Tóm tắt Luận án Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay

MỞ ĐẦU  
1. Lý do chọn đề tài  
1.1. Là một công cụ điều chỉnh hành vi con người trên cơ sở tự nguyện,  
tự giác, với nguyên tắc ưu tiên lợi ích xã hội, đạo đức xuất hiện, tồn tại vào tất  
cả các lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực sản xuất  
kinh doanh (SXKD)  
Ở Việt Nam, đạo đức kinh doanh (ĐĐKD) được hình thành từ rất  
sớm. Có thể nhận thấy điều đó qua các câu châm ngôn, như làm ăn phải có  
chữ tín, một lần bất tín, vạn lần bất tin, trung thực... như là các quy tắc đạo  
đức mà mỗi người kinh doanh cần phải tuân thủ..  
Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã  
hội chủ nghĩa (XHCN), ở Việt Nam vấn đề ĐĐKD được quan tâm xây  
dựng và được chú trọng nghiên cứu ngày càng nhiều hơn. Bởi ĐĐKD  
không chỉ giúp các nhà kinh doanh tăng lợi nhuận, mà còn giúp Việt Nam  
giải quyết được một số vấn đề như ô nhiễm môi trường, phát triển con  
người, chất lượng cuộc sống,v.v....Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất khi  
Việt Nam bước vào nền kinh tế này nằm ở những lỗ hổng lớn là pháp luật,  
đạo đức và văn hoá kinh doanh. Bên cạnh đó, việc kết hợp giữa lợi ích  
trước mắt và lợi ích lâu dài cũng có không ít vấn đề cần được bàn thảo. Mọi  
nền kinh tế chuyển đổi đều chứa đựng rất nhiều cơ hội cho sự phát triển,  
song cũng chứa đựng những hiểm hoạ do đạo đức suy thoái, do lợi ích  
trước mắt, lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm được đặt lên hàng đầu trong điều  
kiện pháp luật chưa thật định hình và chưa đủ mạnh.  
1.2. Qua hơn 30 năm đổi mới, kinh tế - xã hội nước ta đã có những  
bước chuyển dịch to lớn, đạt được thành tựu quan trọng trên nhiều mặt.  
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đó là những tác động tiêu cực của  
mặt trái kinh tế thị trường, đặc biệt là sự xuống cấp về đạo đức, lối sống  
của một bộ phận dân cư. Nổi bật trong lĩnh vực kinh tế là tình trạng vi  
phạm ĐĐKD. Lối sống thực dụng, cá nhân ích kỷ đã làm cho tình trạng  
tham nhũng, buôn lậu, lừa đảo… trong SXKD ngày càng có đà sinh sôi,  
nảy nở. Không ít những người kinh doanh vì mục tiêu lợi nhuận, vụ lợi cá  
nhân đã sản xuất hàng hóa trái phép, thải chất độc ra môi trường, buôn lậu,  
trốn thuế, buôn bán hàng giả, hàng kém chất lượng, đe dọa sức khỏe, tính  
mạng người tiêu dùng. Điều đó đặt ra vấn đề cấp thiết là phải tăng cường  
giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh (CMĐĐKD) XHCN cho những  
người tham gia vào quá trình SXKD ở Việt Nam hiện nay.  
1.3. Giai cấp nông dân (ND) Việt Nam có vị trí, vai trò, có bề dầy  
truyền thống, có đóng góp xứng đáng trong lịch sử dựng nước, giữ nước,  
trong đấu tranh cách mạng giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, cũng  
như trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội  
1
chủ nghĩa. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng  
(khoá X) khẳng định:“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến  
lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH,HĐH), xây dựng  
và bảo vệ tổ quốc, là lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền  
vững, giữ gìn ổn định chính trị, bảo đảm an ninh, quốc phòng, giữ gìn, phát  
huy bản sắc văn hoá dân tộc, bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước…”.  
Trong nhiệm vụ và giải pháp, Nghị quyết cũng đã nêu: “Chăm lo xây dựng  
giai cấp nông dân Việt Nam, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí  
thức trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.  
Hà Nội là trung tâm chính trị - văn hóa - xã hội của cả nước, là thành  
phố công nghiệp hiện đại. Trong giai đoạn hiện nay cùng với giai cấp công  
nhân và trí thức, ND Hà Nội là lực lượng xã hội quan trọng góp phần phát huy  
vị thế của thủ đô trên nhiều mặt, đặc biệt trên lĩnh vực phát triển kinh tế. Họ  
không ngừng tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh (SXKD), đẩy mạnh  
quá trình tái cơ cấu ngành gắn với xây dựng nông thôn mới, làm thay đổi bộ  
mặt nông thôn trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, hoạt động vi phạm  
CMĐĐKD của người ND Hà Nội đang có chiều hướng gia tăng và đến mức  
báo động.  
Do đó để nâng cao ĐĐKD cho người ND, giúp họ hình thành những  
chuẩn mực cơ bản của ĐĐKD thì việc giáo dục CMĐĐKD cho ND là một  
vấn đề quan trọng. Đó là một cơ sở quan trọng để xây dựng nền ĐĐKD  
XHCN ở nước ta giai đoạn hiện nay.  
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn vấn đề “Giáo dục chuẩn mực  
đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay” làm đề tài  
luận án tiến sĩ chuyên ngành công tác tư tưởng.  
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu  
2.1. Mục đích  
Mục đích của luận án là làm rõ cơ sở lí luận và thực tiễn của giáo dục  
CMĐĐKD cho ND ở Hà Nội, từ đó đề xuất quan điểm, giải pháp cơ bản nhằm  
tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội hiện nay.  
2.2. Nhiệm vụ  
- Tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án.  
- Nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận của việc giáo dục CMĐĐKD cho  
ND thành phố Hà Nội .  
- Phân tích, đánh giá thực trạng và những vấn đề đặt ra trong giáo dục  
CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà nội hiện nay, thông qua việc khảo sát các  
hộ ND và hợp tác xã ngoại thành Hà Nội.  
- Qua việc phân tích thực trạng và những vấn đề đặt ra, luận án đề  
xuất và luận giải cơ sở khoa học của những quan điểm, giải pháp nhằm  
tăng cường giáo dục CMĐĐKD cho ND ở Hà Nội hiện nay.  
2
3.Đốitượngvàphạmvinghiêncứu  
- Giáo dục CMĐĐKD cho ND ở thành phố Hà Nội hiện nay.  
- Thực trạng giáo dục CMĐĐKD cho ND được nghiên cứu từ năm  
2008- là năm sáp nhập tỉnh Hà Tây và thành phố Hà Nội. Những quan  
điểm, giải pháp được đề xuất có ý nghĩa đến năm 2025.  
- Địa bàn khảo sát: Luận án chọn 6 huyện, trong đó 3 huyện thuộc địa  
bàn Hà Nội cũ, 3 huyện thuộc địa bàn tỉnh Hà Tây cũ, đặc trưng cho vùng  
nông thôn ngoại thành Hà Nội, gồm: Đông Anh, Thanh Trì, Sóc Sơn, Phú  
Xuyên, Quốc Oai, Ba Vì.  
4.Cơsởlýluậnvàphươngphápnghiêncứu  
4.1. Cơ sở lý luận  
Dựa trên những nguyên lý lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư  
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về đạo đức và giáo dục đạo đức  
trong SXKD; về vị trí, vai trò của giai cấp ND trong công cuộc xây dựng  
CNXH.  
4.2. Phương pháp nghiên cứu  
Trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ  
nghĩa duy vật lịch sử, Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên  
cứu khoa học như: phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử;  
phương pháp so sánh; các phương pháp của khoa học công tác tư tưởng, xã  
hội học như: khảo sát, thống kê, phân tích tài liệu, phỏng vấn chuyên gia,  
xử lý số liệu điều tra xã hội học bằng phần mềm SPSS.  
