.2.2.2. Đào tạo nguồn CBQL  
Để hoạt động đào tạo nguồn CBQL có hiệu quả thì DN cần phải xây  
dựng được chương trình đào tạo theo cách tiếp cận hệ thống gồm 3 giai đoạn:  
Xác định nhu cầu đào tạo, Thực hiện đào tạo, Đánh giá đào tạo.  
Xác định nhu cầu đào tạo liên quan đến phân tích tổ chức, phân tích  
công việc và phân tích cá nhân. Sau khi xác định được nhu cầu đào tạo, việc  
tổ chức thực hiện đào tạo rất quan trọng. Điều này được hoàn tất bằng cách  
lựa chọn đúng đối tượng cần đào tạo, phương pháp đào tạo, phương tiện đào  
tạo, đội ngũ giáo viên phù hợp và tạo các điều kiện cần thiết để họ tham gia  
đào tạo có hiệu quả. Hoạt động đào tạo cũng cần được đánh giá để xem kết  
quả thu được là gì và rút ra bài học kinh nghiệm cho những lần tiếp theo.  
1.2.2.3. Phát triển cá nhân và đề bạt cán bộ quản lý  
- Phát triển cá nhân CBQL là một thuật ngữ mô tả kinh nghiệm đào tạo,  
thực hành công việc, các mối quan hệ cố vấn giúp CBQL tiến bộ.  
- Đề bạt CBQL: Đề bạt (thăng tiến) là việc đưa người lao động vào một vị trí  
làm việc có tiền lương cao hơn, có uy tín và trách nhiệm lớn hơn, có các điều  
kiện làm việc tốt hơn và có các cơ hội phát triển nhiều hơn.  
1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn cán bộ quản lý trong DNNVV  
1.3.1. Chính sách vĩ mô: Bất kỳ một DN, tổ chức nào hoạt động trong nền  
kinh tế quốc dân đều phải tuân theo các luật lệ và chính sách của Nhà nước  
đó như luật lao động, luật đầu tư… Do đó đào tạo và phát triển NNL nói  
chung và nguồn CBQL nói riêng cũng phải tuân thủ các quy định này.  
1.3.2. Chiến lược sản xuất kinh doanh: chiến lược SXKD của DN có tác  
động không nhỏ tới phát triển nguồn CBQL, là cơ sở để hoạch định phương  
hướng phát triển nguồn CBQL về số lượng, cơ cấu, yêu cầu năng lực và đề  
xuất những giải pháp thực hiện trong từng giai đoạn của DN. Ngoài ra chiến  
lược SXKD còn ảnh hưởng tới phát triển nguồn CBQL thông qua các yếu tố  
khác như cơ cấu tổ chức SXKD, đặc điểm và quy mô hoạt động của DN.  
1.3.3. Mô hình và cơ cấu tổ chức: Mô hình và cơ cấu tổ chức ảnh hưởng  
đến công tác phát triển nguồn CBQL thể hiện ở hai nội dung chủ yếu: Thứ  
nhất, mô hình và cơ cấu tổ chức SXKD quyết định cơ cấu tổ chức quản lý và  
thực hiện phát triển nguồn CBQL. Thứ hai, mô hình và cơ cấu tổ chức SXKD  
quyết định cơ cấu nguồn CBQL cần phù hợp với cơ cấu hoạt động SXKD ở  
từng thời kỳ.  
10  
1.3.4. Quan điểm của lãnh đạo DN về phát triển nguồn CBQL: Nếu quan  
điểm của lãnh đạo là dùng đào tạo, phát triển làm biện pháp nâng cao chất  
lượng nguồn CBQL thì hoạt động đào tạo, phát triển của DN đó sẽ được chú  
trọng và tổ chức rộng rãi. Quan điểm của lãnh đạo bao giờ cũng là yếu tố tác  
động lớn nhất đến các hoạt động của DN, sẽ quyết định đầu tư phát triển vào  
hoạt động nào của DN để đạt được mục tiêu của DN.  