5. Đóng góp mới của luận án  
Luận án là công trình nghiên cứu đầu tiên về vấn đề giáo dục  
CMĐĐKD XHCN cho ND. Những vấn đề lý luận về ĐĐKD, CMĐĐKD,  
các yếu tố cấu thành và sự cần thiết phải giáo dục CMĐĐKD cho ND được  
luận bàn một cách tường minh và sâu sắc, đặc biệt luận án đã nhìn nhận,  
phân tích ĐĐKD như là một điều kiện để nền kinh tế thị trường nước ta phát  
triển theo đúng định hướng XHCN và là một nội dung của quá trình xây  
dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Bằng những nghiên cứu  
thực tiễn, luận án đã phân tích những thành tựu và hạn chế của giáo dục  
CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội trong bối cảnh phát triển nền kinh tế  
thị trường định hướng XHCN, qua đó phát hiện và khái quát, phân tích các  
mâu thuẫn của quá trình giáo dục CMĐĐKD cho ND; phân tích những luận  
cứ khoa học của các quan điểm, giải pháp tăng cường giáo dục CMĐĐKD  
cho ND Hà Nội hiện nay.  
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án  
Với những kết quả nghiên cứu, luận án góp phần giúp các cơ quan, tổ  
chức chính quyền, các cấp ủy Đảng của thành phố Hà Nội quan tâm, chăm  
lo hơn nữa tới hoạt động giáo dục CMĐĐKD cho ND. Thông qua một số  
3
giải pháp được đề xuất luận án góp phần định hướng những giá trị, chuẩn  
mực đạo đức trong SXKD đối với ND Hà Nội nói riêng và ND Việt Nam  
nói chung.  
7.Cấutrúccủaluậnán  
Luận án được cấu trúc gồm: mở đầu, tổng quan tình hình nghiên cứu,  
3 chương, với 8 tiết, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.  
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU  
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN  
1. Những nghiên cứu về đạo đức kinh doanh và giáo dục đạo đức  
kinh doanh  
1.1. Về đạo đức kinh doanh  
- Các công trình của tác giả nước ngoài: Tom Beauchamp và  
Norman Bowie (1979), Lý thuyết Đạo đức và Kinh doanh của; Richard De  
George (1982),Đạo đức Kinh doanh; Manuel G. Velasquez (1982), Đạo  
đức Kinh doanh: Khái niệm và Các Trường hợp Khảo sát của, Phillip  
V.Lewis (1985), Defining Business Ethics: Like Nailing Jello to a  
Wall , John R. Boatright (2000), Ethics and Conduct of Business; Thomas  
Donaldson, Patricia H. Werhane và Margaret Cording (2002), Ethical Issues  
in Business- A Philosophical Approach, Nxb Prentice Hall.  
- Công trình nghiên cứu trong nước: Nguyễn Thị Doan và Đỗ Minh  
Cương (1999), Triết lý kinh doanh và quản lý doanh nghiệp, Nxb Chính trị  
quốc gia; Đỗ Minh Cương (2001), Văn hóa kinh doanh và triết lý kinh  
doanh, Nxb Chính trị quốc gia; Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Luận án tiến sỹ  
kinh tế, Vai trò của văn hóa kinh doanh quốc tế và vấn đề được xây dựng  
văn hóa kinh doanh ở Việt Nam; Nguyễn Mạnh Quân (2007), Đạo đức kinh  
doanh và văn hóa công ty, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội; Bùi  
Xuân Phong (2009), Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp, Nxb  
Văn hóa thông tin; Dương Thị Liễu (2009), Văn hóa kinh doanh”, Nxb Đại  
học Kinh tế quốc dân  
1.2. Về giáo dục đạo đức kinh doanh  
“Phát huy những nhân tố truyền thống của dân tộc trong kinh doanh  
dịch vụ ở nước ta hiện nay”, Nguyễn Thị Xuân Thảo, Nguyễn Văn Tuyền,  
Nxb Chính trị quốc gia, năm 1999. Tác giả Nguyễn Thị Lan xem xét vấn đề  
dưới góc độ “Nhìn nhận của người dân về đạo đức kinh doanh của các chủ  
doanh nghiệp tư nhân”, Tạp chí Tâm lý học, số 5 (2006). “Đạo đức và giáo  
dục đạo đức”, Hà Nhật Thăng (chủ biên), Đại học Sư phạm Hà Nội, năm  
2007.  
2. Những nghiên cứu về chuẩn mực đạo đức kinh doanh và giáo  
dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
2.1. Về chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
4
- Công trình nghiên cứu nước ngoài: Verne E.Henderson (1996),  
What’ s ethical in business” , Nxb Văn hóa; Arthur A. Thompson, John E.  
Gamble (2006), Strategy : Winning in the marketplace : core concepts,  
analytical tools, cases, Nxb. Boston,… McGraw-Hill.  
- Công trình nghiên cứu trong nước:  
Các bài viết: “Cơ chế thị trường và những điều cần báo động”, Tạp chí  
Cộng sản số 10-1990 của tác giả Vũ Hiền; “Đôi điều suy nghĩ về giá trị và sự  
biến đổi của các giá trị khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp  
chí Triết học số 1- 1995 của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn; “Một số chuẩn  
mực giá trị ưu trội khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường”, Tạp chí  
Triết học số 1-1995 của Lê Đức Phúc; “Sự biến đổi của thang giá trị đạo đức  
trong nền kinh tế thị trường với việc xây dựng đạo đức mới cho cán bộ quản  
lý ở nước ta hiện nay” do tác giả Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên), Nxb. Chính trị  
quốc gia, Hà Nội, năm 1999; Nguyễn Trọng Chuẩn với bài viết “Kinh tế thị  
trường định hướng XHCN ở nước ta hiện nay và những biến động trong lĩnh  
vực đạo đức”, đăng trong Tạp chí Triết học số 9- 2001. Công trình “Những  
vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” của tập  
thể tác giả do Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Phúc (đồng chủ biên),  
Nxb Chính trị quốc gia, năm 2003.. Công trình nghiên cứu “Văn hóa đạo đức  
ở nước ta hiện nay- vấn đề và giải pháp” của hai tác giả Lê Quý Đức và  
Hoàng Chí Bảo do Nxb Văn hóa- Thông tin và Viện Văn hóa ấn hành năm  
2007. Giáo trình “Đạo đức kinh doanh và văn hóa doanh nghiệp” của tác giả  
Phạm Quốc Toản, Nxb Lao động- xã hội, năm 2007 “Văn hóa kinh doanh”  
của tác giả Dương Thị Liễu, Nxb Đại học kinh tế quốc dân, Hà Nội, năm  
2011.. Giáo trình “Môi trường kinh doanh và đạo đức kinh doanh” do Ngô  
Đình Giao (chủ biên), Nxb Giáo dục, năm 1997. Hội thảo “Đạo đức trong  
kinh doanh”, tháng 12 năm 2012, do Viện Triết học Việt Nam và Viện Triết  
học Trung Quốc phối hợp tổ chức  
2.2. Về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
Đề cập tới nội dung giáo dục CMĐĐKD phải kể tới những công  
trình: Giáo trình Nguyên lý công tác tư tưởng, do Lương Khắc Hiếu (chủ  
biên), Nxb Chính trị quốc gia (2008), Tham luận “Đạo đức kinh doanh ở  
Việt Nam: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” của Nguyễn Hữu Đễ, Phạm  
Văn Đức với tham luận “Đạo đức kinh doanh: Một số vấn đề lý luận và  
thực tiễn của Việt Nam” đề cập tới trong Hội thảo “Đạo đức trong kinh  
doanh” do Viện triết học, Viện KHXH Việt Nam phối hợp với Viện Triết học,  
Viện Khoa học xã hội Trung Quốc (12 / 2012).  
Những nghiên cứu về giáo dục CMĐĐKD hầu như chưa nhiều. Các  
nghiên cứu mới chỉ tiếp cận nhỏ lẻ và bước đầu nhấn mạnh tới công tác  
giáo dục.  
5
3. Những nghiên cứu về nông dân, nông dân Hà Nội và giáo dục  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà Nội  
“Bước đầu tìm hiểu về tác động của đô thị hoá đến tâm lí người nông dân  
ven các đô thị”, Tạp chí Tâm lý học số 4/2006 của tác giả Mai Thế Thanh  
;“Nông dân và Hội Nông dân Việt Nam trên đường hội nhập kinh tế quốc tế”  
của Vũ Ngọc Kỳ, Nxb Chính trị quốc gia (2007); “Đô thị hóa và lao động, việc  
làm ở Hà Nội”, Hoàng Văn Hoa, Nxb Lao động Xã hội, Hà Nội, 2007; Hội thảo  
“Nông dân Việt Nam trong quá trình hội nhập” do Viện Chính sách và Chiến  
lược phát triển nông nghiệp, nông thôn tổ chức vào ngày 18/12/2007; “Việc làm  
của nông dân trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa vùng đồng bằng  
sông Hồng đến năm 2020” của Tiến sỹ Trần Minh Ngọc, Viện Kinh tế Việt Nam  
chủ trì thực hiện đề tài cấp Bộ (2009); “Nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt  
Nam trong quá trình phát triển đất nước theo hướng hiện đại” của Nguyễn Danh  
Sơn, Nxb Khoa học xã hội (2010), Báo cáo tổng quan đề tài khoa học cấp Nhà  
nước: “Một số vấn đề nông thôn Việt Nam trong điều kiện mới”, Đặng Kim Sơn.,  
Hà Nội, 2010; Kỷ yếu hội thảo khoa học: “Những vấn đề kinh tế- xã hội ở nông  
thôn trong quá trình CNH,HĐH”, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội, 2010, Luận  
án tiến sĩ: “An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở  
Việt Nam” của Mai Ngọc Anh, Hoàng Chí Bảo (2010), Dân chủ và dân chủ ở  
cơ sở nông thôn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
4. Nhận định về các kết quả nghiên cứu và những vấn đề cần tiếp  
tục nghiên cứu  
4.1. Nhận định chung về các công trình nghiên cứu đã tổng quan  
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận về văn hóa kinh doanh, ĐĐKD.  
- Nghiên cứu về những nhân tố tác động đến ĐĐKD và sự biến đổi  
các CMĐĐKD trong quá trình CNH,HĐH, phát triển kinh tế thị trường  
định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.  
- Nghiên cứu về thực trạng ĐĐKD và thực trạng giáo dục CMĐĐKD  
trong điều kiện hiện nay, bước đầu đề cập đến thực trạng, xu hướng biến đổi  
của ĐĐKD; thực trạng, giải pháp giáo dục CMĐĐKD cho các giai tầng xã  
hội trong đó có ND và ND Hà Nội.  
Do tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau nên kết quả nghiên cứu của các  
công trình, tài liệu nói trên còn một số vấn đề chưa thống nhất hoặc còn để  
ngỏ như sau:  
Thứ nhất, hầu hết các công trình, tài liệu chỉ đề cập tới ĐĐKD chứ chưa  
có công trình nào nghiên cứu cơ bản, hệ thống, sâu sắc về giáo dục ĐĐKD, nhất  
là giáo dục CMĐĐKD.  
Thứ hai, chưa có sự thống nhất cao về tiêu chí đánh giá các  
CMĐĐKD.  
6
Thứ ba, đối tượng nghiên cứu của đa số các công trình chủ yếu là tầng  
lớp doanh nhân. Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện  
về giáo dục CMĐĐKD cho ND Việt Nam và ND thành phố Hà Nội.  
Những công trình nêu trên là cơ sở lý luận vững chắc để tiếp tục đi  
sâu nghiên cứu những nội dung, phương thức và phương hướng, giải pháp  
giáo dục CMĐĐKD cho ND thành phố Hà Nội hiện nay.  
4.2. Những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu  
- Nghiên cứu cơ bản, hệ thống những vấn đề lý luận của giáo dục  
ĐĐKD. Xác định rõ các hướng tiếp cận khái niệm ĐĐKD để đưa ra khái  
niệm ĐĐKD chuẩn xác.  
- Nghiên cứu những yếu tố tác động đến sự hình thành ĐĐKD và  
giáo dục ĐĐKD.  
- Nghiên cứu về ĐĐKD, CMĐĐKD, giáo dục CMĐĐKD cho từng  
nhóm đối tượng tham gia hoạt động SXKD.  
- Nghiên cứu thực trạng và sự biến đổi của các CMĐĐKD trong điều  
kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế;  
thực trạng giáo dục ĐĐKD, thực trạng giáo dục CMĐĐKD và kinh  
nghiệm, những vấn đề đặt ra trong giáo dục CMĐĐKD XHCN.  
- Nghiên cứu về mục tiêu, phương hướng, quan điểm, giải pháp giáo dục  
CMĐĐKD XHCN cho ND nói chung và ND ở các vùng miền đất nước, ND  
hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của ngành nông nghiệp nước ta.  
Với việc chỉ ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, có thể khẳng  
định, đề tài luận án đã xác định được một hướng đi riêng, không trùng lặp  
với bất cứ công trình nào đã nghiên cứu trước đây.  
Chương 1  
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC CHUẨN MỰC  
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CHO NÔNG DÂN VIỆT NAM  
1.1. Đạo đức kinh doanh và chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
1.1.1. Đạo đức kinh doanh  
1.1.1.1. Một vài nét về sự phát triển của phạm trù đạo đức kinh  
doanh  
Ở phương Tây, ĐĐKD xuất phát từ những tín điều của Tôn giáo.  
Trước thập kỷ 60 của thế kỷ trước, khởi đầu bằng các vấn đề do các giáo phái  
đưa ra. Những năm 70, 80 của thế kỷ XX ĐĐKD trở thành một lĩnh vực  
nghiên cứu độc lập. Vào những năm 90 người ta đã bắt đầu thể chế hóa  
ĐĐKD. Từ năm 2000 đến nay ĐĐKD trở thành lĩnh vực nghiên cứu mới  
đang được phát triển.  
1.1.1.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh  
ĐĐKD là hệ thống các nguyên tắc, chuẩn mực, tiêu chuẩn trong lĩnh  
vực kinh doanh được con người thừa nhận nhằm kiểm soát, đánh giá, phán  
7
xét và điều chỉnh hành động, hành vi kinh doanh của các cá nhân, một  
nhóm người hay một nhóm nghề nghiệp nhất định trong mối quan hệ kinh  
doanh.  
1.1.2. Chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
1.1.2.1. Quan niệm về chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
CMĐĐKD là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu trong hoạt  
động SXKD, được xã hội thừa nhận trở thành những khuôn mẫu nhằm kiểm  
soát, xem xét, đánh giá, điều chỉnh hành vi của các nhà kinh doanh hướng  
tới mục tiêu phát triển bền vững.  
1.1.2.2. Nội dung các chuẩn mực đạo đức kinh doanh xã hội chủ  
nghĩa  
- Kinh doanh đúng pháp luật  
Kinh doanh cần hướng tới mục tiêu lợi nhuận, nhưng quan trọng hơn  
phải bảo đảm an toàn pháp lý.  
- Kinh doanh trung thực và ngay thẳng, đáp ứng các nhu cầu  
chính đáng, tiến bộ của cuộc sống.  
Tiêu chí này bao gồm: Thứ nhất, không dùng các thủ đoạn gian dối,  
xảo trá để kiếm lời; Thứ hai, cung cấp thông tin trung thực về sản phẩm;  
Thứ ba, trung thực, ngay thẳng trong giao tiếp với bạn hàng; Thứ tư, trung  
thực ngay cả với bản thân mình.  