1.3.5. Chính sách quản lý nguồn nhân lực của doanh nghiệp  
Các chính sách NNL trong DN thể hiện tính đặc thù của DN và rất  
khác nhau. Các chính sách phụ thuộc vào ngành hoạt động, phụ thuộc vào  
quy mô, đặc điểm và tính chất của DN, phụ thuộc vào trình độ, năng lực và  
quan điểm của cán bộ lãnh đạo. Sau đây là một số các chính sách quản lý  
NNL quan trọng nhất của DN: Chính sách thu hút NNL; Chế độ bố trí, sử  
dụng NNL; Chế độ đào tạo và đào tạo lại; Chế độ đãi ngộ.  
1.3.6. Trình độ khoa học công nghệ:  
Trước sự thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ thì hoạt động  
phát triển nguồn CBQL càng được chú trọng vì CBQL cần được cung cấp  
những kiến thức, kỹ năng mới để có thể sử dụng được những thiết bị mới được  
đưa vào sản xuất. Để quản lý và điều hành được đội ngũ lao động có trình độ  
chuyên môn cao, dây truyền sản xuất hiện đại thì người quản lý cần được đào  
tạo và phát triển để có đủ năng lực của nhà quản lý trong thời kỳ mới.  
1.3.7. Văn hoá của DN: Dưới góc độ môi trường làm việc trong phát triển  
nguồn CBQL, văn hóa DN được phân tích trên các tiêu chí cơ bản: Tác  
phong làm việc, phong cách lãnh đạo, quan hệ giữa các nhân viên và đặc  
điểm nhân viên. Phương thức quản lý sẽ chú trọng nhiều hơn đến tính nhân  
văn, một phương thức có khả năng kích thích tính tự chủ, sáng tạo. Nếu DN  
coi trọng sự phấn đấu của các cá nhân trong DN thì hiển nhiên sẽ ảnh hưởng  
đến hoạt động phát triển nguồn CBQL.  
1.3.8. Khả năng tài chính: Khả năng tài chính của DN cũng ảnh hưởng rất  
lớn đến thực hiện hoạt động đào tạo trong DN. Vì khả năng tài chính hạn chế  
mà nhiều DN chỉ có thể tự đào tạo trong nội bộ DN, không thể cử người đi  
đào tạo tại các cơ sở đào tạo có uy tín.  
1.4 Ý nghĩa của phát triển nguồn CBQL trong các DNNVV  
1.4.1. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV): là cơ sở kinh doanh đã đăng ký  
kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,  
vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản  
11  
được xác định trong bảng cân đối kế toán của DN) hoặc số lao động bình  
quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).  
1.4.2. Sự cần thiết của phát triển nguồn CBQL trong các DNNVV  
Phát triển NNL nói chung và CBQL nói riêng là điều kiện quan trọng  
để DN tồn tại và phát triển bền vững vì ba lý do chủ yếu: Đáp ứng yêu cầu  
công việc của tổ chức; Đáp ứng nhu cầu học tập, phát triển của CBQL; Là  
những giải pháp có tính chiến lược tạo ra lợi thế cạnh tranh của DN.  
1.5. Kinh nghiệm phát triển nguồn CBQL trong các DNNVV của các  
nước trên thế giới  
1.5.1. Kinh nghiệm phát triển NNL và nguồn CBQL của Nhật Bản  
Có thể khẳng định sự thành công của Nhật Bản chính nhờ vào mô hình  
quản lý NNL. Mô hình này đã cho phép các nhà quản lý có thể thực hiện  
được mục tiêu đồng thuận quan điểm và phân chia lợi ích giữa công ty và cá  
nhân. Triết lý “Cả nước Nhật Bản là một công ty, công ty như gia đình” đã  
tạo ra một sức mạnh lớn trong quá trình phát triển xã hội.  