- Giữ đúng chữ tín trong SXKD  
Chữ tín, về cơ bản là giữ lời, thực hiện cam kết, có được lòng tin từ  
những người khác. Chính vì vậy, chữ tín vừa thuộc về phạm trù kinh tế, vừa  
thuộc về phạm trù đạo đức.  
- Xây dựng mối quan hệ hợp tác bình đẳng, thực hiện cạnh tranh  
lành mạnh.  
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận  
cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá  
trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều  
hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi, nhưng trên cơ sở  
phải là lành mạnh, cạnh tranh theo đúng quy định của pháp luật, đạo đức xã  
hội, ĐĐKD.  
- Sử dụng nguồn lực một cách hợp lý và có hiệu quả.  
Các nguồn lực đưa vào kinh doanh có vai trò quyết định, quan trọng  
trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Kinh doanh tức là đầu tư  
nguồn lực vào một lĩnh vực nào đó nhằm tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp.  
Nguồn lực sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lý cũng là biểu hiện của ĐĐKD.  
- Nâng cao về chất lượng, hạ giá thành sản phẩm  
Nâng cao chất lượng sản phẩm gắn với việc hạ giá thành sản phẩm  
không chỉ nâng cao uy tín của chủ thể, làm tăng khả năng cạnh tranh của  
8
sản phẩm mà còn đảm bảo sử dụng tiết kiệm, hợp lý nguồn nguyên vật liệu,  
sức lao động, nguồn vốn của xã hội, giảm khả năng gây ô nhiễm môi  
trường để thoả mãn nhu cầu của khách hàng. Đây là một trong những tiêu  
chuẩn của ĐĐKD.  
- Tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở quan tâm đến lợi ích cộng đồng và  
xã hội.  
Vấn đề này liên quan mật thiết với khái niệm “trách nhiệm xã hội”. Cụ  
thể, các doanh nghiệp phải tuân thủ các nguyên tắc sau: Thứ nhất, bảo vệ  
môi trường tự nhiên; Thứ hai, bảo vệ môi trường văn hóa- xã hội; Thứ ba,  
tham gia hoạt động xã hội từ thiện.  
- Tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực  
trong đạo đức kinh doanh.  
Cuộc đấu tranh khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong hoạt động  
SXKD và trong ĐĐKD không chỉ là một đòi hỏi khách quan của quá trình  
xây dựng nền kinh tế mới ở nước ta, mà còn là đòi hỏi của sự nghiệp xây  
dựng nền đạo đức mới XHCN. Đây là một tiêu chí, một chuẩn mực của  
ĐĐKD trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.  
1.2. Quan niệm và các yếu tố cấu thành hoạt động giáo dục chuẩn  
mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Việt Nam  
1.2.1. Quan niệm về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho  
nông dân  
1.2.1.1. Khái niệm giáo dục  
Giáo dục là quá trình tổ chức có ý thức, hướng tới mục đích khơi gợi  
hoặc biến đổi nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ của chủ thể và đối  
tượng theo hướng tích cực.  
1.2.1.2. Khái niệm giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh  
Giáo dục CMĐĐKD là sự tác động có mục đích, có định hướng của chủ  
thể giáo dục đến các cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động SXKD nhằm hình  
thành ở họ nhận thức, tình cảm, thái độ, động cơ và hành vi ĐĐKD phù hợp  
với các chuẩn mực đạo đức hiện hành trong xã hội.  
1.2.1.3. Khái niệm nông dân, nông dân kinh doanh và giáo dục  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân  
Giai cấp ND là giai cấp những người lao động sản xuất trong nông  
nghiệp (bao gồm cả lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp), trực tiếp sử  
dụng một tư liệu sản xuất cơ bản và đặc thù, gắn với thiên nhiên là đất,  
rừng và biển để sản xuất ra sản phẩm nông nghiệp.  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND là sự tác động có mục đích, có định  
hướng của chủ thể giáo dục đến người ND tham gia hoạt động SXKD  
nhằm hình thành ở họ nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD phù hợp với  
các chuẩn mực đạo đức hiện hành trong xã hội.  
9
1.2.2. Các yếu tố cấu thành giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh  
doanh cho nông dân  
1.2.2.1. Chủ thể giáo dục  
Ở nước ta có nhiều chủ thể tham gia giáo dục CMĐĐKD cho ND.  
Các chủ thể giáo dục CMĐĐKD cho ND bao gồm: chủ thể lãnh đạo, quản  
lý; chủ thể tham mưu, chỉ đạo, kiểm tra; chủ thể trực tiếp giáo dục; chủ thể  
là người ND.  
1.2.2.2. Đối tượng giáo dục  
Đối tượng giáo dục CMĐĐKD cho ND là những người ND tham gia  
hoạt động SXKD hoặc có liên quan đến hoạt động SXKD.  
1.2.2.3. Nội dung giáo dục  
Thứ nhất, giáo dục những quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư  
tưởng Hồ Chí Minh và của Đảng ta về đạo đức, ĐĐKD và CMĐĐKD.  
Thứ hai, giáo dục các CMĐĐKD XHCN.  
Thứ ba, giáo dục những giá trị ĐĐKD truyền thống tốt đẹp của dân  
tộc và những giá trị ĐĐKD tiến bộ của nhân loại.  
Thứ tư, giáo dục ý thức và tính tích cực đấu tranh chống các biểu  
hiện tiêu cực trong SXKD của người ND.  
1.2.2.4. Phương pháp giáo dục  
Phương pháp sử dụng trong giáo dục CMĐĐKD bao gồm các  
phương pháp như: nhóm phương pháp giáo dục dùng lời nói, nhóm phương  
pháp giáo dục trực quan và nêu gương, nhóm phương pháp thực tiễn, nhóm  
phương pháp giáo dục cá nhân và giáo dục nhóm, nhóm phương pháp giáo  
dục đại chúng…  
1.2.2.5. Hình thức giáo dục  
Trong giáo dục CMĐĐKD cho ND, xuất phát từ đặc điểm ND, nhất  
là đặc điểm SXKD, đặc điểm sinh hoạt và lối sống nông thôn, đặc điểm về  
trình độ nhận thức, tình cảm, truyền thống, tập quán cũng như trình độ, khả  
năng sử dụng các hình thức của các chủ thể giáo dục, các lực lượng tham  
gia giáo dục, môi trường, không gian văn hóa nông thôn, có thể sử dụng  
các hình thức sau: hình thức cá nhân, hình thức nhóm, hình thức đại chúng,  
hình thức trực tiếp và hình thức gián tiếp.  
1.2.2.6. Phương tiện giáo dục  
Trong giáo dục CMĐĐKD cho ND thường sử dụng phương tiện sau:  
tuyên truyền miệng và hệ thống báo cáo viên, tuyên truyền viên; các tổ chức  
chính trị, chính trị - xã hội, xã hội – nghề nghiệp, xã hội và sinh hoạt, hội họp  
cũng như những hình thức đào tạo, bồi dưỡng của các tổ chức trên; các thiết chế  
văn hóa và hoạt động của các thiết chế đó, coi trọng thiết chế và hoạt động  
truyền thống, phù hợp đặc điểm nông thôn, ND, các phương tiện truyền  
thông đại chúng, các loại hình giao tiếp xã hội…  
10  
1.2.2.7. Kết quả giáo dục  
Kết quả giáo dục CMĐĐKD cho ND được thể hiện ở những tiêu chí  
sau: (1) Tri thức về ĐĐKD của nông dân; (2) Tình cảm ĐĐKD của ND; (3)  
Hành vi ĐĐKD đúng đắn của người ND.  
1.3. Sự cần thiết phải giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho  
nông dân  
1.3.1. Xuất phát từ vai trò của giai cấp nông dân trong sự nghiệp  
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc  
ND là lực lượng sản xuất chính tạo ra của cải vật chất, là lực lượng  
quan trọng góp phần làm nên những thắng lợi to lớn trong lịch sử đấu tranh  
cách mạng, là lực lượng trực tiếp nhất thực hiện những chủ trương, chính  
sách về nông nghiệp, nông thôn trong thời kỳ đổi mới và là lực lượng góp  
phần quan trọng sáng tạo, duy trì và bảo tồn những giá trị vật chất, tinh  
thần truyền thống văn hoá của dân tộc.  
1.3.2. Xuất phát từ vai trò của giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh  
doanh cho nông dân trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định  
hướng XHCN  
- Giáo dục CMĐĐKD là một điều kiện đảm bảo cho nền kinh tế phát  
triển theo đúng định hướng XHCN, là một nội dung của quá trình xây dựng  
nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta.  
- Giáo dục CMĐĐKD cho người ND là một yêu cầu của quá trình  
CNH, HĐH nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới.  
- Giáo dục CMĐĐKD XHCN cho ND là biện pháp cơ bản nhằm hạn  
chế những tác động tiêu cực từ mặt trái của kinh tế thị trường.  
1.3.3. Xuất phát từ vai trò của giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh  
doanh cho nông dân trong việc xây dựng giai cấp ND và xây dựng nền đạo  
đức mới- XHCN  
- Giáo dục CMĐĐKD cho ND- một nội dung quan trọng của việc  
xây dựng giai cấp ND nước ta hiện nay  
- Giáo dục CMĐĐKD cho ND nhằm phát huy những giá trị ĐĐKD  
truyền thống tốt đẹp của người ND và góp phần xây dựng nền đạo đức mới  
XHCN  
Kết luận chương 1  
CMĐĐKD là hệ thống những nguyên tắc, quy tắc, yêu cầu trong  
hoạt động SXKD, được xã hội thừa nhận như là những khuôn mẫu nhằm  
kiểm soát, đánh giá, điều chỉnh hành vi của người kinh doanh hướng tới  
mục tiêu phát triển bền vững.  
Các CMĐĐKD từ góc độ nghiên cứu của khoa học công tác tư  
tưởng bao gồm: (1) Kinh doanh đúng pháp luật; (2) Kinh doanh trung thực,  
ngay thẳng, đáp ứng nhu cầu chính đáng, tiến bộ của con người; (3) Giữ  
11  
đúng chữ tín trong kinh doanh; (4) Xây dựng mối quan hệ hợp tác, bình  
đẳng, thực hiện cạnh tranh lành mạnh; (5) Sử dụng nguồn lực hợp lý, hiệu  
quả; (6) Chất lượng sản phẩm cao, giá thành sản phẩm hạ; (7) Tìm kiếm lợi  
nhuận trên cơ sở quan tâm đến lợi ích cộng đồng; (8) Tích cực tham gia vào  
cuộc đấu tranh chống các biểu hiện tiêu cực trong SXKD.  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND là sự tác động có mục đích, có định  
hướng của chủ thể giáo dục đến người ND tham gia hoạt động SXKD  
nhằm hình thành ở họ nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD phù hợp với  
các chuẩn mực đạo đức hiện hành trong xã hội.  
Giáo dục CMĐĐKD từ góc độ của khoa học công tác tư tưởng được  
cấu thành bởi các yếu tố: chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, hình thức,  
phương pháp, phương tiện và kết quả hoặc hiệu quả giáo dục.  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển giai cấp  
ND và hướng biến đổi của bản thân giai cấp ND trong thời kỳ mới. Giáo dục  
CMĐĐKD để nâng cao trình độ nhận thức cho ND, tạo điều kiện để họ nhận  
thức sâu sắc hơn vị thế, vai trò của mình trong phát triển kinh tế - xã hội.  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND còn xuất phát từ yêu cầu xây dựng nền đạo đức  
XHCN. Giáo dục CMĐĐKD được thực hiện đồng bộ, thường xuyên, hiệu  
quả sẽ là biện pháp cơ bản nhằm hạn chế những biểu hiện tiêu cực do mặt  
trái cơ chế thị trường sản sinh ra.  
Chương 2  
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC  
KINH DOANH CHO NÔNG DÂN HÀ NỘI  
2.1. Những yếu tố tác động tới giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh  
doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay  
2.1.1 Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế  
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu của thời đại, đang  
ảnh hưởng lớn đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Hoạt động kinh  
doanh chịu ảnh hưởng trực tiếp nhất của xu hướng toàn cầu hóa. Mặt trái của  
toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế cùng những tác động tiêu cực của chúng đặt  
ra bài toán phải giáo dục CMĐĐKD cho các chủ thể kinh doanh.  
2.1.2. Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN  
Kinh tế thị trường vừa tạo ra những cơ hội nhưng cũng không ít thách  
thức đối với ND trong hoạt động SXKD. Đặc biệt mặt trái của kinh tế thị  
trường là mảnh đất tốt mà từ đó những mặt tiêu cực trong đạo đức, lối sống  
của họ có cơ hội hồi sinh, phát triển. Nó biểu hiện ở lối sống thực dụng, chỉ  
coi trọng những giá trị vật chất và xem thường những giá trị tinh thần, đạo  
đức.  
2.1.3. Đổi mới hệ thống chính trị và dân chủ hóa các lĩnh vực đời sống  
xã hội  
12  
Dân chủ hóa đời sống xã hội đem lại sự phát triển thuận chiều đối với  
đạo đức. Nhờ thực hiện dân chủ hóa, đổi mới hệ thống chính trị, những  
biến đổi tích cực về đạo đức như tinh thần trách nhiệm, tính tích cực trong  
hoạt động kinh tế và hoạt động chính trị - xã hội được nâng cao, nếp sống  
văn hóa, thuần phong mỹ tục được gìn giữ và phát huy. Điều này tạo thuận  
lợi cho giáo dục CMĐĐKD cho ND.  
2.1.4. Quá trình đô thị hóa và xây dựng nông thôn mới  
Đô thị hóa cũng như quá trình xây dựng nông thôn mới đã mang lại cho  
người ND diện mạo mới. Đời sống kinh tế - xã hội của người ND đang dần được  
cải thiện. Tuy nhiên nhiều vấn đề đã, đang và sẽ nảy sinh đòi hỏi giải quyết để  
đảm bảo sự phát triển bền vững của thủ đô. Những vấn đề cấp bách như việc  
làm, phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật và xã hội, sự phân hóa giàu nghèo, các tệ  
nạn xã hội, ô nhiễm môi trường, vi phạm ĐĐKD đang đặt ra cho các nhà giáo  
dục, các nhà quản lý và hoạch định chính sách những thách thức mới.  