1.5.2. Kinh nghiệm phát triển nguồn CBQL của các nước trong khối ASEAN  
Các nước Malaysia, Singapo, Thái Lan đều có các hoạt động bồi dưỡng  
phát triển NNL và CBQL đã đạt đến mức hài hòa với cuộc sống và môi  
trường làm việc không ngừng được cải thiện cho từng nhân viên; chú trọng  
phát triển các hiệp hội chuyên ngành...  
1.5.3. Những bài học vận dụng cho Việt Nam  
Qua nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn CBQL của các nước trên  
thế giới như Nhật Bản và các nước trong khối ASEAN (Singapo, Thái Lan),  
các bài học vận dụng cho phát triển nguồn CBQL trong các DNNVV là:  
đánh giá nguồn CBQL hiện có, cần xây dựng và công bố chiến lược, các  
chính sách phát triển nguồn CBQL, cần chú trọng công tác bồi dưỡng  
thường xuyên với các hình thức khác nhau và tổ chức bộ máy quản lý một  
cách có hệ thống, chặt chẽ.  
12  
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN CÁN BỘ  
QUẢN LÝ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA CỦA  
NGÀNH SẢN XUẤT THỨC ĂN CHĂN NUÔI VIỆT NAM  
2.1. Tổng quan về ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam  
2.1.1. Sự phát triển của ngành sản xuất TACN Việt Nam qua các giai đoạn  
Kể từ những năm 90, ngành công nghiệp SX TACN Việt Nam đã phát  
triển nhanh chóng cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi. Tốc độ tăng  
trưởng trung bình trong tổng sản lượng TACN có xu hướng tăng từ năm  
2000, đạt trung bình khoảng 13,5% từ năm 2000 đến năm 2011. Trong giai  
đoạn 2001-2006, tốc độ chăn nuôi tăng trung bình là 8,5% và hiện chiếm  
khoảng 25% tổng giá trị nông nghiệp. Nhờ các chính sách đổi mới của Chính  
phủ Việt Nam cũng như khuyến khích đầu tư trong nước và nước ngoài, các  
công ty SX TACN đa quốc gia như Cargill, CP, Proconco và Japfa đã bắt đầu  
hoạt động tại Việt Nam.  
2.1.2. Tình hình phát triển các DNNVV của ngành sản xuất thức ăn chăn  
nuôi Việt Nam  
Theo số liệu thống kê, hiện cả nước có 241 DN chế biến TACN (16,2%  
của nước ngoài, 6,4% liên doanh và 77,4% trong nước). Phân bố các DN SX  
TACN tập trung chủ yếu tại vùng đồng bằng Sông Hồng, có 106 DN, chiếm  
trên 44% và Đông Nam Bộ có 67 DN chiếm 28%. Chính phủ Việt Nam  
khuyến khích các DN đầu tư vào ngành SX TACN trong nước nên số lượng  
các DN tham gia vào ngày càng nhiều, trong đó khoảng 20 -25 DN đã xây  
dựng được thương hiệu riêng, số tiền đầu tư từ 2-3 triệu USD. Khoảng 30 DN  
đầu tư trên 10 tỷ đồng, còn lại là các xưởng sản xuất nhỏ, mỗi tháng sản xuất  
từ 100-300 tấn TACN  
2.1.3. Đóng góp của các DNNVV của ngành SX TACN Việt Nam  
- Tạo việc làm cho người lao động  
- Đóng góp vào việc tăng trưởng kinh tế  
- Bảo đảm cho nền kinh tế năng động hơn  
- Tăng thu nhập cho dân cư  
- Góp phần thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế  
- Góp phần đào tạo doanh nhân  
13  
2.1.4. Đặc điểm các DNNVV trong ngành SX TACN Việt Nam  
- Quy mô vốn và lao động nhỏ  
- Trình độ công nghệ thấp  
- Trình độ học vấn của chủ DN, CBQL DNNVV còn thấp  
- Năng lực của chủ DN, đội ngũ CBQL còn yếu  
- Trình độ, năng lực của đội ngũ nhân viên thấp hơn trình độ học vấn của  
các loại hình DN khác do đặc thù công nghệ của DNNVV  
- Mức độ tiếp cận thông tin: theo các DN thì họ vẫn rất thiếu thông tin và  
các số liệu đăng tải trên tạp chí thường là không cập nhật, đặc biệt các thông  
tin về giá.  