2.1.5. Đặc điểm tình hình sản xuất kinh doanh của nông dân Hà Nội  
ND Hà Nội hiện nay chiếm khoảng 60- 63% lực lượng lao động trên  
địa bàn. ND thành phố tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành  
của Chính phủ, tích cực thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà  
nước về hoạt động SXKD nông nghiệp. Trước bối cảnh kinh tế, xã hội  
trong nước có nhiều biến động, ND vẫn giữ được những tập quán SXKD  
truyền thống. Tuy nhiên, hoạt động SXKD của ND thành phố vẫn còn một  
số đặc điểm như: trình độ thâm canh sản xuất nông nghiệp bị chi phối, ảnh  
hưởng bởi tư duy kinh nghiệm, bởi tập quán cổ truyền; năng lực cạnh tranh  
còn hạn chế; thiếu thông tin thị trường và kiến thức về pháp luật; việc ND  
liên kết, hỗ trợ lẫn nhau trong sản xuất và tiêu thụ nông sản còn rời rạc,  
chưa chặt chẽ; một bộ phận ND còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào chủ  
trương, chính sách của Đảng, Nhà nước…  
2.2. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà  
Nội hiện nay: Thành tựu, hạn chế  
2.2.1. Thành tựu  
2.2.1.1. Sự quan tâm ngày càng tăng và cụ thể của cấp ủy đảng,  
chính quyền đối với giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông  
dân Hà Nội  
Sự quan tâm của cấp ủy đảng, chính quyền được thể hiện: một là,  
thường xuyên quán triệt các nghị quyết, văn bản quy phạm pháp luật tới các  
cán bộ, đảng viên, các cơ sở SXKD của ND; hai là, đội ngũ cán bộ giáo  
dục được quan tâm xây dựng và củng cố; ba là, tăng cường các nguồn lực  
để nâng cao hiệu quả của hoạt động giáo dục CMĐĐKD cho ND.  
2.2.1.2. Đội ngũ cán bộ làm công tác giáo dục tăng về số lượng và  
từng bước nâng cao về chất lượng  
13  
Về số lượng: cán bộ Hội ND với 65 báo cáo viên pháp luật cấp  
thành phố, 212 báo cáo viên pháp luật cấp huyện, 1.834 tuyên truyền  
viên cán bộ cấp xã; 386/584 xã, phường, thị trấn có cấp Hội cơ sở với  
3.318 chi hội; gần 300 cán bộ khuyến nông. Bên cạnh đó các tổ chức như  
Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh… cũng là những lực  
lượng tham gia tích cực vào công tác giáo dục CMĐĐKD.  
Về chất lượng: đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên của thành phố  
đều có trình độ đại học trở lên. Hằng năm, các cán bộ chủ chốt của Hội ND  
được đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động. Từ năm 2011 đến  
năm 2016 Hội ND thành phố phối hợp với Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng  
Phong mở 34 lớp cho 5.500 cán bộ chuyên trách từ thành phố đến cơ sở với  
nhiều nội dung thiết thực, phù hợp với yêu cầu mới.  
2.2.1.3. Nội dung giáo dục phù hợp với đối tượng, thuyết phục và  
từng bước đổi mới  
Một là, thường xuyên giáo dục quan điểm, đường lối, chính sách của  
Đảng và Nhà nước về ĐĐKD và CMĐĐKD.  
Trong 2 năm 2015, 2016 đã tổ chức hơn 100 cuộc hội thảo, hội nghị  
lớn, nhỏ trên địa bàn thành phố với sự tham gia của các sở, ban ngành, các  
chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực nông nghiệp cùng nhiều đại biểu nông  
dân. Các phương tiện truyền thông đại chúng tích cực tuyên truyền, giáo  
dục các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà  
nước.  
Hai là, tập trung giáo dục nội dung các CM ĐĐKD.  
- Giáo dục pháp luật trong SXKD  
Nội dung giáo dục tập trung vào các văn bản Luật; phối hợp tuyên  
truyền, giáo dục ý thức tích cực tham gia giám sát, phát hiện, tố giác các tổ  
chức, cá nhân vi phạm pháp luật đồng thời phát hiện những nhân tố mới để  
phổ biến, nhân rộng.  
- Giáo dục người ND kinh doanh trung thực, giữ chữ tín  
Các nội dung giáo dục tính trung thực, ngay thẳng , giữ chữ tín được  
thể hiện thông qua các đề án, các chương trình như : liên kết “4 nhà”, bảo  
hộ nhãn hiệu nông sản hay chính sách tiêu thụ nông sản thông qua hợp  
đồng tiêu thụ….  
- Giáo dục người ND sử dụng nguồn lực một cách hợp lý và có hiệu  
quả, hướng tới việc nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, đảm bảo  
lợi ích người tiêu dùng.  
Tập trung giáo dục những vấn đề về bảo vệ môi trường, hướng tới  
mô hình nông nghiệp “sạch”.  
- Tạo ra các mô hình, phong trào ND thi đua kinh doanh, sản xuất  
theo hướng vươn lên làm giàu chính đáng.  
14  
Với 2.709 hộ ND đạt danh hiệu SXKD giỏi chiếm 61% so với số hộ  
nông nghiệp trong đó có 150 hộ ND đạt danh hiệu SXKD giỏi cấp thành  
phố, 420 hộ SXKD giỏi cấp huyện và 2.139 hộ cấp cơ sở cho thấy những  
năm qua phong trào ND thi đua SXKD giỏi mang lại không chỉ kết quả  
trong GDCMĐĐKD mà còn mang lại hiệu quả kinh tế, xã hội.  
- Giáo dục người ND ý thức trách nhiệm, quan tâm đến lợi ích của  
cộng đồng và xã hội.  
Với việc triển khai dự án “Nâng cao nhận thức, kiến thức bảo vệ môi  
trường cho cán bộ, hội viên, ND Việt Nam” do Trung ương Hội ND Việt  
Nam phát động đã tác động đến nhận thức, thay đổi hành vi, thói quen lạc  
hậu ảnh hưởng xấu đến môi trường tại các làng nghề, góp phần bảo vệ môi  
trường xanh, sạch, đẹp, nâng cao sức khỏe, đời sống của người dân, đảm bảo  
môi trường sinh thái phát triển bền vững.  
Ba là, giáo dục những giá trị ĐĐKD truyền thống tốt đẹp của dân tộc.  
Các hoạt động như: ND với phong trào thi đua yêu nước; ND thi đua  
xây dựng nông thôn mới; phong trào ND tham gia đoàn kết, bảo đảm quốc  
phòng, anh ninh….đã trở thành những hoạt động giúp người ND phát huy  
những giá trị đạo đức truyền thống trong kinh doanh như lòng yêu nước,  
yêu quê hương; tính cộng đồng; tính trung thực; cần cù, tiết kiệm.  
Bốn là, giáo dục ND tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh chống  
tiêu cực và các hiện tượng vi phạm CMĐĐKD.  
Trong 199 người được hỏi về thái độ khi chứng kiến hiện tượng vi  
phạm ĐĐKD có 90 người (chiếm 45,2%) cho rằng họ sẽ góp ý trực tiếp, 58  
người (chiếm 29,1%) nêu quan điểm họ sẽ báo cáo với chính quyền địa  
phương, có 10 người (chiếm 5%) cho rằng họ làm thì mình cũng làm theo.  
Tuy nhiên, có tới 41 người (chiếm 20,7%) có thái độ dửng dưng và không  
quan tâm. Điều đó, chứng tỏ tuyệt đại đa số người ND đã có ý thức trong  
cuộc đấu tranh với những tiêu cực, nhưng một bộ phận không nhỏ còn có  
biểu thờ ơ, vô cảm trước các hiện tượng vi phạm CMĐĐKD.  
2.2.1.4. Phương pháp, hình thức giáo dục khá đa dạng, phong phú;  
phương tiện tương đối đầy đủ, đảm bảo về cơ bản yêu cầu giáo dục  
- Về phương pháp: các phương pháp được sử dụng nhiều và có hiệu  
quả được đánh giá như sau: phương pháp hiệu quả với nhóm phương pháp  
dùng lời (64,8 %), nhóm phương pháp trực quan (63,8%), nhóm phương  
pháp thực tiễn (62,8%).  
- Về hình thức: tổ chức tập huấn, cung cấp tài liệu sinh hoạt chi hội,  
phát tờ rơi, sổ tay hỏi đáp và tư vấn pháp luật, tổ chức các cuộc thi tìm hiểu  
pháp luật, thành lập các câu lạc bộ “ND với pháp luật”, thông qua mạng lưới  
truyền thanh cơ sở, thông qua qui ước, hương ước của làng văn hóa, xây  
dựng tủ sách pháp luật…  
15  
- Về phương tiện: phát huy ưu thế của tất cả các phương tiện như:  
tuyên truyền miệng, các hoạt động văn hóa- văn nghệ nhất là văn nghệ truyền  
thống, sinh hoạt, hội họp của các tổ chức. Ưu tiên phát huy vai trò của các  
phương tiện truyền thông đại chúng, đặc biệt là báo in, phát thanh, truyền  
hình với nội dung phong phú, thời lượng phù hợp với đặc điểm ND, tần suất  
ngày càng tăng.  
2.2.1.5. Đạo đức kinh doanh của nông dân từng bước được nâng cao  
rõ rệt  
Về nhận thức đạo đức. Theo số liệu điều tra, trong 199 ND được hỏi,  
có 80,4% cho rằng đã được nghe tới khái niệm ĐĐKD, 49,7% cho rằng:  
ĐĐKD là kinh doanh đúng pháp luật, 23,6% cho rằng ĐĐKD là góp phần  
bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng, 13,1% cho biết: ĐĐKD là những nguyên  
tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi của chủ thể kinh doanh và 11,6% người  
cho rằng đó là hoạt động kiếm lời dựa trên những giá trị nhân văn.  
Về tình cảm đạo đức: 82,4 % người ND quan tâm tới vấn đề phát triển  
kinh tế nông nghiệp, nông thôn; 72,5% bày tỏ thái độ bất bình trước các biểu  
hiện tiêu cực trong hoạt động SXKD nông nghiệp; 65 % trả lời quan tâm đến  
việc tìm hiểu quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối  
với nông nghiệp, nông thôn.  
Về hành vi đạo đức kinh doanh: Theo tài liệu thống kê của Hội ND  
thành phố Hà Nội, hàng năm có hàng trăm ND tham gia các hoạt động,  
phong trào như: ND thi đua SXKD giỏi, đoàn kết giúp nhau làm giàu và  
giảm nghèo bền vững; phong trào ND thi đua xây dựng nông thôn mới;  
phong trào ND tham gia bảo đảm quốc phòng, an ninh…  
2.2.2. Hạn chế  
2.2.2.1. Nhận thức của cấp ủy và chính quyền cùng các tổ chức chính  
trị- xã hội về giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân chưa  
thật sự đầy đủ, đúng mức  
Trong cuộc khảo sát đối với các chủ thể tiến hành giáo dục CMĐĐKD  
cho ND, số liệu điều tra cho thấy: 65% cơ quan, đơn vị có thực hiện công tác  
giáo dục ĐĐKD cho ND, 35% trả lời chưa thực hiện công tác này. Điều này  
cho thấy, trên 1/3 số đơn vị trên địa bàn, cấp ủy đảng và chính quyền chưa  
nhận thức hết tầm quan trọng của giáo dục CMĐĐKD cho ND.  
2.2.2.2. Năng lực cán bộ làm công tác giáo dục còn hạn chế, bất cập  
Số cán bộ trực tiếp làm công tác khuyến nông, khuyến lâm, khuyến  
ngư, giáo dục, phổ biến kinh nghiệm, kiến thức, đạo đức trong SXKD còn  
rất ít. Nhiều xã, thôn chưa có báo cáo viên, tuyên truyền viên, khuyến nông  
viên. Chất lượng hoạt động của một số báo cáo viên, tuyên truyền viên  
chưa cao. Đa số cán bộ cơ sở nông thôn mới chỉ đáp ứng được nhu cầu  
quản lý một nền sản xuất nhỏ, phạm vi hẹp với một số lượng dân cư không  
16  
nhiều; quản lý theo mệnh lệnh hành chính, theo những kế hoạch từ trên  
xuống.  
2.2.2.3. Nội dung giáo dục chưa thật sự cụ thể, thiết thực, còn mang  
tính chung chung, thiếu sâu sắc  
Hiện nay, do chưa có sự thống nhất trong việc xây dựng bộ nguyên tắc  
về CMĐĐKD nên công tác giáo dục gặp rất nhiều khó khăn. Nội dung giáo  
dục còn mang tính thụ động, máy móc, có phần khiên cưỡng, chưa sát thực  
tiễn nên phần lớn ND khó tiếp thu, thậm chí còn không biết, không quan tâm.  
Số liệu khảo sát cho thấy 45,3% cho rằng nội dung giáo dục ít bổ ích.  
2.2.2.4. Hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền, giáo dục  
nhìn từ nhiều phương diện còn đơn điệu, thiếu tính thuyết phục, chưa thật sự  
hấp dẫn  
Các hình thức mới chỉ dừng lại ở tính phong trào, thi đua, chưa thực  
chất đi vào đời sống của bà con ND. Phương pháp, giáo dục vẫn mang tính  
một chiều, áp đặt, khô cứng, chưa tạo được sự hấp dẫn tới ND. Phương tiện  
giáo dục còn đơn điệu, chưa thu hút được sự quan tâm của người ND.  
2.2.2.5. Nhận thức, tình cảm và hành vi đạo đức của người nông dân  
trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn nhiều mặt hạn chế  
Về nhận thức, một bộ phận ND còn mơ hồ về thực hiện các chuẩn  
mực đạo đức trong hoạt động SXKD. Biểu hiện rõ nhất là nhận thức hạn  
chế về pháp luật, về chữ tín, về cạnh tranh lành mạnh và bảo vệ, quan tâm  
lợi ích cộng đồng…  
Về tình cảm đạo đức, thái độ bàng quan, vô cảm, không dám đấu tranh  
trước những hành vi vi phạm đạo đức trong SXKD cũng là những biểu hiện  
sự xuống cấp về đạo đức trong một bộ phận ND hiện nay.  
Về hành vi đạo đức. Biểu hiện rõ nhất là hiện tượng vi phạm pháp  
luật trong SXKD. Sản xuất nông sản phẩm với bất cứ giá nào, xem thường  
pháp luật, xem thường lợi ích và sức khỏe cộng đồng.  
Kết luận chương 2  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội, cũng như nhiều hoạt động giáo  
dục tư tưởng, đạo đức khác, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan  
và chủ quan. Những năm qua, giáo dục CMĐĐKD cho ND Hà Nội đạt  
được nhiều kết quả quan trọng trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý,  
trong việc xây dựng, phát triển và phối hợp lực lượng giáo dục, trong  
thiết kế, xây dựng nội dung, lựa chọn, sử dụng, phối hợp, cải tiến, đổi mới  
các hình thức, phương pháp, phương tiện giáo dục. Kết quả là trình độ  
nhận thức, tình cảm và hành vi ĐĐKD của ND Hà Nội từng bước được  
nâng cao hơn. Các chuẩn mực, các nguyên tắc ĐĐKD XHCN được hình  
thành, được định hình và chính chúng đã trở thành yếu tố quan trọng, tạo  
17  
nên động lực và sự lành mạnh cho sự phát triển kinh tế thị trường định  
hướng XHCN ở Hà Nội.  
Tuy nhiên, nhận thức của cấp ủy, chính quyền và các tổ chức chính  
trị - xã hội về giáo dục CMĐĐKD vẫn chưa đầy đủ, xứng tầm với vai trò  
quan trọng của nó trong phát triển kinh tế - xã hội; năng lực cán bộ tham  
gia công tác giáo dục còn nhiều hạn chế, bất cập; nội dung giáo dục chưa  
thật cụ thể, thiết thực, thiếu tính hệ thống; hình thức, phương pháp,  
phương tiện còn nghèo nàn, đơn điệu, chưa phong phú, sinh động, phù  
hợp với ND và môi trường nông thôn; nhận thức, tình cảm và hành vi  
ĐĐKD của người ND có nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu xây dựng nông  
thôn mới, người ND mới và nền đạo đức XHCN…Khắc phục những hạn  
chế này cần có hệ thống quan điểm, giải pháp đồng bộ và được tiến hành  
thường xuyên, liên tục.  