2.1.5. Cơ hội và thách thức của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt  
Nam đến năm 2020  
- Cơ hội thị trường: Với xu thế phát triển của công nghệ khoa học cũng  
như của xã hội, con người ngày càng tạo ra những giống vật nuôi có năng  
suất, chất lượng cao, đòi hỏi phải có một nền công nghiệp TACN phát triển  
phù hợp.  
- Thách thức cạnh tranh về giá TACN công nghiệp: Giá TACN công  
nghiệp của VN luôn cao hơn so với các nước trong khu vực từ 10-20%.  
- Yêu cầu đổi mới công nghệ SX TACN: Trong những năm tới, các  
DNNVV SX TACN Việt Nam nên áp dụng công nghệ dây chuyền SX TACN  
công nghiệp của các nước tiên tiến trên thế giới và trong khu vực: có hệ  
thống xilo dự trữ bảo quản nguyên liệu; có hệ thống điều khiển tự động đối  
với tải nguyên liệu, phối trộn nguyên liệu, xử lý nhiệt, ép đùn viên; áp dụng  
công nghệ thông tin trong quản lý TACN.  
- Quản lý chất lượng TACN: Đây là khâu còn nhiều yếu kém của các  
DNNVV SX TACN.  
2.2. Thống kê mô tả mẫu  
57,33% DN được thành lập và hoạt động được 5 – 10 năm. Số DN hoạt  
động trên 10 năm là 44 với tỷ lệ 29,3%. Số DN hoạt động dưới 5 năm trong  
ngành này là thấp nhất với 20 DN (13,3%). Đa số (65.3%) các DN hoạt động  
trong ngành nghề này là công ty cổ phần. Số còn lại là công ty TNHH và công  
14  
ty tư nhân với tỷ lệ lần lượt là 21,3% và 13,2%. Phần lớn DN có tổng số lao  
động từ 50 – 100 người với tỷ lệ 64%. Số DN có 100 – 300 lao động chiếm  
22,7% và còn lại là dưới 50 người (13,3%). Trong đó số DN có lao động quản  
lý từ 10 – 30 người chiếm tỷ lệ lớn nhất (64%). DN có trên 30 CBQL chiếm  
22,7% và chỉ có 13,3% DN có số CBQL dưới 10 người.  
2.3. Thực trạng nguồn cán bộ quản lý  
2.3.1. Về số lượng  
Theo như kết quả khảo sát của tác giả thì có đến 73,3% DN trả lời số  
lượng CBQL của DN trong 5 năm qua tăng ít hơn 20% so với tổng số và chỉ có  
10,7% trong tổng số các DN điều tra có số lượng CBQL tăng nhiều hơn 20%.  
Như vậy, còn có 16% DN không tăng số lượng CBQL trong 5 năm qua.  