Chương 3  
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP TĂNG  
CƯỜNG GIÁO DỤC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC KINH DOANH CHO  
NÔNG DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY  
3.1. Những vấn đề đặt ra trong giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh  
doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay  
Một là, mâu thuẫn giữa yêu cầu ngày càng bức thiết của giáo dục  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân trong thời kỳ phát triển kinh  
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập với nhận thức chưa  
đầy đủ của các chủ thể giáo dục về vai trò của hoạt động này.  
Hai là, mâu thuẫn giữa những đòi hỏi mang tính chuẩn mực của  
giáo dục đạo đức kinh doanh với những biến đổi theo xu hướng tiêu cực  
của môi trường giáo dục.  
Ba là, mâu thuẫn giữa tính mới mẻ, toàn diện của nội dung giáo dục  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh với sự hiểu biết chưa thật đầy đủ, sâu sắc  
của các chủ thể về nội dung giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh.  
Bốn là, mâu thuẫn giữa yêu cầu về tính đa dạng, thường xuyên đổi  
mới của phương pháp, hình thức giáo dục với sự đơn điệu, sáo mòn, lạc  
hậu của các phương pháp, hình thức hiện được sử dụng trong giáo dục  
chuẩn mực đạo đức kinh doanh.  
Năm là, mâu thuẫn giữa tính tích cực, chủ động, tự giác của người  
nông dân với tư cách chủ thể tiếp nhận tác động giáo dục với tính thụ  
động, thờ ơ của chính người nông dân với tư cách là đối tượng của hoạt  
động giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh.  
3.2. Quan điểm về giáo dục đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà  
Nội hiện nay  
18  
3.2.1. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân Hà  
Nội là trách nhiệm của Đảng, của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội  
và của bản thân mỗi người nông dân  
Giáo dục CMĐĐKD cho ND là công việc của nhiều chủ thể, nhiều cấp,  
nhiều ngành, đòi hỏi phải phát huy đầy đủ vai trò và sức mạnh tổng hợp của cả  
hệ thống chính trị. Tuy nhiên, tính chủ động, tích cực của người ND trong  
nhận thức và xây dựng các CMĐĐKD đóng vai trò quyết định.  
3.2.2. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân gắn  
liền với xây dựng giai cấp nông dân và xây dựng nông thôn mới  
Gắn liền việc giáo dục CMĐĐKD cho ND với xây dựng giai cấp ND  
và xây dựng nông thôn mới cũng có nghĩa là phải coi nội dung giáo dục  
đạo đức mới trong đó có giáo dục CMĐĐKD cho ND là một bộ phận  
không tách rời của giáo dục ý thức XHCN cho ND và của chính sách xây  
dựng giai cấp ND Việt Nam hiện nay.  
3.2.3. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh gắn với giáo dục  
và xây dựng đạo đức xã hội  
Giáo dục CMĐĐKD góp phần trực tiếp tạo nên lực lượng ND có đủ  
chất lượng nhân văn, nhân đạo, nhân bản để sống và lao động trong CNXH  
và vì CNXH, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH nông  
nghiệp, nông thôn.  
Gắn giáo dục CMĐĐKD với đạo đức xã hội cần phải làm cho mỗi  
người ND tự giác, hăng say và trách nhiệm với hoạt động SXKD của mình;  
làm nảy nở trong họ những tình cảm trong sáng, cao đẹp của sự hướng  
thiện, khát vọng đạt tới cái đúng, cái tốt, cái đẹp. Gắn giáo dục CMĐĐKD  
với giáo dục đạo đức xã hội còn góp phần đấu tranh khắc phục sự suy thoái  
đạo đức trong xã hội ta.  
3.2.4. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh phải kế thừa  
truyền thống tốt đẹp trong đạo đức kinh doanh của dân tộc và tiếp thu  
tinh hoa đạo đức kinh doanh nhân loại  
Trong xu thế đổi mới, hội nhập, những giá trị về ĐĐKD truyền thống  
càng phải được giữ gìn và phát huy. Đây là vũ khí sắc bén giúp các nhà kinh  
doanh đứng vững trên thị trường và chiến thắng đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa,  
giáo dục CMĐĐKD phải kế thừa những giá trị đạo đức truyền thống nói  
chung và ĐĐKD truyền thống nói riêng. Đây là những giá trị cốt lõi làm nên  
bản sắc trong hoạt động SXKD của người Việt.  
3.2.5. Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh là quá trình lâu  
dài, được tiến hành thường xuyên nhưng phải thực hiện ngay và quyết  
liệt  
19  
Hiện nay, những vi phạm CMĐĐKD đã đến mức báo động, do đó hoạt  
động giáo dục phải thực hiện ngay và thường xuyên, nhiều lần với nội dung  
phong phú và bằng nhiều hính thức, phương pháp, phương tiện.  
3.3. Giải pháp tăng cường giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh  
doanh cho nông dân Hà Nội hiện nay  
3.3.1. Nhóm giải pháp tác động vào điều kiện xã hội khách quan  
3.3.1.1. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ  
nghĩa với tính chất là cơ sở của đạo đức kinh doanh  
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế về huy động, phân bổ, sử dụng có hiệu  
quả nguồn lực và thể chế về phân phối kết quả làm ra để giải phóng sức sản  
xuất, tạo động lực cho tăng trưởng, phát triển, bảo đảm tiến bộ, công bằng xã  
hội, quốc phòng, anh ninh quốc gia  
Thứ hai, hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh  
doanh  
Thứ ba, hoàn thiện thể chế về phát triển và ứng dụng khoa học- công  
nghệ, về giáo dục- đào tạo, phát triển nguồn nhân lực.  
Thứ tư, đổi mới vai trò, chức năng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản  
lý nền kinh tế và năng lực kiến tạo sự phát triển của Nhà nước, đặc biệt là  
năng lực, hiệu quả thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng và tổ chức  
thực hiện chính sách, pháp luật của Nhà nước.  
Năm là, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, hoàn thiện thể chế  
kiểm soát quyền lực, tinh giản bộ máy, biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ có  
năng lực, phẩm chất, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ; nâng cao chất lượng, hiệu  
quả hoạt động của toàn hệ thống chính trị.  
3.3.1.2. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông  
thôn, tích cực thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới ở ngoại thành  
Hà Nội  
Trước hết, cần phân tích rõ ràng những khó khăn, nguyên nhân và tìm ra  
những điểm mấu chốt cần phải tác động để tạo ra những chuyển biến đáng kể  
nhằm đưa đời sống địa phương đi lên. Cấp ủy Đảng, chính quyền cần giúp đỡ  
một cách thiết thực cho ND như đầu tư giống cây, con; tạo điều kiện cho bà  
con vay vốn phát triển kinh tế; cán bộ khuyến nông giúp đỡ bà con về kinh  
nghiệm SXKD những nông sản sạch, có chất lượng; mở các lớp dạy nghề,  
hướng nghiệp, giúp bà con ND vượt khó.  
Bên cạnh đó cần tạo bước chuyển tích cực trên lĩnh vực văn hóa - xã hội  
bằng cách: tiếp tục thực hiện phong trào “Toàn dân xây dựng đời sống văn  
hóa”, “Xây dựng nông thôn mới”, bảo đảm cho phát triển bền vững; nâng cao  
chất lượng giáo dục toàn diện, nâng cao dân trí cho ND.  
3.3.1.3. Xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng theo  
pháp luật  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 25 trang yennguyen 23040 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tóm tắt Luận án Giáo dục chuẩn mực đạo đức kinh doanh cho nông dân thành phố Hà Nội hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftom_tat_luan_an_giao_duc_chuan_muc_dao_duc_kinh_doanh_cho_no.pdf