2.3.2. Về chất lượng  
Chất lượng nguồn CBQL của các DNNVV được đánh giá thông qua  
khung năng lực thực hiện nhiệm vụ ở 3 cấp độ quản lý trong DN: CBQL cấp  
cao, CBQL cấp trung và CBQL cấp cơ sở. Năng lực thực hiện phụ thuộc vào  
sự hiểu biết về chuyên môn kỹ thuật, kỹ năng lãnh đạo và giải quyết công  
việc hàng ngày của các CBQL và đặc biệt còn phụ thuộc vào thái độ, phong  
cách làm việc của họ. Nghiên cứu này của tác giả đưa ra những đánh giá về  
năng lực hiện có của CBQL ở 3 cấp trong DNNVV của ngành SX TACN,  
những năng lực cần thiết của CBQL trong DNNVV của ngành SX TACN cần  
phải phát triển là: Năng lực tư duy, Năng lực quản lý, Năng lực chuyên môn  
và Quan hệ giao tiếp, ứng xử. Cụ thể như sau:  
1 Có tầm nhìn dài hạn về sự phát triển của ngành, của DN  
2 Bố trí bộ máy tổ chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ  
3 Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phù hợp với định hướng phát  
triển của DN  
4 Xây dựng các quy chế quản lý rõ ràng, hợp lý và được sự đồng thuận  
của cán bộ  
5 Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển đội ngũ cán bộ chuyên môn  
phù hợp với sự phát triển chuyên ngành  
6 Tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển chuyên môn chuyên ngành phù  
hợp với định hướng chung của DN  
15  
7 Sơ kết, tổng kết và đánh giá kết quả thực hiện một cách rõ ràng, có tính  
thuyết phục  
8 Có kỹ năng đàm phán, thương thuyết và ra quyết định  
9 Có khả năng tiếp cận và đánh giá chính xác các thông tin liên quan đến  
thị trường  
Ngoài những năng lực cần thiết nói chung của CBQL trong các ngành  
SX khác thì CBQL của ngành SX TACN còn thiếu kỹ năng buôn bán quốc  
tế, khả năng tiếp cận và khai thác các thông tin trên thị trường thế giới liên  
quan đến nguồn nguyên liệu đầu vào.  
2.3.3. Về cơ cấu  
Về cơ cấu nguồn CBQL theo chức năng, có đến 37,3% DN được điều tra  
trong nghiên cứu này của tác giả trả lời rằng DN của họ không tăng số lượng  
CBQL cấp cao trong 5 năm qua (từ 2007 đến 2012), 42,7% DN tăng ít hơn  
20% so với tổng số và 20% DN tăng từ 20% đến 50% so với tổng số. Số  
lượng CBQL cấp trung được tăng nhiều nhất trong các DN, 62,7% DN đã  
tăng số lượng CBQL cấp trung từ 20% đến 50% so với tổng số. Chỉ có 25,3%  
DN tăng số lượng CBQL nhiều hơn 50% so với tổng số trong 5 năm gần  
nhất. Kết quả phỏng vấn sâu cho thấy đa số các DNNVV trong ngành SX  
TACN đều nhận xét rằng cơ cấu nguồn CBQL của DN mình là phù hợp giữa  
tỷ lệ giới tính, độ tuổi và trình độ chuyên môn. Các CBQL trong DN không  
phải kiêm nhiệm nhiều công việc, chức danh cùng lúc. Bộ máy quản lý của  
DN không bị chồng chéo giữa các bộ phận, phòng ban chức năng.  
2.4. Các hoạt động phát triển nguồn cán bộ quản lý  
2.4.1. Kế hoạch hóa nguồn cán bộ quản lý  
• Về số lượng:  
Dự báo số lượng CBQL trong 5 năm tới, có 18,7% DN sẽ không tăng.  
Phần lớn các DN (70,7%) sẽ tăng số lượng CBQL ít hơn 20% và tăng nhiều  
hơn 20% so với tổng số là 10,7%.  
•Về chất lượng:  
Có 40% các DN được hỏi cho rằng năng lực quản lý thực sự rất cần thiết  
phải được nâng cao cho CBQL trong thời gian tới. Năng lực quản lý tốt sẽ  
giúp cho CBQL cả 3 cấp trong bộ máy quản lý sẽ vận hành nhịp nhàng, mang  
lại hiệu quả sản xuất kinh doanh cho DN. Nâng cao năng lực tìm kiếm thông  
16  
tin, năng lực đàm phán thương thuyết, năng lực thích ứng được với những  
thay đổi của môi trường sẽ giúp cho DN ổn định được nguồn nguyên liệu đầu  
vào cho sản xuất.  
• Về cơ cấu:  
Khi dự báo về cơ cấu nguồn CBQL theo chức năng trong 5 năm tới, có  
đến 86,7% DN sẽ tăng số lượng CBQL cấp cao và 57,3% DN sẽ tăng số  
lượng CBQL cấp trung ít hơn 20% so với tổng số. DN sẽ tăng số lượng  
CBQL cấp cơ sở nhiều nhất, 68% người tham gia phỏng vấn khẳng định họ  
sẽ tăng số lượng CBQL cấp cơ sở của mình.  
2.4.2. Đào tạo nguồn CBQL  
* Xác định nhu cầu đào tạo nguồn CBQL: Các cơ sở để xác định nhu  
cầu đào tạo là thông qua việc phân tích tổ chức, phân tích cá nhân và đánh  
giá kết quả thực hiện công việc theo kế hoạch SXKD từng thời kỳ. Kết quả  
khảo sát cho thấy có 70,6% DN có sử dụng kết quả đánh giá thực hiện công  
việc (kể cả việc đánh giá không chính thức) để xác định nhu cầu đào tạo  
nhưng đa số các DN chưa thực hiện phân tích tổ chức. Việc xác định nhu cầu  
đào tạo dựa trên phân tích cá nhân còn chưa thể hiện rõ ràng ở trong các DN.  
Các DN vẫn chủ yếu dựa vào các ý kiến đánh giá chủ quan của lãnh đạo về  
các lĩnh vực cần được đào tạo trong các DN của họ, chỉ có 42,6% DN có thiết  
kế hệ thống thu thập chứng cứ về năng lực thực tế của CBQL. DN chưa xây  
dựng được khung năng lực làm việc cho từng vị trí, chức danh CBQL cụ thể  
để có thể phát hiện những năng lực còn yếu kém cần phải phát triển.  
* Thực hiện đào tạo nâng cao chất lượng nguồn CBQL: 44% DN được  
khảo sát chưa lập kế hoạch tổng thể để thực hiện đào tạo. Chủ yếu các DN thực  
hiện tốt phương pháp đào tạo qua hướng dẫn, kèm cặp trong DN và thiết kế các  
hoạt động đào tạo phù hợp để đáp ứng nhu cầu của CBQL (72% DN tham gia  
khảo sát đồng ý). Tuy nhiên các DN lại đánh giá thấp trong việc phối hợp với  
các tổ chức đào tạo bên ngoài trong thiết kế nội dung, chương trình đào tạo và  
tổ chức các khóa đào tạo (chỉ có 13,3% DN thực hiện hoạt động này).  
Hiệu quả của chương trình đào tạo luôn là mối quan tâm hàng đầu  
nhưng kết quả khảo sát lại cho thấy các DN không dành nhiều sự quan tâm  
cho việc giám sát, xem xét và đánh giá hiệu quả của các chương trình đào tạo  
(chỉ có 28% DN thực hiện việc này).  
17  
2.4.3. Phát triển cá nhân và đề bạt cán bộ quản lý  
Theo kết quả khảo sát có 86,7% DN trả lời rất coi trọng sự đóng góp  
của mỗi CBQL để có chế độ đãi ngộ kịp thời. Tuy nhiên các DN chưa chú  
trọng đến lập kế hoạch phát triển cá nhân CBQL phù hợp với kế hoạch phát  
triển của DN; chưa xây dựng được các hệ thống mục tiêu cụ thể để họ có kế  
hoạch học tập nâng cao năng lực (chỉ có 13,3% DN tham gia khảo sát có thực  
hiện hoạt động này).  
Phần lớn các DN đều thực hiện việc đề bạt, bổ nhiệm cán bộ theo cơ chế  
cấp trên bổ nhiệm cấp dưới. Chỉ có 29,4% DN khẳng định họ có chính sách  
tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ, nhân viên của mình có cơ hội phát triển và  
được đề bạt lên vị trí quản lý nếu thực hiện tốt công việc. Hoạt động này cần  
được ban lãnh đạo DN quan tâm hơn nữa để tạo động lực làm việc tốt nhất  
cho CBQL.  
2.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển nguồn CBQL  
2.5.1. Chiến lược sản xuất kinh doanh  
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có đến 53.3% DN có xây dựng chiến lược  
phát triển và kế hoạch SXKD nhưng chỉ có 25,3% DN nói rằng: “Hàng năm  
DN của họ đều xây dựng chiến lược phát triển nguồn CBQL dựa trên chiến  
lược SXKD đã đề ra”. Điều đó dẫn đến các DNNVV luôn bị động trong quá  
trình hoạt động SXKD và có rất ít DN có thể điều chỉnh về số lượng, cơ cấu  
và yêu cầu năng lực của CBQL để đáp ứng kịp thời trong từng giai đoạn khi  
mục tiêu và kế hoạch SXKD thay đổi.  
2.5.2. Quan điểm của lãnh đạo  
Qua kết quả khảo sát ta thấy nhìn chung phần lớn (84%) các chủ DN và  
ban lãnh đạo DN nhận thức rất rõ về tầm quan trọng và sự cần thiết của việc  
phát triển nguồn CBQL đối với sự phát triển của DN. Tuy nhiên, việc nhận  
thức lại không đi đôi với hành động vì thực tế phần lớn các DN không có  
chiến lược phát triển NNL nói chung và nguồn CBQL nói riêng. 44% người  
tham gia khảo sát trả lời rằng ban lãnh đạo DN của họ trực tiếp tham gia vào  
việc lập kế hoạch phát triển nguồn CBQL. Tuy nhiên lại có đến 61,3% ban  
lãnh đạo của các DN không thường xuyên giám sát việc thực hiện phát triển  
nguồn CBQL. Phần lớn chủ DN sử dụng người chuyên trách về phát triển  
18  
NNL không qua đào tạo bài bản, họ không xây dựng chính sách phát triển  
NNL, không thực hiện phát triển cá nhân cho cán bộ của mình.  
2.5.3. Khả năng tài chính  
Kết quả khảo sát cho thấy 20% DN không lập kế hoạch tài chính cho  
hoạt động phát triển NNL và nguồn CBQL. Do không có kinh phí cho hoạt  
động này nên các DN không quan tâm và không có quỹ cho hoạt động phát  
triển cán bộ của DN mình. Cũng theo kết quả phỏng vấn thì do không có kinh  
phí nên 20% DN không có các hình thức hỗ trợ về tài chính phù hợp cho  
nhân viên đi học tại các cơ sở đào tạo bên ngoài. Có khoảng 17% DN có hỗ  
trợ tài chính phần nào cho các cán bộ tham gia vào các khóa học ngắn hạn để  
nâng cao trình độ nghiệp vụ, chủ yếu là các khóa học về Marketing, lập và  
thực hiện kế hoạch kinh doanh, kỹ năng nghiên cứu thị trường và kỹ năng  
lãnh đạo.  
2.5.4. Chính sách vĩ mô  
Các chính sách hỗ trợ của Nhà nước, của ngành có ý nghĩa to lớn đối với  
sự phát triển của các DNNVV. Cụ thể các chính sách: Nghị định số  
90/2001/CP ngày 23/11/2001, luật Doanh nghiệp 2005, các văn bản như Luật  
Hợp tác xã, Luật Khuyến khích đầu tư nước ngoài, các quy định về thuế, xuất  
nhập khẩu, Quyết định số 143/2004/QĐ-TTg ngày 10 tháng 8 năm 2004 của  
Thủ tướng Chính phủ về chương trình đào tạo và bồi dưỡng NNL cho  
DNNVV sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển NNL nói chung và nguồn CBQL  
trong các DNNVV.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 27 trang yennguyen 18540 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Phát triển nguồn cán bộ quản lý trong các DNNVV của ngành sản xuất thức chăn nuôi Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_phat_trien_nguon_can_bo_quan_ly_trong_cac_dn.pdf